TỔNG CUNG TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ Mô hình cổ điển phát triển trong phần hai trên đã giải thích hành vi hành vi của các biến số kinh tế vĩ mô them chốt trong dài hạn. GDP thực tế không tăng lên đều đặn theo thời gian, như mô hình tăng trưởng Solow dự báo, mà đôi khi tăng nhanh, có những lúc lại tăng chậm và thận chí còn giảm. Mô hình cổ điển chỉ có thể giải thích sự thay đổi của GDP do sự thay đổi trong nhân tố sản xuất hay sự thay đổi công nghệ. Trong sự gia tăng dân số và tiến bộ công nghệ có thể là lý do rất thuyết phục để giải thích sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, thì chúng ít có ý nghĩa hơn khi giải thích những biến động kinh tế trong ngắn hạn.Sự biến động không đều đặn của GDP và các biến động tương ứng trong các biến kinh tế vĩ mô khác được gọi là chu kỳ kinh doanh. Trong khi không phải mọi chu kỳ kinh doanh giống nhau ở độ dài hoặc mức độ trầm trọng, chúng có những đặc điểm chung mà chúng ta có thể giải thích. Phần này phát triển một lý thuyết về chu kỳ kinh doanh và giới thiệu những hệ quả với chính sách của chính phủ.2.1. KHOẢNG THỜI GIAN TRONG KINH TẾ VĨ MÔ2.1.1. Sự khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn Để giải thích những biến động kinh tế trong ngắn hạn, phần lớn các nhà kinh tế vĩ mô đều dựa vào giả thiết là giá cả không hoàn toàn linh hoạt. Thực tế cho thấy giá cả một số hàng hóa hoàn toàn cứng nhắc và không thay đổi để phản ứng trước bất cứ sự thay đổi của cung và cầu. Có nhiều bằng chứng cho thấy giá cả không linh hoạt lắm trong ngắn hạn. Các nhà hàng không thay đổi giá các món ăn trong ngày, không tăng giá vào buổi trưa khi đông khách, và giảm giá vào giữa chiều khi vắng khách. Hợp đồng lao động ấn định trước tiền lương cho tháng năm và thường không thay đổi trong những năm hợp đồng còn giá trị. Do đó mô hình về nền kinh tế trong ngắn hạn dựa trên giả thiết giá cả cúng nhắc. 2.1.2. Mô hình tổng cung – tổng cầuMô hình cung cầu mà chúng ta đã sử dụng để phân tích thị trường bánh mỳ ở chương 1 cung cấp một số hiểu biết cơ bản nhất về kinh tế học. Mô hình này cho thấy cung và cầu về một mặt hàng nào đó đồng thời quyết định giá, lượng hàng bán ra và sự thay đổi của các biến ngoại sinh tác động tới giá cả và sản lượng như thế nào. Ở đây, chúng ta trình bày mô hình cho toàn bộ nền kinh tế được gọi là mô hình tổng cungtổng cầu. Mô hình kinh tế vĩ mô này cho phép chúng ta nghiên cứu xem mức giá chung và tổng sản lượng được quy định như thế nào. Nó cũng là phương tiện để xem xét sự tương phản giữa biểu hiện của nền kinh tế trong dài hạn và ngắn hạn.Mặc dù mô hình tổng cung và tổng cầu giống mô hình cung cầu về một loại hàng đặc biệt, nhưng chúng không hoàn giống nhau. Mô hình cung cầu về một hàng hóa duy nhất chỉ xem xét một mặt hàng trong nền linh tế rộng lớn. Ngược lại, mô hình tổng cung và tổng cầu là mô hình phức tạp, gắn với những tác động qua lại giữa các thị trường với nhau.2.2. TỔNG CẦU
Trang 1Chương hai
TỔNG CUNG TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
Mô hình cổ điển phát triển trong phần hai trên đã giải thích hành vi hành vi của các biến số kinh tế vĩ mô them chốt trong dài hạn GDP thực tế không tăng lên đều đặn theo thời gian, như mô hình tăng trưởng Solow dự báo, mà đôi khi tăng nhanh, có những lúc lại tăng chậm và thận chí còn giảm Mô hình cổ điển chỉ có thể giải thích sự thay đổi của GDP do sự thay đổi trong nhân tố sản xuất hay sự thay đổi công nghệ Trong sự gia tăng dân số và tiến bộ công nghệ có thể là lý do rất thuyết phục để giải thích sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, thì chúng ít có ý nghĩa hơn khi giải thích những biến động kinh tế trong ngắn hạn
Sự biến động không đều đặn của GDP và các biến động tương ứng trong các biến
kinh tế vĩ mô khác được gọi là chu kỳ kinh doanh Trong khi không phải mọi chu kỳ kinh
doanh giống nhau ở độ dài hoặc mức độ trầm trọng, chúng có những đặc điểm chung mà chúng ta có thể giải thích Phần này phát triển một lý thuyết về chu kỳ kinh doanh và giới thiệu những hệ quả với chính sách của chính phủ
2.1 KHOẢNG THỜI GIAN TRONG KINH TẾ VĨ MÔ
2.1.1 Sự khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn
Để giải thích những biến động kinh tế trong ngắn hạn, phần lớn các nhà kinh tế vĩ
mô đều dựa vào giả thiết là giá cả không hoàn toàn linh hoạt Thực tế cho thấy giá cả một
số hàng hóa hoàn toàn cứng nhắc và không thay đổi để phản ứng trước bất cứ sự thay đổi của cung và cầu Có nhiều bằng chứng cho thấy giá cả không linh hoạt lắm trong ngắn hạn Các nhà hàng không thay đổi giá các món ăn trong ngày, không tăng giá vào buổi trưa khi đông khách, và giảm giá vào giữa chiều khi vắng khách Hợp đồng lao động ấn định trước tiền lương cho tháng năm và thường không thay đổi trong những năm hợp đồng còn giá trị Do đó mô hình về nền kinh tế trong ngắn hạn dựa trên giả thiết giá cả cúng nhắc
2.1.2 Mô hình tổng cung – tổng cầu
Mô hình cung cầu mà chúng ta đã sử dụng để phân tích thị trường bánh mỳ ở chương 1 cung cấp một số hiểu biết cơ bản nhất về kinh tế học Mô hình này cho thấy cung và cầu về một mặt hàng nào đó đồng thời quyết định giá, lượng hàng bán ra và sự thay đổi của các biến ngoại sinh tác động tới giá cả và sản lượng như thế nào Ở đây,
chúng ta trình bày mô hình cho toàn bộ nền kinh tế - được gọi là mô hình tổng cung-tổng cầu Mô hình kinh tế vĩ mô này cho phép chúng ta nghiên cứu xem mức giá chung và
tổng sản lượng được quy định như thế nào Nó cũng là phương tiện để xem xét sự tương phản giữa biểu hiện của nền kinh tế trong dài hạn và ngắn hạn
Mặc dù mô hình tổng cung và tổng cầu giống mô hình cung cầu về một loại hàng đặc biệt, nhưng chúng không hoàn giống nhau Mô hình cung cầu về một hàng hóa duy nhất chỉ xem xét một mặt hàng trong nền linh tế rộng lớn Ngược lại, mô hình tổng cung
và tổng cầu là mô hình phức tạp, gắn với những tác động qua lại giữa các thị trường với nhau
2.2 TỔNG CẦU
1
Trang 2-Tổng cầu(AD) biểu hiện mối quan hệ giữa lượng cầu về hàng hóa và mức giá
chung Chúng ta sẽ xem xét lý thuyết về tổng trong các chương tiếp theo Ở đây chúng ta
sử dụng lý thuyết số lượng tiền tệ để thiết lập đường tổng cầu rất đơn giản, dù chưa hoàn chỉnh Ngoài cách tiếp cận chi tiêu chúng ta còn có cách tiếp cận tổng cầu theo lý thuyết tiền tệ
Theo cách chi tiêu tổng cầu theo mô hình sau:
AD = C + Y + G nếu nền kinh tế đóng,
AD = C + Y + G + NX trong nền kinh tế mở
Nếu theo lý thuyết tiền tệ từ phương trình số lượng chúng ta xây dựng đường tổng cầu
2.2.1 Phương trình số lượng và đường tổng cầu.
Phương trình số lượng trong chương 6 đã khẳng định rằng:
MV = PY
Trong đó M là cung ứng tiền, V là tốc độ lưu thông tiền tệ (tạm thời chúng ta coi là không thay đổi), P là mức giá và Y là lượng sản phẩm Phương trình này nói rằng cung ứng tiền quyết định giá trị danh nghĩa của sản lượng và giá trị này bằng tích của mức giá
và lượng sản phẩm
Phương trình số lượng có thể được viết dưới dạng cung và cầu về số dư tiến thực tế M/P = (M/P)d = kY
Trong đó k = 1/V Dưới dạng này, phương trình số lượng nói rằng cung về số dư tiền tệ thực tế M/P bằng cầu (M/P)d và mức cầu này tỷ lệ thuận với sản lượng Y
Đối với mỗi mức cung ứng tiền nhất định, phương trình số lượng nói lên mối quan
hệ tỷ lệ nghịch giữa mức giá và sản lượng Y Hình 8-1 cho biết những kết hợp giữa P và
Y thỏa mãn phương trình số lượng với mức cung ứng tiền tệ cố định Nó được gọi là đường tổng cầu
2.2.2 Tại sao đường tổng cầu lại dốc xuống
Căn cứ vào công thức AD = C + I + G + NX thì tiêu dùng C và G phụ thuộc vào mức giá của nền kinh tế, I là hàm của lãi suất, NX tỷ lệ nghịch với tỷ giá hối đoái nhưng giám tiếp phụ thuộc vào mức giá Tóm lại AD giảm khi mức giá của nền kinh tế tăng lên
2
-Y
Hình 2-1 Đường tổ cầu
AD
P
Thu nhập, sản lượng
Trang 3Theo phương trình số lượng ta thấy đối với mỗi mức cung tiền nhất định, phương trình số lượng xác định giá trị danh nghĩa của sản lượng PY Vì vậy, nếu mức giá P tăng, sản lượng Y phải giảm
Có một cách dễ hiểu mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa P và Y là xem xét mối quan hệ giữa khối lượng tiền tệ và giao dịch Vì chúng ta đã giả định tốc độ lưu thông tiền tệ không thay đổi, nên cung ứng tiền tệ quyết định giá trị tính bằng tiền của tất cả các giao dịch trong nền kinh tế Nếu giá cả tăng, mỗi giao dịch cần một lượng tiền nhiều hơn, do
đó lượng giao dịch, cùng với nó là lượng hàng hóa và dịch vụ mua được phải giảm
Tương tự, chúng ta có thể xem xét cung và cầu về số dư tiền tệ thực tế Nếu sản lượng cao hơn, mọi người thực hiện nhiều giao dịch hơn và cần một lựong số dư thực tế M/P lớn hơn Với mức cung ứng tiền tệ danh nghĩa nhất định, số dư tiền tệ thực tế lớn hơn; số dư tiền tệ thực tế lớn hơn hàm ý mức giá thấp hơn Ngược lại, nếu mức giá thấp hơn, số dư tiền tệ thực tế lớn hơn; số dư tiền tệ thực tế lớn hơn cho phép thực hiện nhiều giao dịch hơn và như vậy sản lượng cũng phải cao hơn
2.2.3.Sự dịch chuyển của đường tổng cầu
Đường AD được vẽ cho một mức cung tiền nhất định Nếu lượng cung tiền thay đổi, các cách kết hợp giữa P và Y sẽ thay đổi, nghĩa là đường tổng cầu dịch chuyển Một
số trường hợp dịch chuyển như sau:
Nếu ngân hàng trung ương giảm cung tiền Phương trình số lượng MV = PY cho chúng ta biết biện pháp cắt giảm cung ứng tiền tệ dẫn tới sự giảm sút tương ứng của giá trị sản lượng danh nghĩa PY Tại mọi mức giá cho trước, lượng sản phẩm sẽ thấp hơn, và tại mỗi mức sản lượng cho trước giá sẽ thấp hơn Như hình 8-2, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển vào phía trong
Bây giờ nếu ngân hàng trung ương tăng cung ứng tiền Phương trình số lượng cho chúng ta biết sự gia tăng của PY Tại mỗi mức giá cho trước, sản lượng sẽ cao hơn, và tại mỗi sản lượng cho trước, mức giá sẽ cao hơn Như hình 8-3, đường cầu dịch chuyển ra ngoài
Sự biến động của cung tiền không phải là nguồn gốc duy nhất gây ra những biến động của tổng cầu Ngay khi cung tiền không thay đổi thì đường tổng cầu cũng dịch chuyển do những thay đổi trong tốc độ lưu thông tiền tệ Những nguyên nhân đó sẽ được phân tích ở các chương tiếp theo
- 3 -AD
P
Thu nhập, sản lượng
AD2
P
AD1
Hỉnh 2-2 Sự dịch chuyển vào phía trong của đường tổng cầu
Trang 42.3 TỔNG CUNG
Cả hai đường tổng cung và tổng cầu cùng quy định mức giá và lượng sản phẩm
Tổng cung(AS) biểu thị mối quan hệ giữa lượng cung hàng hóa và dịch vụ và mức
giá Vì giá cả linh hoạt trong dài hạn và cứng nhắc trong thời hạn ngắn, mối quan hệ này phụ thuộc vào khoảng thời gian mà chúng ta xem xét Chúng ta cần phải nghiên cứu về hai đường cung khác nhau: Đường tổng cung dài hạn (LRAS) và đường tổng cung ngắn hạn (SRAS) Chúng ta cũng cần trình bày bước quá độ từ ngắn hạn sang dài hạn
Dài hạn: Đường tổng cung thẳng đứng
Vì mô hình cổ điển mô tả biểu hiện của nền kinh tế trong thời hạn dài, chúng ta xây dựng đường tổng cung dài hạn từ mô hình cổ điển Trong chương 3, chúng ta đã biết lượng sản phẩm được sản xuất phụ thuộc vào khối lượng tư bản và lao động không đổi, cũng như vào trình độ công nghệ hiện có Chúng ta có thể miêu tả điều này bằng hàm
U F(K,L)Y
Theo mô hình cổ điển, sản lượng không phụ thuộc vào mức giá Để hiển thị mức sản lượng bằng nhau tại mức giá, chúng ta vẽ đường tổng cung thẳng đứng như trong hình 8-4 Giao điểm của đường tổng cầu và tổng cung thẳng đứng này quyết định mức giá
4
-AD1
P
AD2
Hỉnh 2-3 Sự dịch chuyển ra phía ngoài của đường tổng cầu.
LRAS
Y
Thu nhập, sản lượng
P
Hình 2-4 Đường tổng cung dài hạn.
Trang 5Nếu đường tổng cung là đường thẳng đứng, thì sự thay đổi của tổng cầu chỉ tác động tới giá cả chứ không ảnh hưởng tới sản lượng Ví dụ nếu cung ứng tiền tệ giảm đường tổng cầu dịch chuyển xuống dưới như hình 8-5 Nền kinh tế chuyển từ giao điểm
A sang giao điểm B Sự dịch chuyển của đường tổng cầu chỉ tác động tới giá cả
Đường tổng cung thẳng đứng thỏa mãn sự phân đôi cổ điển, vì nó ngụ ý rằng sản
lượng độc lập với cung ứng tiền tệ Mức sản lượng dài hạn Y này được gọi là sản lượng toàn dụng hay sản lượng tự nhiên Đó là mức sản lượng được tạo ra khi các nguồn lực
của nền kinh tế được sử dụng hết, hoặc nói một cách thực tế hơn, khi thất nghiệp ở mức
tự nhiên
Ngắn hạn: đường tổng cung nằm ngang
Mô hình cổ điển và đường tổng cung tổng cầu thẳng đứng chỉ áp dụng trong dài hạn Trong ngắn hạn, một số loại giá cả cứng nhắc, do đó không điều chỉnh khi có những thay đổi của tổng cầu Tính cứng nhắc này của giá cả hàm ý đường tổng cung ngắn hạn không thẳng đứng
Chẳng hạn, giả sử các doanh nghiệp đều phát hành bảng giá và chi phí để phát hành rất lớn Như vậy, tất cả các loại giá đều mắc kẹt ở định mức trước Tại mức giá đó doanh nghiệp sẵn sang mọi nhu cầu của người mua và họ thuê vừa đủ lao động để sản xuất một lượng hàng hóa bằng nhu cầu của khách hàng Vì giá cả cứng nhắc, chúng ta biểu thị trường hợp này bằng đường tổng cung nằm ngang như hình 8-6
5 -Y
P
SLRAS
Thu nhập, sản lượng
Hình 2-6 Đường tổng cung ngắn hạn.
A
B LRAS
Y
Thu nhập, sản lượng
P
Hình 2-5 Sự dịch chuyển của đường cầu trong dài hạn.
Trang 6Trạng thái cân bằng ngắn hạn của nền kinh tế là giao điểm của đường tổng cầu và đường tổng cung ngắn hạn nằng ngang Trong trường hợp này, sự thay đổi của tổng cầu ảnh hưởng tới sản lượng Ví dụ, ngân hàng trung ương đột ngột giảm cung ứng tiền, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển vào trong như hình 8-7 Nền kinh tế chuyển từ điểm A sang điểm B Vì giá cả cứng nhắc, sự dịch chuyển của đường tổng cầu làm sản lượng giảm xuống
Sự suy giảm của tổng cầu làm giảm sản lượng trong ngắn hạn, vì giá cả không thể điều chỉnh ngay lập tức Sauk hi tổng cầu giảm đột ngột, các doanh nghiệp bị mắc kẹt ở mức giá quá cao Khi giá cả cao và thu nhập thấp, doanh nghiệp bán được ít sản phẩm hơn Tình hình này buộc họ phải xa thải lao động và giảm sản lượng
Từ ngắn hạn đến dài hạn.
Chúng ta có thể tổng kết các kết quả từ phân tích của mình như sau: Trong thời gian ngắn, giá cả cứng nhắc, đường tổng cung gần như nằm ngang và sự thay đổi của tổng cầu tác động tới sản lượng của nền kinh tế Trong thời gian dài, giá cả linh hoạt đường tổng cung thẳng đứng và sự thay đổi của tổng cầu chỉ tác động tới mức giá Do
đó, những thay đổi của tổng cầu có tác dụng khác nhau trong quãng thời gian khác nhau
Khi tổng cầu suy giảm nó sẽ tác động như thế nào Gỉa sử ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng dài hạn như mô tả trên hình 8-8 Trên hình này có 3 đường: đường tổng cầu, tổng cung ngắn hạn và đường tổng cung dài hạn Trạng thái cân bằng dài hạn diễn ra tại điểm mà tại đó đường tổng cầu cắt đường tổng cung dài hạn Gía cả đã điều chỉnh để đạt tới trạng thái cần bằng này Bởi vậy, nền kinh tế ở trạng thái cân bằng dài hạn, đường tổng cung phải đi qua điểm đó
6
-Hình 2-7 Sự dịch chuyển của đường tổng cầu trong ngắn hạn
P
Y
Hình 2-8 Trạng thái cân bằng dài hạn
P
Y
AD1
AD2
A
Thu nhập, sản lượng Mức giá
AD
Cân bằng dài hạn
SRAS
Thu nhập, sản lượng LRAS
Mức giá
Trang 7Bây giờ giả sử ngân hàng trung ương cắt giảm cung ứng tiền tệ và đường tổng cầu dịch chuyển xuống dưới như hình 8-9 Trong ngắn hạn, giá cả cứng nhắc, do đó nền kinh
tế chuyển từ điểm A sang điểm B Sản lượng và việc làm giảm xuống dưới mức tự nhiên Điều đó hàm ý nền kinh tế chuyển vào thời kỳ sau thoái Sau một thời gian, tiền lương và giá cả giảm xuống Khi giá cả từ từ giảm xuống, nền kinh tế chuyển dần xuống dưới dọc theo đường tổng cầu cho tới C, điểm cân bằng dài hạn mới Tại điểm này (C), sản lượng
và việc làm trở lại mức tự nhiên, nhưng giá cả thấp hơn so với trạng thái cân bằng dài hạn
cũ (A)
2.4 CHÍNH SÁCH ỔN ĐỊNH KINH TẾ.
Những biến động của nền kinh tế nói chung bắt nguồn từ những thay đổi của tổng
cung và tổng cầu Các nhà kinh tế gọi những thay đổi ngoại sinh của các đường này cú sốc đối với nền kinh tế Các cú sốc phá vỡ sự yên tĩnh của nền kinh tế, đẩy sản lượng và
việc làm ra khỏi mức tự nhiên của chúng Mô hình tổng cung và tổng cầu cho thấy các cú sốc gây ra những biến động kinh tế như thế nào
Mô hình tổng cung và tổng cầu này cũng có tác dụng trong việc đánh giá xem chính sách kinh tế vĩ mô tác động tới các cú sốc như thế nào khi nó muốn giảm bớt quy
mô biến động Chính sách ổn định là chính sách của nhà nước nhằm giữ cho sản lượng
và việc làm ở mức tự nhiên Vì cung ứng tiền tệ có tác động mạnh mẽ tới tổng cầu, nên chính sách tiền tệ là một thành tố quan trọng của chính sách ổn định
2.4.1 Các cú sốc đối với tổng cầu.
Tổng cầu có thể thay đổi do những thay đổi trong các biến số của hàm tổng cầu chẳng hạn dòng đầu tư vào Việt Nam tăng lên nhanh do những cải cách môi trường đầu
tư tốt hơn, hay người dân tin tưởng vào sự phát triển của nền kinh tế tăng tiêu dùng, hay chính phủ tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá, công trình thủy điện…
Hãy xét một vị dụ về cú sốc đối với tồng cầu cụ thể: Việc phát minh ra máy rút tiền tự động Chúng làm cho việc rút tiền trở nên dễ dàng hơn, do đó làm giảm cung cầu
về tiền tệ Gỉa sử trước khi xuất hiện những chiếc máy này, mỗi người mỗi tuần cần phải đến ngân hàng một lần để rút 500 ngàn và chi tiêu dần số tiền đó trong cả tuần, trong trường hợp này, số tiền bình quân được giữ là 250 ngàn Sau khi có máy rút tiền, mỗi người đến ngân hàng để rút tiền mỗi tuần 2 lần và rút 250 ngàn mỗi lần, cho nên số tiền
7
Mức giá
P
Y
AD1
AD2
A
Thu nhập, sản lượng
LRAS
Mức giá
C
Hình 8-9 Sự suy giảm của tổng cầu.
Trang 8bình quân được giữ là 125 ngàn Trong ví dụ này, nhu cầu về tiền tệ giảm ½ Việc giảm nhu cầu về tiền tệ tương đương với sự gia tăng tốc độ lưu thông tiền tệ Để thấy được điều này, hãy nhớ rằng: M/P = kY
Trong đó 1/V = k Sự cắt giảm số dư tiền tệ thực tế tại mọi mức sản lượng cho trước hàm ý có sự giảm sút của k hay gia tăng của V Vì sự xuất hiện của loại máy tiền tư động này cho phép người ta giữ ít tiền hơn trong ví, nên mỗi đồng Việt Nam sẽ quay nhanh hơn Vì mọi người nhận tiền thường xuyên hơn, nên khoảng thời gian kể từ khi đồng tiền được rút ra khỏi ngân hàng cho đến khi chi tiêu giảm xuống Như vậy tốc độ lưu thông tăng lên
Nếu cung tiền không thay đổi, thì khi tiền quay vòng nhanh hơn, mức chi tiêu danh nghĩa tăng và đường tổng cầu dịch chuyển ra phía ngoài như trong hình 8-10 Trong ngắn hạn, sự gia tăng tổng cầu làm tăng sản lượng của nền kinh tế và nó gây ra sự bùng
nổ về kinh tế Tại mức giá cũ, các doanh nghiệp giờ đây bán được nhiều sản phẩm hơn
Do vậy, họ thuê thêm lao động, tăng mức sử dụng nhà máy và thiết bị của mình
Theo thời gian, tổng cầu cao đẩy tiền lương và giá cả lên cao Khi giá cả tăng, lượng cầu về sản phẩm giảm xuống, và nền kinh tế dần dần trở lại mức sản lượng tự nhiên Nhưng trong bước quá độ tiến tới mức giá cao, sản lượng của nền kinh tế đạt mức cao hơn sản lượng tự nhiên
Ngân hàng trung ương có làm gì để chặn đứng sự bùng nổ này và giữ sản lượng ở mức tự nhiên? Ngân hàng trung ương có thể giảm cung tiền tệ để giảm ảnh hưởng của sự gia tăng tốc độ lưu thông từ đó làm cho tổng cầu ổn định trở lại Như vậy ngân hàng trung ương có thể kiềm chế thậm chí triệt tiêu ảnh hưởng đối với sản lượng và việc làm của các cú sốc đối với tổng cầu, nếu nó kiểm soát cung ứng tiền tệ một cách khéo léo Nhưng liệu Ngân hàng trung ương có được năng lực cần thiết hay không, điều này sẽ được giải thích ở chương tranh luận về chính sách vĩ mô
2.4.2 Những cú sốc với tổng cung.
Cũng như các cú sốc với tổng cầu, các cú sốc với tổng cung cũng gây ra những biến động của nền kinh tế Cú sốc đối với cung là cú sốc ảnh hưởng tới nền kinh tế thông qua tác động tới chi phí sản xuất và qua đó tác động vào giá cả mà các doanh nghiệp quy
8
-P
AD1 A
C
SRAS
Thu nhập, sản lượng
LRAS
B
AD2
Hình 8-10 Sự gia tăng của tổng cầu
Trang 9định Vì các cú sốc đối với cung có tác dụng trực tiếp tới mức giá, cho nên đôi khi chúng được gọi là cú sốc giá cả Có thể nêu ra một số ví dụ:
Khi hạn hán tàn phá mùa màng – lượng cung về lương thực giảm, làm cho giá lương thực tăng
Luật bảo vệ môi trường yêu cầu các doanh nghiệp phải giảm mức ô nhiễm – họ chuyển chi phí tăng thêm cho khách hàng dưới hình thức giá cả cao hơn
Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ quốc tế - bằng cách hạn chế cạnh tranh, các nhà sản xuất lớn có thể tăng giá dầu thế giới
Tất cả các trường hợp trên đều là những cú sốc bất lợi đối với cung Cú sốc cung thuận lợi, chẳng hạn như sự tan rã của các tổ chức độc quyền dầu mỏ quốc tế, sẽ làm giảm chi phí và giá cả
Hình 8-12 cho thấy cú sốc cung bất lợi ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào Đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển lên trên (cú sốc cung có thể làm giảm sản lượng
tự nhiên và như vậy nó làm dịch chuyển đường tổng cung dài hạn sang trái, nhưng ở đây chúng ta bỏ qua ảnh hưởng này) Nếu tổng cầu được giữ không đổi, nền kinh tế được chuyển từ A tới B: mức giá tăng lên và sản lượng giảm xuống dưới mức tự nhiên Đó chính là hiện tượng lạm phát đi kèm suy thoái, vì nền kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái(sản lượng giảm) trong khi phải chịu lạm phát(tăng giá)
9
Mức giá
Y
P
A
SRAS2
Thu nhập, sản lượng
LRAS
B
AD SRAS1
Hình 8-12 Cú sốc bất lợi với cung.
Y
P
A
SRAS2
Thu nhập, sản lượng
LRAS
C
AD1
SRAS1
AD2
Hình 2-13 Thích ứng với cú sốc bất lợi.
Trang 10Trước cú sốc cung bất lợi, nhà hoạch định chính sách có trách nhiệm kiểm soát tổng cầu, chẳng hạn ngân hàng trung ương, sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn giữa hai phương án Phương án thứ nhất, được minh họa trên hình 8-12 là giữ cho tổng cầu không thay đổi Trong trường hợp này, sản lượng và việc làm thấp hơn mức tự nhiên Có khả năng giá cả giảm để phục hồi mức toàn dụng tại mức giá như cũ (điểm A) Như tác hại của quá trình này là cuộc suy thoái đau đớn
Phương án hai được minh họa bằng hình 8-13 Phương án này yêu cầu phải mở rộng tổng cầu để đưa nền kinh tế tới mức tự nhiên nhanh chóng hơn Nếu gia tăng tổng cầu diễn ra đồng thời với cú sốc cung, nền kinh tế nhanh chóng chuyển từ A tới C Trong trường hợp này, người ta nói ngân hàng trung ương đã thích ứng với cú sốc cung Tất nhiên, nhược điểm của phương án này là giá lien tục tăng lên Không thể điều chỉnh tổng cầu để vừa duy trì mức toàn dụng, vửa giữ cho giá cả ổn định
Kết luận.
Chương này đã giới thiệu mô hình tổng quát về biến động kinh tế - mô hình tổng cung và tổng cầu Nó được xây dựng dựa trên cơ sở giá cả cứng nhắc trong ngắn hạn và linh hoạt trong dài hạn Mô hình cho thấy các cú sốc tác động đến nền kinh tế làm cho sản lượng tạm thời bị chệch ra khỏi mức được giả định trong mô hình cổ điển như thế nào
Mô hình cũng làm sang tỏ vai trò của chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ yếu kém có thể là nguồn gốc tạo ra cú sốc đối với nền kinh tế Còn chính sách tiền tệ tốt có thể làm giảm tác động của các cú sốc và ổn định kinh tế
CÂU HỎI
1 Tại sao đường AD dốc xuống?
2 Hãy giải thích tác động của bịên pháp tăng cung ứng tiền tệ trong ngắn hạn và dài hạn?
3 Tại sao ngân hàng trung ương dễ ứng xử hơn với cú sốc cầu hơn cú sốc cung? BÀI TẬP
1 Gỉa sử ngân hàng trung ương cắt giảm cung tiền 5%
a Điều gì xảy ra với đường tổng cầu?
b Điều gì xảy ra với sản lượng và giá cả trong ngắn hạn và dài hạn?
c Theo quy luật Okun, điều gì xảy ra với mức thất nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn?
d Điều gì xảy ra với lãi suất thực tế trong ngắn hạn và dài hạn?
2 Hãy phân tích xem mục tiêu của ngân hàng trung ương ảnh hưởng ra sao đến phản ứng của nó trước cú sốc Trường hợp thứ nhất, ngân hàng trung ương chỉ quan tâm đến việc ổn định giá cả Trường hợp thứ hai, ngân hàng trung ương tìm cách giữ sản lượng và việc làm ở mức tự nhiên Trong mỗi trường hợp, hãy giải thích ngân hàng trung ương sẽ phản ứng thế nào khi:
a Tốc độ chu chuyển tiền tệ giảm xuống?
b Sự gia tăng ngoại sinh của giá dầu?
10