1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích mối quan hệ của trình độ học vấn, tỷ lệ sỡ hữu đất đai và tỷ lệ sử dụng giống lúa năng suất cao của nông dân n Độ vào năm 1970

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 477,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích mối quan hệ của trình độ học vấn, tỷ lệ sỡ hữu đất đai và tỷ lệ sử dụng giống lúa năng suất cao của nông dân n Độ vào năm 1970 PHẦN I________CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP PH N TÍCH 2 I. Cơ sở lý thuyết 2 II. Phương pháp phân tích 3 PHẦN II________KẾT QUẢ PH N TÍCH 4 PHẦN III________KẾT LUẬN CHUNG 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA KINH TẾ

- -BÀI TẬP NHÓM PHÂN TÍCH KINH TẾ-XÃ HỘI

Đề tài: Phân tích mối quan hệ của trình độ học vấn, tỷ lệ sỡ hữu đất đai và tỷ lệ

sử dụng giống lúa năng suất cao của nông dân Ân Độ vào năm 1970

GVHD : PGS.TS Bùi Quang Bình

2 Đặng Trung Cường 39K04

3 Nguyễn Bùi Quốc Linh 39K04

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 2

I Cơ sở lý thuyết 2

II Phương pháp phân tích 3

PHẦN II KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 4

PHẦN III KẾT LUẬN CHUNG 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Nguyễn Bùi Quốc Linh Chuẩn bị phần cơ sở lý thuyết 28/08/2016

Đặng Trung Cường Chuẩn bị phần phân tích 28/08/2016

Nguyễn Tấn Phát Tổng hợp, đánh giá 29/08/2016

Trang 3

PHẦN I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

I Cơ sở lý thuyết

1 Hàm sản xuất COBB-DOUGLAS

Hàm sản xuất của một loại sản phẩm nào đó cho biết số lượng sản phẩm tối đa của sản phẩm đó (ký hiệu là q) có thể được sản xuất ra bằng cách sử dụng các phối hợp khác

nhau của vốn (K) và lao động (L), với một trình độ công nghệ nhất định Vì thế, hàm sản

xuất thông thường được viết như sau: q=f(K,L)

Hàm sản xuất phổ biến nhất được áp dụng để nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu ra

và đầu vào của một quá trình sản xuất Y = AK α L β ; A, α, β> 0

Nhà sản xuất có thể sử dụng rất nhiều lao động để thay thế cho vốn nhưng bao giờ cũng tồn tại một lượng vốn nhất định Ngược lại, vốn cũng có thể thay thế cho lao động khi di chuyển từ phải sang trái nhưng bao giờ cũng tồn tại một lượng lao động nhất định

2 Vốn con người

Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi

con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động Nguồn vốn này được khai thác sử

dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng

suất lao động và hiệu quả công việc.

Đặc điểm, Thứ nhất vốn con người chỉ được sử dụng khi người đó trực tiếp tham

gia vào sản xuất Loại vốn không mang cho vay hay thế chấp Thứ hai, vốn này không chia sẽ và đầu tư dàn trải rủi ro Thứ ba, vốn con người dễ dịch chuyển hơn và động hơn.

Vốn con người hình thành từ ba nhan tố: (1) năng lực ban đầu; (2) tích lũy qua

đào tạo; (3) kinh nghiệm tích lũy từ quá trình sống và làm việc Kiến thức và kinh nghiệm

thu nhận trong đào tạo và cuộc sống là hai yếu tố quan trọng nhất hình thành vốn con người

Mô hình sử dụng Mô hình hàm sản xuất Lucas(1998), Barro and Sala-i-Matin

Trang 4

Y=K α (uH) 1-α

Học hay làm việc được mô hình hóa: γH=B(1-u)-δH=B(1-u)-δ

Trong đó: + u: thời gian dành cho sản xuất

+ H: Vốn con người; γH=B(1-u)-δH: Tỷ lệ tăng trưởng của vốn con người + δ: Sự giảm giá của vốn con người

+ B: Mức độ kiến thức biến đổi thành vốn con người + Y: Sản lượng quốc gia

3 Mối quan hệ giữa vốn con người và năng suất lao động

Công trình nghiên cứu của George Borjas (2005) đã kết luận rằng người ta đi học lúc trẻ sẽ tích lũy được nhiều hơn “năng lực”, tức kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy được nhiều hơn Chính nhờ những điều đó, lao động nông thôn sẽ tự tạo

ra việc làm cho mình, tăng năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp và quan trọng hơn là họ biết cải tiến kỹ thuật và quản lý hiệu quả hơn

Trong bài viết của PGS.TS Bùi Quang Bình về Học vấn, thu nhập và đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, dựa trên những nghiên cứu

ảnh hưởng của trình độ học vấn, chuyên môn của chủ hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên, Phó giáo sư đã rút ra kết luận những chủ hộ có học vấn và chuyên môn cao hơn sẽ có năng suất cà phê cao hơn

II Phương pháp phân tích

Cách tiếp cận

Để giải quyết các mục tiêu, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành tiếp cận số liệu từ bảng tổng hợp (file Excel) sau khi khảo sát các nông dân ở Ấn Độ năm 1970 với phân tích định tính và định lượng để đánh giá sự ảnh hưởng của trình độ học vấn và tỷ lệ sỡ hữu đất đối với năng suất lao động Cụ thể, trong bài viết của chúng tôi đó là sự ảnh hưởng đến tỷ lệ

sử dụng giống lúa năng suất cao theo các cấp độ học vấn từ chưa tốt nghiệp cấp 1 đến tốt

Trang 5

nghiệp cấp 2 và xem xét sự ảnh hưởng đó như thế nào khi thêm biến số sỡ hữu đất đai

(Kí hiệu: landcl) vào mô hình phân tích.

Đối tượng phân tích

- Sử dụng giống lúa năng suất cao

- Trình độ học vấn

- Tỷ lệ sỡ hữu đất đai

Phạm vi phân tích

- Nông dân Ấn Độ: 2424 nông dân

- Thời gian: 1970

- File excel

Phương pháp phân tích

Phương pháp thu thập số liệu: số liệu sơ cấp được lấy từ nguồn số liệu được

cung cấp bởi cuộc điều tra khảo sát trình độ học vấn và tỷ lệ sử dụng giống lúa năng suất cao của nông dân Ấn Độ năm 1970 File excel

Phương pháp phân tích, thống kê: Kết hợp phương pháp thống kê mô tả và

phương pháp phân tích số liệu theo định tính và định lượng

Sử dụng phần mềm hồi quy SPSS và mô hình Kinh tế lượng để đánh giá độ tin cậy trong việc phân tích số liệu

PHẦN II KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Áp dụng khung lý thuyết Kinh tế phát triển để giải thích kết quả phân tích tìm được, sau khi sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tính tỷ lệ và sự ảnh hưởng của

trình độ học vấn và tỷ lệ sỡ hữu đất đai phân theo từng nhóm đất đến việc sử dụng giống lúa năng suất cao của nông dân Ấn Độ năm 1970, nhóm tác giả có kết quả phân tích và

những đánh giá thông qua việc trả lời các câu hỏi, như sau:

Trang 6

1 Những nông dân có trình độ học vấn cấp 1 có sử dụng giống lúa năng suất cao nhiều hơn so với những nông dân có trình độ học vấn thấp hơn hay không? Đâu là những lý do về mặt kinh tế để giải thích cho hiện tượng này?

Trả lời

a) Hướng phân tích 1

Tổng số nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao : 763 người

Những nông dân tốt nghiệp cấp 1 sử dụng giống lúa năng suất cao : 485 người chiếm 63.56% số người sử dụng giống lúa năng suất cao.

 Những nông dân chưa tốt nghiệp cấp bậc nào sử dụng giống lúa năng suất

cao : 278 người chiếm 34.44% số người sử dụng giống lúa năng suất cao

Về mặc giá trị tuyệt đối, thì những nông dân tốt nghiệp cấp 1

vượt trội (485>278) về việc đưa giống lúa năng suất cao vào sử

dụng

Về mặc giá trị tương đối, kết cấu thì những nông dân đã tốt

nghiệp cấp 1 cũng vượt trội hơn (63.56% > 34.44%), lớn hơn

gần gấp đôi

Bảng 1: Trình độ nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao đã tốt nghiệp cấp 1 và chưa tốt nghiệp cấp 1 trên tổng số nông dân sử dụng lúa năng suất cao

Trình độ nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao Số nông dân Phần trăm

Kết luận : Những nông dân có trình độ học vấn cấp 1 có sử dụng giống lúa năng

suất cao nhiều hơn so với những nông dân có trình độ học vấn thấp hơn

b) Hướng phân tích 2

Trang 7

Có tổng cộng 1166 nông dân đã tốt nghiệp cấp 1, trong số đó có 458 nông dân sử dụng giông lúa cho năng suất cao, chiếm 41.595% trên tổng số

nông dân tốt nghiệp cấp 1

Có tổng cộng 1258 nông dân chưa tốt nghiệp bậc nào, trong đó chỉ có 278 nông dân sử dụng giống lúa cho năng suất cao, chiếm 22.10% trên tổng số

nông dân chưa tốt nghiệp bậc nào

Về mặt giá trị tuyệt đối, những nông dân tốt nghiệp cấp 1 vượt

trội về việc đưa giống lúa năng suất cao vào sử dụng (458>278).

Về mặt giá trị tương đối, cường độ thì nông dân tốt nghiệp cấp 1

sử dụng lúa năng suất cao lớn hơn gần gấp đôi so với những

nông dân chưa tốt nghiệp bậc nào ( 41.595% > 22.10%).

Bảng 2: Trình độ nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao đã tốt nghiệp cấp 1 và

chưa tốt nghiệp cấp 1 trên tổng số nông dân

Trình độ nông dân Tổng số

nông dân

Số nông dân sử dụng lúa năng suất cao

Chiếm bao nhiêu

% so với tổng số

Kết luận: Những nông dân có trình độ học vấn cấp 1 có sử dụng giống lúa năng

suất cao nhiều hơn so với những nông dân có trình độ học vấn thấp hơn

Lý do về mặt kinh tế đó là : Công trình nghiên cứu của George Borjas (2005) đã

kết luận rằng người ta đi học lúc trẻ sẽ tích lũy được nhiều hơn “năng lực”, tức kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy được nhiều hơn Chính nhờ những điều đó, lao động nông thôn sẽ tự tạo ra việc làm cho mình, tăng năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp và quan trọng hơn là họ biết cải tiến kỹ thuật và quản lý hiệu quả hơn

Trang 8

2 Những nông dân có trình độ học vấn cấp 2 có sử dụng giống lúa năng suất cao nhiều hơn so với những nông dân có trình độ học vấn thấp hơn hay không? Anh/chị có nhận xét gì khi so sánh kết quả vừa tìm được với kết quả ở câu 1?

Trả lời

Có tổng cộng 488 nông dân đã tốt nghiệp cấp 2, trong đó có 220 nông dân

sử dụng giống lúa cho năng suất cao, chiếm 45,082% trên tổng số nông dân

tốt nghiệp cấp 2

Có tổng cộng 1166 nông dân đã tốt nghiệp cấp 1, trong đó riêng số nông dân đã tốt nghiệp cấp 1 và chưa tốt nghiệp cấp 2 là 678 nông dân, có 265 nông dân sử dụng giông lúa cho năng suất cao, chiếm 39.086% trên số

nông dân đã tốt nghiệp cấp 1 mà chưa tốt nghiệp cấp 2

Có tổng cộng 1258 nông dân chưa tốt nghiệp bậc nào, trong đó chỉ có 278 nông dân sử dụng giống lúa cho năng suất cao, chiếm 22.099% trên tổng

số nông dân chưa tốt nghiệp bậc nào

Về mặt số lượng giá trị tuyệt đối, thì những nông dân tốt nghiệp cấp 2

sử dụng giống lúa năng suất cao khá là thấp, chỉ 220 nông dân so với

265 nông dân tốt nghiệp cấp 1 và 278 nông dân chưa tốt nghiệp bậc

nào

Tuy nhiên để so sánh mang tính chất khách quan thì việc so sánh cả 3

phải dựa trên so sánh giá trị tương đối cường độ, nghĩa là so sánh dựa

trên tỷ suất sử dụng của từng loại trình độ của nông dân và nông dân đã

tốt nghiệp cấp 2 có tỷ suất sử dụng là lớn nhất với 45.082% số nông dân

sử dụng trong khi với nông dân chỉ tốt nghiệp cấp 1 là 39.086% và nông dân chưa tốt nghiệp cấp nào chỉ đạt 22.099%.

Bảng 3: Trình độ nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao đã tốt nghiệp cấp 2, chỉ

tốt nghiệp cấp 1 và chưa tốt nghiệp cấp 1 trên tổng số nông dân

Trình độ nông dân Tổng số Số nông dân sử dụng Chiếm bao nhiêu

Trang 9

nông dân lúa năng suất cao % so với tổng số

 Trong câu 2 chúng ta không thể sử dụng giá trị tương đối kết cấu vì đặc điểm của số liệu khảo sát được là có mối quan hệ lẫn nhau, điển hình là biến đã tốt nghiệp cấp 1 và đã tốt nghiệp cấp 2 có sự tự tương quan với nhau nếu chạy mô hình hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc là có sử dụng giống lúa năng suất mới hay không Đưa ra ví dụ cụ thể : đã tốt nghiệp cấp 2 thì chắc chắn nông dân đó đã tốt nghiệp cấp 1, nhưng những nông dân tốt nghiệp cấp 1 thì không hoàn toàn là đã tốt nghiệp cấp 2 Hoặc nếu có sử dụng giá trị tương dối kết cấu thì chỉ có thể sử dụng cho riêng nhóm nông dân đã tốt nghiệp cấp 1 mà thôi

Kết luận: Những nông dân có trình độ học vấn cấp 2 có sử dụng giống lúa năng

suất cao nhiều hơn so với những nông dân có trình độ học vấn thấp hơn

Nhận xét: Kết quả phân tích câu 2 hoàn toàn phù hợp với kết quả phân tích câu 1.

Lý do về mặt kinh tế đó là:

3 Các nông dân Ấn Độ được chia làm 4 nhóm bằng nhau, đại diện bởi biến landcl trong cơ sở dữ liệu (landcl = 1 nghĩa là nông dân thuộc nhóm 1) Nhóm

1 là nhóm nông dân có ít đất đai nhất trong khi nhóm 4 là nhóm nông dân có nhiều đất đai nhất Hãy phân tích số liệu để xác định xem có đúng là tính bình quân thì những nông dân sở hữu nhiều đất cũng là người hay sử dụng lúa năng suất cao và là người có trình độ học vấn cao hay không? Nếu câu trả lời là đúng thì sai lầm tiềm năng trong kết luận của chúng ta ở câu 1 là gì?

Trả lời

Với những nông dân sở hữu đất ít nhất loại 1 : có 283 người, trong đó :

Trang 10

o Nông dân không bằng cấp và sử dụng giống lúa NS cao là : 29 người chiếm 12.55% trên tổng số người không bằng cấp

o Nông dân chỉ tốt nghiệp cấp 1 và sử dụng giống lúa NS cao là : 14 người chiếm 22.58% trên tổng số người chỉ tốt nghiệp cấp 1.

o Nông dân tốt nghiệp cấp 2 sử dụng giống lúa NS cao : 11 nông dân chiếm 28.95% tổng số người đã tốt nghiệp cấp 2.

Với những nông dân sở hữu đất loại 2 : có 445 người, trog đó có :

o Nông dân không bằng cấp và sử dụng giống lúa NS cao là : 60 người chiếm 17.65% trên tổng số người không bằng cấp

o Nông dân chỉ tốt nghiệp cấp 1 và sử dụng giống lúa NS cao là : 35 người chiếm 33.02% trên tổng số người chỉ tốt nghiệp cấp 1.

o Nông dân tốt nghiệp cấp 2 sử dụng giống lúa NS cao : 27 nông dân chiếm 38.57% tổng số người đã tốt nghiệp cấp 2.

Với những nông dân sở hữu đất loại 3 : có 566 người, trog đó có :

o Nông dân không bằng cấp và sử dụng giống lúa NS cao là : 59 người chiếm 14.97% trên tổng số người không bằng cấp

o Nông dân chỉ tốt nghiệp cấp 1 và sử dụng giống lúa NS cao là : 64 người chiếm 43.54% trên tổng số người chỉ tốt nghiệp cấp 1.

o Nông dân tốt nghiệp cấp 2 sử dụng giống lúa NS cao : 43 người chiếm 39.81% tổng số người đã tốt nghiệp cấp 2.

Với những nông dân sở hữu đất loại 4 : có 1130 người, trog đó có :

o Nông dân không bằng cấp và sử dụng giống lúa NS cao là : 130 người chiếm 18.41% trên tổng số người không bằng cấp

o Nông dân chỉ tốt nghiệp cấp 1 và sử dụng giống lúa NS cao là : 152 người chiếm 41.87% trên tổng số người chỉ tốt nghiệp cấp 1.

o Nông dân tốt nghiệp cấp 2 sử dụng giống lúa NS cao : 139 người chiếm 51.10% tổng số người đã tốt nghiệp cấp 2.

Trang 11

Bảng 4: Trình độ nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao đã tốt nghiệp cấp 2, chỉ

tốt nghiệp cấp 1 và chưa tốt nghiệp cấp 1 phân theo nhóm đất

Số lượng nông dân sở hữu đất đai theo từng cấp độ 283 445 566 1130 Chưa tốt

nghiệp cấp

1

% so với tổng số cùng trình độ 12,55

%

17,65

%

14,97

%

18,41

% Chỉ tốt

nghiệp cấp

1

% so với tổng số cùng trình độ 22,58

%

33,02

%

43,54

%

41,87

% Tốt nghiệp

cấp 2

% so với tổng số cùng trình độ 28,95

%

38,57

%

39,81

%

51,10

%

Kết luận: Từ bảng số liệu ta dể dàng nhận thấy rằng những nông dân sở hữu càng

nhiều đất trồng lúa thì mức độ họ hay sử dụng giống lúa năng suất cao và là những người

có trình độ học vấn cao Như vậy khẳng định đầu bài nghiên cứu là chính xác

Sai lầm tiềm năng ở câu 1 đó chính là : yếu tố sở hữu đất đai chính là một trong

những yếu tố tác động đến việc sử dụng giống lúa năng suất cao, bên cạnh yếu tố về trình

độ học vấn

4 Trong từng nhóm nông dân chia theo diện tích đất sở hữu, hãy so sánh tỷ lệ

sử dụng giống lúa năng suất cao của những người chưa tốt nghiệp cấp 1 với

những người đã tốt nghiệp cấp 1 Kết luận rút ra ở câu 1 có đúng cho tất cả

các nhóm nông dân chia theo diện tích đất sở hữu hay không?

Trả lời

Tương tự như câu 3, ta có bảng sau:

Bảng 5: Nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao đã tốt nghiệp cấp 1 và chưa tốt

Trang 12

Cấp độ 1 2 3 4

Số lượng nông dân sở hữu đất đai theo từng cấp độ 283 445 566 1130 Chưa tốt

nghiệp cấp 1

% so với tổng số cùng trình độ 15,85% 22,30% 18,97% 26,26% Tốt nghiệp

cấp 1

% so với tổng số cùng trình độ 25% 35,23% 41,96% 45,83%

Kết luận: Từ bảng số liệu ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng những nông dân sở hữu

càng nhiều đất trồng lúa thì mức độ họ hay sử dụng giống lúa năng suất cao và là những người có trình độ học vấn cao hơn Kết luận rút ra vẫn đúng so cho tất cả các nhóm nông dân chia theo diện tích đất sỡ hữu

PHẦN III KẾT LUẬN CHUNG

Từ kết quả phân tích bài viết kết hợp với việc kiểm tra độ tin cậy trong phân tích hồi quy đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa năng suất lao động với trình độ học vấn cùng với tỷ lệ sỡ hữu đất đai của nông dân phân theo từng nhóm đất Cụ thể là việc nông dân sử dụng giống lúa năng suất cao tỷ lệ thuận với trình độ học vấn và tỷ lệ sỡ hữu đất đai của nông dân Những nông dân có trình độ học vấn càng cao và sỡ hữu diện tích đất đai càng lớn thì họ sẽ sử dụng giống lúa năng suất cao để tăng giá trị về mặt số lượng và chất lượng cho nông sản

Ngày đăng: 22/03/2021, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w