CƠ SỞ LÝ THUYẾT: GDP là gì? Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Gần đây, trong các tài liệu thống kê mang tính nghiêm ngặt, thuật ngữ tiếng Anh national gross domestic product NGDP hay được dùng để chỉ tổng sản phẩm quốc nội, regional (hoặc provincial) gross domestic product RGDP hay dùng để chỉ tổng sản phẩm nội địa của địa phương. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó. TFP là gì? TFP (Total Factor Productivity) là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế. TFP phản ảnh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tùy thuộc vào chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn. Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động… Nếu tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào năng suất lao động và hiệu quả đầu tư, hay còn gọi là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), thì đó là tăng trưởng theo chất lượng, phát triển theo chiều sâu. Hầu hết các nền kinh tế đang hướng tới phương thức này, bởi năng suất lao động và hiệu quả đầu tư không bị hạn hẹp về nguồn. Hơn nữa, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cũng như của Việt Nam thời gian qua cho thấy, việc đạt mục tiêu cuối cùng không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà ở sự bền vững của tốc độ tăng đó trong dài hạn. Nâng cao TFP góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát...
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ
- -BÀI TẬP NHÓM PHÂN TÍCH KINH TẾ-XÃ HỘI
1986-2015
GVHD : PGS.TS Bùi Quang Bình
2 Nguyễn Trường Tùng 41K20
3 Lê Thị Thắm 41K20
Đà Nẵng 2016
Trang 2A CƠ SỞ LÝ THUYẾT :
1 GDP là gì?
Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay
GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa
và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường
là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Gần đây, trong các tài liệu thống kê mang tính nghiêm ngặt, thuật ngữ tiếng
Anh national gross domestic product- NGDP hay được dùng để chỉ tổng sản phẩm quốc nội, regional (hoặc provincial) gross domestic product- RGDP hay dùng để
chỉ tổng sản phẩm nội địa của địa phương GDP là một trong những chỉ số cơ bản
để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó
2 TFP là gì?
TFP (Total Factor Productivity) là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời
cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế TFP phản ảnh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tùy thuộc vào chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động…
Nếu tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào năng suất lao động và hiệu quả đầu tư, hay còn gọi là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), thì đó là tăng trưởng theo chất lượng, phát triển theo chiều sâu Hầu hết các nền kinh tế đang hướng tới phương thức này, bởi năng suất lao động và hiệu quả đầu tư không bị hạn hẹp về nguồn Hơn nữa, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cũng như của Việt Nam thời gian qua cho thấy, việc đạt mục tiêu cuối cùng không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà ở sự bền vững của tốc độ tăng đó trong dài hạn
Nâng cao TFP góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
Trang 3B KẾT QUẢ PHÂN TÍCH:
I Đánh giá xu hướng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1986-2015
Giai đoạn
Tốc độ tăng Tỷ lệ đóng Tỷ lệ đóng Tỷ lệ đóng trưởng GDP góp của L góp của K góp của TFP 1986-1990 3.9 28.5 40.4 31.1
1991-1995 6.9 21.1 49.1 29.8
1996-2000 5.1 27.4 73.9 -1.3
2001-2005 6.1 27.1 54.9 18
2006-2010 5.3 20.8 48.1 31.1
2011-2015 4.6 11.1 34.8 54.1
+ Dựa vào bảng thống kê trên ta thấy:
- Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng của L (lao động) theo từng giai đoạn có xu hướng giảm dần => nền kinh tế đang đi đúng hướng (một nền kinh tế phát triển hướng tới độ thâm dụng lao động càng ít càng tốt).
- Năm 1996-2005, tỷ lệ đóng góp của K (vốn) rất cao, chứng tỏ đây là giai đoạn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cũng như các ngành công nghiệp, công nghệ cao, những năm 2006-2015, tỷ lệ vốn giảm dần.
- Tỷ lệ đóng góp của TFP có xu hướng giảm dần ở những năm 1986-2000, thậm chí giai đoạn 1996-2000 tỷ lệ đóng góp là âm, điều này chứng tỏ nền kinh tế sử dụng hiệu quả các nguồn lực vốn và lao động, không quan tâm đến công nghệ, cơ cấu, chuyển dịch,
tăng GDP giai đoạn này phụ thuộc chủ yếu vào tăng vốn và lao động, chứ không nâng cao được hiệu quả sử dụng các nguồn lực, vì vậy đóng góp của TFP là giá trị âm
- Những năm 2001-2015 thì tỷ lệ đóng góp của TFP lại tăng cao, tỷ lệ đóng
góp lao động giảm mạnh
II Vậy TFP tăng cao thì có làm GDP tăng trưởng không?
- Như chúng ta đã biết, sự phát triển kinh tế của nước ta trong những thập kỷ qua
chủ yếu phụ thuộc vào sự tích luỹ của các yếu tố đầu vào, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) Điều này đã đưa đất nước chúng ta từ nền kinh tế nông nghiệp đến những bước đầu của nền kinh tế công nghiệp hoá Khi các yếu
tố đầu vào (nhân công, nguyên liệu…) sẵn có và rẻ thì rất thuận lợi cho kinh tế
Trang 4chúng ta phát triển Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào yếu tố đầu vào lại có nhược
điểm đó là sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên Do đó, khi nền kinh tế phát triển ở mức cao hơn, bên cạnh chiến lược tăng trưởng dựa vào đầu vào , thì cũng phải định hướng vào nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và lao động, đó chính là nâng cao TFP
- Như vậy, có thể hiểu TFP là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả
“lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào (phương thức truyền thống) mà còn tuỳ thuộc vào chất lượng các yếu tố đầu vào là lao động và vốn.
- Theo đó, nâng cao TFP là biện pháp gia tăng đầu ra bằng việc nâng cao
chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào vào việc cải tiến chất lượng của
lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý, nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động….
- Nguồn tăng TFP chủ yếu dựa vào 5 yếu tố chính như sau:
a) Chất lượng lao động: trình độ học vấn liên quan đến khả năng tiếp thu, ứng
dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ; Đào tạo nâng cao kỹ năng, tay nghề của người lao động; Đào tạo chuyển giao công nghệ Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng khả năng và năng lực của lực lượng lao động trong việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao là yếu tố rất đóng góp rất quan trọng làm tắng TFP
b) Thay đổi nhu cầu hàng hoá, dịch vụ: tác động tới TFP thông qua việc tăng
nhu cầu trong nước và xuất khẩu về sản phẩm, hàng hoá là cơ sở quan trọng để
sử dụng tối ưu các nguồn lực
c) Thay đổi cơ cấu vốn: tăng cường đầu tư công nghệ tiên tiến như công nghệ
thông tin và truyền thông, công nghệ hiện đại và tự động hoá Yếu tố này thể hiện việc đầu tư vốn vào những lĩnh vực có năng suất cao, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế
d) Thay đổi cơ cấu kinh tế: là việc phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế
giữa các ngành và thành phần kinh tế, các nguồn lực sẽ được phân bổ nhiều hơn cho các ngành hoặc thành phần kinh tế có năng suất cao hơn, từ đó đóng góp vào việc tăng TFP
e) Áp dụng tiến bộ kỹ thuật: thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, đổi mới; nghiên
cứu và phát triển sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất; công nghệ quản lý tiên tiến ( hệ thống, công cụ quản lý tiên tiến…) Yếu tố này bao hàm các hoạt động như đổi mới, nghiên cứu phát triển, thái độ làm việc tích cực, hệ thống quản lý, hệ thống tổ chức… tác động làm nâng cao năng suất
Trang 5=> Hơn thế nữa, trong 3 yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng thì TFP có vai
trò quan trọng hàng đầu, được nhận diện dưới 4 góc độ (1) Nếu tăng vốn, tăng
số lượng lao động là có giới hạn, thì tăng TFP là yếu tố gần như vô hạn, vì nó liên quan đến trí tuệ của con người (2) Nếu tăng vốn, tăng số lượng lãi suất thường có hiệu ứng phụ (bất ổn vĩ mô, lạm phát, công ăn việc làm…), thì tăng TFP gần như không gây hiệu ứng phụ (3) Tăng TFP là yếu tố quan trọng nhất
để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, phát triển bền vững (4) Tăng tỷ trọng đóng góp của TFP sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh, không những chống được nguy cơ tụt hậu xa hơn mà còn góp phần chuyển nền kinh tế lên đẳng cấp mới, vị thế mới trong quan hệ so sánh với quốc tế.
KẾT LUẬN: tốc độ tăng TFP càng cao thì tốc độ tăng trưởng GDP càng
cao, càng chất lượng, là yếu tố quyết định mô hình tăng trưởng kinh tế.
III Đánh giá tăng trưởng kinh tế theo từng giai đoạn:
Giai đoạn 1986-1990
Tổng quan: năm 1986 Việt Nam đã bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới với ba trụ cột: chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó khu vực dân doanh đóng vai trò ngày càng quan trọng, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam
19850 1986 1987 1988 1989 1990 20000
40000
60000
80000
100000
120000
140000
0 1 2 3 4 5 6
7
106173 109189 113154
119960 125571
131968
2.84
3.63
6.01
4.68 5.09
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1986-1990
GDP(tỷ đồng) % tăng trưởng Dựa vào biểu đồ ta thấy từ năm 1986 %GDP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế tăng mạnh, đỉnh điểm là năm 1988 lên đến 6.01%, nhưng sang năm 1989 thì đã giảm đi đáng kể
Trang 6Xét theo xu hướng tăng trưởng của giai đoạn này với số liệu như sau:
Gtb 3.862303249 1.71880485 4.339418655
gY βgLgL αgKgK gTFP 3.862303249 1.100035104 1.562190716 1.200077429
28.48132405 40.4471274 31.07154855
Cho thấy, nền kinh tế đi theo xu hướng gần như là cân bằng về việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực về lao động, vốn và TFP, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt
3,9%
Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hàng theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển
Giai đoạn 1991-1995
19910 1992 1993 1994 1995 50000
100000
150000
200000
250000
0 2 4 6 8 10 12
139634 151782
164043 178534
195567 5.81
8.7
8.08 8.83
9.54
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1991-1995
GDP(tỷ đồng) % tăng trưởng
Có thể nói tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn này sau năm 1991 thì tăng mạnh và duy trì ở mức ổn định, đỉnh điểm là đến cuối giai đoạn tức năm 1995 lên đến 9,5%, tốc
độ tăng trưởng trung bình cả giai đoạn là gần 7%
Gtb 6.969724903 2.300416164 9.498580194
gY βgLgL αgKgK gTFP
Trang 76.969724903 1.472266345 3.41948887 2.077969688
21.12373681 49.06203498 29.81422821
Dựa vào số liệu cho thấy đây là giai đoạn nền kinh tế thâm dụng vốn, với mức
đóng góp vào tăng trưởng là 49,1%
Thời kỳ này của nền kinh tế Việt Nam là thời kỳ kiềm chế thành công lạm phát đồng thời tăng trưởng chanh chóng, nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và toàn diện Tuy còn một số mặt chưa vững chắc song đã tạo được tền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Giai đoạn 1996-2000
19960 1997 1998 1999 2000
50000
100000
150000
200000
250000
300000
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
213833 231264
244596 256273
273666
9.34
8.15
5.76
4.77
6.79
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1996-2000
GDP(tỷ đồng) % tăng trưởng
Ở giai đoạn này tốc độ tăng trưởng đang ở mức cao thì bị giảm nhanh đáng kể thậm chí từ năm 1996 đến năm 1999 trong 4 năm đã giảm từ 9,3% xuống còn 4.8%
Gtb 5.0580228 2.164674281 10.38852946
gY βgLgL αgKgK gTFP 5.0580228 1.38539154 3.739870607 -0.067239347
27.3899821 73.93937819 -1.329360291 Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (1997-1999) và thien tai nghiêm trọng thì mức tăng trưởng 5.1% của kinh tế Việt Nam vẫn là mức tăng trưởng khá
Tỷ lệ đóng góp tăng trưởng của TFP giảm mạnh thậm chí âm, điều này chứng tỏ nền kinh tế sử dụng hiệu quả tuyệt đối nguồn lực vốn và lao động, nhất là vốn với
tỷ lệ đóng góp 74%(thâm dụng vốn) Đây cũng là giai đoạn mà kinh tế việt nam
Trang 8không quan tâm đến công nghệ, cơ cấu, chuyển dịch mà chỉ quan tâm làm sao sử dụng hiệu quả nhất vốn và lao động => TFP trong giai đoạn này tác động âm
Giai đoạn 2001-2005:
20010 2002 2003 2004 2005 50000
100000
150000
200000
250000
300000
350000
400000
450000
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
292535 313246
336242 362435
393031 6.89 7.08 7.34
7.79
8.44
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2001-2005
GDP(tỷ đồng) % tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng kinh tế của giai đoạn này có xu hướng tăng dần và đi vào ổn định Trong 5 năm này sự nghiệp đổi mới của giai đoạn này đi vào chiều sâu, việc triển khai chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ 2001-2005 đã đạt được kết quả nhất định
Gtb 6.083977423 2.576553254 9.275062416
gY βgLgL αgKgK gTFP 6.083977423 1.648994082 3.33902247 1.095960871
27.10388234 54.88222979 18.01388787
Tỷ lệ đóng góp của vốn vẫn ở mức cao với 54,9% nhưng lao động và TFP cũng được cân bằng
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn đinh kinh tế vĩ mô được duy trì, đảm bảo sự
ổn định chính trị, quốc phòng an ninh bước đầu phát huy được nhiều lời thế của đất nước của từng vùng và từng ngành , cả các htheer chế kinh tế, từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý và hệ thống điều hành, cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính, tiền tế, phát triển nguồn và chất lượng lao động, khoa học công nghệ
Trang 9 Giai đoạn 2006-2010
20060 2007 2008 2009 2010 100000
200000
300000
400000
500000
600000
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
425373 461344
490500 516600
551609 8.23 8.46
6.32
5.32
6.78
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006-2010
GDP(tỷ đồng) % tăng trưởng
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng có biến động nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức khá,
đáng kể là năm 2009 xuống mức 5,3% nhưng sang năm 2010 đã lấy lại ổn định với mức tăng trưởng 6,8%
Gtb 5.334899361 1.735988259 7.133354443
gY βgLgL αgKgK gTFP 5.334899361 1.111032486 2.568007599 1.655859276
20.82574404 48.1360083 31.03824766 Tiềm lực quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển trở thành nhóm nước có thu nhập thấp thành nhóm nước có thu nhập trung bình Mặc dù tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Tỷ lệ đóng góp của các yếu tố nguồn lực gần như cân bằng, xấp xỉ nhau
Giai đoạn 2011-2015
Trang 1020110 2012 2013 2014 2015 100000
200000
300000
400000
500000
600000
700000
800000
0 1 2 3 4 5 6 7 8
584073 613452
646701.1 685373.82
731156.8
5.89
5.03 5.42
5.98
6.68
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2011-2015
GDP(tỷ đồng) % tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì ở mức ổn định trong giai đoạn này, tăng đều từ 5.9%
ở đầu kì đến 6,68% ở cuối kì
Có thể nói trong giai đoạn 1986-2015 mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thử thách nhưng nền kinh tế nước ta vẫn đang hòa nhập và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ
Từ đó tạo ra những chuyển biến lớn, tiền đề cho sự phát triển lâu dài Đồng thờ góp phần nâng cao tiềm lực cho nền kinh tế, chất lượng cuộc sống cho nhân dân và khẳng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế
Gtb 4.594459026 0.796284134 4.436651243
gY βgLgL αgKgK gTFP 4.594459026 0.509621846 1.597194447 2.487642733
11.09209687 34.76349312 54.14441001 Nền kinh tế trong giai đoạn này nâng cao việc sử dụng năng suất nhân tố tổng hợp TFP, chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kỹ thuật khoa học công nghệ Tỷ lệ đóng góp của TFP lên đến quá nửa với 54,1%, đạt mục tiêu đẩy mạnh cải cách thể chế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu, phát triển và ứng dụng khoa học -công nghệ, đẩy mạnh sáng tạo