Hợp đồng là một chế định quan trọng, được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bên cạnh các quy định chung về hợp đồng, tại các BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều có mục riêng quy định về hợp đồng thông dụng, trong đó bao gồm HĐTCTS. Ngược dòng lịch sử, ngay từ thời kỳ phong kiến, mặc dù vấn đề tặng cho chưa được quy định trực tiếp nhưng đã manh nha xuất hiện trong các quy định pháp luật. Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các HĐTCTS đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Kéo theo đó, các tranh chấp liên quan đến HĐTCTS trên thực tế phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp. Việc giải quyết tốt các tranh chấp về HĐTCTS sẽ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bên tặng cho, bên được tặng cho, qua đó ổn định và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch trong đời sống, xã hội.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ GIANG
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những phân tích, kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Giang
Trang 4NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Trần Thị Huệ và TS Vương Thanh Thúy - hai cô giáo hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo trong quá trình NCS thực hiện luận án NCS cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo, anh, chị, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để NCS hoàn thành bản Luận án này.
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
A TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 9
B NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN 1.1 Nhận diện hợp đồng tặng cho tài sản 17
1.1.1 Các quan niệm về tặng cho 17
1.1.2 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 25
1.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản 33
1.2.1 Tính đơn vụ và song vụ 33
1.2.2 Tí nh thực tế 35
1.2.3 Tính không có đền bù 38
1.3 Phân loại hợp đồng tặng cho tài sản 40
1.3.1 Căn cứ vào điều kiện tặng cho tài sản 41
1.3.2 Căn cứ vào đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản 42
1.3.3 Căn cứ vào hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản 46
1.4 Phân biệt hợp đồng tặng cho tài sản với một số giao dịch dân sự khác 47
1.4.1 Phân biệt hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng 48
1.4.2 Tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng 50
1.4.3 Tặng cho tài sản có điều kiện thực hiện công việc và hợp đồng dịch vụ trả công bằng vật 52
1.5 Các lý thuyết ảnh hưởng đến việc xây dựng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản 53
1.5.1 Lý thuyết về hợp đồng 53
1.5.2 Lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho tài sản 55
1.5.3 Lý thuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và “Donatio mortis causa” 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 62
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN 2.1 Thực trạng các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản 63
2.1.1 Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản 63
2.1.2 Chủ thể, quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong hợp đồng tặng cho tài sản 73 2.1.3 Hì nh thức của hợp đồng tặng cho tài sản 85
2.1.4 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản 89
2.1.5 Hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản 95
Trang 72.2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 96
2.2.1 Các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện tặng cho 96
2.2.2 Chủ thể thực hiện điều kiện tặng cho 103
2.2.3 Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong tặng cho tài sản có điều kiện 105
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 122
CHƯƠNG 3.THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN 3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản 123
3.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản 123
3.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 134
3.2 Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản 144
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản 145 3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện 154
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 158
KẾT LUẬN CHUNG 159
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 162
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
C CÁC PHỤ LỤC 173
PHỤ LỤC 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 173
PHỤ LỤC 2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN QUA CÁC THỜI KỲ 218
PHỤ LỤC 3 ÁN LỆ SỐ 14/2017/ AL VỀ CÔNG NHẬN ĐIỀU KIỆN CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT MÀ ĐIỀU KIỆN ĐÓ KHÔNG ĐƯỢC GHI TRONG HỢP ĐỒNG 225
PHỤ LỤC 4 CÁC BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN 232
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tí nh cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hợp đồng là một chế định quan trọng, được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bên cạnh các quy định chung về hợp đồng, tại các BLDS năm
1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều có mục riêng quy định về hợp đồng thông dụng, trong đó bao gồm HĐTCTS Ngược dòng lịch sử, ngay từ thời kỳ phong kiến, mặc dù vấn đề tặng cho chưa được quy định trực tiếp nhưng đã manh nha xuất hiện trong các quy định pháp luật
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các HĐTCTS đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng Kéo theo đó, các tranh chấp liên quan đến HĐTCTS trên thực tế phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp Việc giải quyết tốt các tranh chấp về HĐTCTS sẽ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bên tặng cho, bên được tặng cho, qua đó ổn định và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch trong đời sống, xã hội
Hiện nay, cơ sở pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh HĐTCTS là BLDS năm 2015
Về cơ bản, các quy định trong BLDS năm 2015 kế thừa nguyên các quy định trong BLDS năm 2005 về HĐTCTS Các quy định này đã tạo ra hành lang pháp lý khá đầy
đủ và phù hợp để các chủ thể xác lập, thực hiện HĐTCTS với nhau Tuy nhiên, pháp luật về HĐTCTS trong BLDS năm 2005 còn nhiều bất cập, hạn chế và vẫn tiếp tục tồn
tại trong BLDS năm 2015: Một là, các quy định về HĐTCTS còn sơ sài, nhiều vấn đề chưa được quy định như: (i) Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC đối với các tài
sản vô hình; (ii) Các căn cứ hủy bỏ hợp đồng đặc thù được áp dụng riêng HĐTCTS; (iii) Các yếu tố pháp lý mà điều kiện tặng cho cần đáp ứng; (iv) Bảo vệ quyền lợi cho
con và cho những người thân thích khác của người tặng cho; (v) Tặng cho tài sản đối với cá nhân chưa được sinh ra; (vi) Chưa ghi nhận phương thức giải quyết đối với HĐTCTSCĐK khi bên được tặng cho chỉ thực hiện một phần điều kiện ; Hai là, một
số quy định hiện hành về HĐTCTS còn chưa phù hợp như: (i) Thời điểm phát sinh
hiệu lực của HĐTCTS chưa thống nhất giữa động sản và bất động sản không phải đăng ký sở hữu Đối với động sản không phải đăng ký sở hữu thì HĐTC có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản Trong khi đó, HĐTC bất động sản không phải
đăng ký có hiệu lực kể từ khi bên tặng cho chuyển giao tài sản; (ii) So với BLDS năm
2005, Điều 458 BLDS năm 2015 quy định bên tặng cho và bên được tặng cho được phép thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC động sản không phải đăng
ký sở hữu Đây là sự thay đổi căn bản nhất giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015
về HĐTCTS Tuy nhiên, sự bổ sung này được đánh giá không phù hợp và không mang
tính khả thi; (iii) Khoản 2, khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 ghi nhận chưa phù hợp
về cách thức giải quyết khi bên tặng cho hoặc bên được tặng cho không thực hiện
nghĩa vụ trong HĐTCTSCĐK; (iv) Khoản 2 Điều 462 BLDS năm 2015 chưa phù hợp
Trang 9khi ghi nhận bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản ;
Ba là, một số quy định về HĐTCTS còn chưa thống nhất, mâu thuẫn với một số luật
chuyên ngành như: Quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS trong BLDS năm 2015 chưa thống nhất với quy định của Luật Công chứng năm 2014; sự không tương thích giữa BLDS năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014 về thời điểm phát sinh hiệu lực đối với trường hợp tặng cho nhà ở
Những hạn chế, bất cập tồn tại trong pháp luật về HĐTCTS là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hệ quả thiếu cơ sở cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật của các chủ thể trong xã hội và của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Điều này chứng minh bởi thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐTCTS còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn như: một số tòa án còn xác định chưa chính xác và có sự nhầm lẫn giữa HĐTCTS với hợp
đồng mượn tài sản và “di chúc sống”; đối với trường hợp người đang vi phạm nghĩa
vụ trả nợ (thường vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tiền) mà xác lập HĐTCTS thì các tòa đang giải quyết chưa thống nhất Một số tòa tuyên bố HĐTCTS
vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba nhưng cũng có một số tòa công nhận hiệu lực của HĐTCTS; cùng một vụ việc hoặc những vụ việc tương tự nhau nhưng còn mâu thuẫn giữa các cấp xét xử hoặc các Hội đồng xét
xử trong cùng một cấp tòa trong việc xác định các vấn đề có liên quan như thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS, chủ thể thực hiện điều kiện tặng cho, hình thức ghi nhận điều kiện tặng cho, liên quan đến điều kiện không được chuyển nhượng đối với tài sản tặng cho Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến thực trạng này bắt nguồn từ năng lực, trình độ chuyên môn của thẩm phán giải quyết vụ việc Các tòa
án còn chưa đánh giá chính xác nội dung, bản chất vụ việc hoặc áp dụng pháp luật còn chưa chính xác
Trong bối cảnh khung pháp lý về HĐTCTS còn sơ sài, nhiều quy định chưa phù hợp cùng với thực trạng giải quyết tranh chấp về HĐTCTS vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế nên việc tìm hiểu, nghiên cứu về loại hợp đồng này là cần thiết Tính đến thời điểm hiện nay đã có nhiều công trình khoa học với các cấp độ khác nhau nghiên cứu
về HĐTCTS Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tập trung tìm hiểu về HĐTCQSDĐ hoặc các công trình mới chỉ nghiên cứu một số khía cạnh pháp lý của HĐTCTS mà chưa có bất cứ một công trình nào nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ về HĐTCTS Đặc biệt, kể từ thời điểm BLDS năm 2015 được thông qua và có hiệu lực, các công trình nghiên cứu về HĐTCTS còn tản mác, không mang tính hệ thống và toàn diện Xuất phát từ những lý do trên, NCS khẳng định, việc nghiên cứu, tìm hiểu về đề
tài: “Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” đang là một đòi hỏi cấp thiết, khách quan từ cuộc sống
Trang 102 Tì nh hì nh nghiên cứu đề tài
Có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả được nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau về HĐTCTS như: luận án, luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp, sách, bài tạp chí, Trên cơ sở tham khảo, nghiên cứu các các công trình khoa học trong nước
và ngoài nước liên quan đến HĐTCTS, NCS khái quát tình hình nghiên cứu chung đối với đề tài này trong thời gian vừa qua:
Thứ nhất, các công trình khoa học tiếp cận, giải quyết một số khía cạnh khác nhau của hợp đồng tặng cho tài sản, trong số đó một lượng lớn các công trình nghiên cứu tập trung vào nhóm HĐTCTS có đối tượng là QSDĐ còn những vấn đề khác của hợp đồng tặng cho tài sản chưa được khai thác sâu;
Thứ hai, tính đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt ở cấp độ tiến sĩ về HĐTCTS Các đề tài liên quan đến HĐTCTS mới được nghiên cứu chủ yếu ở cấp độ luận văn thạc sĩ Trong số đó, gần như tất cả các luận văn mà NCS rà soát chỉ tập trung nghiên cứu về HĐTCQSDĐ;
Thứ ba, trong các công trình khoa học nghiên cứu về HĐTCTS chưa có các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, đặc điểm, đối tượng của loại hợp đồng này Bên cạnh đó, pháp luật về HĐTCTS của nước ta tương đối sơ sài, bỏ ngỏ nhiều nội dung chưa quy định Do đó, cần một công trình nghiên cứu toàn diện để đưa ra kiến nghị bổ sung, hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS;
Thứ tư, HĐTCTSCĐK ngày càng trở lên thông dụng và phát sinh nhiều tranh
chấp trên thực tế Tuy nhiên, dưới cả góc độ nghiên cứu và cả góc độ luật định thì loại HĐTC này chưa được quan tâm nghiên cứu và ghi nhận từ các nhà khoa học luật và các nhà lập pháp Trong toàn bộ các công trình trong và ngoài nước mà NCS đã nghiên cứu, tìm hiểu thì chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện các vấn đề
lý luận và pháp lý về HĐTCTSCĐK
Đặc biệt, từ khi BLDS năm 2015 được thông qua vào ngày 24 tháng 11 năm
2015, chưa có một công trình nghiên cứu nào về HĐTCTS dưới góc độ luận án được thực hiện Do đó, việc nghiên cứu đề tài trên cơ sở các quy định của BLDS năm 2015
là hoàn toàn cần thiết và có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc
Tình hình nghiên cứu đề tài đã được NCS trình bày cụ thể tại phần A Tổng quan
tình hình nghiên cứu đề tài và Phụ lục 1 chi tiết Tình hình nghiên cứu đề tài (xem Phần
A Tổng quan tì nh hì nh nghiên cứu đề tài và Phụ lục 1)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về HĐTCTS như khái niệm của hợp đồng, đặc điểm của HĐTCTS, phân loại HĐTCTS, các lý thuyết ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, tại chương 2 của Luận án, NCS sẽ làm rõ các vấn đề pháp lý
Trang 11liên quan đến HĐTCTS, tặng cho tài sản có điều kiện Từ các kết quả nghiên cứu tại chương 1, chương 2, NCS thực hiện mục đích quan trọng nhất của Luận án là đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS nói chung và tặng cho tài sản có điều kiện nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Với những mục đích đã được xác định ở trên, Luận án có những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, xây dựng các khái niệm về tặng cho tài sản, HĐTCTS, tặng cho tài sản
có điều kiện Đồng thời chỉ ra được những điểm đặc trưng của HĐTCTS, làm cơ sở cho việc phân biệt với các giao dịch khác như hứa thưởng, di tặng,…;
Thứ hai, Luận án nghiên cứu và phân tích các lý thuyết chính ảnh hưởng hay có tác động với việc xây dựng các quy định về HĐTCTS Các lý thuyết này chi phối phần lớn tới các quy định của pháp luật về HĐTCTS;
Thứ ba, Luận án phân tích cụ thể các quy định của pháp luật về HĐTCTS và tặng cho tài sản có điều kiện Đồng thời, NCS đánh giá thực trạng pháp luật về HĐTCTS, tặng cho tài sản có điều kiện và một số HĐTCTS đặc thù như HĐTCQSDĐ, HĐTC nhà ở;
Thứ tư, Luận án nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước trên thế giới như
Pháp, Đức, Nhật Bản, theo hướng so sánh với các quy định pháp luật của Việt Nam
về tặng cho tài sản Thông qua đó, NCS học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc quy định về HĐTCTS để từ đó rút ra các kiến nghị phù hợp trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS tại Việt Nam;
Thứ năm, Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, giải quyết các tranh
chấp về HĐTCTS, đặc biệt là tặng cho nhà ở, QSDĐ…qua đó, rút ra các tranh chấp phổ biến, tìm kiếm nguyên nhân để giải quyết triệt để tranh chấp này;
Thứ sáu, dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, phân tích, bình luận các ưu nhược điểm của quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với HĐTCTS, NCS đưa ra các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài “Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam – Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”, đối tượng nghiên cứu được xác định như sau:
- Nghiên cứu các lý thuyết về hợp đồng nói chung và HĐTCTS nói riêng, đặc
biệt là học thuyết về hợp đồng trong hệ thống pháp luật Civil law và Common law Các lý thuyết này phục vụ chủ yếu cho việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về HĐTCTS như khái niệm, đặc điểm HĐTCTS, phân loại HĐTCTS ;
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật từ thời phong kiến, Pháp thuộc đến hiện tại
Trang 12quy định về HĐTCTS Đồng thời, nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan về HĐTCTS Việc nghiên cứu các đối tượng này là nền tảng quan trọng giúp NCS hoàn thiện chương 2 của Luận án về thực trạng pháp luật của HĐTCTS;
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học như: sách chuyên khảo, sách tham khảo, luận
án, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp bộ, các bài viết tạp chítrong và ngoài nước…liên quan đến HĐTCTS;
- Nghiên cứu các vụ việc thực tiễn được đăng tải trên các trang mạng, các bản án liên quan đến HĐTCTS đã được tòa án các cấp giải quyết trong phạm vi cả nước…Việc nghiên cứu các đối tượng này là cơ sở quan trọng để NCS triển khai, thực hiện chương 3 của Luận án
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận án được xác định như sau:
- Về mặt nội dung, đề tài về HĐTCTS là một đề tài tài tương đối rộng, nghiên
cứu toàn diện từ vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn liên quan đến
HĐTCTS Do đó, với đề tài Luận án này, NCS xác định phạm vi nội dung nghiên cứu
như sau: (i) Luận án sẽ tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề lý luận về
HĐTCTS Trong đó, NCS xây dựng các khái niệm về tặng cho, HĐTCTS, HĐTCTSCĐK, nghiên cứu đặc điểm pháp lý của HĐTCTS, chỉ ra những lý thuyết ảnh
hưởng tới việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS ; (ii) Luận án tập trung
làm rõ các quy định của BLDS hiện hành và các văn bản pháp luật có liên quan về
HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng; (iii) Trong phạm vi các nội dung
nghiên cứu, NCS chú trọng đến việc đưa các các kiến nghị có giá trị hoa học và phù hợp với thực tiễn nhằm hoàn thiện khung pháp lý về HĐTCTS thông thường và HĐTCTSCĐK
NCS tập trung phân tích các nội dung pháp lý đặc thù của HĐTCTS như về hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, tặng cho tài sản có điều kiện Bên cạnh các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản, NCS còn nghiên cứu một số nét đặc thù riêng về HĐTCTS có đối tượng là QSDĐ và nhà ở được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 Những nội dung này được NCS phân tích đan xen vào mục có nội dung tương thích Còn những quy định được áp dụng chung cho mọi hợp đồng bao gồm cả HĐTCTS như điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; giao dịch dân sự vô hiệu; trình tự giao kết hợp đồng thì NCS không triển khai nghiên cứu trong Luận án để tránh trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác và đảm bảo dung lượng Luận án theo đúng quy định
- Về mặt thời gian, trong bối cảnh BLDS năm 2015 đang có hiệu lực thi hành nên
các nghiên cứu của Luận án tập trung phân tích, tìm hiểu các quy định về HĐTCTS trong Bộ luật này Ngoài ra, khi phân tích các nội dung cụ thể, Luận án cũng đề cập
Trang 13đến một số quy định về HĐTCTS trong các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực của nước
ta và một số quy định trong pháp luật của một số nước để so sánh, đối chiếu với quy định trong BLDS năm 2015
- Về mặt không gian, Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực
trạng áp dụng pháp luật về HĐTCTS theo một không gian rộng mà không chỉ bó hẹp tại Việt Nam Các vấn đề lý luận và các quy định pháp luật về HĐTCTS được nghiên cứu cả ở Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới điển hình như Pháp, Đức, Scotland, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc Đối với thực trạng áp dụng pháp luật về HĐTCTS được NCS nghiên cứu ở nhiều tỉnh thành trong cả nước với các vụ án điển
hình khác nhau Phần lớn các vụ án được sử dụng để phân tích trong Luận án được giải quyết theo quy định trong BLDS năm 2015 Trong số đó chỉ có một vài vụ việc được giải quyết theo quy định của BLDS năm 2005 nhưng vẫn bảo đảm sự phù hợp và vẫn phản ánh được thực tiễn bởi BLDS năm 2015 vẫn quy định y nguyên đối với các vấn đề đó
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: việc nghiên cứu Luận án sẽ dựa trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đây được coi
là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của NCS trong quá trình thực hiện Luận án
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, trong quá trình nghiên cứu Luận án, NCS sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích và bình luận để làm rõ quy định pháp luật hiện hành về HĐTCTS Phương pháp này được NCS sử dụng chủ yếu trong tất cả các nội dung của Luận án Đây là phương pháp NCS sử dụng trong chương 1 để phân tích các quan niệm về tặng cho, các khái niệm về HĐTCTS Phương pháp này được sử dụng phần lớn trong chương 2 để NCS làm rõ các quy định pháp luật và bình luận điểm phù hợp, điểm hạn chế của pháp luật về HĐTCTS;
- Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐTCTS; qua đó đưa ra những kiến nghị phù hợp để hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS Phương pháp tổng hợp được NCS chú trọng sử dụng ở tất cả các nội dung của Luận án;
- Phương pháp so sánh để nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về HĐTCTS Đồng thời phương pháp này là công cụ hữu hiệu để NCS sử dụng phân biệt giữa HĐTCTS với một số giao dịch khác dễ gây nhầm lẫn với HĐTC Phương pháp so sánh được NCS sử dụng chủ yếu tại chương 1 và chương 2 của Luận án;
Trang 14- Phương pháp thống kê nhằm đưa ra các số liệu về các bản án đã giải quyết về HĐTCTS, qua đó NCS rút ra được các tranh chấp phổ biến để tìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra giải pháp hợp lý;
- Phương pháp lịch sử nhằm tìm hiểu sâu và rõ về những quy định từ thời phong kiến đến thời kì Pháp thuộc và đến hiện tại để thấy được sự phát triển của các quy định
về HĐTCTS
Ngoài ra, các phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp đặt giả thuyết nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu cũng được NCS vận dụng làm
cơ sở để tiến hành nghiên cứu các nội dung trong Luận án
6 Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Luận án về “Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam – Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” có những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, Luận án đã xây dựng các khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài như
khái niệm về tặng cho tài sản, HĐTCTS và tặng cho tài sản có điều kiện,…Khái niệm tặng cho tài sản được NCS tiếp cận và xây dựng mang tính chất bao quát nhất, thể hiện
cả góc nhìn của Việt Nam và thế giới;
Thứ hai, Luận án đã tổng kết và phân tích các cơ sở cho việc xây dựng pháp luật
về HĐTCTS trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng Nhìn chung, pháp luật
về tặng cho tài sản được xây dựng dựa trên ba lý thuyết chính: (i) Lý thuyết về hợp đồng; (ii) Lý thuyết về sự không có đền bù của tặng cho; (iii) Lý thuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và “Donatio mortis causa” Những lý thuyết này chi
phối đến nội dung các quy định về hình thức, thời điểm phát sinh hiệu lực, hủy bỏ hợp đồng và các vấn đề khác của HĐTCTS
Thứ ba, Luận án nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về bản chất, các đặc điểm pháp lý
của HĐTCTS, đặc biệt trong bối cảnh các đặc điểm pháp lý của loại hợp đồng này đang còn nhiều quan điểm trái chiều Theo các kết luận được đưa ra trong Luận án, HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ, mang tính chất thực tế và không có đền bù;
Thứ tư, Luận án đã phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng Từ đó, NCS đánh giá khách quan những ưu, nhược điểm của các quy định cụ thể Trong quá trình phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về HĐTCTS, NCS có sự đối chiếu, so sánh với các quy định tương thích trong các văn bản pháp luật của nước ta giai đoạn trước và với các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới Thông qua việc tìm hiểu pháp luật về HĐTCTS sẽ giúp chúng ta nhìn nhận được vai trò và ý nghĩa của các quy định này;
Thứ năm, những hạn chế, bất cập của pháp luật về HĐTCTS đã được tìm ra sẽ là điểm mấu chốt để NCS đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về HĐTCTS Việc hoàn thiện quy định của pháp luật về HĐTCTS trước hết giúp
Trang 15các nhà lập pháp nhìn nhận bao quát hơn, toàn diện hơn về những tồn đọng đang gặp phải với loại hợp đồng này Đồng thời, cơ quan thực thi pháp luật sẽ không còn lúng túng, mâu thuẫn hoặc tùy nghi khi áp dụng các quy định pháp luật về HĐTCTS
7 Ý nghĩa khoa học của Luận án
Những kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ là nền tảng kiến thức quan trọng, sâu sắc về HĐTCTS Với một đề tài nghiên cứu toàn diện về HĐTCTS thì các vấn đề lý luận và pháp lý sẽ được làm sáng tỏ, cụ thể: xây dựng được khái niệm về tặng cho, HĐTCTS, HĐTCTSCĐK và đưa ra những đặc điểm pháp lý của HĐTCTS; chỉ ra được các lý thuyết ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS; phân tích thực trạng pháp luật đối với HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng, chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế của pháp luật liên quan đến các yếu tố pháp lý của HĐTCTS như về chủ thể xác lập hợp đồng, hình thức hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng…Ý nghĩa khoa học quan trọng nhất của Luận án là việc Luận án đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng Đây là nội dung có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật
Bên cạnh đó, Luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích với đội ngũ giảng viên,
sinh viên, các nhà nghiên cứu luật ở Việt Nam
8 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của Luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1 Lý luận về hợp đồng tặng cho tài sản
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản
Trang 16A TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Phần 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Công trì nh nghiên cứu khoa học trong nước
1.1 Luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp
(1) Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Hải An (2011) về “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về vấn đề tặng cho QSDĐ, bao gồm các nội dung: lý luận về tặng cho QSDĐ; nội dung pháp luật về tặng cho QSDĐ; thực tiễn tặng cho QSDĐ nhìn nhận qua hoạt động xét xử của tòa án và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tặng cho QSDĐ
(2) Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Hiến (2006) về “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Đây là công trình nghiên cứu về HĐTCQSDĐ mà không phải là đề tài nghiên cứu về HĐTCTS nói chung; do
đó, các nội dung trong luận văn đều tập trung và xoay quanh việc tặng cho có đối
(4) Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thoa (2012) về “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” và (5) Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Hồng Diệp (2012) về “Tìm hiểu các quy định pháp luật về chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất” Những
công trình này mới dừng lại ở việc tìm hiểu, phân tích luật thực định mà chưa có được những nghiên cứu sâu sắc ở cả mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề
1.2 Đề tài khoa học
(1) Nguyễn Văn Cường (chủ nhiệm), “Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại Tòa án Nhân dân Những vướng mắc và kiến nghị”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Tòa án Nhân dân tối cao, 2008 Đề tài đã phân tích
khái quát về cơ sở lý luận, quy định pháp luật về HĐTCTS Thực tiễn về HĐTCTS được minh chứng qua các bản án đã được giải quyết tại các tòa, nhiều nhất là các tranh chấp về HĐTCQSDĐ và nhà ở Đặc biệt, đề tài cũng phân tích một số quy định về HĐTCTS theo BLDS Pháp, qua đó so sánh, tìm ra những quy định có giá trị mà Việt Nam nên học hỏi trong quá trình xây dựng luật
Trang 171.3 Bài tạp chí
(1) Đỗ Văn Chỉnh: “Tặng cho quyền sử dụng đất thực tiễn và tồn tại”, tạp chí Tòa án Nhân dân, số 3/2008, tr.23 – 30 Bài viết phân tích khái quát các hành lang
pháp lý của HĐTCQSDĐ, trường hợp tặng cho QSDĐ mà trên đất có tài sản
(2) Nguyễn Hồng Nam, “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2014 tr.15-19 Bài viết đưa ra các vụ việc thực tiễn về HĐTCTS; từ
thực tiễn, tác giả dẫn chứng các quy định của pháp luật liên quan, qua đó đưa ra kiến
nghị nhằm giải quyết các vướng mắc trên thực tế
(3) Lê Thị Hoài Ân, “Chế định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và những vấn đề cần hoàn thiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2011, tr.41 – 45 Bài viết
này tập trung vào làm sáng tỏ khái niệm HĐTCQSDĐ; phân tích các điều kiện của chủ
thể tặng cho QSDĐ và của người được tặng cho;…
(4) Lê Hồng Liên, “Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất và kiến nghị sửa đổi, bổ sung”, tạp chí Kiểm sát, số 22/2012, tr
48 – 51 Bài viết tập trung vào phân tích các vướng mắc cụ thể trong quá trình giải quyết các tranh chấp về HĐTCTS Thông qua việc nhìn nhận về các bất cập, bài viết
đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐTCQSDĐ
(5) Dương Anh Sơn, “Về bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản”, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2008, tr.50 – 56 Bài viết tập trung phân tích đặc
điểm pháp lý của HĐTCTS Nội dung trong bài viết cũng đưa ra nhiều góc nhìn mới,
những quan điểm trái chiều nhau về bản chất pháp lý của loại hợp đồng này…
(6) Vũ Thị Hồng Yến, “Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của BLDS năm 2005”, tạp chí Luật học, số 4/2010, tr 40 - 48 Bài viết tập trung phân tích nội dung về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS
(7) Lương Thị Hợp, “Một số vấn đề về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản
và trong di chúc”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14/2012, tr 19 – 23 Bài viết minh
chứng sự bất cập của pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện bằng bản án cụ thể, qua
đó tác giả có những đề xuất hoàn thiện pháp luật đối với vấn đề này
(8) Tuấn Đạo Thanh, Phạm Thu Hằng, “Bàn về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2014, tr 45 - 49 Bài viết phân tích
và đưa ra các yếu tố của điều kiện trong HĐTCTS qua hoạt động công chứng; đồng thời, chỉ các các bất cập của pháp luật liên quan đến điều kiện tặng cho
(9) Đỗ Văn Đại, “Thời điểm tặng cho có hiệu lực ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/2009, tr 9-15 Bài viết đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề thời điểm phát
sinh hiệu lực của HĐTCTS; chỉ ra những điểm bất cập và đề xuất các kiến nghị hoàn
thiện pháp luật về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS Trong bài viết, tác giả
Trang 18đưa ra một số vụ án để chứng minh thực trạng các tòa án chưa thống nhất trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTC bất động sản phải đăng ký sở hữu
(2) Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (người dịch: Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng), “Bình luận Khoa học BLDS Nhật Bản”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ
Tư pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995 HĐTCTS được phân tích trong Chương X của tài liệu, từ trang 541 đến trang 546 với các nội dung chính như: khái
niệm tặng cho; hậu quả của việc tặng cho; hình thức của HĐTCTS; trách nhiệm của người tặng cho;
(3) Nguyễn Mạnh Bách, “Luật Dân sự Việt Nam lược giải, các hợp đồng dân sự thông dụng”, NXB Chính trị quốc gia, năm 1997 Các nội dung chính về HĐTCTS được phân tích gồm: hình thức của HĐTCTS; hiệu lực của HĐTCTS; các trường hợp hủy bỏ việc tặng cho tài sản
(4) Nguyễn Hải An (2012), “Pháp luật về tặng cho QSDĐ ở Việt Nam”, Nxb Chí nh trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Công trình này là sự phát triển từ luận án tiến sĩ của tác giả Hải An, do đó, về cơ bản nội dung cuốn sách là sự kế thừa của luận án
“Pháp luật về tặng cho QSDĐ ở Việt Nam”
2 Công trì nh nghiên cứu khoa học nước ngoài
(1) William Blackstone & William Draper Lewis on the Laws of England In Four Books 895 1898 [146] Chương XXX của tài liệu phân tích về tặng cho, tác giả nhận định tặng cho là một trong các phương thức chuyển giao tài sản của cá nhân; tặng cho luôn là việc không lấy tiền;
(2) William Burge Burge's Commentaries on Colonial and Laws Alexander Wood Renton & George Grenville eds 189 1914 1928 [147] Chương V của tài liệu phân
tích về HĐTC Tác giả bài viết nhận định, tặng cho trong luật dân sự được xem như một hợp đồng, bởi vì nó được xác lập và được hoàn thiện khi được sự ưng thuận, đồng
ý của cả hai bên trong hợp đồng
(3) Gift giving practice; Citation: 21 Soviet Stat & Dec 241 1984-1985 [150]
Tại Chương 22 của tài liệu này phân tích về HĐTCTS trong BLDS Nga
(4) Donation of land to charity [148] Công trình nghiên cứu về vấn đề hủy bỏ tặng cho tài sản, gồm: (i) người được tặng cho không hoàn thành điều kiện; (ii) người được tặng cho vô ơn; (iii) người tặng cho có con
Trang 19(5) Gift promises and the edge of contract law [149] của Vice Dean và William S.Potter Một trong các vấn đề thú vị nhất thuộc về học thuyết ranh giới liên quan đến
lời hứa tặng cho Luật hợp đồng không thừa nhận tất cả lời hứa tặng cho là một nghĩa
vụ bắt buộc
(6) Some aspects of the law of donation [162] Tặng cho được nhìn nhận dưới góc độ là một hợp đồng Tặng cho là một thỏa thuận, theo đó một người tự nguyện chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người khác mà không nhận được bất kì
sự hoàn lại nào từ bên được tặng cho
(7) German Law of Contract [153] Công trình phân tích về HĐTCTS theo quy định của BLDS Đức Theo đó, hợp đồng này được nghiên cứu từ trang 145 đến 147 gồm các nội dung: bản chất pháp lý của tặng cho, đặc trưng của tặng cho tài sản
(8) Promise and Donation in Louisiana and Comparative Law [154] của Martin
A Hogg Đây là công trình nghiên cứu nhiều vấn đề về tặng cho tài sản; công trình nghiên cứu về tặng của một số quốc gia trên thế giới như Louisiana, Scotland và Nam Phi
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến HĐTCTS, NCS khái quát tình hình nghiên cứu chung đối với HĐTCTS trong thời gian vừa qua: (i) các
bài viết tiếp cận, giải quyết một số khía cạnh khác nhau của HĐTCTS, trong số đó một
lượng lớn các công trình nghiên cứu tập trung vào nhóm HĐTCQSDĐ; (ii) cho đến
nay vẫn chưa chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt ở cấp độ
tiến sĩ về HĐTCTS; (iii) chưa có các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, đặc
điểm, đối tượng của hợp đồng, đặc biệt về tặng cho tài sản có điều kiện
Trang 20Phần 2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ THUỘC PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 2.1 Về mặt lý luận
Các công trình nghiên cứu ở trên đã nghiên cứu một số khía cạnh lý luận của HĐTCTS:
(1) Khái niệm HĐTCTS: Hầu hết các công trình nghiên cứu chưa tiếp cận khái
niệm, bản chất của “tặng cho” để rút ra khái niệm về HĐTCTS Toàn bộ các công
trình nghiên cứu mà NCS khảo sát đều không lý giải được nguyên nhân các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common law không nhìn nhận tặng cho là hợp đồng;
(2) Đặc điểm của HĐTCTS: Đa phần các công trình đều khẳng định HĐTCTS là
hợp đồng đơn vụ, không có đền bù và thực tế Tuy vậy, các công trình chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm đối với HĐTCTSCĐK
(3) Phân biệt HĐTCTS với một số giao dịch khác: Công trì nh “Pháp luật về tặng cho QSDĐ ở Việt Nam” của tác giả Hải An là một trong số ít các công trình có nội dung này; tuy nhiên, công trình không có nội dung so sánh giữa tặng cho tài sản có điều kiện với hứa thưởng và tặng cho tài sản có điều kiện thực hiện công việc và hợp đồng dịch vụ
(4) Phân loại HĐCTS: đa phần các công trình đều tập trung nghiên cứu cách
thức phân loại HĐTCTS thành: HĐTC động sản và HĐTC bất động sản
(5) Cơ sở xây dựng pháp luật về HĐTCTS: trong các công trình khảo sát, chưa có bất cứ công trình nào nghiên cứu về nội dung này
2.2 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản
2.2.1 Hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
(1) Đối tượng của HĐTCTS: Hầu hết các công trình chỉ mới tập trung vào đối tượng tặng cho là QSDĐ và nhà ở
(2) Chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐTCTS: BLDS năm 2015
đều không có quy định riêng về vấn đề này; do đó, hầu hết các công trình mà NCS khảo sát đều chỉ nghiên cứu về nội dung này một cách khái quát
(3) Hì nh thức HĐTCTS: được nghiên cứu ở nhiều công trình khác nhau Hầu hết các công trình đều phân tích hình thức của HĐTCTS dựa trên hai nhóm tài sản: động
sản và bất động sản
(4) Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS: nội dung này được nghiên cứu ở
nhiều công trình khác nhau Giống như hình thức của HĐTCTS, hầu hết các công trình đều phân tích thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS dựa trên hai nhóm tài sản:
động sản và bất động sản
(5) Về hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản: Các công trình tập trung nghiên cứu về trường hợp bên được tặng cho không thực hiện điều kiện tặng cho Rất ít các công
Trang 21trình nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về các trường hợp hủy bỏ HĐTCTS khác như người tặng cho vô ơn, người tặng cho có con
2.2.2 Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
(1) Nhận diện HĐTCTSCĐK: Nội dung này được phân tí ch trong bài viết: “Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành – Những vướng mắc và kiến nghị” [69] Đây là công trình nghiên cứu duy nhất mà NCS khảo sát có đưa ra
khái niệm về tặng cho tài sản có điều kiện;
(2) Các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện tặng cho: Cũng trong bài viết “Hợp
đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành – Những vướng mắc và kiến nghị” của Bùi Minh Hồng, điều kiện trong HĐTCTS được nghiên cứu và phân
tích một cách sơ lược Còn lại hầu hết các công trình chưa chú trọng đến nội dung này
(3) Chủ thể thực hiện điều kiện tặng cho: các công trình NCS rà soát chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này;
(4) Trách nhiệm của chủ thể trong HĐTCTSCĐK: Đa phần các tài liệu nghiên
cứu đều phân tích tập trung vào trường hợp hủy bỏ tặng cho tài sản có điều kiện trong trường hợp bên tặng cho không thực hiện điều kiện Các bất cập liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể trong tặng cho tài sản có điều kiện chưa được chú trọng phân
tích
Trang 22Phần 3
HỆ THỐNG CÁC VẤN ĐỀ THUỘC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3.1 Những nội dung cơ bản cần giải quyết trong Luận án
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về HĐTCTS: khái niệm, đặc điểm, phân
biệt HĐTCTS với một số giao dịch khác như di tặng, hứa thưởng, ;
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật về HĐTCTS và tặng cho tài sản có điều
kiện;
Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐTCTS; đưa ra các kiến
nghị hoàn thiện HĐTCTS, tặng cho tài sản có điều kiện và một số HĐTC đặc thù khác
3.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.2.1 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về vấn đề lý luận của hợp đồng tặng cho tài sản
Câu 1: Trong hệ thống pháp lý trên thế giới, tặng cho tài sản luôn được xác định
là hợp đồng?
Giả thuyết nghiên cứu: sai Đặt ra hai giả thuyết: (i) Tặng cho là hợp đồng; (ii)
Tặng cho không là hợp đồng
Câu 2: Bản chất pháp lý của HĐTCTS?
Giả thuyết nghiên cứu: HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ (đối với tặng
cho tài sản có điều kiện) HĐTCTS là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế HĐTCTS là hợp đồng không có đền bù hoặc có đền bù (đối với tặng cho tài sản có điều kiện)
3.2.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về thực trạng pháp luật hợp đồng tặng cho tài sản
3.2.2.1 Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
Câu 1: Những loại tài sản nào có thể trở thành đối tượng của HĐTCTS? Tài sản hình thành trong tương lại có thể trở thành đối tượng của HĐTC hay không?
Giả thuyết nghiên cứu: tất cả các tài sản gồm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai đều có thể trở thành đối tượng của HĐTCTS
Câu 2: Các bên chủ thể trong HĐTCTS có thể thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC hay không?
Giả thuyết nghiên cứu: có Vì nguyên tắc quan trọng nhất của hợp đồng là thỏa thuận
Câu 3: Với một số tài sản tặng cho như quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ thì thời điểm phát sinh hiệu lực là khi nào?
Giả thuyết nghiên cứu: BLDS năm 2015 chưa quy định nội dung này nên theo
NCS cần áp dụng quy định chung về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng
3.2.2.2 Đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Trang 23Câu 1: Điều kiện tặng cho cần thỏa mãn các yếu tố nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Điều kiện tặng cho cần thỏa mãn các yếu tố: không vi
phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; không làm mất đi tính chất không
có đền bù của HĐTC; có thể thực hiện được
Câu 2: Nếu điều kiện tặng cho không được thực hiện do lỗi của bên tặng cho, do
chủ thể thứ ba hoặc do sự kiện bất khả kháng thì giải quyết như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu: có 2 giả thuyết được đặt ra: (i) Coi như điều kiện tặng
cho đã được hoàn thành; (ii) điều kiện tặng cho chưa hoàn thành
Câu 3: Trong tặng cho tài sản có điều kiện, khi bên tặng cho đòi lại tài sản
nhưng tài sản đã được giao dịch thì giải quyết như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu: có hai giả thuyết được đặt ra: (i) Bên tặng cho không đòi
lại tài sản được từ bên thứ ba; (ii) Bên tặng cho được đòi lại tài sản
3.2.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng tặng cho tài sản
3.2.3.1 Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
Câu 1: Cần bổ sung quy định về thai nhi cũng được tặng cho tài sản tương tự
như với di tặng hoặc thừa kế hay không?
Giả thuyết nghiên cứu: nên ghi nhận, bởi tặng cho và di tặng cùng bản chất
Câu 2: Cần thiết bổ sung quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho người thân
thí ch của người tặng cho tài sản?
Giả thuyết nghiên cứu: cần ghi nhận; điều này thể hiện tính nhân văn của pháp
luật; đồng thời, tặng cho và di tặng cùng bản chất nên cần quy định tương thích nhau
Câu 3: Có nên bổ sung các quy định về hủy bỏ HĐTCTS?
Giả thuyết nghiên cứu: nên ghi nhận trường hợp người được tặng cho vô ơn và
trường hợp người được tặng cho có con là căn cứ hủy bỏ HĐTCTS Giả thuyết này
xuất phát từ đặc trưng HĐTCTS là hợp đồng không có đền bù
3.2.3.2 Đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Câu 1: Có cần bổ sung thêm quy định về điều kiện tặng cho?
Giả thuyết nghiên cứu: bổ sung thêm một số yếu tố như: điều kiện tặng cho phải
thực hiện được; điều kiện tặng cho không làm lợi cho bên tặng cho
Câu 2: Có cần bổ sung quy định khi bên tặng cho đòi lại tài sản tặng cho nhưng
tài sản tặng cho đã được chuyển giao cho chủ thể thứ ba?
Giả thuyết nghiên cứu: đặt ra hai giả thuyết: (i) Bên tặng cho không được đòi lại
tài sản; (ii) Bên tặng cho có quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả lại tài sản
Trang 24B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN 1.1 Nhận diện hợp đồng tặng cho tài sản
1.1.1 Các quan niệm về tặng cho
Tặng cho là thuật ngữ thông dụng trong đời sống hằng ngày và được luật hóa trong hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới Do vậy, khái niệm tặng cho được nghiên cứu trong nhiều các công trình khoa học dưới các góc độ khác nhau
Dưới góc độ ngôn ngữ học, khái niệm tặng cho được giải thích trong cuốn từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên như sau: “Tặng cho là chuyển hẳn cho người khác dùng cái của mình mà không lấy lại cái gì” [141, tr.562] Cách giải thích
này đã phản ánh được bản chất và điểm đặc trưng của tặng cho tài sản; đồng thời giải
thích động cơ của việc tặng cho nhằm “tỏ lòng quý mến”, “khen ngợi” hay “khuyến khích” Bởi đây cách thức giải thích trong từ điển nên xét dưới góc độ pháp lý, một số
thuật ngữ dùng trong khái niệm này chưa chính xác như: kết luận tặng cho là việc
chuyển hẳn cho “người khác dùng” Việc sử dụng thuật ngữ “dùng” khiến cho người
đọc liên tưởng hoặc nhầm sang hành vi sử dụng, khai thác tài sản mà không hiểu đúng bản chất của tặng cho là chuyển quyền sở hữu tài sản cho chủ thể khác
Ngoài ra, theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì: “tặng có nghĩa là cho, trao cho để khen ngợi khuyến khí ch hoặc tỏ lòng quý mến; “cho” là chuyển cái
sở hữu của mình sang người khác mà không đổi lấy gì cả” Theo cách giải thích này,
tặng cho là một thuật ngữ kép trong đó “tặng” là nói đến phương thức chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản; còn “cho” là thể hiện tính chất không có đền bù của việc trao tặng Khái niệm này đã phản ánh đúng bản chất của tặng cho là chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ bên tặng cho sang cho bên được tặng cho và đồng thời đã thể hiện được tính chất không có đền bù của phương thức chuyển giao này Tuy vậy, cách
lý giải của từ điển chưa thực sự hợp lý vì giải thích trùng lặp “tặng” có nghĩa là “cho” Nếu “tặng” và “cho” là hai thuật ngữ có nghĩa hoàn toàn giống nhau thì không thể
dùng chung trong một cụm thuật ngữ là “tặng cho” mà chỉ cần dùng một từ “tặng” hoặc “cho” tài sản là đủ
Tặng cho là một thuật ngữ được sử dụng chung cho toàn cầu mà không riêng tại Việt Nam; bởi vậy, thuật ngữ này cũng được giải thích bởi nhiều Từ điển nổi tiếng trên thế giới Gốc Latin của thuật ngữ này gồm hai dạng thức danh từ và động từ là
“donatio” và “donare” [164]; tương ứng với đó là hai thuật ngữ tiếng Anh là
“donation” (danh từ) và “donate” (động từ) Trong cuốn Từ điển của webster [164], tặng cho được giải thích như sau: (1) trao một món quà, đặc biệt là nhằm đóng góp cho công cộng hoặc làm từ thiện; (2) Một vật gì đó (như máu, bộ phận
Trang 25Merriam-cơ thể) mà một người trao cho một bệnh viện hoặc phòng khám để được cung cấp cho những người đang cần Còn trong Bộ Từ điển nổi tiếng của Oxford [165], tặng cho
được định nghĩa như sau: (1) tặng cho được hiểu là một vật gì đó được trao cho tổ chức từ thiện, đặc biệt là một khoản tiền; (2) tặng cho là hành động trao tặng một vật
gì đó (nguyên gốc tiếng Anh “The action of donating something”) Ngoài ra, từ điển
Cambridge cũng đưa ra định nghĩa ngắn gọn về tặng cho như sau: một khoản tiền hoặc hàng hóa được trao tặng nhằm giúp đỡ một người hay một tổ chức hoặc là hành vi trao
tiền, trao hàng hóa cho người khác (nguyên gốc tiếng Anh: “act of giving them”)
[163]
Dưới góc độ ngôn ngữ, thuật ngữ “tặng cho” được lý giải một cách tương đối
đơn giản, dễ hiểu cho mọi đối tượng trong xã hội nói chung Thông qua việc luận giải khái niệm tặng cho trong một số từ điển Tiếng Việt và nước ngoài, NCS rút ra một số nhận xét cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tặng cho là cụm từ ghép, trong đó: (i) “Tặng” được hiểu là phương
thức định đoạt tài sản, chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản Do vậy, đề cập đến
thuật ngữ “tặng” thì không thể hiểu chung chung là việc chuyển giao tài sản sang cho người khác hay chuyển cho người khác được khai thác, sử dụng tài sản Đây cũng chính là lý do, tặng cho được xếp vào các giao dịch chuyển quyền sở hữu tài sản bên
cạnh các giao dịch mua bán, trao đổi và vay tài sản; (ii) “Cho” là thuật ngữ khẳng
định và nhấn mạnh tính chất không có đền bù của việc tặng tài sản Cho là cho không nên bên tặng không thể nhận được các lợi ích vật chất tương xứng từ bên được tặng cho Điều này tạo ra sự khác biệt đặc trưng giữa tặng cho tài sản và mua bán tài sản
Thứ hai, đa phần các từ điển cả ở Việt Nam và thế giới đều đang tiếp cận thuật ngữ “tặng cho” dưới góc độ “hành vi” (trong các từ điển nước ngoài thì tặng cho
thường được định nghĩa bắt đầu bằng từ “act of giving”), cụ thể là hành vi của người tặng cho “chuyển hẳn cho người khác” hoặc “chuyển cái sở hữu của mì nh sang cho người khác” Thực chất cách giải thích các thuật ngữ trong từ điển đều xuất phát từ
thực tế cuộc sống Trong xã hội của các nước trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, tặng cho thường được nhìn nhận dưới góc độ là việc làm tốt, mang tính nhân đạo của một chủ thể nhằm hỗ trợ, giúp đỡ những người khó khăn Bởi vậy, dưới góc
độ xã hội, tặng cho được nhìn nhận là một hành vi mang tính tự nguyện, chủ động, hoàn toàn xuất phát từ ý chí một phía của người tặng cho tài sản Ngay cả khi tặng cho được xuất phát từ ý tưởng, ý chí của bên được tặng cho như bên được tặng cho đưa ra
đề nghị hoặc xin được giúp đỡ từ phía người tặng cho thì để có việc tặng cho được hiện thực hóa, hành vi của người tặng cho là yếu tố quyết định Do đó, dưới góc nhìn
xã hội, tặng cho là hành vi chủ động của bên tặng cho
Thứ ba, các từ điển của thế giới cũng như Việt Nam đều lý giải tặng cho dựa trên
khía cạnh động cơ của hành vi Điều này được thể hiện rất rõ khi đa phần các từ điển
Trang 26Tiếng Việt đều chú trọng đến lý do tặng cho như “tỏ lòng quý mến”, “khuyến khích” hay “động viên” Điều này cũng được minh thị qua cách luận giải của một số từ điển
thế giới như trong từ điển của Merriam-webster, từ điển Cambridge
Lý giải về động cơ tặng cho là điều tương đồng hoàn toàn giữa các cách giải thích trong từ điển của Việt Nam và từ điển của các quốc gia trên thế giới Bởi đây là vấn đề được nhìn nhận chung, làm nên các yếu tố cốt lõi của tặng cho so với các phương thức chuyển quyền sở hữu tài sản khác Việc mua bán tài sản, trao đổi tài sản hay cho vay tài sản xuất phát từ nhu cầu, từ lợi ích của đôi bên thì việc tặng cho xuất phát từ yếu tố tình cảm như sự quý mến, sự ngưỡng mộ, sự thương cảm hay việc tặng cho nhằm khuyến khích, động viên, khích lệ bên được tặng cho Do đó, các chủ thể xác lập việc tặng cho thường có quan hệ thân thích hoặc có tình cảm với nhau
Như phân tích ở trên, tặng cho được tiếp cận là hành vi của bên tặng cho do vậy, các tình cảm tích cực khiến tặng cho được xác lập thường xuất phát từ tình cảm của bên tặng cho đối với bên được tặng cho Như cha mẹ vì yêu thương, quan tâm nên tặng cho tài sản con cái; các nhà tài trợ cảm thông, thương cảm nên tặng cho tài sản cho những người có hoàn cảnh khó khăn; nhà trường, trường học tặng cho nhằm khích lệ các học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập tốt
Thứ tư, dưới góc độ ngôn ngữ học, tặng cho được tiếp cận dưới góc độ rộng, bất
cứ một hành vi trao tặng một vật gì đó (các từ điển thế giới đều dùng chung từ
“Something”) thì đều được coi là tặng cho Đó là lý do trong từ điển thế giới đều giải
thích tặng cho bao gồm cả các trường hợp như tặng cho máu, mô, bộ phận cơ thể Ở khía cạnh này, thuật ngữ tặng cho được hiểu đồng nhất với thuật ngữ “hiến tặng” Tại
Việt Nam, các trường hợp liên quan đến cho máu, mô, bộ phận cơ thể đều được dùng
với thuật ngữ “hiến”, cụ thể hiến mô, hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác sau khi chết
Điều này cũng được luật hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 Bởi Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu tặng cho theo pháp luật Việt Nam nên không giống như một số từ điển nước ngoài, NCS có sự phân biệt
và không sử dụng trùng lặp giữa thuật ngữ “tặng” và “hiến”
Qua việc tìm hiểu khái niệm tặng cho dưới góc độ ngôn ngữ, tất cả các từ điển trong và ngoài nước được nghiên cứu, phân tích đều tiếp cận tặng cho là hành vi của bên tặng cho Tặng cho là phương thức định đoạt sở hữu của bên tặng cho, chuyển hẳn tài sản cho bên được tặng cho và cho là cho không
Dưới góc độ pháp lý, tặng cho được đánh giá là giao dịch đặc thù nhất so với các
giao dịch mua bán, trao đổi, vay tài sản…Cùng là các giao dịch chuyển quyền sở hữu, mua bán, trao đổi và vay tài sản được nhìn nhận thống nhất là hợp đồng, là kết quả của
sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể Ngược lại, hiện nay trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, tặng cho được tiếp cận và quy định dưới hai góc độ hoàn
toàn khác nhau: (1) tặng cho là hợp đồng; (2) tặng cho là hành vi đơn phương của bên
Trang 27tặng cho
Thứ nhất, tặng cho được thừa nhận là một loại hợp đồng
Các quốc gia ghi nhận tặng cho là hợp đồng như Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc… BLDS của Pháp quy định về tặng cho tài sản tương đối chi tiết với số lượng lớn điều luật (hơn 80 Điều) Vấn đề tặng cho được quy định tại Thiên II, Quyển
thứ 3 với tiêu đề “Chứng thư tặng cho và di chúc” Điều 894 BLDS Pháp ghi nhận:
“Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng và bên được tặng cho đồng ý nhận” Quy định này
đã khẳng định tặng cho là hợp đồng, thể hiện ý chí của hai bên, gồm bên tặng cho
“đoạn tuyệt” với tài sản của mình, bên được tặng cho “đồng ý nhận tài sản” Bộ luật
dân sự Nhật Bản xác định rõ tặng cho được kí kết theo sự thể hiện ý chí của một bên (bên tặng cho) về việc chuyển giao không lấy tiền một tài sản nhất định cho bên kia và
có sự đồng ý của bên đó (Điều 549 BLDS Nhật Bản) [138, tr 541] Bộ luật dân sự và
thương mại Thái Lan cũng quy định tương đồng: “Tặng cho là một hợp đồng trong đó một người gọi là người cho, chuyển một tài sản của chí nh mì nh cho một người khác, gọi là người nhận mà không lấy tiền và người nhận nhận tài sản đó” (Điều 521) Theo
quy định này, tặng cho được thừa nhận là một trong các phương thức định đoạt quyền
sở hữu tài sản và là một hợp đồng thực tế vì phải có hành vi “cho” và “nhận” tài sản
diễn ra
Khi tặng cho được quy định là hợp đồng thì để xác lập luôn cần phải có sự thoả thuận, thống nhất ý chí của cả bên tặng cho và bên được tặng cho Cùng là yếu tố
“thoả thuận” để hình thành hợp đồng nhưng sự thoả thuận trong tặng cho có điểm
khác biệt so với sự thoả thuận để hình thành nên các loại hợp đồng khác Sự khác biệt thể hiện ở chỗ: yếu tố thoả thuận trong mọi hợp đồng như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản…được khởi nguồn từ bất cứ bên nào trong hợp đồng (bên mua hoặc bên bán) Còn yếu tố thoả thuận trong tặng cho lại thường được khởi nguồn
từ bên tặng cho tài sản (vì đây là hợp đồng không mang lại lợi ích cho chính bên tặng cho nên thường khi họ tự nguyện tặng cho ai đó tài sản thì họ sẽ là bên đặt vấn đề với bên được tặng cho) nên đa phần luật của các quốc gia đều quy định điều kiện của bên
được tặng cho là “đồng ý nhận tài sản” Điều này cũng được khẳng định thông qua
nhận định sau:
Mặc dù hợp đồng tặng cho tài sản được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các nội dung của hợp đồng tặng cho tài sản là do bên tặng cho đưa ra, bên được tặng cho thường không thể hiện được ý chí trong việc xác định đối tượng tặng cho là gì, giá trị lớn hay nhỏ, Về thực chất, ý chí của bên được tặng cho chỉ được thể hiện khi các nội dung của hợp đồng tặng cho tài sản đã được bên tặng cho xác định trước Do đó, không ít nhà nghiên cứu đã thể hiện quan điểm cho
Trang 28rằng tặng cho tài sản giống với bản chất của hành vi pháp lý đơn phương hơn là hợp đồng [135, tr.672]
Thứ hai, tặng cho được tiếp cận là hành vi đơn phương của bên tặng cho
Ngoài góc tiếp cận tặng cho là hợp đồng thì hiện nay một số quốc gia trên thế giới lại tiếp cận tặng cho dưới góc độ là hành vi đơn phương của bên tặng cho Trong
hệ thống pháp luật Anh, tặng cho tài sản được gọi tên là “deed of gift” có nghĩa là
“hành vi tặng cho” mà không được quy định là “gift of contract” hay “donation contract” (HĐTCTS) Theo đó, hành vi tặng cho được hiểu là việc chuyển giao tài sản
sang cho chủ thể khác mà không có đền bù [169] Tương tự, trong pháp luật Ấn Độ, tặng cho là việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản hay bất động sản đang tồn tại, được xác lập một cách tự nguyện và không có đền bù bởi người tặng cho đến một chủ thể khác gọi là bên được tặng cho Ngay khi bên tặng cho đưa ra tuyên bố tặng cho mà chưa cần sự trả lời đồng ý của bên được tặng cho thì bên tặng cho đã phải chịu sự ràng buộc với giao dịch tặng cho mà họ đưa ra Sự chấp nhận của bên được tặng cho có thể diễn ra trong suốt cuộc đời của người tặng cho và khi người tặng cho vẫn có khả năng thực hiện việc tặng cho Còn nếu khi người được tặng cho chết trước khi trả lời chấp nhận thì việc tặng cho vô hiệu [170] Như vậy, theo pháp luật Ấn Độ chỉ cần bên tặng cho tuyên bố ý chí tặng cho là đầy đủ căn cứ pháp lý để hình thành giao dịch tặng cho
mà chưa cần phải có sự chấp nhận của bên được tặng cho
Điển hình cho cách tiếp cận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho phải kể đến pháp luật của Scotland Scotland là nơi có hệ thống pháp luật dễ dàng nhất
để tiến hành việc tặng cho một cách hợp pháp [154] Điều này được thể hiện qua nhiều
đặc điểm: (i) không yêu cầu hình thức đặc trưng nào liên quan đến hành vi chuyển giao trong tặng cho, do vậy việc tặng cho có thể được tiến hành bằng lời nói; (ii) hành
vi chuyển giao tài sản tặng cho là một hành vi đơn phương, không cần có sự đồng ý của bên được tặng cho (trái ngược với Louisiana và pháp luật của nhiều quốc gia khác
như Nhật Bản, Đức, Thái Lan, Việt Nam…); và (iii) bất kì nghĩa vụ nào trước khi tiến
hành việc tặng cho trong tương lai không cần phải ở dưới dạng hợp đồng, mà có thể được tiến hành đơn phương dưới dạng lời hứa [154]
Tóm lại, các quốc gia theo hệ thống pháp luật Common law như Anh (bao gồm
cả Scotland), Mỹ, Ấn Độ…đều nhìn nhận tặng cho là một “hành vi đơn phương của bên tặng cho” Với góc tiếp cận này, giao dịch tặng cho được thiết lập hết sức đơn
giản và nhanh gọn bởi chỉ cần sự tuyên bố ý chí công khai của một bên về việc tặng cho tài sản cho một chủ thể khác là giao dịch tặng cho đã được thừa nhận hiệu lực mà không cần phải chờ đợi vào ý kiến trả lời của bên được tặng cho
Tại Việt Nam, tặng cho tài sản được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Ngay trong các Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 và
Nam kỳ giản yếu năm 1883 đều ghi nhận về tặng cho với tiêu đề “sinh thời tặng dữ”
Trang 29“Sinh thời” được hiểu là khi chủ thể còn sống, còn tồn tại; còn “tặng dữ” là một thuật
ngữ Hán Việt được hiểu tương đương với thuật ngữ tặng cho Như vậy, ghép hai cụm thuật ngữ này vào thì có thể hiểu “sinh thời tặng dữ” là việc tặng cho tài sản khi một người còn sống Thuật ngữ này cũng đã được lý giải cụ thể như sau: “Tặng dữ (hay là cho) là một giao ước do một người (gọi là tặng chủ) tự ý lấy của mình cho người khác (gọi là thụ tặng) Ai có của và có đủ khả năng đem của mình cho người mì nh lựa được Tặng dữ bó buộc phải lập bằng công chứng thư khi của đem cho là một bất động sản Việc tặng dữ đã làm thì không thể bãi bỏ được Đã cho là cho đứt Trường hợp bãi bỏ tặng dữ do pháp luật quy định rất là hãn hữu: người cho sinh con sau khi cho, người thụ tặng không thi hành trách vụ, người thụ tặng bội bạc” [106, tr.381]
Trong BDLBK năm 1931, các quy định về tặng dữ được ghi nhận tại Thiên thứ II
Điều 864 Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 quy định: “Sinh thời tặng dữ là một khế ước
do bên tặng chủ hiện thời bỏ của ra, mà bên thụ tặng nhận lấy” Ngoài ra, Điều 865 ghi nhận thêm “Tặng dữ là để làm phúc, hoặc để đền công, hoặc để thưởng tứ, hoặc
để phải làm lại việc gì” Trong BDLTK năm 1936, Điều 951 quy định: “Sinh thời tặng dữ là một khế ước do bên tặng chủ bỏ đứt ngay một tài sản gì để cho bên người thụ hưởng nhận lấy” Bộ luật này cũng ghi nhận nguyên tắc, chỉ tặng dữ tài sản mà
mình hiện có mà thôi, nếu tặng dữ tài sản mà mình sẽ có thì sự tặng dữ ấy là vô hiệu Thời điểm về sau này, Bộ Dân luật năm 1972 cũng dành một số lượng Điều luật tương đối lớn để quy định về sinh thời tặng dữ Điều 959 Bộ Dân luật năm 1972 quy định:
“Sinh thời tặng dữ là một khế ước do đó người chủ tặng đem một tài sản của mình cho dứt khoát một người khác, là người thụ tặng cũng thuận nhận tài sản ấy” Với việc sử dụng thuật ngữ “sinh thời tặng dữ” trong các Bộ Dân luật trước đây đã khẳng định rất
rõ thời điểm tặng dữ được thực hiện là khi bên tặng cho phải còn sống Điều này cho phép phân biệt rõ ràng với thời điểm di tặng di sản Qua các trích dẫn trên, rõ ràng truyền thống lập pháp nước ta đã thừa nhận tặng dữ là khế ước, được xác lập trên cơ
sở thỏa thuận giữa bên tặng chủ (bên tặng cho) và bên thụ tặng (người được tặng cho)
Kế thừa các quy định về tặng cho trong các Bộ Dân luật trước đó, BLDS năm
1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều ghi nhận tặng cho tài sản là hợp đồng Cách tiếp cận tặng cho là hợp đồng được luật hoá trong các văn bản pháp luật cũng nhận được sự đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu pháp lý Theo TS Nguyễn Hải An:
“Pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật các nước đều xác định tặng cho tài sản là một loại vật quyền được thực hiện thông qua giao dịch là hợp đồng, trong đó có
sự thoả thuận giữa các bên, bên tặng cho giao tài sản của mì nh và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho, mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản” [47, tr.16] Cũng tương tự với nhận định này, TS Nguyễn Ngọc Điện nhấn mạnh: “Để tặng cho được xác lập, lời đề nghị của người tặng cho không đủ, cần
Trang 30phải có sự chấp nhận của người được tặng cho, vậy tặng cho là một hợp đồng” [79, tr
160]
Như vậy, hiện nay trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam thì tặng cho tài sản được tiếp cận dưới góc độ là hợp đồng hoặc hành vi đơn phương của bên tặng cho tài sản Dù dù tặng cho được tiếp cận dưới góc độ nào thì khái niệm tặng cho đều chứa đựng các đặc tính chung được thừa nhận rộng rãi sau đây:
Một là, tặng cho là một trong các phương thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu -
đây là phương thức định đoạt số phận pháp lý đối với tài sản Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, tặng cho là một trong các giao dịch chuyển quyền sở hữu đối với tài sản bên cạnh các hợp đồng thông dụng khác như mua bán, trao đổi, cho vay;
Hai là, tặng cho tài sản chỉ làm lợi cho bên được tặng cho mà không mang lại lợi
ích vật chất cho bên tặng cho tài sản Dù tặng cho được nhìn nhận là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương của bên tặng cho thì trong tất cả các định nghĩa, các quan điểm được trích dẫn trong và ngoài nước đều khẳng định cho là cho không; tặng cho là không có đền bù Đây là điểm đặc thù của phương thức định đoạt tài sản bằng hình thức tặng cho so với các phương thức khác như mua bán hay trao đổi tài sản
Ba là, khi nghiên cứu về tặng cho thì cần tìm hiểu loại giao dịch này trong mối liên hệ với di tặng Tặng cho và di tặng là hai phương thức định đoạt tài sản giống nhau về bản chất nhưng giao dịch tặng cho tài sản chỉ được thực hiện giữa các chủ thể còn sống; còn di tặng chỉ phát sinh hiệu lực khi chủ thể di tặng chết Đặc biệt trong các
cổ luật của nước ta, ngay tên gọi “sinh thời tặng dữ” đã phản ánh điểm khác biệt căn
Mặc dù trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, giao dịch tặng cho tài sản được tiếp cận chưa thống nhất như các giao dịch dân sự khác Tuy vậy, dưới góc
độ nghiên cứu, theo quan điểm NCS cần nhìn nhận tặng cho tài sản là một hợp đồng
mà không chỉ là hành vi đơn phương của bên tặng cho bởi một số lý do sau đây:
Một là, xét đến cùng vấn đề, khi tặng cho được tiếp cận là hợp đồng hay hành vi
đơn phương của bên tặng cho thì để thiết lập giao dịch tặng cho vẫn cần phải có sự thể hiện ý chí “đồng ý nhận” của bên được tặng cho Nếu bên được tặng cho không đồng
ý nhận tài sản thì giao dịch tặng cho cũng không được xác lập
Hai là, khởi nguồn của việc tặng cho hoặc để một bên được tặng cho tài sản thì
thường xuất phát từ ý chí và hành vi của bên tặng cho tài sản Tuy nhiên, theo NCS
Trang 31không nên đánh đồng giữa yếu tố hành vi để bắt đầu thiết lập quan hệ với điều kiện để quan hệ được xác lập Điều này được hiểu, khi một người yêu quý hoặc muốn giúp đỡ người khác thì bằng hành vi của mình, họ tặng cho tài sản cho người khác – hành vi tặng cho trong trường hợp này được xác định là yếu tố khởi đầu để thiết lập giao dịch
tặng cho và được xem xét là yếu tố “cần” để cho giao dịch tặng cho được hình thành
Tuy vậy, điều kiện để tặng cho được xác lập và thực hiện cần phải có yếu tố đủ là “sự đồng ý của bên được tặng cho” Ngược lại, khi tặng cho được đề xuất bởi bên được
tặng cho thì cần phải có sự đồng ý của bên tặng cho mới hình thành được giao dịch tặng cho Do đó, dù ý định tặng cho tài sản xuất phát từ ý chí của bất cứ chủ thể nào cũng đều cần sự đồng ý của bên còn lại nên tặng cho được xác định là hợp đồng;
Ba là, giao dịch tặng cho là giao dịch không có đền bù Bên tặng cho chuyển giao
một lợi ích vật chất của cá nhân để làm lợi cho một chủ thể khác Do đó, theo NCS, các quy định tặng cho cần phải được xây dựng chặt chẽ, nghiêm ngặt theo hướng tạo điều kiện tối đa để bên tặng cho suy nghĩ thận trọng về việc tặng cho tài sản của mình Nếu ghi nhận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho thì việc tặng cho được xác lập hết sức đơn giản, nhanh gọn bởi chỉ cần sự tuyên bố ý chí công khai là bên tặng cho đã bị ràng buộc trách nhiệm Điều này là không phù hợp với nguyên tắc, định hướng xây dựng pháp luật về tặng cho Vì tặng cho là không có đền bù nên cần quy định theo hướng nghiêm ngặt về thời điểm bên tặng cho phải chịu trách nhiệm với việc tặng cho của mình Như theo pháp luật của nước ta, tặng cho có hiệu lực tại thời điểm chuyển giao tài sản hoặc đăng ký đối với từng loại đối tượng tặng cho
Bốn là, một số quốc gia như Ấn Độ thừa nhận tặng cho là hành vi đơn phương
của bên tặng cho nên khi một chủ thể đưa ra tuyên bố tặng cho một người thì chủ thể
đó có quyền trả lời về việc đồng ý hay không đồng ý nhận tài sản trong suốt cuộc đời của bên tặng cho Quy định này cũng gây ra một số điểm không tích cực, không phù hợp với thực tế như sau:
(i) Bởi nhìn nhận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho nên bên tặng cho bị ràng buộc trách nhiệm tặng cho ngay từ khi tuyên bố tặng cho được đưa ra Điều này được hiểu giao dịch tặng cho đã được xác lập và có hiệu lực Tuy nhiên, để bên tặng cho thực hiện được hành vi tặng cho thì vẫn phải cần sự đồng ý của bên được tặng cho nên bên tặng cho phải chờ đợi cho đến khi nào bên được tặng cho đưa ra câu trả lời, thậm chí đến khi hết cuộc đời của bên tặng cho Do đó, các giao dịch tặng cho
sẽ bị kéo dài về mặt thời gian, thường xảy ra tranh chấp giữa bên tặng cho và bên được tặng cho Bởi theo thời gian thì ý định tặng cho của bên tặng cho rất dễ thay đổi
(ii) Việc nhìn nhận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho có thể dẫn tới hệ quả làm kìm hãm các giao dịch dân sự được xác lập với đối tượng tặng cho Như
đã phân tích ở trên, khi bên được tặng cho chưa trả lời về việc đồng ý hay chấp thuận việc tặng cho thì bên tặng cho vẫn bị ràng buộc trách nhiệm tặng cho xuất phát từ
Trang 32tuyên bố của họ Nếu thời gian trả lời của bên được tặng cho càng dài càng làm kìm hãm các giao dịch mua bán, trao đổi đối với tài sản mà bên tặng cho có ý định cho
Từ các phân tích trên, NCS cho rằng, tặng cho phải được xác định là hợp đồng Tặng cho được hình thành từ sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa bên tặng cho và được tặng cho Các vấn đề pháp lý như hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng cần được xây dựng tương thích và phù hợp với HĐTCTS
1.1.2 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
1.1.2.1 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản
HĐTCTS là loại hợp đồng thông dụng và phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới; do đó, khái niệm về HĐTCTS đã được luật hoá trong rất nhiều BLDS trên thế giới cũng như được đề cập trong nhiều công trình khoa học pháp lý
Tính đến thời điểm hiện nay chưa có bất cứ một công trình nghiên cứu nào ở cấp
độ tiến sỹ về HĐTCTS nói chung mà các nghiên cứu chủ yếu tập trung về tặng cho quyền sử dụng đất Do đó, khái niệm HĐTCTS chưa được chú trọng nghiên cứu trong các công trình khoa học mà thường chỉ được đề cập ngắn gọn trong một số bài viết, luận văn và các công trình khoa học khác nhằm làm nền tảng để nghiên cứu sâu hơn
về tặng cho quyền sử dụng đất
Trong luận văn “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn”, tác giả Trần Thị Minh định nghĩa: “Hợp đồng tặng cho tài sản là một quan hệ tặng cho được hì nh thành từ sự thoả thuận giữa các bên để thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày; còn pháp luật
về hợp đồng tặng cho tài sản là sự quy định của Nhà nước đối với các bên trong việc thoả thuận về tặng cho tài sản” [115, tr 10] Định nghĩa đã lý giải HĐTCTS dưới góc
độ là một quan hệ pháp luật dân sự và dưới góc độ là một chế định pháp luật Với cách tiếp cận tặng cho là một quan hệ pháp luật, định nghĩa trên đã làm sáng tỏ được cơ sở
hình thành HĐTCTS là thông qua sự thoả thuận Còn với nhận định “tặng cho… để thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày” thì NCS lại có quan điểm khác Bởi lẽ, mỗi bên trong HĐTCTS có mục đích
khác nhau khi xác lập HĐTCTS Mục đích của bên tặng cho hướng tới không phải nhằm thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hay các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày mà mục đích là nhằm chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của họ cho bên được tặng cho Trên cơ sở kế thừa các điểm hợp lý được xây dựng trong định nghĩa trên, theo quan điểm NCS khi tiếp cận tặng cho là một quan hệ pháp luật thì cần làm sáng tỏ hơn các yếu tố đặc trưng liên quan đến chủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ cũng như bản chất không có đền bù của loại quan hệ này
Cũng đưa ra định nghĩa về HĐTCTS, tác giả Nguyễn Văn Hiến nhận định:“Hợp
Trang 33đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận của các bên theo đúng quy định của pháp luật
về tặng cho tài sản, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mì nh và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” [92, tr 96] Về cơ bản, định nghĩa này được xây dựng theo quy định tại Điều
465 BLDS năm 2005 và thêm cụm từ “theo đúng quy định của pháp luật về tặng cho tài sản” Tác giả Nguyễn Văn Hiến muốn nhấn mạnh đến sự tuân thủ pháp luật của
bên tặng cho và bên được tặng cho khi xác lập, thực hiện HĐTCTS Đây là yếu tố bảo đảm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và đúng đắn trên thực tế Tuy nhiên, NCS lại tiếp cận HĐTCTS dưới một cách nhìn khác, dù bên tặng cho và bên được tặng cho không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật thì bản chất giao dịch các bên xác lập vẫn là HĐTCTS Như bên tặng cho và bên được tặng xác lập không đúng với
hình thức của HĐTCTS hay ý chí của các bên không tự nguyện khi xác lập HĐTCTS không làm thay đổi bản chất của giao dịch là HĐTCTS Thậm chí, trong những trường hợp này, HĐTCTS vẫn có hiệu lực thi hành đối với cả bên tặng cho và bên được tặng
cho Ví dụ: Trong lúc say rượu, A tặng cho B 50 triệu đồng Sau khi tỉnh rượu, A không yêu cầu toà án tuyên bố HĐTC A đã xác lập với B là vô hiệu Do vậy, hợp đồng tặng cho này vẫn có hiệu lực mặc dù không thoả mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 hay trường hợp cha mẹ tặng cho nhà đất cho con cái, hợp đồng đã được lập văn bản nhưng chưa công chứng, chứng thực nhưng nếu các bên hoặc một trong hai bên đã thực hiện được tối thiểu 2/3 nghĩa vụ thì HĐTCTS được công nhận (Điều 129 BLDS năm 2015)
Ngoài ra, HĐTCTS còn được định nghĩa “là sự thể hiện ý chí, sự tự nguyện, tự
do thỏa thuận trong khuôn khổ quy định pháp luật của các bên, theo đó bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của mình theo quy định của pháp luật cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” [69, tr.12] Cũng giống như định nghĩa ở trên, định nghĩa này khẳng
định hợp đồng tặng cho tài sản phải theo quy định của pháp luật – Đây là vấn đề mà NCS có góc nhìn khác và đã được trình bày ở trên Bên cạnh đó, đây là định nghĩa duy
nhất ghi nhận “bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của mì nh cho bên được tặng cho” Nội dung này gây ra rất nhiều băn khoăn cho NCS Theo các thuật ngữ được dùng trong định nghĩa trên, tặng cho là “chuyển giao quyền sở hữu” hoặc “chuyển quyền sử dụng” đối với tài sản Tuy vậy, HĐTCTS luôn
là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với mọi loại tài sản nói chung gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản mà không phải là chuyển giao quyền sử dụng tài sản Trường hợp tặng cho quyền tài sản như quyền sử dụng đất thì mục đích của hợp đồng chính là chuyển quyền sở hữu đối với QSDĐ từ bên tặng cho sang cho bên được tặng cho
Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước, khái niệm HĐTCTS cũng được
Trang 34nghiên cứu phổ biến trong các công trình khoa học nước ngoài Tác giả O.N Sadikov cho rằng, trong HĐTCTS, một bên (bên cho tài sản) chuyển tài sản mà không cần sự đền đáp của một bên khác Tặng cho là hợp đồng bởi việc tặng cho không chỉ xuất phát từ mong muốn của bên tặng cho mà còn phải có sự chấp thuận của bên nhận món quà Giống như hợp đồng mua bán, HĐTCTS là phương tiện để chuyển giao quyền sở hữu tài sản HĐTCTS là hợp đồng ràng buộc một bên và không tạo ra nghĩa vụ cho bên nhận quà tặng Tặng cho là một hợp đồng thực sự tại thời điểm chuyển giao đối tượng của hợp đồng [158] Còn tác giả William Blackstone & William Draper Lewis
nhận định: “HĐTCTS là một trong các phương thức chuyển giao tài sản của cá nhân; tặng cho luôn là việc không lấy tiền và được phân định thành tặng cho bất động sản
và tặng cho động sản” [146] Trong một định nghĩa ngắn gọn, các tác giả đã nêu được những yếu tố cơ bản của HĐTCTS: (i) Mục đích của HĐTC là chuyển quyền sở hữu tài sản; (ii) HĐTC là hợp đồng không có đền bù – đây là một trong các điểm đặc trưng của hợp đồng này; (iii) Đối tượng của HĐTC bao gồm bất động sản và động sản
Như vậy, định nghĩa HĐTCTS đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học khác nhau với các phương thức định nghĩa riêng biệt nhưng tựu chung lại các định
nghĩa trên đều thống nhất các yếu tố sau đây: (i) HĐTCTS là sự thỏa thuận giữa bên
tặng cho và bên được tặng cho – đây là cơ sở cho việc hình thành hợp đồng nói chung
và HĐTCTS nói riêng; (ii) HĐTCTS là luôn được xác định là hợp đồng không có đền
bù Bên tặng cho không nhận được lợi ích từ bên được tặng cho tài sản
Ngoài các tài liệu nghiên cứu, trong một số BLDS trên thế giới và Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về HĐTCTS Theo quy định của BLDS Cộng hoà Pháp:
“Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận” [10, Điều
894] Việc tặng cho tại Pháp luôn phải thể hiện dưới hình thức văn bản nên trong
BLDS Pháp sử dụng thuật ngữ “chứng thư” là hoàn toàn phù hợp Mặc dù không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” nhưng trong BLDS Pháp, tặng cho vẫn được thừa nhận là
một loại hợp đồng dân sự bởi lẽ ngay Điều 894 đã thể hiện rất rõ ý chí của bên được tặng cho phải đồng ý nhận
Đối chiếu khái niệm tặng cho tài sản giữa BLDS Pháp và BLDS năm 2015 của Việt Nam có thể thấy hai khái niệm được ghi nhận tương đối đồng nhất, đều chứa
đựng các yếu tố như: (1) tặng cho và phương thức định đoạt tài sản; (2) việc tặng cho
tài sản được xác lập phải có sự đồng ý nhận của bên được tặng cho Điểm khác biệt
trong cách thức quy định khái niệm giữa BLDS Pháp và BLDS năm 2015 là (1) BLDS
Pháp ghi nhận cả hình thức của việc tặng cho ngay trong khái niệm còn trong BLDS
năm 2015, hình thức của HĐTCTS được quy định tại điều luật riêng; (2) khái niệm tại
Điều 457 BLDS năm 2015 xác định rõ yếu tố không đền bù của HĐTCTS còn trong BLDS Pháp, khái niệm tại Điều 894 không quy định yếu tố không có đền bù của
Trang 35chứng thư tặng cho mà tính chất này được ghi nhận riêng tại Điều 893: “Mỗi người chỉ
có thể định đoạt tài sản của mì nh mà không yêu cầu đền bù bằng cách lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc”
Theo quy định của BLDS Cộng hoà Liên bang Đức (BGB), một sự định đoạt qua đó một người nào đó làm giàu cho người khác từ tài sản riêng của mình là một việc tặng cho nếu cả hai bên thống nhất với nhau rằng việc định đoạt đó là cho không [8, Điều 516] Cũng tương tự như trong BLDS Pháp và BLDS của nước ta, BLDS Đức
cũng thừa nhận tặng cho là hợp đồng khi phải có yếu tố “thống nhất với nhau” Đồng thời, BLDS Đức cũng khẳng định rất rõ ràng “việc cho là cho không”
Để đưa ra được khái niệm đầy đủ, hoàn thiện về HĐTCTS, trước hết, cần phải nghiên cứu bản chất của hợp đồng Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385 BLDS năm 2015) Tặng cho là một trong các loại hợp đồng nên phải theo lý thuyết về sự hình thành hợp đồng;
cụ thể, HĐTCTS là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của bên tặng cho và bên được tặng
cho tài sản Nếu thiếu đi yếu tố “thoả thuận” thì không thể hình thành được HĐTCTS Điều này cũng thể hiện rất rõ trong định nghĩa về HĐTCTS được ghi nhận tại Điều
457 BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên…” và ngay trong định nghĩa cũng đã đưa ra điều kiện về ý chí của bên được tặng cho “đồng ý nhận tài sản” So sánh về cơ sở hình thành giao dịch tặng cho giữa Việt Nam và các quốc gia tiếp cận tặng cho là một hành vi đơn phương của bên tặng cho (như Anh bao gồm cả hệ thống pháp luật của Scotland, Mỹ, Ấn Độ, …) cho thấy, cơ sở hình thành giao dịch tặng cho của những quốc gia này đơn giản hơn rất nhiều so với Việt Nam bởi chỉ cần sự tuyên bố ý chí một cách công khai của bên tặng cho là đã xác lập được giao dịch tặng cho mà không cần phải có sự đồng ý của bên được tặng cho tài sản
Thời điểm xác lập HĐTCTS cũng là một trong những yếu tố quan trọng để phân định đâu là HĐTCTS và trường hợp nào cũng là cho tài sản nhưng không được xác định là hợp đồng mà được xác định là di tặng Theo như một phân tích:
Trước hết “di” trong Từ đển tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau:
- “Di” biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tác động nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định
- “Di” biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tác động nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định
- “Di” với nghĩa khác là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho đời sau, thế hệ sau, người “di” sau, như “di bản”, “di cảo” [97, tr.9 -10]
Đặt thuật ngữ “di” kèm theo từ “tặng” thì di tặng được hiểu là việc tặng tài sản
của người đời trước, của người đã chết cho những người còn sống Như vậy, di tặng không thể là hợp đồng bởi việc di tặng chỉ phát sinh hiệu lực khi bên di tặng đã chết Ngược lại, tặng cho là việc khi một người còn sống chuyển giao quyền sở hữu mà
Trang 36không có đền bù đối với tài sản của mình cho người khác Do đó, tặng cho là hợp đồng,
là kết quả của sự thỏa thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho Bởi, tặng cho và
di tặng cùng là “tặng” tài sản nên tính chất không có đền bù của hai giao dịch này là giống nhau Tuy vậy, giữa tặng cho và di tặng lại có sự khác biệt căn bản liên quan đến yếu tố thời điểm giao dịch được xác lập và phát sinh hiệu lực
Qua việc bình luận các khái niệm trên về HĐTCTS trong các công trình khoa học
và một số Bộ luật Dân sự trên thế giới, NCS nhận định cần đưa ra định nghĩa về
HĐTCTS chứa đựng các nội dung sau đây: (i) Về cơ sở hình thành: HĐTCTS được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho tài sản; (ii) về
tính chất trao đổi ngang giá, đền bù tương đương: HĐTCTS luôn mang tính chất không đền bù Đây là đặc trưng cơ bản nhất của HĐTCTS và điểm đặc trưng này được
nhấn mạnh trong tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước; (iii) Về thời điểm xác lập,
tặng cho phải được xác lập khi người tặng cho còn sống Còn cho sau khi chết được
xác định là di tặng; (iv) Về đối tượng của hợp đồng: đối tượng của HĐTC chính là tài
sản Với các trường hợp cho hay hiến tặng một vật chất nào đó (hiến máu, bộ phận cơ thể người…) mà không phải là tài sản thì không được thừa nhận là HĐTC nên cơ chế điều chỉnh, giải quyết tranh chấp cho những quan hệ này cũng khác với HĐTCTS Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa về HĐTCTS đã được các nhà khoa học xây dựng trước đó và cùng với sự phân tích, bình luận ở trên, NCS đưa ra định nghĩa về HĐTCTS như sau:
“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó khi còn sống, bên tặng cho giao tài sản của mì nh và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù; còn bên được tặng cho nhận chuyển giao tài sản Hợp đồng tặng cho có thể kèm điều kiện tặng cho hoặc không”
Soi chiếu theo các yếu tố cần được sử dụng khi xây dựng định nghĩa về HĐTCTS thì định nghĩa HĐTCTS được quy định tại Điều 457 BLDS năm 2015 đã phản ánh và
thể hiện được các nội dung cơ bản trên của loại hợp đồng này: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mì nh và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận” So sánh giữa định nghĩa NCS xây dựng và định nghĩa về HĐTCTS được quy định trong BLDS năm 2015 thì NCS đã lược bỏ cụm “bên được tặng cho đồng ý nhận” Bởi lẽ, theo như phân tích ở trên, hợp đồng tặng cho có thể được hình
thành từ sự đề xuất của bên tặng cho hoặc của chính bên được tặng cho Trường hợp bên tặng cho đưa ra đề xuất tặng cho thì cần có sự đồng ý của bên được tặng cho Ngược lại, nếu bên được tặng cho đề nghị một chủ thể tặng tài sản cho họ thì cần sự đồng ý của người đó Nếu vậy, định nghĩa đang được ghi nhận trong BLDS năm 2015 đang chỉ hướng tới trường hợp bên tặng cho đưa ra đề nghị tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận mà chưa bao quát được tình huống bên được tặng cho đề xuất bên
Trang 37tặng cho tặng tài sản cho mình
1.1.2.2 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
HĐTCTSCĐK (thuật ngữ được dùng tương đương với “tặng cho tài sản có điều kiện” được quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015) là trường hợp bên được tặng cho
muốn được nhận tài sản tặng cho thì phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Dưới góc độ nghiên cứu, NCS làm rõ sự khác biệt giữa HĐTCTSCĐK và giao dịch dân sự có điều kiện, hợp đồng có điều kiện
Thứ nhất, HĐTCTSCĐK không cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện
Giao dịch dân sự có điều kiện được hiểu là việc phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch phụ thuộc vào sự kiện điều kiện xảy ra theo sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong
giao dịch Qua đó được hiểu, “điều kiện” trong giao dịch có điều kiện là những sự
kiện pháp lý do chính các bên thỏa thuận mà khi điều kiện xảy ra thì làm ảnh hưởng
trực tiếp tới hiệu lực của giao dịch theo một trong hai chiều hướng: (i) Làm phát sinh hiệu lực của giao dịch hoặc (ii) làm hủy bỏ hiệu lực của giao dịch
Nếu chiếu quy định về giao dịch có điều kiện vào HĐTCTSCĐK thì rõ ràng, tặng cho tài sản có điều kiện khác về bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện bởi hai
lý do sau đây:
Một là, điều kiện trong giao dịch có điều kiện phải là những sự kiện qua đó làm
phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của giao dịch dân sự; còn điều kiện trong tặng cho tài sản có điều kiện không được coi là căn cứ để làm phát sinh hay chấm dứt hợp đồng tặng cho Trong khi đó, điều kiện tặng cho không phải là những sự kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của HĐTCTS mà thực chất đây là những nghĩa vụ mà bên được tặng cho thực hiện để được nhận tài sản tặng cho
Hai là, những sự kiện nằm trong điều kiện của giao dịch có điều kiện phải mang
tính chất khách quan, việc phát sinh điều kiện không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Trong khi đó, điều kiện của tặng cho là một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự do bên được tặng cho thực hiện Tức là người được tặng cho sẽ là người thực hiện, tác động để điều kiện do bên tặng cho đưa ra được thực hiện trên thực tế
Sự khác biệt giữa điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện và điều kiện
trong HĐTC cũng được khẳng định qua nhận định sau: “Chúng ta thấy rằng tặng cho tài sản có điều kiện là một dạng giao dịch dân sự, nhưng những điều kiện được nói đến trong quy định về tặng cho tài sản có điều kiện tại Điều 470 BLDS đã bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn là điều kiện thực hiện nghĩa vụ” [101, tr.156]
Từ các phân tích và dẫn chứng trên, NCS khẳng định HĐTCTSCĐK không có cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện
Thứ hai, HĐTCTSCĐK không phải là hợp đồng có điều kiện
Trang 38Đối chiếu, so sánh quy định về HĐTCTSCĐK và hợp đồng có điều kiện đang được quy định trong BLDS năm 2015 thì có thể nhận thấy hai giao dịch này cũng
không cùng bản chất Bởi lẽ: (i) điều kiện trong HĐTCTSCĐK là nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi được tặng cho tài sản; (ii) điều kiện
trong hợp đồng có điều kiện lại là điều kiện để làm cơ sở cho việc thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng (khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015)
Từ các phân tích trên NCS khẳng định, HĐTCTSCĐK đang được ghi nhận không cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện và hợp đồng có điều kiện Do
đó, khái niệm về HĐTCTSCĐK không được xây dựng trên nền tảng khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện và hợp đồng có điều kiện
Khái niệm về HĐTCTSCĐK ít được chú trọng nghiên cứu trong các công trình, tài liệu luật học Trong tất cả các công trình khoa học mà NCS đã nghiên cứu và khảo
sát chỉ có duy nhất bài viết: “Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành Những vướng mắc và kiến nghị” [101] của tác giả Bùi Minh Hồng xây dựng khái niệm HĐTCTSCĐK, cụ thể: “Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng mà trong đó bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận về những điều kiện của việc tặng cho tài sản (có sự kiện hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự), theo đó các bên thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ hoặc hủy bỏ hợp đồng” [101, tr.159] Theo
định nghĩa này, tác giả Bùi Minh Hồng đã tiếp cận khái niệm HĐTCTSCĐK là một giao dịch dân sự có điều kiện, điều kiện trong hợp đồng là điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏ việc tặng cho mà không phải là điều kiện mà bên được tặng cho phải thực hiện để được nhận tài sản tặng cho Như đã phân tích ở trên, dưới góc độ tiếp cận khác, NCS đã khẳng định điều kiện trong HĐTCTSCĐK không có cùng bản chất với điều kiện của giao dịch dân sự có điều kiện Do đó, khái niệm HĐTCTSCĐK được NCS
tìm hiểu và xây dựng được tiếp cận không dựa trên nền tảng các yếu tố của giao dịch dân sự có điều kiện nói chung
HĐTCTSCĐK được quy định từ rất sớm trong hệ thống pháp luật nước ta, ngay
từ Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 đã ghi nhận về
tặng dữ có điều kiện như sau: “Người tặng chủ có thể dự định rằng hễ người thụ tặng không thi hành các điều kiện, hoặc các nghĩa vụ đã định trong giấy tặng dữ, thì người tặng chủ vẫn được thưa tại tòa án để bãi sự tặng dữ trước đi Nhưng muốn thi hành quyền ấy phải nói phân minh trong chứng thư tặng dữ mới được” [4, Điều 871] Đến
BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 cũng đều không đưa ra định
nghĩa về tặng cho tài sản có điều kiện mà chỉ quy định: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”
[3, Điều 462]
Trang 39Không chỉ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới cũng ghi nhận về tặng cho tài sản có điều kiện Như, Điều 190
Luật Hợp đồng Nhân dân Trung hoa quy định: “Người tặng cho có thể kèm thêm nghĩa vụ Nếu tặng cho kèm thêm nghĩa vụ, thì người được tặng cho cần thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận”; Điều 525 BLDS Đức quy định: “1 Người nào thực hiện tặng cho theo một điều kiện có thể yêu cầu thực hiện điều kiện này nếu người đó đã thực hiện phần mì nh; 2 Nếu việc thực hiện điều kiện là vì lợi í ch công cộng thì sau người tặng cho chết, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể yêu cầu thực hiện điều kiện đó”; Điều 522 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan: “Việc tặng cho có thể thực hiện được bằng cách đồng ý miễn cho người nhận việc thi hành một nghĩa vụ, hoặc bằng cách thi hành một nghĩa vụ mà người nhận có bổn phận phải thi hành” Theo
quy định của Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, việc tặng cho được phân loại thành: tặng cho không kèm điều kiện và tặng cho kèm điều kiện Cũng giống như Việt Nam, trong văn bản pháp luật quy định về tặng cho có điều kiện của các quốc gia kể trên đều không đưa ra định nghĩa về HĐTCTSCĐK mà chỉ quy định tặng cho tài sản
có điều kiện dưới góc độ quyền yêu cầu của bên tặng cho và một số yếu tố mà điều kiện tặng cho cần thỏa mãn Từ các quy định đã được trích dẫn và phân tích ở trên, HĐTCTSCĐK đều được các quốc gia ghi nhận với các yếu tố chung sau đây:
Một là, cơ sở hình thành điều kiện tặng cho: điều kiện tặng cho là một nội dung
trong HĐTCTS; do đó, về nguyên tắc, cơ sở hình thành điều kiện tặng cho phải theo
cơ sở hình thành của HĐTCTS – là dựa trên sự thỏa thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho Thực tế sự thỏa thuận này thường được biểu hiện bằng sự chủ động đưa ra điều kiện của bên tặng cho và bên được tặng cho chấp thuận với điều kiện đó
Do đó, khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015 quy định “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho ”; hoặc Điều 190 Luật Hợp đồng Nhân dân Trung hoa quy định: “Người tặng cho có thể kèm thêm nghĩa vụ ” – rõ ràng cách thức quy định này đã ghi nhận sự chủ động của
bên tặng cho trong việc đưa ra điều kiện và nội dung của điều kiện Còn bên được tặng cho thể hiện ý chí của mình thông qua việc chấp thuận thực hiện điều kiện hoặc không
Hai là, quy định trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, trong đó
bao gồm cả Việt Nam, điều kiện tặng cho cần phải đáp ứng một số yêu cầu cụ thể:
(i) Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo
đức xã hội Đây là yếu tố được thừa nhận rộng rãi khi quy định về HĐTCTSCĐK như trong BLDS Pháp, BLDS năm 2015
(ii) Điều kiện tặng cho không được làm mất đi tính chất không có đền bù của
HĐTCTS Yếu tố này được thể hiện cụ thể trong BLDS Pháp, Đức Tuy nhiên, trong BLDS năm 2015 của nước ta lại chưa thể hiện rõ ràng yếu tố này Theo NCS, HĐTCTSCĐK là một loại HĐTCTS; do đó, HĐTCTSCĐK cũng phải là hợp đồng
Trang 40không có đền bù Điều này đồng nghĩa, bên tặng cho không được phép đặt ra điều kiện tặng cho mang lại lợi ích vật chất tương đương cho họ
Thông qua việc tìm hiểu HĐTCTS dưới góc độ nghiên cứu và dưới góc độ pháp
lý, NCS xây dựng khái niệm HĐTCTSCĐK như sau:
“Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng tặng cho tài sản, theo đó bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và không được làm thay đổi tí nh chất không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản”
Tặng cho tài sản có điều kiện là một vấn đề tương đối phức tạp, dễ gây nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu bởi sự trùng lặp về mặt thuật ngữ nhưng không trùng lặp về bản chất giữa tặng cho tài sản có điều kiện và giao dịch dân sự có điều kiện Bên cạnh quy định riêng về tặng cho tài sản có điều kiện được quy định riêng tại Điều 462
BLDS năm 2015 thì HĐTCTS cũng giống như tất cả các hợp đồng khác tồn tại “hợp đồng tặng cho tài sản là một giao dịch dân sự có điều kiện” HĐTCTS là một giao
dịch dân sự có điều kiện là trường hợp bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận
về điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ HĐTCTS mà không phải là điều kiện tặng cho
do bên được tặng cho thực hiện để được nhận tài sản
1.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản
1.2.1 Tí nh đơn vụ và song vụ
Trong khoa học pháp lý, dựa trên mối quan hệ về nghĩa vụ giữa các bên chủ thể
mà hợp đồng được phân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ Hợp đồng song
vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; còn hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ
Theo quan điểm pháp lý truyền thống của nước ta từ trước tới nay, HĐTCTS được xác định là hợp đồng đơn vụ Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu nước
ngoài lại lập luận HĐTCTS có thể là hợp đồng song vụ như trong bài viết “Donation
of land to charity” [148], tác giả bài viết này nhận định rằng: “Với HĐTCTS mà nội dung có quy định nghĩa vụ cho bên được tặng cho thì đây là hợp đồng cả hai bên đều
có nghĩa vụ đối với nhau (hợp đồng song vụ)” Theo đó, tác giả của bài viết khẳng
định tính chất song vụ đối với trường hợp tặng cho tài sản có điều kiện Theo quan điểm NCS, để xác định HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hay song vụ cần căn cứ vào loại hợp đồng tặng cho theo từng trường hợp sau đây: