1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giá trị của điện tâm đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có đối chiếu với siêu âm tim

77 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu giá trị của điện tâm đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có đối chiếu với siêu âm tim Nghiên cứu giá trị của điện tâm đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có đối chiếu với siêu âm tim luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

BỘ Y TẾ - BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

LÊ VĂN TÚ

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA ĐIỆN TÂM ĐỒ TRONG CHẨN ĐOÁN PHÌ ĐẠI THẤT TRÁI Ở BỆNH NHÂN

TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI SIÊU ÂM TIM

LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ

Chuyên nghành: Nội khoa

Mã số: NT 62 72 20 50

Hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hiếu

THÁI NGUYÊN 2010

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp là một bệnh phổ biến và ngày càng gia tăng, bệnh chiếm tỷ lệ 8-18% dân số thế giới, năm 2002 tỷ lệ tăng huyết áp ở miền bắc Việt Nam là 16,3% thì đến năm 2008 con số này là 25,1% [9],[14]

Tăng huyết áp làm tăng sức cản thành mạch dẫn đến áp lực buồng tim tăng,

để duy trì cung lượng tim cũng như là sức chịu tải của cơ tim thì phì đại cơ tim là biện pháp thích nghi tối ưu nhất của tim [24] vì vậy phì đại thất trái là biến chứng sớm của bệnh tăng huyết áp, tuy nhiên trên 90% bệnh nhân tăng huyết áp

có phì đại thất trái mà hoàn toàn không có triệu chứng [55]

Phát hiện phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp có vai trò hết sức quan trọng vì phì đại thất trái làm tăng nguy cơ tử vong gấp 6.9 lần so với bệnh nhân không có phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp [37] và việc điều trị sớm có thể làm giảm đến 20% biến chứng tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp có phì đại thất trái [56] Có nhiều phương pháp đang được sử dụng để chẩn đoán phì đại thất trái như mổ tử thi chẩn đoán hồi cứu, chụp cộng hưởng từ hoặc chụp xạ hình tim, siêu âm tim, điện tâm đồ, tùy thuộc từng điều kiện trang thiết bị y tế mà cán

bộ y tế có thể lựa chọn phương pháp nào cho thích hợp

Siêu âm tim đánh giá được hình thái học và sự hoạt động của tim, đo được kích thước các thành, buồng của tim, nhờ đó có thể xác định được khối lượng cơ thất trái từ đó phát hiện phì đại thất trái, khối lượng cơ thất trái trên siêu âm tương tương với với khối lượng cơ thất trái trên phẫu thuật tử thi trong nghiên cứu của Devereux với r = 0.9 với p < 0.01 [28],[54], trong nghiên cứu của Nathaniel Reichek với r = 0.96 với p< 0.01 [42], siêu âm tim trong chẩn đoán phì

Trang 3

đại thất trái có độ chính xác như trong chụp cộng hưởng từ [40], trong chụp hạt nhân phóng xạ thất trái [32]

Điện tâm đồ là một kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp từ lâu đã là một thăm dò rất phổ biến để chẩn đoán sớm phì đại thất trái, do điện tâm đồ do dòng điện gián tiếp của tim, nên kết quả phụ thuộc nhiều vào nhiều yếu tố như tuổi, giới, thể trạng cũng như là chủng tộc [21],[25],[43],[41] vì vậy mà có nhiều tác giả đã đưa

ra nhiều tiêu chuẩn khác nhau trong chẩn đoán phì đại thất trái, khuyến cáo của Hội tim mạch hoa kỳ năm 2009 đã đưa ra 36 tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau trong chẩn đoán phì đại thất trái [30], tuy nhiên giá trị chẩn đoán của điện tâm đồ trong phì đại thất trái còn chưa cao và có sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn [5],[50],[59],[42]

Điều kiện về trang thiết bị y tế của nước ta còn rất khó khăn, máy siêu âm tim còn rất hạn chế do vậy việc phát hiện phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết

áp bằng siêu âm tim ở cộng đồng còn rất hạn chế, vì vậy việc tìm ra một tiêu chuẩn điện tâm đồ có giá trị để chẩn đoán phì đại thất trái là rất cần thiết

Chính vì vậy tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu giá trị của điện tâm đồ trong

chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có đối chiếu với siêu âm tim” với mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát bằng điện tâm đồ và siêu âm tim

2 So sánh giá trị của một số tiêu chuẩn trên điện tâm đồ với siêu âm tim trong chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát

Trang 4

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1 Tăng huyết áp và phì đại thất trái

1.1.1 Tăng huyết áp

Định nghĩa : Máu chảy được trong lòng mạch là do có sự chênh lệch áp

suất giữa hai đầu lòng mạch đã đẩy máu, do đó yếu tố quyết định sự lưu thông máu trong lòng mạch là sự chênh lệch áp suất giữa hai đầu đoạn mạch chứ không phải áp suất tuyệt đối trong lòng mạch quyết định, chính sự co bóp của tim đã tạo ra sự chênh lệch áp suất giữa các điểm trong lòng mạch, như vậy thực chất của tuần hoàn máu là kết quả của hai lực đối nhau là lực đẩy của tim và sức cản của thành mạch, vì lực đẩy của tim thắng được sức cản của thành mạch nên máu chảy được trong lòng động mạch với một áp suất nhất định, áp suất này gọi là huyết áp động mạch (HA)

HA phụ thuộc vào cung lượng tim và sức cản ngoại vi theo công thức :

HA = Cung lượng tim x Sức cản ngoại vi Ở người bình thường cơ chế điều hòa ngược giữa cung lượng tim và sức cản ngoại vi khiến HA được giữ ổn định

và chỉ tăng hay giảm tạm thời

Chúng ta biết cung lượng tim = nhịp tim x thể tích tống máu, như vậy

HA phụ thuộc vào 3 yếu tố : nhịp tim, thể tích tống máu và sức cản ngoại vi, bất

kỳ một yếu tố nào thay đổi đều làm thay đổi HA

Việc xác định ngưỡng tăng huyết áp (THA) không đơn giản do vai trò bệnh lý và sự cần thiết cho quyết định xử trí Từ nhiều năm nay nhiều định nghĩa

Trang 5

được đưa ra, nhưng cho đến nay Tổ chức y tế thế giới (World health Organization–WHO) và hội THA quốc tế (International Society of Hypertention –ISH) đã thống nhất ngưỡng chẩn đoán THA khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140mmHg và hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90mmHg

Liên ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA Hoa kỳ (Join National Committee – JNC) đưa ra cách phân loại THA khác nhau qua các kỳ họp (JNC IV 1988; JNC V 1993; JNC VI 1997; JNC VII 2004)

Tại Việt Nam, phân loại THA theo JNC VI được Hội Tim Mạch Việt Nam khuyến cáo sử dụng để chẩn đoán và phân loại bệnh nhân THA người lớn ở Việt Nam, còn tiêu chuẩn JNC VII chỉ mang tính chất tham khảo [9]

Bảng 1.1 Phân độ THA theo JNC VI

Phân loại này dự trên HA đo tại phòng khám, nếu HATT, HATTr không cùng một phân loại thì chọn mức HA cao hơn để xếp loại

[Nguồn: The Sixth Report of the Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Pressure, năm 1997, pp 11]

Trang 6

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Trong nhiều năm gần đây các nhà sinh lý học cũng như các nhà lâm sàng

tim mạch đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để giải thích cơ chế THA, đã xác định

được nhiều vấn đề về THA, tuy nhiên còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ Dưới đây

là một số nguyên nhân và cơ chế đã được công nhận trong bệnh sinh THA:

*Nguyên nhân nguyên phát: Bệnh nhân THA nhưng không tìm thấy nguyên

nhân, người ta cho rằng các yếu tố sau có liên quan đến THA:

- Tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm: Khi hệ thần kinh giao cảm tăng

hoạt động sẽ làm tăng hoạt động của tim bao gồm nhịp tim tăng và sức co bóp

của tim tăng dẫn đến tăng cung lượng tim hậu quả là THA

- Vai trò của hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron (RAA) : Renin là một

enzyme được tế bào cạnh cầu thận và một số tế bào khác tiết ra khi có kích thích

Các tế bào cơ trơn trên thành mao động mạch đến của tiểu cầu thận chịu trách

nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh

tiểu cầu thận tiết ra Renin để điều hòa HA, duy trì áp lực lọc của cầu thận Khi

Renin được tiết ra, Renin sẽ chuyển Angiotensinogen do gan tổng hợp thành

Angiotensin I và Angiotensin I lên tuần hoàn phổi bị một men ở phổi (Converting enzyme) chuyển thành Angiotensin II, chất này có tác dụng kích

thích vỏ thượng thận tăng tiết Aldosteron gây tăng giữ nước và giữ muối đồng

thời nó có tác dụng gây co mạch gấp 100 – 200 lần Adrenalin và Noradrenalin

do đó gây THA

- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: Theo Tubian (1954),

lượng Natri và nước trong vách động mạch cao hơn một cách rõ rệt ở người và

động vật có THA Theo Braunwald (1954), vai trò của natri trong cơ chế bệnh

sinh THA thực hiện ở hai lý do, một là khi ăn nhiều natri làm khả năng lọc của

Trang 7

thận tăng hấp thu natri, kèm theo là tăng hấp thu nước hậu quả là tăng thể tích máu dẫn đến THA, thứ hai là màng tế bào có sự tăng thẩm thấu di chuyển đối với natri và calci vào trong tế bào cơ trơn mạch máu, dẫn đến co mạch tăng sức cản ngoại vi gây THA

*Nguyên nhân thứ phát : 5 – 10 % bệnh nhân trẻ tuổi có thể tìm thấy nguyên nhân THA, nguyên nhân có thể là:

- THA do nhu mô thận: là nguyên nhân hay gặp nhất ở trẻ em, cơ chế gây THA liên quan đến tăng hoạt động của hệ thống RAA

- THA do bệnh lý mạch máu thận: là nguyên nhân hay gặp thứ 2, hẹp mạch thận làm giảm máu tới thận kích thích thận tăng giải phóng Renin

- U tuỷ thượng thận: Bệnh nhân giải phóng nhiều Cathecholamin gây THA

- Cường Aldosteron thứ phát và Hội chứng Cushing: bệnh nhân bài tiết quá nhiều Aldosteron gây giữ nước và muối gây THA

- Hẹp quai động mạch chủ: Gây THA trước hẹp và giảm HA sau hẹp

- Do dùng thuốc: Một số thuốc như thuốc tránh thai, cam thảo có thể gây THA khi dùng kéo dài

1.1.2 Phì đại thất trái và tăng huyết áp

Khi tim đối mặt với sự quá tải về huyết động (quá tải về thể tích tống máu

và tăng sức cản ngoại vi) thì cơ tim sẽ thích nghi bằng cách:

- Tăng nhịp tim: Làm tăng cung lượng tim, do đó làm tăng lượng máu đến

cơ quan, tuy nhiên nếu tăng nhịp tim quá nhiều làm thời gian tâm trương ngắn lại, lượng máu về tim ít dẫn đến thể tích nhát bóp giảm khi đó cung lượng tim sẽ giảm và HA giảm

- Giãn các buồng tim: là tình trạng tế bào cơ tim dãn dài hơn bình thường, kết quả là dung tích buồng tim tăng lên làm làm cho cung lượng tim tăng, đồng

Trang 8

thời theo định luật Frank – Starling khi cơ tim giãn ra nhiều hơn thì khả năng co

cơ sẽ tăng lên do đó làm tăng thể tích nhát bóp

- Phì đại cơ tim: là tình trạng cơ tim to ra (tăng đường kính cơ tim), làm tăng kích thước các thành tim dẫn đến tăng khối lượng cơ tim

Theo định luật Laplace áp lực tác dụng lên bât cứ phần nào của cơ tim được tính theo công thức:

Áp lực buồng tim x Đường kính buồng tim

Áp lực lên thành tim = -

2 x Độ dày thành tim

Như vậy độ dày buồng tim tỷ lệ thuận với áp lực trong buồng tim, phì đại cơ tim làm cho mỗi đơn vị cơ tim chỉ cần chịu tải như bình thường (do vậy tim có thể chịu đựng lâu dài) trong khi toàn bộ tim gánh vác được một tải rất lớn [24] Mỗi sợi cơ tim không thể giãn quá mức cho phép, vì khi bị giãn quá mức nó sẽ

bị biến dạng không hồi phục, dẫn đến giảm hay mất trương lực mà đi tới suy tim, khi đó lực co của cơ tim không còn tuyến tính với độ giãn nữa mà ngược lại Như vậy phì đại cơ tim chính là cơ chế thích nghi lâu dài của cơ tim đối với sự quá tải về thể thể tích và áp lực

Phì đại thất trái (PĐTT) làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch cũng như tỷ

lệ tử vong ở bệnh nhân THA, tỷ lệ tử vong tăng 3 – 4 lần ở bệnh nhân có bằng chứng PĐTT so với bệnh nhân THA không có PĐTT [29]

Nghiên cứu Frammingham với 6148 người tham gia thì tỷ lệ PĐTT là 16%

ở nữ và 19 % ở nam [37], ở bệnh nhân THA tỷ lệ này khoảng 30% [44]

Năm 2009, Prakash O nghiên cứu mối tương quan điện tâm đồ và siêu âm tim trong chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp, kết quả của

Trang 9

nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phì đại thất trái là 13 % ( Romhilt – Este) và 34 % (Sokolow – Lyon), theo tiêu chuẩn siêu âm tim đạt 64% [52]

Nghiên cứu MAVI theo dõi 1033 bệnh nhân THA trong thời gian 0 – 4 năm (trung bình 3 năm) bệnh nhân THA có PĐTT có biến chứng tim mạch cao hơn 28.5 % so với nhóm không có PĐTT [49]

Việc điều trị giảm khối lượng cơ thất trái sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như

tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân THA, nghiên cứu LIFE so sánh tác dụng của Losartan và Atenolol trong điều trị THA của 4963 bệnh nhân nữ và 4230 bệnh nhân nam, kết quả nghiên cứu cho thấy Losartan giảm 15% khối lượng cơ thất so với Atenolol làm giảm 9% khối lượng cơ thất trái theo tiêu chuẩn Sokolow – Lyon, và nhóm dùng Lorsartan giảm được được 25% biến chứng tim mạch và tử vong so với nhóm dùng Atenolol [34]

1.2 Điện tâm đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái

Điện tâm đồ là một đồ thị ghi lại các biến thiên của các điện lực do tim phát

ra trong hoạt động co bóp Điện lực của tim sinh ra là do có sự biến đổi điện thế giữa mặt trong và mặt ngoài màng tế bào cơ tim, sự biến đổi hiệu điện thế này bắt nguồn từ sự di chuyển của các ion (K+

, Na+) từ ngoài vào trong tế bào và từ trong tế bào ra ngoài khi tế bào cơ tim hoạt động, lúc này tính thẩm thấu của màng tế bào đối với các loại ion luôn luôn biến đổi

Khi tế bào bắt đầu hoạt động (kích thích), điện thế mặt ngoài màng tế bào sẽ trở thành âm tính tương đối so với mặt trong: người ta gọi đó là hiện tượng khử cực, sau đó tế bào dần dần lập lại thế cân bằng ion lúc nghỉ, điện thế mặt ngoài trở lại dương tính tương đối người ta gọi đó là hiện tượng tái cực, quá trình khử cực biểu hiện bằng sóng P và phức bộ QRS, quá trình tái cực biểu hiện bằng đoạn ST và sóng T

Trang 10

Trong phì đại cơ tim, sự dày lên và giãn ra của cơ tim làm thay đổi quá trình khử cực, tăng diện tích ngoài của các thớ cơ và giảm tương đối số lượng của tổ chức đện làm [12] :

+ Biên độ sóng R tăng lên ở các chuyển đạo trực tiếp và giảm đi ở các chuyển đạo gián tiếp

+ Thời gian khử cực mất nhiều thời gian hơn (QRS rộng ra)

Các biến đổi về khử cực sẽ gây ra các biến đổi thứ phát của quá trình tái cực, xung động khử cực đạt đến lớp dưới thượng tâm mạc quá muộn làm cho quá trình tái cực phải bắt đầu từ lớp dưới nội tâm mạc sinh ra ST chênh lên và T đảo ngược trái chiều QRS

Tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT bằng điện tâm đồ theo khuyến cáo của Hội tim mạch hoa kỳ năm 2009 [10],[30] :

Bảng 1.2 Điện tâm đồ chẩn đoán PĐTT của AHA/ACCF/HRS năm 2009 Điện thế chuyển đạo chi Điện thế Tác giả đầu tiên Năm

(R I–S I) + (S III–R III)

1944

1964

Trang 11

Romhilt Molloy Molloy

1976

1976

1988

1988

Trang 12

Tiêu chuẩn với blốc nhánh phải

Max R/S ở CĐ trước tim (trục phải)

Một số tiêu chuẩn điện tâm đồ được sử dụng rộng rãi như Sokolow – Lyon, Romhilt – Este, Cornell, Gubner … đều nằm trong bảng phân loại trên

1.2.1 Điện thế phức bộ QRS trong phì đại thất trái

Hầu hết các các tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT đều dựa trên cơ sở đo điện thế QRS Có rất nhiều các tiêu chuẩn điện thế đã được giới thiệu sau khi công nhận

12 chuyển đạo chuẩn, đặc biệt tiêu chuẩn Sokolow - Lyon được công bố vào năm 1949 sử dụng Sv1 cộng Rv5 hoặc Rv6, gần đây tổng Sv3 và RaVL được tham khảo như tiêu chuẩn Cornell đã được sử dụng, bảng điểm Romhilt – Este được công bố vào năm 1968 là sự kết hợp chặt chẽ những bất thường về trục, thời gian QRS, hình dạng của sóng P và ST-T, khởi điểm cũng như điện thế QRS [30]

Sự tồn tại nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT làm cho việc tiếp cận lâm sàng trở nên phức tạp, các tiêu chuẩn điện tâm đồ có độ nhạy chưa cao (thường dưới 50%) nhưng độ đặc hiệu cao (80 – 90%), tuy nhiên độ nhạy và độ đặc hiệu của từng tiêu chuẩn thì khác nhau, chính vì vậy mà độ chính xác của chẩn đoán phụ thuộc rất nhiều vào các tiêu chuẩn sử dụng, trong nghiên cứu lớn ở bệnh nhân THA với mức độ trung bình và nhẹ chỉ 11.2% bệnh nhân có PĐTT bằng tiêu chuẩn Cornell, Sokolow – Lyon hoặc cả hai Nói thêm rằng, giá trị tiên lượng âm

Trang 13

tính và dương tính của mỗi tiêu chuẩn cũng khác nhau ở những bệnh nhân khác nhau [37]

Các nghiên cứu cộng đồng gần đây không đủ bằng chứng để chỉ ra một tiêu chuẩn nào đó trong các tiêu chuẩn đề nghị là thực sự chính xác trong chẩn đoán

Vì vậy, sự chính xác của các tiêu chuẩn là theo kinh nghiệm, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa mỗi cách đo điện tâm đồ và các tiêu chuẩn tham khảo

Một vấn đề quan trọng trong việc phát triển và áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT trên cơ sở điện thế của QRS là điện thế QRS bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác ngoài kích thước hoặc là khối lượng cơ thất trái Những yếu tố

đó bao gồm: tuổi, giới, chủng tộc, thể trạng của người bệnh Các yếu tố này là nguyên nhân làm giới hạn độ chính xác của điện tâm đồ Sự thay đổi vị trí đặt điện cực cũng ảnh hưởng đến điện thế QRS do đó cũng làm thay đổi giá trị chẩn đoán

sơ sinh và các khoảng tuổi ở trẻ em, có nhiều sự khác biệt quan trọng giữa các khoảng tuổi ở người lớn và có khuynh hướng giảm đi khi tuổi tăng lên Thông thường các tiêu chuẩn dùng điện thế QRS áp dụng cho người có tuổi trên 35 [38], nhóm từ 16 đến 35 tuổi nếu sử dụng tiêu chuẩn điện thế đơn độc thì độ chính xác thấp

khác nhau này vẫn còn tồn tại cả khi có sự điều chỉnh theo kích thước cơ thể và khối lượng cơ tim Một số tiêu chuẩn có sự điều chỉnh theo giới, nhưng sự điều chỉnh này không giống nhau ở tất cả các tiêu chuẩn [25],[ 43]

Người Mỹ gốc Phi có giới hạn điện thế QRS cao hơn bình thường và giống như

Trang 14

người Mỹ gốc Âu, trong khi đó người Mỹ gốc Tây ban nha có giới hạn thấp hơn Ở bệnh nhân THA mức độ nhẹ và trung bình thì tiêu chuẩn Sokolow – Lyon có độ nhạy cao hơn và độ đặc hiệu thấp hơn ở người Mỹ gốc Phi so với người Mỹ gốc Âu, trong khi tiêu chuẩn Cornell thì có độ nhạy thấp hơn và độ đặc hiệu cao hơn ở người Mỹ gốc Phi so với người Mỹ gốc Âu [21].

trên siêu âm tim nhưng không liên quan với sự tăng biên độ QRS Điều này có thể là do sự cản trở điện thế của mô mỡ dưới da và sự gia tăng khoảng cách giữa tim và vị trí đặt điện cực trên thành ngực Sự ảnh của béo phì có sự khác nhau trong mỗi tiêu chuẩn điện tâm đồ, trong nghiên cứu của bệnh nhân THA mức độ nhẹ và trung bình thì tỷ lệ PĐTT theo tiêu chuẩn Cornell ở người có béo phì cao hơn ở người bình thường, ngược lại theo tiêu chuẩn Sokolow – Lyon thì tỷ lệ PĐTT ở người béo phì lớn hơn [26],[ 43]

1.2.2 Vai trò của khoảng thời gian QRS trong chẩn đoán phì đại thất trái

Khoảng QRS tăng lên trong PĐTT, sự gia tăng thời gian QRS là sự gia tăng thời gian từ khởi phát QRS tới đỉnh của sóng R ở V5 hoặc V6 nguyên nhân là do

sự gia tăng kích thước thành thất trái, hoặc là phì đại các sợi cơ dẫn đến thay đổi

và kéo dài dẫn truyền xung động trong tim

Điện tâm đồ của bệnh nhân PĐTT có QRS giãn rộng, có thể có mất sóng Q vách, thường có giảm điện thế của sóng R, đây là lý do chẩn đoán PĐTT có liên quan với blốc nhánh trái không hoàn toàn, trong khi thực tế có thể chỉ có PĐTT

1.2.3 Sự bất thường ST-T trong phì đại thất trái

Sự liên quan giữa sự biến đổi của sóng T và sự gia tăng hoạt động của cơ thất trái đã được mô tả vào năm 1928 Thuật ngữ “Đường cong đặc trưng - typical strain” được giới thiệu vào năm 1941 và được tham khảo cho bất thường

Trang 15

đặc biệt của ST-T, nó được giải thích là do có sự gánh nặng về mặt huyết động, biểu thị bằng sự hạ thấp của điểm J, sự chênh xuống của đoạn ST, và sự đảo ngược không cân xứng của sóng T Chúng ta cần đánh giá đúng PĐTT trên điện tâm đồ trong trường hợp có mặt đoạn ST bất thường và sóng T sảy ra trong điều kiện không có gánh nặng về huyết động như trong giãn hoặc phì đại cơ tim Do vậy, thuật ngữ “strain” hay “ typical strain” không được khuyến khích mà thuật ngữ “ biến đổi ST-T thứ phát” được khuyến khích hơn Sự có mặt của ST-T bất thường hỗ trợ rất lớn cho chẩn đoán PĐTT nếu không có các căn cứ khác ngoài

sự gia tăng điện thế QRS, và có bằng chứng rằng sự có mặt của ST-T bất thường

có liên quan với sự gia tăng khối lượng cơ thất trái và tăng nguy cơ các biến chứng tim mạch và tỷ lệ tử vong so với tăng điện thế QRS đơn độc [45]

Tuy nhiên còn thiếu bằng chứng để khẳng định rằng sự có mặt ST-T bất thường có thể sử dụng để chẩn đoán PĐTT khi không có bất kỳ tiêu chuẩn nào

về tăng điện thế QRS hoặc sự có mặt ST-T bất thường cho phép thay cho tiêu chuẩn về điện thế của QRS Đây là vấn đề quan trọng cần nghiên cứu tiếp

1.2.4 Bất thường nhĩ trái trong phì đại thất trái

Sóng P bất thường đã được biết có liên quan với sự giãn, phì đại hoặc giảm dẫn truyền hoặc sự gia tăng áp lực của nhĩ trái thường có liên quan với PĐTT vì vậy nó có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT, sóng P thay đổi sảy

ra thường xuyên ở bệnh nhân THA, và chúng có thể là dấu hiệu sớm nhất của bệnh lý tim mạch do THA Tuy nhiên sóng P bất thường vẫn có thể gặp ở bệnh nhân không có PĐTT, vì lý do này và các nghiên cứu lâm sàng chưa có định giá chính xác về tiêu chuẩn này nên sóng P bất thường chưa được công bố và nó chỉ

sử dụng như tiêu chuẩn hỗ trợ [28]

1.2.5 Trục trái trong phì đại thất trái

Trang 16

PĐTT làm tim to về bên trái dẫn đến trục tim lệch sang trái Tuy nhiên, chúng ta cũng biết blốc phân nhánh trái, hoặc là các yếu tố khác có thể làm trục lệch trái như sự gia tăng tuổi ngay cả khi không có PĐTT, do vậy trục điện tim chỉ có giá trị hỗ trợ hơn là giá trị chẩn đoán trong PĐTT

1.2.6 Một số nghiên cứu về điện tâm đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái

Nghiên cứu Waqas Hameed và Muhammad Shamaun Razi khi so sánh tiêu chuẩn điện tâm đồ (Romhilt – Este) với tiêu chuẩn siêu âm Doppler tim trong chẩn đoán PĐTT, tác giả thấy tiêu chuẩn Romhilt – Este có độ nhạy là 35% và

độ đặc hiệu là 90% [59]

Ralph C Scott, Vincent J Seiwert và cộng sự nghiên cứu các tiêu chuẩn điện tâm đồ chẩn đoán PĐTT trong 100 ca có PĐTT trên mổ tử thi (thành thất trái ≥ 13mm), các tác giả thấy độ nhạy của tiêu chuẩn Gubner và Ungerleider là

36 %, tiêu chuẩn của Katz là 40%, Goulder và Kisane là 27%, Sokolow - Lyon đạt 47% với các chuyển đạo đơn cực chi và đạt 85% khi sử dụng cả tiêu chuẩn ở chuyển đạo đơn cực chi và chuyển đạo trước tim [53]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung so sánh giữa điện tâm đồ, siêu âm tim và xquang tim phổi thẳng trong đánh giá PĐTT ở bệnh nhân THA nguyên phát, tác giả nhận thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của các tiêu chuẩn điện tâm đồ bao gồm Sokolow – Lyon, Romhilt – Este, Cornell, Casale so với siêu âm tim (LVMI ≥ 125g/m2) lần lượt đạt 73,68% và 83,23%, 68,42% và 91,66%, 36,84% và 100%, 39,47% và 93,75% [5]

PĐTT trên điện tâm đồ có liên quan rất chặt chẽ với nguy cơ xuất hiện các biến chứng tim mạch ở bệnh nhân THA

Nghiên cứu Paolo Verdecchia, Giuseppe và cộng sự theo dõi 1717 bệnh nhân THA trong thời gian lên tới 10 năm (trung bình 3.3 năm) tác giả nhận thấy

Trang 17

tỷ lệ PĐTT là 17.8% (Perugia score), 9.1% (Cornell), 3.9% (Framingham), 5.2% (Romhilt – Este), 6.4% (Strain) và 13.1% (Sokolow – Lyon), trong thời gian theo dõi có 159 bệnh nhân có vấn đề lớn về bệnh tim mạch (33 bệnh nhân tử vong),

và có sự liên quan chặt chẽ giữa các tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT trên điện tâm

đồ và nguy cơ mắc bệnh tim mạch như Perugia score (chỉ số nguy cơ [HR] 2,04, 95% độ tin cậy [CI] 1,5 đến 2,8) và tiêu chuẩn Framingham (HR 1,91, 95% CI 1,1 đến 3,2), Romhilt-Estes (HR 2,63, 95% CI 1,7 đến 4,1) và tiêu chuẩn Strain

(HR 2,11, 95% CI 1,4 đến 3,2) [50]

Trong nghiên cứu về mối tương quan giữa giải phẫu, siêu âm tim và điện tâm

đồ trong chẩn đoán PĐTT của Nathaniel Reichek, Richard B [42], tác giả chia đối tượng nghiên cứu làm 04 nhóm: Nhóm bệnh nhân được làm siêu âm và điện tim trước khi chết (34 bệnh nhân - BN), nhóm 2 là những bệnh nhân bình thường (100 BN), nhóm 3 là bệnh nhân hẹp van động mạch chủ (ĐMC- 28 BN) và nhóm 4 là những bệnh nhân bị hở van ĐMC (14 BN), kết quả nghiên cứu thấy giá trị của các tiêu chuẩn điện tâm đồ trong chẩn đoán PĐTT khác nhau theo từng nhóm đối tượng, tiêu chuẩn Sokolow – Lyon có độ nhạy 21% ở nhóm có PĐTT bằng mổ tử thi trong khi đó độ nhạy đạt 69% ở nhóm hở van ĐMC, tiêu chuẩn Romhilt – Este đạt độ nhạy đến 50% ở nhóm mổ tử thi nhưng ở nhóm hở van ĐMC thì cũng đạt 69%

1.3 Vai trò của siêu âm tim trong chẩn đoán phì đại thất trái

Năm 1973, Phạm Gia Khải người đầu tiên ở Việt Nam đã ứng dụng siêu âm tim vào chẩn đoán một số bệnh tim mạch tại Bệnh viện E Hà Nội bằng máy siêu

âm tim ALOKA, siêu âm tim là phương pháp thăm dò không chảy máu, không nguy hiểm cho phép ta đánh giá được hình thái, chức năng và huyết động trong các bệnh lý tim mạch Cho đến nay siêu âm tim đã trở thành một xét nghiệm

Trang 18

thường quy cho bệnh nhân bị bệnh lý tim mạch ở hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh trở lên

Có rất nhiều kiểu siêu âm : A - mode, M - mode hay TM (Time Motion Mode), 2D hay B – mode ( Bidimesional), 3D, Doppler, … Để đánh giá cấu trúc, giải phẫu của tim thường dùng siêu âm TM và 2D

Dựa trên siêu âm 2D, TM có thể đo được các thông số [17],[ 54]:

+ Bề dày vách liên thất cuối tâm thu (IVSs)

+ Bề dày vách liên thất cuối tâm trương (IVSd)

+ Bề dày thành sau thất trái cuối kỳ tâm trương(LVPWTd)

+ Bề dày thành sau thất trái cuối tâm thu (LVPWTs)

+ Kích thước thất trái cuối tâm trương (LVDd)

+ Kích thước thất trái cuối tâm thu (LVDs)

Từ các thông số đo được trên siêu âm có thể tính được khối lượng cơ thất trái (LVM), chỉ số khối lượng cơ theo diện tích da (LVMI), mối liên hệ độ dày tương đối thành tim (RWT) [10] theo công thức:

 LVM = 0.8 x {1.04[(LVIDd + PWTd + SWTd)3- (LVIDd)3]}+ 0.6 g

LVM

 LVMI = -

BSA Diện tích bề mặt cơ thể (BSA), tính theo công thức Dubois:

W0.425(kg) x H0.725(m) BSA(m2) = - W: Cân nặng của bệnh nhân (kg)

139.315 H: Chiều cao của bệnh nhân (m)

Trang 19

 Chỉ số liên quan kích thước thành tim (RWT - Relative Wall Thickness)

2 x LVPWTd RWT = -

LVDd Khối lượng cơ thất trái tính theo công thức trên có tương quan chặt chẽ với khối lượng cơ thất trái tính theo phương pháp mổ tử thi trong nghiên cứu của Devereux với r = 0,9 với p<0,01 [28],[54], trong nghiên cứu của Nathaniel Reichek với r = 0,96 với p<0,01 [42], trong nghiên cứu Frammingham tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân có LVMI > 135g/m2

cao gấp 6,9 lần ở bệnh nhân có LVMI < 95g/m2 [20]

Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam của tác giả Phạm Gia Khải, Đỗ Doãn Lợi, Nguyễn Lân Việt qua nghiên cứu các thông số siêu âm tim ở người bình thường đều lựa chọn tiêu chuẩn PĐTT khi vách liên thất (VLT), Thành sau thất trái (TSTT) ≥ 11mm, nhưng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới không sử dụng dựa vào bề dày VLT, TSTT mà dùng LVM và LVMI để chuẩn đoán PĐTT vì nó không bỏ sót trường hợp PĐTT lệch tâm, VLT, TSTT bình thường nhưng bệnh nhân vẫn có PĐTT

Nghiên cứu Frammingham đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán PĐTT [33] :

 LVMI > 102g/m2 ( nữ) và > 143 g/m2 (nam),

 Chỉ số RWT > 0.45 là tăng

Khuyến cáo của hội siêu âm Hoa kỳ về chẩn đoán hình thái thất trái và PĐTT [54]:

 Thất trái bình thường: LVMI ≤ 95 (nữ) và ≤ 115 (nam), RWT ≤ 0,42

 Rối loạn tái cấu trúc thất trái đồng tâm: LVMI ≤ 95 (nữ) và ≤ 115 (nam), RWT > 0,42

Trang 20

 PĐTT kiểu đồng tâm: LVMI > 95 (nữ) và >115 (nam), RWT > 0,42

PĐTT kiểu lệch tâm : LVMI > 95 (nữ) và > 115 (nam), RWT ≤ 0,42

So sánh siêu âm tim với giải phẫu tử thi trong chẩn đoán PĐTT nhiều nghiên cứu đã cho thấy siêu âm tim có độ nhạy cảm, độ đặc hiệu và độ chính xác tương tự như phẫu thuật tử thi [42] Ueno, H, Yokota, Y, Yokoyama so sánh kích thước thành thất trái đo trên siêu âm và trên giải phẫu tử thi, tác giả nhận thấy kích thước đo trên siêu âm tim tương đương với kích thước đo trên giải phẫu tử thi với r = 0,95 [57] Agha W Haider và Martin G Larson nghiên cứu mối liên quan giữa LVM và đột tử ở 3661 bệnh nhân ≥ 40 tuổi trong nghiên cứu Frammingham, sau 14 năm theo dõi tác giả thấy tỷ lệ PĐTT của nhóm nghiên cứu bằng siêu âm tim là 21,5%, nguy cơ tử vong cao gấp 1.45 lần (95% CI: 1,10 – 1,92, p<0,01) khi chỉ số khối lượng cơ thất trái trên siêu âm tim tăng mỗi 50mg/m2, ở bệnh nhân có PĐTT nguy cơ đột tử tăng gấp 2.16 lần so với nhóm không có PĐTT (95% CI : 1,22 - 3,81, p<0,01), theo dõi tiếp 4 năm thì cả hai nhóm là nhóm tăng LVM và nhóm có PĐTT đều có nguy cơ đột tử cao lên (HR

= 1,53, 95% CI = 1,01 – 2,28, p<0,05 và HR = 3,28, 95% CI : 1,58 – 6,83, p<0,01) [20]

Trang 21

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

 Bệnh nhân được chẩn đoán THA theo tiêu chuẩn JNC VI [9],[60]:

HATT ≥ 140mmHg và hoặc HATTr ≥ 90 mmHg

 Loại trừ bệnh nhân THA:

THA có nguyên nhân

Bệnh nhân không được làm siêu âm tim, điện tâm đồ

Bệnh nhân có các bệnh lý làm sai lệch kết quả điện tâm đồ và siêu âm tim trong chẩn đoán phì đại thất trái: bệnh van tim, bệnh màng ngoài tim, bệnh tim bẩm sinh, tâm phế mạn, bệnh nhân có gù vẹo, biến dạng lồng ngực, bệnh nhân Basedow, bệnh đái tháo đường

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

 Thời gian: Nghiên cứu từ 01/04/2010 đến 31/08/2010

 Địa điểm: Khoa Nội Tim Mạch–Cơ Xương Khớp Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên và Phòng điều trị nội trú tại Viện Tim Mạch Việt Nam

2.3 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, thiết kế cắt ngang

b Mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu theo chủ đích, lấy mẫu thuận tiện

2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu

 Tuổi

 Giới

Trang 22

 Điện tâm đồ 12 chuyển đạo

 Siêu âm Doppler tim

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

- Cân nặng: Cân bằng cân bàn Trung Quốc, bệnh nhân mặc bộ quần áo mỏng, không đi dày dép và không đội mũ

 Đo HA: Đo HA ở tư thế nằm, bằng HA kế đồng hồ được kiểm tra thường xuyên với HA kế thủy ngân, xác định HATT và HATTr theo phương pháp Korotkoff, trong đó HATT tương ứng với pha I và HATTr tương ứng là pha V của Kortkoff

Huyết áp sử dụng trong nghiên cứu là huyết áp được đo tại thời điểm bệnh nhân nhập viện

Trang 23

2.5.2 Làm xét nghiệm cận lâm sàng

Bệnh nhân được giải thích để làm điện tâm đồ, nghỉ ngơi 10 phút trước khi làm

Đặt điện tâm đồ với 12 chuyển đạo chuẩn bao gồm 6 chuyển đạo trước tim và

6 chuyển đạo ngoại vi, máy ghi với tốc độ 25 mm/s, biên độ 1mm = 0.1 mV

Vị trí đặt điện cực ngoại vi:

Đỏ : Cổ tay phải

Vàng : Cổ tay trái

Xanh : Cổ chân trái

Đen : Cổ chân phải

Vị trí đặt điện cực trước tim:

V1 : Khoang liên sườn 2 sát bờ phải xương ức

V2 : Khoang liên sườn 2 sát bờ trái xương ức

V3 : Giữa V2 và V4

V4 : Ở mỏm tim, thường là điểm nối khoang liên sườn 4 và đường giữa đòn trái

V5 : Điểm nối khoang liên sườn 5 và đường giữa nách trước bên trái

V6 : Điểm nối khoang liên sườn 5 và đường giữa nách giữa bên trái

Xác định: Trục điện tim, biên độ sóng P, QRS, ST-T ở chuyển đạo ngoại vi

và trước tim để đánh giá dày thất trái trên điện tâm đồ

Trang 24

Cách tính các thông số điện tâm đồ:

Hình 2.1 Hình dạng các sóng trên điện tâm đồ

[nguồn: Huỳnh Văn Minh, Điện tâm đồ từ điện sinh lý đến

chẩn đoán lâm sàng(2009), trang 34]

Siêu âm tim

Bệnh nhân nằm nghiêng trái, đầu cao so với thân 20o

, người làm siêu âm ở bên phải, dùng đầu dò 3,5MHz, thăm dò cấu trúc và dòng chảy của tim qua 3 mặt cắt cơ bản: Mặt cắt trục dọc, trục ngang, cạnh ức và mặt cắt bốn buồng Tiến hành đo các thông số bằng siêu âm 2D và TM theo khuyến cáo của hội siêu âm Hoa kỳ và từ đó tính các thông số trên siêu âm tim:

Đường kính thất trái cuối tâm trương (LVIDd)

Đường kính thất trái cuối tâm thu (LVIDs)

Thể tích thất trái cuối tâm trương (Vd)

Thể tích thất trái cuối tâm thu (Vs)

Bề dày vách liên thất cuối tâm thu (IVSs)

Trang 25

Bề dày vách liên thất cuối tâm trương (IVSd)

Bề dày thành sau thất trái cuối tâm trương (LVPWTd)

Bề dày thành sau thất trái cuối tâm thu (LVPWTS)

Khối lượng cơ thất trái ( LVM)

Chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI)

Hình 2.2 Phương pháp đo kích thước tim trên siêu âm tim M-mode theo ASE

[ nguồn: Nguyễn Anh Vũ, siêu âm tim từ căn bản đến nâng cao (2008), tr 27]

Bác sỹ làm siêu âm:

- Tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên: Bác sỹ chuyên làm siêu âm tim

Trang 26

- Tại Viện Tim Mạch Quốc gia : Bác sỹ phòng siêu âm tim của Viện Tim Mạch Quốc Gia

- Các bác sỹ làm siêu âm tim đều thống nhất một cách siêu âm theo

hướng dẫn của Hội siêu âm tim Hoa kỳ

Sau khi bệnh nhân được làm điện tâm đồ, siêu âm tim thì tiến hành tính các thông số về tiêu chuẩn điện tâm đồ bao gồm Sokolow – Lyon, Romhilt – Este, Cornell, Gubner và tính chỉ số khối lượng cơ thất trái theo siêu âm tim

2.6 Các tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu

- Phân loại tăng huyết áp: Theo tiêu chuẩn của JNC VI ( Bảng 1.2) [9],[60]

Phân loại này dự trên HA đo tại phòng khám, nếu HATT, HATTr không cùng một phân loại thì chọn mức HA cao hơn để xếp loại

- Tính khối lượng cơ thất trái ( LVM) :

LVM = 0.8 x {1.04[(LVIDd + PWTd + SWTd)3- (LVIDd)3]}+ 0.6 (g)

- Chỉ số khối lượng cơ thất trái ( LVMI)

LVM LVMI = -

Trang 27

- Diện tích bề mặt cơ thể (BSA), theo công thức Dubois:

W0.425(kg) x H0.725(m) BSA(m2) = - W: Cân nặng của bệnh nhân (kg)

139.315 H: Chiều cao của bệnh nhân (m)

- Chỉ số liên quan kích thước thành tim (RWT )

2 x LVPWTd RWT = -

Trang 28

Tiêu chuẩn điện thế Sokolow – Lyon: SV1 + R( V5 hoặc V6) > 3,5 mV

Tiêu chuẩn Gubner : R I + S III > 25 mm

Hệ thống thang điểm Romhilt – Este:

1 R hoặc S ở chuyển đạo chi ≥ 2,0mV

Hoặc S ở V1, V2, hoặc V3 ≥ 2,5 mV

Hoặc R ở V5 hoặc V6 ≥ 2,5 mV

3

2 Thay đổi ST – T không đặc hiệu

- không uống Digitalis

Kết quả : Dày thất trái nếu : ≥ 5 điểm,

- Chẩn đoán phì đại thất trái trên siêu âm tim theo hội siêu âm Tim Hoa Kỳ [16],[54]:

 Thất trái bình thường: LVMI ≤ 95 (nữ) và ≤ 115 (nam), RWT ≤ 0,42

 Rối loạn tái cấu trúc thất trái đồng tâm: LVMI ≤95 (nữ) và ≤115 (nam), RWT > 0,42

 Phì đại thất trái kiểu đồng tâm: LVMI >95 (nữ) và >115 (nam), RWT > 0,42

 Phì đại thất trái kiểu lệch tâm : LVMI > 95 (nữ) và > 115 (nam),

Trang 29

2.7 Vật liệu nghiên cứu

 Mẫu bệnh án nghiên cứu

 Huyết áp kế đồng hồ Nhật Bản

 Ống nghe Nhật Bản

 Cân bàn Trung Quốc có gắn thước đo chiều cao

 Máy điện tâm đồ CARDIOFAX 6 cần của Nhật Bản

 Máy siêu âm PHILIP ENVISOR 2,0 (Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên) Aloka 5000, PHILIP IE 33 (Viện Tim Mạch Quốc Gia)

 Giá trị tiên đoán dương tính (PPV)

Số có bệnh dương tính với nghiệm pháp chẩn đoán

PPV = -

Tổng số trường hợp dương tính với nghiệm pháp

Trang 30

 Giá trị tiên đoán âm tính (NPV)

Số không mắc bệnh âm tính với nghiệm pháp

Tổng số bệnh nhân được làm nghiệm pháp

 So sánh giá trị của ≥ 2 tests chẩn đoán bằng cách so sánh diện tích dưới đường cong ROC (Area Under the Curve), test nào có AuC lớn nhất sẽ có giá trị cao nhất để chẩn đoán

Đường cong nhận dạng (ROC) tính đến mối liên quan giữa độ nhạy và độ đặc hiệu, diện tích dưới đường cong (AuC) chính là tích phân của của hàm

y (độ nhạy) theo x (1-độ đặc hiệu) với x từ 0 → 1

Xác định mức độ chính xác của test chẩn đoán dựa vào diện tích dưới đường cong:

0,90 - 1,0 = rất tốt 0,80 - 0,90 = tốt 0,70 - 0,80 = khá tốt 0,60 - 0,70 = tồi 0,50 - 0,60 = không giá trị

 Để đánh giá 2 tiêu chuẩn, 2 phương pháp có phù hợp với nhau trong cùng chẩn đoán 1 bệnh chúng tôi sử dụng chỉ số Kappa

Giả sử 2 test là A, B cùng chẩn đoán 1 bệnh với tỷ lệ:

Trang 31

b = A chẩn đoán không có bệnh, B chẩn đoán có

c = A chẩn đoán có bệnh, B chẩn đoán không có

0,8 – 1,0 = Phù hợp hầu như hoàn toàn

 Khi xét một liên hệ ngẫu nhiên giữa hai đại lượng, cần đánh giá và kiểm tra giả thiết về sự có mặt một mối liên hệ giữa hai đại lượng, về mức độ chặt chẽ của sự liên hệ này, chúng tôi sử dụng hệ số tương quan “r”

Trang 32

n: Kích thước mẫu nghiên cứu

x : Trung bình của đại lượng xi

y : Trung bình của đại lượng yi

Sx, Sy: Độ lệch chuẩn của xi và yi Khi r = ± l, lúc này giữa x và y có một liên hệ hàm số tuyến tính, thuận (+), nghịch (-)

Khi r = 0, giữa x và y không có mối liên hệ nào cả

Khi | r | càng gần 1 thì x và y có một liên hệ tương quan tuyến tính càng chặt chẽ hơn

Khi | r | càng gần 0 thì một tương quan tuyến tính giữa x và y càng lỏng lẻo

Mốc xác định mức độ tương quan:

r < 0,3 : Tương quan ít

r= 0,3 - 0,6 : Tương quan khá chặt

r> 0,6 : Tương quan chặt chẽ

Trang 33

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Nam (n=50) Nữ (n=49) Tổng(n=65) Tuổi ( năm) 63,8 ± 10,8 64,5 ± 10,6 64,1 ± 10,5

Bảng 3.2 Thời gian phát hiện tăng huyết áp

Trang 34

Ở nhóm bệnh nhân tăng huyết áp dưới 5 năm, tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới, sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,01

Ngược lại ở nhóm bệnh nhân trên 5 năm thì nữ giới lại cao hơn nam giới ,

sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,01

Bảng 3.3 Tỷ lệ tăng huyết áp theo phân loại JNC VI

19,2 27,3

25,2

HA tối ưu

HA bình thường

HA bình thường cao THA độ I

THA độ II THA độ III

Biểu đồ 3.1 Phân bố huyết áp khi vào viện Nhận xét:

17,2 % bệnh nhân vào viện là có huyết áp không tăng, 71,6% bệnh nhân

có huyết áp tại thời điểm vào viện là cao, trong đó bệnh nhân có mức độ huyết

áp cao ở độ II, III theo phân loại JNC VI là cao nhất 52,5%

Trang 35

Bảng 3.4 Chỉ số BMI ở bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh nhân tăng huyết áp phần lớn là có thể trạng gầy và trung bình (82,8

%), bệnh nhân thừa cân và béo phì có tỷ lệ không cao (17,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

3.2 Tỷ lệ phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp

Bảng 3.5 Tỷ lệ phì đại thất trái trên điện tâm đồ phân bố theo giới Chỉ tiêu Nam (n=50) Nữ (n=49) Tổng (n=99) p

Ở giới nam, tỷ lệ phì đại thất trái theo tiêu chuẩn Romhilt – Este cao nhất (38%), tiêu chuẩn Cornell là thấp nhất (18%)

Trang 36

Ở nữ giới, tỷ lệ phì đại thất trái theo tiêu chuẩn Cornell là cao nhất (34%) còn tiêu chuẩn Gubner là thấp nhất (10,2%)

Bảng 3.6 Tỷ lệ phì đại thất trái trên điện tâm đồ phân bố theo BMI Chỉ tiêu PĐTT BMI < 23 (n=82) BMI ≥ 23 (n=17) Tổng (n=99)

Biểu đồ 3.2 Phì đại thất trái trên điện tâm đồ phân bố theo BMI

Nhận xét:

Trong nhóm bệnh nhân cân nặng bình thường và thấp (BMI < 23) tỷ lệ phì đại thất trái theo tiêu chuẩn Romhilt - Este là lớn nhất (29%), theo tiêu chuẩn Gubner là thấp nhất (17%), ở nhóm bệnh nhân béo phì hoặc thừa cân thì tỷ lệ phì đại thất trái theo tiêu chuẩn Cornel là cao nhất (23,5%) trong đó tiêu chuẩn Romhilt – Este và Sokolow – Lyon rất thấp (5,9%)

Trang 37

Bảng 3.7 Tỷ lệ phì đại thất trái trên siêu âm tim phân bố theo giới

Bảng 3.8 Hình thái thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp

Trang 38

Bảng 3.9 Tỷ lệ phì đại thất trái trên siêu âm tim phân bố theo BMI Chỉ tiêu PĐTT BMI < 23 (n=82) BMI ≥ 23 (n=17) Tổng (n=99)

3.3 Giá trị của điện tâm đồ so với siêu âm tim trong chẩn đoán phì đại thất

trái ở bệnh nhân tăng huyết áp

r = 0,44, y = 1,76 x + 46,4

Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa tiêu chuẩn Sokolow – Lyon và LVMI

Ngày đăng: 21/03/2021, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm