1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ em tại bệnh viện đa khoa tỉnh cao bằng

71 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 764,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ em tại bệnh viện đa khoa tỉnh cao bằng Mô hình và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ em tại bệnh viện đa khoa tỉnh cao bằng luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai nạn thương tích (TN-TT) đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng của nhiều quốc gia trên thế giới Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 5 triệu người tử vong do tai nạn thương tích, chiếm 9% của tổng số tử vong và 12% của gánh nặng bệnh tật toàn cầu 90% tử vong do chấn thương xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực có số tử vong do chấn thương cao nhất [44], [62] Tình hình tai nạn thương tích ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề bức xúc

đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và tính mạng con người cũng như đối với xã hội

Đối với trẻ em, do cơ thể đang ở giai đoạn phát triển về thể chất và tâm

lý rất hiếu động, thích tìm hiểu và nghịch ngợm nên các chấn thương ở trẻ em

đa dạng, để lại dị tật suốt đời và các sang chấn tinh thần nặng nề Theo báo

cáo của WHO và UNICEF về phòng chống Thương tích trẻ em Thế giới năm

2008, mỗi ngày có khoảng hơn 2000 trẻ tử vong do thương tích không có chủ

định và hơn 10 triệu trẻ em phải nhập viện hàng năm vì các chấn thương

thường để lại tàn tật suốt đời [62]

Tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong và tàn tật ở trẻ em Việt Nam hiện nay Ước tính cứ mỗi trẻ tử vong do TNTT thì lại có 12 trẻ phải nhập viện hoặc có những tàn tật suốt đời và 34 trẻ cần được chăm sóc

y tế hoặc phải nghỉ học vì tai nạn thương tích [14] Hậu quả của tai nạn thương tích không chỉ để lại những di chứng nặng nề về thể xác, lẫn tinh thần cho trẻ, mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội Các quốc gia trên thế giới hàng năm phải bỏ ra một khoản tiền khổng lồ để chi phí cho việc điều trị, phục hồi chức năng, tử vong và mất khả năng lao động (khoảng 1-2% GDP)

Trang 2

do tai nạn thương tích Việt Nam cũng chi khoảng 30.000 tỷ/năm, riêng cho trẻ em ước tính khoảng 11.000 tỷ/năm [14]

Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, nhờ có sự phát triển kinh tế xã hội và

hiệu quả của các chương trình y tế quốc gia như: Chương trình tiêm chủng

mở rộng, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng mà hiện nay mô hình bệnh tật và tử vong ở trẻ em đã có sự thay đổi đáng kể: tỷ lệ mắc và tử vong

do các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng đã giảm rõ rệt Trong khi đó tỷ lệ mắc

và tử vong do các bệnh không nhiễm trùng lại đang không ngừng gia tăng, trong đó có chấn thương tai nạn thương tích Trong năm 2009 có 181.381 trẻ 0-14 tuổi mắc tai nạn thương tích; 907 trường hợp trẻ tử vong do tai nạn thương tích [8] Sáu tháng đầu năm 2011 có 79.050 trẻ 0-14 tuổi mắc tai nạn thương tích; 625 trường hợp tử vong do tai nạn thương tích [9]

Ở mỗi khu vực, tình hình tai nạn thương tích cũng khác nhau Tại bệnh viện đa khoa Mộc Châu tỉnh Sơn La năm 2007-2008: số trẻ mắc tai nạn thương tích vào điều trị tại viện chiếm 10,8% [20] Bệnh viện Việt-Đức, trong năm 2009-2010 có 6.179 trường hợp tai nạn thương tích dưới 15 tuổi đến cấp cứu tại bệnh viện chiếm 9,9% [7]; Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010 có 43.444 trường hợp trẻ em mắc tai nạn thương tích; 118 trường hợp tử vong [32]; Trong 6 tháng đầu năm 2012 trên địa bàn thành phố Hà Nội có 1.794 trẻ

bị tai nạn thương tích; 37 trường hợp tử vong [33]

Tại tỉnh miền núi biên giới Cao Bằng, tình hình tai nạn thương tích cũng

đang là vấn đề đáng quan tâm Báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh cho

thấy: trong năm 2010 – 2011 có 888 trường hợp trẻ em dưới 15 tuổi mắc TNTT; trong 9 tháng năm 2012 đã có 724 trường hợp trẻ em mắc TNTT [31]

Do Cao Bằng có đặc điểm địa hình đồi núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt nên các yếu tố bất lợi như: lũ quét, thú rừng tấn công, ngộ độc rau rừng

Trang 3

thường xuyên xảy ra trong cộng đồng Mặt khác, do phong tục tập quán chăm sóc trẻ em còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị phục vụ cho trẻ em học tập và vui chơi còn thiếu nên tỉ lệ tai nạn thương tích ở trẻ em có xu hướng tăng Hàng năm, bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng tiếp nhận và điều trị hàng ngàn bệnh nhân vào viện do tai nạn thương tích, có rất nhiều trường hợp nặng gây tử vong, đặc biệt là đối tượng trẻ em Để xác định mô hình tai nạn thương tích ở trẻ em vào điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng, tìm hiểu một

số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích, từ đó đề xuất biện pháp can thiệp

và phòng ngừa nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Mô hình và một số

yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ em tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng” nhằm hai mục tiêu:

1 Mô tả mô hình tai nạn thương tích ở trẻ em tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng trong các năm từ 2007 – 2011

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ

em tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa và phân loại tai nạn thương tích (Theo WHO) [38]

1.1.3 Phân loại thương tích

Có nhiều cách phân loại thương tích, theo phân loại bệnh quốc tế chỉnh sửa lần thứ 10 TN – TT được phân loại theo mức độ, phân loại theo nguyên nhân và nguy cơ tai nạn thương tích Theo WHO thương tích được chia làm 3 loại như sau [30]:

* Thương tích không có chủ ý ( unintentional injury ):

Là loại thương tích gây ra một cách vô tình, không có suy nghĩ, tính toán trước bao gồm:

+ Tai nạn giao thông

+ Ngã

+ Bỏng

+ Ngộ độc

Trang 5

+ Đuối nước

+ Động vật tấn công và một số tai nạn thương tích khác như ngạt, sặc, dị vật, tai nạn lao động

* Thương tích có chủ ý ( intentional injury ): Loại thương tích này là kết

quả của bạo lực có chủ tâm gây ra bởi người khác hoặc tự mình gây ra, bao gồm: + Tự tử

+ Xung đột giữa cá nhân trong cộng đồng

+ Bạo lực trong gia đình

+ Xâm phạm về tình dục

+ Lạm dụng trẻ em

* Thương tích không phân loại: Là những thương tích không phân loại rõ

là có chủ tâm hay không

Hiện nay thuật ngữ đang được ưa dùng là thương tích (Injury) vì theo Haddon & Baker, Gordon: Sử dụng thuật ngữ “tai nạn” không những chỉ ra sự

mơ hồ về ngữ nghĩa, mà thực sự còn hạn chế sự cố gắng làm giảm thương tích, bởi vì nhiều người nghĩ đến “tai nạn” như là một điều không đoán trước

được, một điều ngẫu nhiên, do “số mệnh” hoặc là một hành động của “Chúa

trời”, do đó không thể phòng tránh được

1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu TN – TT ở trẻ em [58]

Năm 1917, một vụ va chạm giữa con tàu chở đầy vũ khí, đạn dược của Pháp và tàu vận tải dân sự của Na Uy đã gây nên một vụ nổ lớn tại vùng Halifax, Nova Scotia, một vùng chật hẹp, đông đúc dân cư, gây nên một Thảm họa làm chết 2000 người, bị thương 9000 người và khoảng 31.000 người bị mất nhà ở Nước Mỹ và Canada đã được đề nghị hỗ trợ về y tế Một

đội y tế của bang Boston dưới sự chỉ huy của bác sĩ William E.Ladd đã chuẩn

bị rất nhiều thuốc, phương tiện, và các y dụng cụ cần thiết để giúp công việc cứu chữa trẻ em bị thương tích, và ông đã giành rất nhiều thời gian, công sức

Trang 6

trong việc chăm sóc và chữa trị cho những trẻ nhỏ này Vì vậy năm 1917

được đánh dấu như năm khởi đầu của vấn đề nghiên cứu TN -TT ở trẻ em

Vào khoảng giữa những năm 1940, TN-TT bắt đầu nổi lên như là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em ở hầu hết các nước Phương Tây và Mỹ Từ năm 1955 – 1970: đã có các nghiên cứu về TN-TT ở trẻ em chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực cấp cứu chấn thương và chỉnh hình Tầm quan trọng của vấn

đề TN-TT ở trẻ em đã được đánh dấu bởi đầu năm 1966 – khi Izanta Hubay

kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng tới một số lớn trẻ em đang bị giết hại và

bị tàn tật do các TN-TT gây ra được Từ đó TN-TT trẻ em đã được quan tâm

và nhìn nhận một cách đúng mức hơn

Năm 1972, Hội phẫu thuật nhi đầu tiên được thành lập ở Mỹ, trong đó có

ủy ban về chấn thương trẻ em Từ năm 1970 cho đến nay con người đã có

những tiến bộ quan trọng trong việc tổ chức mạng lưới cấp cứu chấn thương trẻ em, hồi sức điều trị nội khoa làm cho hiệu quả điều trị TN-TT ở trẻ em

được tốt hơn Năm 1981, Viện nghiên cứu chấn thương trẻ em Kiwanis đã được thành lập tại Boston Mỹ, từ đó vấn đề nghiên cứu TN-TT ở trẻ em đã được triển khai một cách rộng rãi và toàn diện

Tuy nhiên cho đến nay TNTT mới được quan tâm ở các nước đang phát triển Tại Việt Nam đến năm 1997 chương trình Phòng chống TN-TT xây dựng cộng đồng an toàn mới bắt đầu được nghiên cứu và triển khai thí điểm Hội nghị Quốc gia lần thứ nhất về triển khai chính sách Quốc gia về phòng chống TN-TT đã được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 17 – 18/12/2002

1.3 Tình hình TN – TT ở trẻ em một số nước trên thế giới

Tai nạn thương tích trẻ em là vấn đề quan trọng trong lĩnh vực y tế công cộng và vấn đề của sự phát triển Bên cạnh 830.000 ca tử vong mỗi năm, hàng triệu trẻ em phải gánh chịu các thương tích không gây chết người nhưng lại thường phải nằm viện và phục hồi chấn thương trong thời gian dài Nguyên

Trang 7

nhân tai nạn thương tích gây tử vong hàng đầu ở trẻ em là tai nạn giao thông

đường bộ (260.000 trường hợp/năm), đuối nước (175.000 trường hợp/năm),

bỏng (96.000 trường hợp/năm) và ngã (47.000 trường hợp/năm) [61] Tuy nhiên, thực trạng tử vong này chỉ là phần nổi của tảng băng gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích ở trẻ em, hàng năm vẫn có hàng chục triệu trường hợp khác phải nhập viện do thương tích và hậu quả gây ra cho các em thường

là các thương tật lâu dài Tác động của tai nạn thương tích đối với trẻ, gia

đình của trẻ và cộng đồng quả thực là rất lớn

Theo báo cáo Toàn cầu về phòng chống Thương tích Trẻ em của Tổ chức

Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) cũng cho thấy mặc dù các quốc gia có thu nhập cao đã giảm được 50% số ca tử vong do thương tích ở trẻ em trong vòng 30 năm qua, nhưng đây vẫn là một vấn đề đối với họ, vì thương tích không chủ ý vẫn chiếm 40% trong tổng số các ca tử vong trẻ em tại các nước này Một số quốc gia có thu nhập cao tại Châu Âu và Tây Thái Bình Dương như Úc, Hà Lan, Niu Di-lân, Thụy Điển và Vương quốc Anh là những nước có tỉ lệ thương tích trẻ em thấp nhất [62]

Tại Scotland, qua nghiên cứu của Pearson J, và CS về mô hình tai nạn thương tích ở trẻ em từ 0-14 tuổi tại bệnh viện Quebec trong giai đoạn từ năm 2002-2006 cho kết quả: tỷ suất tử vong là 4,3/100.000 [53] Một nghiên cứu của Tasker RC, và CS tại 27 bệnh viện tại Anh và xứ Wales trong 5 năm (2004-2008) nhận thấy tỷ lệ tử vong do chấn thương đầu ở trẻ em là 9,3% [59] Một nghiên cứu khác của tác giả Fraga AM, và CS về nguy cơ tử vong

do thương tích ỏ trẻ em từ 0-17 tuổi (năm 2000-2006) ở San Diego, California, Mỹ cho thấy tỷ lệ tử vong do thương tích là 16,2/100.000 [45] Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích đang ngày càng tăng lên do gánh nặng của các bệnh truyền nhiễm

đang giảm dần xuống [48] Châu Phi chiếm tỉ lệ cao nhất về tử vong do

Trang 8

thương tích không chủ ý, tỉ lệ tử vong ở khu vực này cao gấp 10 lần so với các quốc gia có thu nhập cao ở Châu Âu và Tây Thái Bình Dương [62]

Nghiên cứu của Bahloul M, và CS trong 8 năm (1997-2004) cho thấy ở khu vực phía nam Tunisia: Chấn thương đầu là nguyên nhân hay gặp ở trẻ em nhập viện điều trị liên quan đến TNGT (69,4%), có tỷ lệ tử vong cao (18%) [40] Burrows S, và CS tiến hành một nghiên cứu khá quy mô trong 3 năm từ 2001-2003 tại 6 thành phố lớn của Nam Phi cho thấy: có tới 2889 trẻ từ 0 - 14 tuổi tử vong do các thương tích tai nạn, tỉ lệ tử vong do tai nạn ở lứa tuổi ở lứa tuổi 5-14 chiếm 54,9% Các nguyên nhân của tai nạn thương tích gây tử vong thường gặp nhất trong nghiên cứu này là: tai nạn giao thông, chết đuối

và bỏng [42]

Tại các nước thuộc khu vực Trung Đông như Isarel: nghiên cứu của Rozenfeld M nhận thấy từ năm 1998 - 2006, tại trung tâm Chấn thương Quốc gia tiếp nhận 2060 trẻ từ 0 - 17 tuổi bị TNTT liên quan đến bạo lực Trẻ em

Do Thái có nguy cơ bị chấn thương do bạo lực cao hơn các dân tộc khác và hay gặp ở nhóm 15 – 17 tuổi (92%) Địa điểm xảy ra tai nạn là nơi công cộng

và phương tiện giải trí [56]

Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng Islamabad – Pakistan năm 2008 cho kết quả: nguyên nhân TNTT ở trẻ em từ

0 – 12 tuổi là ngã (59%), TNGT (16%), bỏng (13%) [57]

Ở khu vực Châu Á, nghiên cứu của Linnan M, và CS tiến hành năm

2007 tại Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam cho thấy tai nạn thương tích là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ từ 1 tuổi trở lên ở tất cả các quốc gia điều tra [51] Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng với mỗi trường hợp tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ dưới 18 tuổi, thì có 12 trẻ

Trang 9

cần phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y

tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm do tai nạn thương tích

Tại Nhật Bản, nghiên cứu của Fujiwara T, và CS được tiến hành năm

2006 nhận thấy: thương tích không chủ ý là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em từ 1-4 tuổi Loại tai nạn thường gặp: TNGT, đuối nước, nghẹt thở, bỏng và ngã Chi phí hàng năm của các ca tử vong do TNTT trẻ em ở Nhật Bản ước tính 554 tỷ yên [46]

Theo nghiên cứu của Ji L, và CS tại khoa Cấp cứu- Bệnh viện Nhân dân Bắc Kinh- Trung Quốc năm 2009: tai nạn thương tích ở trẻ em nhập viện nguyên nhân do động vật cắn chiếm 36,7% [50]

Qua các số liệu về tình hình TNTT ở trẻ em ở các nước trên thế giới cho thấy các nguyên nhân gây tử vong ở nhóm tuổi từ 0 – 19 tuổi như sau:

1.4 Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam

1.4.1 Tình hình mắc, và thương tích do TN-TT ở trẻ em Việt Nam

Ở Việt Nam, một quốc gia với 87,84 triệu dân trong đó khoảng 33,3%

là người dưới 18 tuổi [28], tai nạn thương tích trẻ em ngày càng tăng và đang trở thành một vấn đề y tế công cộng, nhất là từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế

Trang 10

bao cấp sang nền kinh tế thị trường năm 1986 Tác động của những thay đổi

về kinh tế - xã hội và phát triển ở Việt Nam có mối liên quan rõ rệt đối với tình trạng tai nạn giao thông, với số vụ tăng gấp 4 lần trong vòng 10 năm từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới [3]

Hiện nay, ở Việt Nam, tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 18 tuổi [28] Kết quả điều tra về TNTT tại Việt Nam (VMIS - Điều tra chấn thương liên trường Việt Nam) tiến hành năm 2010 cho kết quả: tai nạn giao thông đường bộ và đuối nước là các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho dân số Việt Nam Hàng năm có khoảng 38.482 người tử vong do TNTT, tương đương với tỷ suất tử vong là 46,6/100.000 người, trong đó khoảng 12.000 tử vong do TNGT và khoảng 4.000 trẻ em bị đuối nước [2] Tình hình tai nạn thương tích trong 6 tháng đầu năm 2011 tại 53 tỉnh/thành phố có 1.301 trẻ em và người chưa thành niên bị

tử vong do tai nạn thương tích [9] Các nguyên nhân tai nạn thương tích khác cũng có tỉ lệ mắc và tử vong cao ở trẻ em bao gồm ngã, bỏng, ngộ độc và

động vật cắn [28] Ngoài ra tại một số tỉnh bị ảnh hưởng trầm trọng bởi bom

mìn còn sót lại sau chiến tranh thì trẻ em còn bị thương do bom mìn và vật nổ Khi nói đến những nguyên nhân tử vong ta thường nghĩ nhiều là nguyên nhân bệnh tật, nhưng theo phân tích nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em Việt Nam qua tổng hợp điều tra của Bộ LĐ-TB&XH và UNICEF năm 2010 như sau:

Bảng 1.2 Tỷ lệ tử vong do TN – TT ở trẻ em Việt Nam (Trích dẫn [3])

Trang 11

Với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay đã làm cho nền kinh tế không ngừng phát triển Đời sống của người dân ngày nay được nâng lên, sự quan tâm của ngành y tế đối với sức khỏe của cộng đồng nói chung

và của trẻ em nói riêng cũng được nâng cao thêm một bước nữa

Báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích ở Việt Nam năm

2010 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã nhận định: sự phát triển kinh tế và xã hội nhanh chóng ở Việt Nam trong 2 thập kỷ gần đây đã góp phần làm cho vấn đề TNTT ngày càng nghiêm trọng Chấn thương đã trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong và tàn tật, nhất là ở trẻ em Việt Nam [3]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Cấn Thị Ngọc Bích về tình hình TN-TT ở trẻ em điều trị tại bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2002-2003,

tỷ lệ mắc TN-TT đứng hàng thứ 14, tỷ lệ tử vong do TN-TT đứng hàng thứ 4 sau tỷ lệ tử vong sơ sinh (9,25%), bệnh hệ tuần hoàn (3,59%), bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật (2,38%) [27]

Cũng theo nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung và CS về đánh giá

TN-TT tại khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy: trong thời gian 3 tháng (từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2008) có 607 bệnh nhân TN-TT đến khám

và điều trị tại khoa cấp cứu Các tai nạn thường gặp nhất là tai nạn giao thông, tiếp đến là ngộ độc và dị vật đường hô hấp, tiêu hóa Tổn thương do TN-TT gây ra là chấn thương sọ não (27,84%), rách da (24,05%), gẫy xương (12,36%)[13]

Qua nghiên cứu của Trần Văn Nam và cộng sự tại Bệnh viện trẻ em Hải Phòng từ tháng 8/2005 đến tháng 2/2007 về một số đặc điểm TN-TT ở trẻ em

điều trị tại bệnh viện thấy có 3.411 bệnh nhân bị TN-TT vào điều trị, TN-TT

chủ yếu gặp ở trẻ <6 tuổi chiếm 62,8% Các TN-TT thường gặp nhất ở trẻ em

Trang 12

Theo nhận xét tác giả Trần Thanh Hải và CS: năm 2007 Bệnh viện Tiền Giang năm 2007 đã tiếp nhận 798 trẻ vị thành niên bị TN-TT vào viện điều trị thì nguyên nhân gây TN-TT hàng đầu là TNGT (65,6%), ngã (12,8%) và đánh nhau (8,77%) [15]

Tại một số tỉnh miền núi phía Bắc: nghiên cứu của Trịnh Xuân Đàn về

mô hình TN-TT của học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An- thành phố Thái Nguyên năm 2008 thấy tỷ lệ TNTT là 6,6% Nguyên nhân gây chấn thương nhiều nhất là tai nạn trong sinh hoạt (48,4%), tiếp theo là tai nạn trường học và tai nạn giao thông [11] Tại bệnh viện đa khoa Mộc Châu - tỉnh Sơn La, trong 2 năm (2007-2008) có 604 bệnh nhân bị TN-TT vào cấp cứu và điều trị thì

có 65 bệnh nhân bị TN-TT lứa tuổi từ 0-15 tuổi chiếm tỷ lệ 10,8% [20]

1.4.2 Tình hình một số TNTT thường gặp ở trẻ em Việt Nam

1.4.2.1 Tai nạn thương tích không chủ ý

* Tai nạn giao thông tại Việt Nam

Trong những năm gần đây kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Số phương tiện giao thông tăng lên nhanh chóng, cùng với đó là các vụ tai nạn giao thông mà nạn nhân là trẻ em cũng gia tăng Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, ở nước ta mỗi năm có hơn 12.000 người tử vong, 20.000 người bị thương do tai nạn giao thông, trong đó nạn nhân là trẻ em chiếm 35% Tai nạn giao thông đã và đang là nguyên nhân

Trang 13

hàng đầu gây tử vong và chấn thương sọ não cho trẻ em dưới 18 tuổi Số nạn nhân bị thương tích và tử vong do tai nạn giao thông không ngừng gia tăng

đang là gánh nặng cho ngành y tế và xã hội [35]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Chính và CS về tình hình TN-TT trẻ

em qua giám sát TN-TT tại Bệnh viện Việt Đức năm 2006 cho thấy: nguyên nhân trực tiếp dẫn đến TN-TT ở trẻ em là tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ 52,16% [6]

Số liệu từ báo cáo của Cục Y tế dự phòng và môi trường cho thấy: trong năm 2009, tỷ lệ mắc TNGT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân TNTT chiếm 39,4% [8]

Tại bệnh viện Việt - Đức, trong 2 năm 2009 – 2010 đã tiếp nhận 6.179 trường hợp trẻ em dưới 15 tuổi bị TNTT nhập viện đặc biệt là TNGT, chiếm 9,9% tổng số bệnh nhân vào viện [7]

Trong 6 tháng đầu năm 2011, tại 53 tỉnh/thành phố có 56.276 trẻ em và trẻ vị thành niên mắc TNGT; 448 trường hợp tử vong do TNGT [9]

* Tai nạn thương tích do ngã:

Do rất hiếu động và nghịch nên TNTT do ngã rất dễ xảy ra đối với trẻ

em Mỗi một lứa tuổi khác nhau thì hoàn cảnh gây ngã và địa điểm ngã cũng khác nhau Ngã xảy ra tại gia đình thường ở lứa tuổi chưa biết đi, hoặc tập đi Trẻ lớn hơn ngã thường xảy ra ở trường mẫu giáo, trường học, nơi công cộng

do nô đùa, do xe đạp, do trèo cây

Qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và CS tại Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2000-2003: nguyên nhân TNTT hàng đầu là ngã chiếm 45,10 % Hoàn cảnh gây ngã chủ yếu do ngã từ giường hoặc ghế xuống chiếm

tỉ lệ cao nhất 19,7%, ngã độ cao từ 1-3 m 16,9 % [27]

Tương tự nghiên cứu một số tác giả khác cũng cho thấy:

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Nam tại BVTE Hải Phòng năm

2005 – 2007: nguyên nhân đầu tiên dẫn đến thương tích ở trẻ em hay gặp nhất

là ngã chiếm 55,09% [24]

- Nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung, Lê Thanh Hải về tình hình tai nạn thương tích tại khoa cấp cứu, bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2008 cho thấy: tai nạn do ngã vào điều trị chiếm 35,58% [13]

- Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng tại BVĐKTW Thái Nguyên năm 2006 cho kết quả: tai nạn do ngã là nguyên nhân chiếm tỉ lệ cao nhất 34,23% [16]

* Tai nạn thương tích do bỏng:

Tai nạn bỏng ở trẻ em là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong đối với trẻ Bỏng để lại di chứng nặng về chức năng, thẩm mỹ làm ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt cộng đồng của trẻ

Theo Trần Văn Nam trong số 230 trẻ vào BVTE Hải Phòng điều trị vì bỏng thì có 65,7% là trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái là 1,56/1, tác nhân gây bỏng chủ yếu là nhiệt ướt 83,04%, bỏng nhiệt khô là 6,09 % và bỏng hóa chất là 2,17% [23]

Tại BVĐK Trung Ương Thái Nguyên, bỏng là loại TNTT hay gặp ở trẻ

em điều trị nội trú tại khoa Chấn thương chỉnh hình chiếm tỉ lệ 14,43% tổng số bệnh nhân Lứa tuổi hay gặp nhất là nhóm 0 – 4 tuổi chiếm 41,30%; tác nhân gây bỏng chủ yếu là bỏng nước sôi chiếm 83,72% [16]

Kết quả theo dõi 23 năm (tháng 01/1985- 12/2007) tại Viện Bỏng Quốc gia của Hồ Thị Xuân Hương và cộng sự cho thấy: số trẻ em bị bỏng vào điều trị nội trú chiếm tỷ lệ 54,32% tổng số bệnh nhân Lứa tuổi bị bỏng nhiều nhất

là trẻ <5 tuổi (77,82%) Tác nhân gây bỏng chủ yếu là nhiệt ướt [17]

Trang 15

Theo nghiên cứu của Trần Thanh Hải và CS tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tiền Giang cho thấy: trong năm 2007 tỷ lệ bỏng ở trẻ em là 52,7%, tác nhân gây bỏng là nhiệt ướt (90,1%) [15]

* Tai nạn thương tích do ngộ độc:

Ngộ độc cấp là một trong những tai nạn thường gặp ở trẻ em Khác với người lớn ngộ độc ở trẻ em thường phức tạp hơn, nhiều khi khó phát hiện, khó xác định chất độc mà trẻ đã ăn và uống, nhất là những cháu bé chưa biết nói

Trong 5 tháng đầu năm 2007, Trung tâm chống độc Bạch Mai đã tiếp nhận 93 trường hợp ngộ độc ở lứa tuổi <19 tuổi Nguyên nhân ngộ độc phần lớn ở nhóm này là tử tử và tai nạn Trong đó, tác nhân gây ngộ độc chủ yếu là

do thuốc an thần 28 ca, tiếp đến là ngộ độc thực phẩm 20 ca, chất gây nghiện

5 ca, còn lại do các loại thuốc khác [30]

Tại bệnh viện Nhi Trung Ương trong 2 năm 2002-2003 có 155 trẻ bị ngộ độc nhập viện Loại ngộ độc hay gặp là: ngộ độc thức ăn 109 trẻ (70,3%),

do thuốc điều trị (18,1%), thuốc diệt chuột (4,5%) và hóa chất nông nghiệp (2,6%) Có 5/12 trẻ tử vong do ngộ độc, đó là ngộ độc thuốc diệt chuột 2, paracetamol 1, thuốc diệt muỗi 1 và chloramphenicol 1 trường hợp [27]

Kết quả nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung và CS về tình hình

TN-TT tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 6 đến tháng 8/2008 thấy: có 607 bệnh nhân TN-TT đến khám và điều trị tại khoa cấp cứu thì có

27 trường hợp ngộ độc [13]

Tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng từ tháng 8/2005-tháng 2/2007 đã có

500 bệnh nhân nhập viện do ngộ độc cấp, chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ đưới 5 tuổi (57%) các loại ngộ độc thường gặp là ngộ độc thức ăn (38,4%), ngộ độc hóa chất (37,2%, ngộ độc thuốc (24,4%)[24]

Trang 16

1.4.2.2 Tai nạn thương tích có chủ ý

* Tai nạn thương tích do bạo lực và xâm hại trẻ em

Thực trạng bạo lực, xâm hại trẻ em đang diễn biến phức tạp, với hình thức và đối tượng đa dạng, mức độ và tính chất phạm tội ngày càng nghiêm trọng, đến mức báo động về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận dân cư trong xã hội

Theo báo cáo của Bộ Công An, chỉ riêng trong năm 2011 cả nước đã phát hiện 1.386 vụ xâm hại trẻ em với 1.397 nạn nhân, tăng 1,8% so với năm

2010, trong đó 51 vụ giết trẻ em, 427 vụ hiếp dâm, 248 vụ giao cấu và 128 vụ

cố ý gây thương tích với trẻ, chưa kế các vụ mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt, cưỡng dâm v.v [18] Các vụ ngược đãi, bạo lực, xâm hại, bóc lột trẻ em ít

được cộng đồng chủ động phát hiện, trình báo với các cơ quan chức năng, mà

phần nhiều là do các phương tiện truyền tin phát hiện và tố giác Bởi vậy, những vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em bị phát hiện chỉ là phần nhỏ so với thực tế

Số trẻ em bị xâm hại tình dục nhiều nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long rồi đến Đông Nam Bộ Địa phương để xảy ra nhiều trẻ em bị xâm hại tình dục là Hà Nội, Quảng Ninh, Gia Lai, Đắc Lắc, Đồng Nai, Tây Ninh,

Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang [4]

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tiến hành khảo sát nạn trẻ em

bị xâm hại tình dục tại 13 tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2009 đến tháng 6/2010 Kết quả cho thấy, trẻ dưới 6 tuổi chiếm 13,5% tổng số trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ từ 6 tuổi đến dưới 13 tuổi chiếm 37,2% Số trẻ bị xâm hại tình dục nhiều lần chiếm 28,2% và số trẻ em bỏ học, sống lang thang bị xâm hại tình dục chiếm 11,6% [4]

Tại thành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2011 đã phát hiện 77 vụ xâm hại trẻ em Trong 6 tháng đầu năm 2012, cơ quan chức năng mới tiếp nhận

Trang 17

thêm 23 trường hợp, tập trung ở những quận mới có tốc độ đô thị hóa nhanh [4] Tại Cần Thơ, từ năm 2004 đến 6 tháng đầu năm 2012, trong 183 vụ xâm hại trẻ em, có 172 vụ xâm hại tình dục [4]

Ở các địa phương có khả năng phát triển du lịch, tỷ lệ phạm tội xâm hại

tình dục trẻ em cao hơn các địa phương khác Gần đây đã xuất hiện nhiều hình thức tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nam Đối tượng xâm hại tình dục trẻ em không chỉ là người Việt Nam mà đã xuất hiện đối tượng phạm tội là người nước ngoài như Mỹ, Anh, Malaysia Họ thường lợi dụng việc đi du lịch đến Việt Nam để tìm trẻ em để quan hệ tình dục [4]

Trong hai năm 2008 – 2009, cả nước đã xảy ra 5.956 vụ bạo lực trẻ em, trên 100 vụ giết trẻ em và 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện và

xử lý, trong đó có một số vụ gây bức xúc trong dư luận xã hội Nhiều trẻ em

bị chính cha mẹ, người thân, thầy cô giáo, người sử dụng lao động và những người có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em có hành vi bạo lực nghiêm trọng đối với trẻ em đến mức phải xử lý hình sự [18]

Tình trạng bạo lực ở trong và ngoài trường học của học sinh vẫn tiếp tục xảy ra đang là nỗi bức xúc của xã hội Hiện tượng bạo lực học sinh xảy ra trong thời gian gần đây ở một số trường học đã bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng như: học sinh đánh nhau gây thương tích, thậm chí tử vong Giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh; học sinh hành hung thầy, cô giáo Đối tượng học sinh đánh nhau có cả nữ sinh, không phải chỉ có nam sinh nóng nảy, thiếu kiềm chế, thậm chí nữ sinh đánh nữ sinh theo kiểu hội đồng

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đầu năm 2009 – 2010

đến nay, trên toàn quốc đã xảy ra khoảng 1.598 vụ việc học sinh đánh nhau ở

trong và ngoài trường học Theo số lượng trường học và học sinh hiện nay thì

cứ 5.260 học sinh thì xảy ra một vụ đánh nhau và cứ 9 trường học lại xảy ra

Trang 18

một vụ học sinh đánh nhau [18] Trong số các vụ việc học sinh đánh nhau, phần lớn nguyên nhân là xích mích nhỏ giữa các học sinh, các em dùng tay, chân đánh nhau nhưng được can ngăn kịp thời nên không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên trong số đó vẫn có những vụ việc xảy ra mang tính chất hoặc hậu quả nghiêm trọng đó là: học sinh đánh nhau có sử dụng hung khí, gây thương tích nặng cho bạn, có vụ việc xảy ra chết người (năm học 2009-2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người trong và ngoài trường học) [18]

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực nêu trên, trước hết phải kể đến nhận thức của các gia đình, cộng đồng về vấn đề bảo vệ trẻ em chưa đầy đủ

và phần nào đó bị xem nhẹ; nhiều thói quen, phong tục tập quán có hại cho trẻ

em chưa được các cấp, các ngành quan tâm đấu tranh loại bỏ như: giáo dục trẻ bằng roi vọt là việc “bình thường”

* Tai nạn thương tích do tự tử

Theo những số liệu thống kê về tỉ lệ tự tử chung của thế giới của nhóm tuổi từ 12-15 là 97-131 người/100.000 dân; nhóm tuổi từ 16-20 là 277-341 người/ 100.000 dân Tỉ lệ này đang có xu huớng gia tăng và trẻ tuổi hoá Dự báo của Tổ chức Y tế thế giới đến năm 2020 tự tử sẽ là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước phát triển và hàng thứ 2 ở các nước đang phát triển [18]

Ở Việt Nam, tự tử trong thanh thiếu niên cũng có xu hướng trẻ hóa và gia

tăng nhưng chưa có những thống kê chính thức nào về nạn tự tử trong trẻ em Nghiên cứu của Trần Thanh Hải và CS về tai nạn thương tích ở trẻ vị thành niên tại BVĐK Tiền Giang năm 2007 nhận thấy: số ca tự tử chiếm 7% tổng số bệnh nhân vào viện [15] Tại trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai, trung bình mỗi năm phải cấp cứu 150 – 200 trường hợp tự tử, trong đó tỷ lệ trẻ vị thành niên chiếm phần lớn tổng số ca nhập viện [5]

Trang 19

Khoa cấp cứu của Bệnh viện Nhi Trung Ương và bệnh viện Nhi đồng

2, TP Hồ Chí Minh thường xuyên có các ca trẻ em tự tử Trung bình cứ 10 ngày có 1 trẻ tự tử, trong đó trẻ nhỏ tuổi nhất là 10 tuổi và 51,2% số trẻ tự tử

là ở nông thôn-miền núi [4]

Hiện tượng tử tử diễn ra ở trẻ em đã trở thành vấn đề khá phổ biến trong xã hội Nguyên nhân của hiện tượng đau lòng ở lứa tuổi này bắt đầu từ những câu chuyện khá trẻ con, nhưng do hiểu biết ít, không có được sự quan tâm kịp thời của người lớn đã khiến cho các em chán nản và nảy sinh những ý nghĩ tiêu cực Các tổ chức đoàn thể, nhà trường và gia đình cần quan tâm,

động viên, giúp đỡ tháo gỡ những khúc mắc của trẻ em Các bậc cha mẹ cần

hiểu rõ vai trò của mình trong việc giáo dục con cái Có như vậy, mới hạn chế được thực trạng đau lòng này

1.4.3 Các đặc điểm của tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam

* Yếu tố liên quan đến trẻ: tuổi và giới tính

Nguy cơ mắc hoặc tử vong do một loại tai nạn thương tích nào đó thay

đổi tùy theo lứa tuổi của trẻ Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng năm 2006 tại

BVĐKTW Thái Nguyên nhận thấy tỉ lệ tai nạn thương tích do bỏng có xu hướng giảm dần theo tuổi: ở nhóm 0-4 tuổi (41,30%), ở nhóm 5-9 tuổi (2,74%), nhóm 10–15 tuổi (2,26%) [16] Theo báo cáo về tình hình tai nạn thương tích của Bộ Y tế năm 2008, trong khi số TNGT ở nhóm 0-4 tuổi chỉ chiếm 6% tổng số trường hợp tai nạn thương tích, thì con số này ở nhóm 15-

19 tuổi là 13,3% [51]

Các điều tra tai nạn thương tích ở Việt Nam đều chỉ ra rằng nhóm bé trai có nguy cơ TNTT không gây tử vong cao hơn so với bé gái, với tỉ lệ trong nhóm bé trai cao gấp 2-3 lần nhóm bé gái ở nhiều khu vực trong cả nước [37]

Điều này cũng tương tự như các phát hiện trong Báo cáo tử vong do tai nạn

Trang 20

thương tích của Bộ Y tế [5] Báo cáo này cho thấy nhóm nam từ 0-19 tuổi bị

tử vong do TNTT nhiều gấp 2 lần so với nhóm nữ cùng lứa tuổi

* Địa điểm và môi trường

Các nghiên cứu về nguy cơ TNTT trẻ em ở Việt Nam của Trần Văn Nam năm 2007 tại Hải Phòng [24], Trịnh Xuân Đàn năm 2008 tại Thái Nguyên [11], Hồ Thị Xuân Hương năm 2009 tại Viện Bỏng Quốc Gia [17]

đều cho rằng nhà ở là địa điểm phổ biến nhất trong số các trường hợp TNTT

và nhận thấy rằng TNTT cũng xảy ra nhiều hơn ở vùng nông thôn so với vùng thành thị

Ngoài ra, trẻ sống ở khu vực nông thôn, chủ yếu là những vùng nông nghiệp và có thu nhập thấp, thường phải làm nhiều việc gia đình như nấu ăn, chăm sóc em nhỏ, lau dọn và nhiều hoạt động sản xuất nông nghiệp, đấy chính là những yếu tố làm tăng các nguy cơ bị TNTT trong cộng đồng Tình trạng TNTT ở trẻ em ở khu vực nông thôn cao hơn so với khu vực thành thị cũng được phát hiện ở nhiều nước khác và được cho rằng có mối liên quan

đến tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn của những trẻ sống ở các khu vực này [53]

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Trần Văn Nam về tác động kinh tế đến

TNTT ở trẻ em Hải Phòng, cho thấy khả năng mắc TNTT của con của các gia

Trang 21

đình nghèo cao gấp 2,7 lần so với các gia đình khá giả, và cao gấp 2 lần so

với gia đình trung bình [23]

Không giống như kết quả ở các nước có thu nhập cao, nguy cơ TNGT cao hơn ở những trẻ có điều kiện kinh tế xã hội thấp hơn, ở Việt Nam, nguy

cơ TNGT lại cao nhất ở những trẻ ở nhóm hộ gia đình có thu nhập trung bình [54] Các hộ gia đình có thu nhập trung bình có đủ điều kiện để mua xe đạp cho cho em mình, nhưng điều đó đã làm tăng nguy cơ TNTT vì người đi xe

đạp là những người dễ bị tai nạn nhất trong số những người tham gia giao

thông ở khu vực mà nghiên cứu tiến hành

Kết quả nghiên cứu dọc về nghèo trẻ em của Howe LD năm 2006 [48]

được tiến hành ở bốn nước: Ethiopia, Peru, Việt Nam và Ấn Độ, cũng cho

thấy tình trạng kinh tế xã hội là một yếu tố nguy cơ quan trọng của tình trạng ngã và bỏng ở trẻ em Việt Nam [48] Nghiên cứu cho thấy rằng thiếu sự giám sát của bố mẹ, thường có liên quan với nghèo đói, cũng làm tăng nguy cơ TNTT, đặc biệt là ngã ở trẻ em Việt Nam Trẻ em thường được một người không phải thành viên trong gia đình chăm sóc làm tăng nguy cơ bị ngã ở mức nghiêm trọng lên gấp hai lần Tương tự, ở Việt Nam, để trẻ chơi một mình hoặc chơi cùng với trẻ dưới 5 tuổi khác cũng làm tăng nguy cơ gặp phải một TNTT nào đó [48]

Một hậu quả khác của tình trạng kinh tế xã hội thấp là kiến thức hạn chế về yếu tố nguy cơ TNTT trẻ em của cha mẹ và cộng đồng Nghiên cứu của Dương Khánh Vân và CS về kiến thức của cộng đồng tại 3 xã đại diện cho 3 miền là An Hưng (Hải Phòng); thị trấn Hồ Xá (Quảng Trị) và xã Mỹ Hòa (Đồng Tháp) được tiến hành năm 2005 chỉ ra rằng: một bộ phận khá lớn các bố mẹ và cán bộ cộng đồng không hiểu biết và không có kiến thức về TNTT và phòng chống TNTT trẻ em [36] Báo cáo phát hiện được thái độ phổ biến của cộng đồng là coi TNTT là do “không may” và vì vậy là sự kiện

Trang 22

không thể tránh được Tại Hải Phòng, kết quả nghiên cứu của Trần Văn Nam

về tình hình TNTT ở trẻ em Hải Phòng năm 2003 cho thấy: khả năng mắc TNTT ở con của các bố có trình độ cấp 1 và mù chữ cao gấp 1,89 lần so với con của các bố có trình độ cấp 3 Khả năng mắc TNTT ở con của các mẹ có trình độ cấp 1 và mù chữ cao gấp 2,7 lần so với con của các mẹ có trình độ cấp 3 [23]

* Tiếp cận với chăm sóc y tế

Tiếp cận với chăm sóc y tế, gồm các dịch vụ cấp cứu, dịch vụ chăm sóc trước viện, chăm sóc tại bệnh viện và phục hồi chức năng là những đặc điểm quan trọng góp phần giảm gánh nặng tử vong và tàn tật do TNTT Ở hầu hết các nước có thu nhập thấp và trung bình, gồm các nước ở khu vực Châu Á, hệ thống chăm sóc trước viện ở Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và chỉ có thể đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu cấp cứu của người dân Nghiên cứu của Trần Văn Nam tại BVTE Hải Phòng cho thấy: từ tháng 8/2005 đến tháng 2/2007 thì phần lớn TNTT được đưa thẳng đến bệnh viện trẻ em bằng xe máy chiếm 68,7%, taxi 8,57%, vận chuyển bằng xe cứu thương chỉ có 2,6% [24] Ngay sau khi tai nạn xảy ra, bệnh nhân cần được sơ cấp cứu ban đầu và sự hỗ trợ của người trợ giúp y tế được đào tạo Số bệnh nhân TNTT được đưa thẳng tới bệnh viện trẻ em Hải Phòng chưa qua y tế cơ

sở 74,6% và 79,9% chưa được sơ cấp cứu [24] Kết quả nghiên cứu tình hình TNTT trẻ em tại Bệnh viện Việt Đức năm 2006 cũng cho kết quả: bệnh nhân các địa phương chuyển đến chưa được xử trí chiếm tỉ lệ cao gần 34%; phương tiện vận chuyển bằng xe cứu thương chỉ chiếm 31%, có nhân viên y tế hộ tống chỉ chiếm 27,5% [6] Tình trạng thiếu hệ thống cấp cứu để vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế, thiếu đội ngũ trợ giúp y tế và thiếu cơ sở hạ tầng là các yếu tố trì hoãn thời gian từ khi trẻ bị tai nạn đến khi tiếp cận được với bệnh viện [53]

Trang 23

Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Tú và CS điều tra thực trạng đáp ứng cấp cứu chấn thương của một số tỉnh phía Bắc, Hà Nội và Thừa Thiên Huế cho thấy các bệnh viện huyện đạt 60%, các bệnh viện thành phố và trung

ương đạt từ 60 đến 100%, đáng lưu ý là dịch vụ cấp cứu 115 chỉ đạt 10%, chủ

yếu là cấp cứu nội khoa [34] Kết quả nghiên cứu của Huong NT, và CS năm

2008 về chăm sóc TNTT trước bệnh viện đối với các trường hợp TNTT ở Hà Nội cho thấy chỉ có 4% các trường hợp TNTT được chuyển đến bệnh viện bằng xe cấp cứu và chăm sóc trước viện, hầu hết đều do người đi đường tự xử trí, hơn một nửa các trường hợp tử vong không được sơ cấp cứu tại hiện trường hoặc được đưa đến bệnh viện bằng xe máy [47] Nghiên cứu này cũng tìm thấy rằng còn thiếu cả một hệ thống thông tin liên lạc ở chính Hà Nội mặc

dù ở đây có đầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng cần thiết như điện thoại, máy vi tính và máy fax Điều này cũng được khẳng định khi phỏng vấn đại diện của

tổ chức Counterpart International: “Hà Nội, một thành phố với hơn 4 triệu dân, chỉ có 3 trung tâm cấp cứu và 14 xe cứu thương, trong đó một số trong tình trạng rất kém Vì vậy nhiều nạn nhân TNTT phải đến bệnh viện bằng xe taxi, xe máy hay bất cứ phương tiện nào có được” [47]

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là hồ sơ bệnh án trẻ em từ dưới 1 tuổi đến 14 tuổi mắc tai nạn thương tích vào điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng

từ năm 2007 - 2011

Chọn đối tượng nghiên cứu bao gồm các loại tai nạn thương tích dựa vào bảng phân loại tai nạn thương tích của WHO như [38]:

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trang 25

* Chọn mẫu có chủ đích: các hồ sơ bệnh án phù hợp với tiêu chuẩn

chọn đối tượng nghiên cứu

* Cỡ mẫu: toàn bộ hồ sơ bệnh án tai nạn thương tích ở trẻ từ dưới 1 tuổi

đến 14 tuổi vào viện điều trị từ 01/01/2007 đến 31/12/2011 tại bệnh viện Đa

khoa tỉnh Cao Bằng

2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.3.1 Mô hình tai nạn thương tích ở trẻ em tại BVĐK tỉnh Cao Bằng

- Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em vào viện trong 5 năm (2007-2011)

- Phân bố các ca tai nạn thương tích theo địa dư

- Phân loại nguyên nhân gây tai nạn thương tích

- Phương tiện vận chuyển bệnh nhân đến viện

- Các loại tổn thương do tai nạn thương tích

- Kết quả điều trị tai nạn thương tích tại bệnh viện

- Đánh giá tỉ lệ tử vong tại bệnh viện do tai nạn thương tích

2.2.3.2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến TNTT ở trẻ em tại BVĐK tỉnh Cao Bằng

- So sánh tỉ lệ mắc tai nạn thương tích theo giới tính, khu vực

- Yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích: thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn thương tích, tác nhân gây ra các tai nạn thương tích thường gặp

2.2.4 Định nghĩa biến số

- Tai nạn: là một sự kiện không chủ tâm, dẫn đến một thương tích rõ

ràng Phần lớn các tai nạn có thể phòng ngừa được

- Thương tích: là những tổn thương thực thể của cơ thể, là kết quả của sự

phơi nhiễm cấp tính với năng lượng (năng lượng này có thể là cơ, nhiệt, điện, hóa hay từ) Năng lượng này tương tác với cơ thể bằng một số lượng hay tỉ lệ vượt quá ngưỡng chịu đựng sinh lý Trong một vài trường hợp thương tích là kết quả của sự thiếu hụt các nhân tố duy trì sự sống (trong chết đuối, bóp cổ

Trang 26

hay chết cóng) Thời gian giữa sự phơi nhiễm và sự xuất hiện của thương tích

là rất ngắn

- Chấn thương: là những tổn thương cấp tính do các nguyên nhân: ngã,

chấn thương trong lao động, vui chơi dẫn đến bị vết thương phần mềm chảy máu, phù nề xây sát, gẫy xương mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế hoặc bị hạn chế sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu 1 ngày

- Di chứng sớm: là những thương tích để lại hậu quả tàn tật suốt đời

- Ngã: Là một sự kiện khiến một người phải dừng lại một cách đột ngột ở

trên mặt đất hoặc sàn nhà hoặc ở một mặt bằng thấp hơn

- Tai nạn giao thông đường bộ: là thương tích tử vong hay không tử vong

xảy ra do sự va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; xảy

ra khi các đối tượng đang hoạt động trên đường giao thông công cộng

- Ngộ độc cấp: Ngộ độc cấp (NĐC) là một tình trạng xảy ra cấp tính do

cơ thể bị nhiễm độc chất làm tổn thương các bộ phận trong cơ thể

- Bỏng là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất

lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa Các chấn thương da do sự phát xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổn thương phổi do bị khói xộc vào cũng được coi là những trường hợp bỏng

- Đuối nước: Đuối nước (chết đuối) là những trường hợp chấn thương

xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu ) dẫn đến ngạt do thiếu oxy hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong vòng 24 giờ hoặc cần đến chăm sóc y tế hoặc bị các biến chứng khác

- Tai nạn lao động: là các trường hợp chấn thương xảy ra do tác động

của các yếu tố nguy hiểm độc hại trong lao động (trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc)

- Động vật tấn công: là những chấn thương do động vật cắn, húc,

đâm phải

Trang 27

- Bạo lực: là hành động sử dụng vũ lực hăm dọa hoặc đánh đập người,

nhóm người, cộng đồng khác dẫn đến chấn thương, tử vong, tổn thương tinh thần, chậm phát triển

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Số liệu bệnh nhân tai nạn thương tích

Lập danh sách 1086 bệnh nhân từ dưới 1 tuổi đến 14 tuổi bị tai nạn thương tích vào viện trong thời gian từ ngày 01/01/2007 đến ngày 31/12/2011

từ tổng số 12.142 bệnh nhi vào điều trị tại bệnh viện Nguồn lấy số liệu là sổ lữu trữ số liệu bệnh nhân vào điều trị tại các khoa; sổ lưu trữ mã bệnh nhân khi ra viện và bệnh nhân tử vong [Phụ lục 2]

2.2.5.2 Tiến hành thu thập số liệu

Hồi cứu hồ sơ bệnh án, loại tai nạn thương tích được chẩn đoán xác

định của bệnh phòng khi ra viện từ 01/01/2007 đến 31/12/2011 để thu thập

các thông tin theo mẫu phiếu điều tra [Phụ lục 1]

2.2.5.3 Công cụ thu thập thông tin

Phiếu điều tra được thiết kế phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu Phiếu có các thông tin về hành chính: tên tuổi, địa chỉ, thời gian bị tai nạn, nguyên nhân tai nạn Các thông tin liên quan đến cấp cứu ban đầu: thời gian

đến cơ sở y tế đầu tiên, các biện pháp xử trí ban đầu, kết quả điều trị, di

chứng, tử vong được thu thập từ sổ sách lưu trữ và hồ sơ bệnh án

2.2.5.4 Điều tra viên

Gồm 10 học sinh năm thứ 2 Trường trung cấp Y tế Cao Bằng được tập huấn kỹ về hình thức thu thập số liệu, thống nhất cách thu thập thông tin từ hồ

sơ bệnh án tai nạn thương tích, cách ghi thông tin vào phiếu điều tra

Số điều tra viên được chia thành 2 nhóm để thu thập số liệu Trong suốt thời gian thu thập số liệu, tác giả luôn đi cùng các nhóm để giám sát Hướng dẫn kịp thời khi các điều tra viên gặp khó khăn

Trang 28

Rút thăm ngẫu nhiên một số phiếu điều tra xem điều tra và ghi chép có

đúng yêu cầu không

2.2.5 Khống chế sai số

Phiếu thu thập thông tin về bệnh nhân từ dưới 1 tuổi đến 14 tuổi bị tai nạn thương tích vào điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng được thông qua Hội đồng khoa học góp ý và chỉnh sửa phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

Tuân thủ theo đúng tiêu chuẩn chọn mẫu trước khi tiến hành thu thập

số liệu

Kế hoạch nghiên cứu được xây dựng khoa học, hợp lý và đảm bảo

đúng tiến độ điều tra

Các điều tra viên được tập huấn kỹ về mẫu phiếu điều tra trước khi điều tra chính thức

Khi thu thập số liệu, các điều tra viên không tự ý thêm hoặc bớt các nội dung trong mẫu phiếu điều tra

2.2.6 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và chương trình EPI-INFO 6.04 để xử lý và phân tích số liệu

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình tai nạn thương tích trẻ em tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng

3.1.1 Tình hình bệnh tật trẻ em tại BVĐK tỉnh Cao Bằng (2007-2011)

35,49

35,05

8,94 8,05

3,37 2,92 1,45 1,01 0,71 0,54 0,49 0,48

III-B ệ nh máu, c ơ quan t ạ o máu và m ộ t s ố ố i lo ạ n liên quan c ơ ch ế mi ễ n d ị ch XI-B ệ nh h ệ tiêu hóa

XII-B ệ nh da và mô d ướ i da XIV-B ệ nh h ệ ti ế t ni ệ u-sinh d ụ c XVIII-Tri ệ u ch ứ ng,d ấ u hi ệ u và nh ữ ng phát hi ệ n lâm sàng và c ậ n lâm sàng b ấ t th ườ ng không phân lo ạ i ở n ơ i khác VI-B ệ nh h ệ th ầ n kinh

XIII-B ệ nh h ệ c ơ -x ươ ng và mô liên k ế t VII-B ệ nh m ắ t và ph ầ n ph ụ

IX-B ệ nh h ệ tu ầ n hoàn VIII-B ệ nh tai và x ươ ng ch ũ m II-Kh ố i u

XVII-D ị t t,d ị d ạ ng b ẩ m sinh và b ấ t th ườ ng c ủ a nhi ễ m s ắ c th ể

IV-B ệ nh n ộ i ti ế t,dinh d ưỡ ng và chuy ể n hóa V-R ố i lo ạ n tâm th ầ n và hành vi

Biểu đồ 3.1 Mô hình bệnh tật trẻ em ở bệnh viện Đa khoa

tỉnh Cao Bằng (2007 - 2011)

Nhận xét: Mô hình bệnh tật của trẻ em tại bệnh viện đa khoa tỉnh Cao

Bằng (2007-2011): bệnh gặp nhiều nhất là nhóm bệnh hô hấp (35,49%), tiếp theo là nhóm bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh (35,05%), xếp thứ ba là nhóm bệnh do chấn thương và ngộ độc (8,94%)

Trang 30

3.1.2 Tình hình TNTT ở trẻ em điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ tai nạn thương tích ở trẻ em tại BVĐK tỉnh Cao Bằng

Nhận xét: Có sự khác biệt về tỉ lệ tai nạn thương tích ở trẻ em tại BVĐK

tỉnh Cao Bằng trong các năm (2007-2011) Tỉ lệ tai nạn thương tích ở trẻ em vào viện đang có xu hướng gia tăng theo thời gian (p<0,05)

Bảng 3.1 Phân bố các ca tai nạn thương tích vào viện theo khu vực

Trang 31

Huyện Nguyên bình 46 4,24

Nhận xét: Số bệnh nhân vào viện điều trị do tai nạn thương tích ở thành

phố Cao Bằng chiếm tỉ lệ cao nhất là 36,92% và thấp nhất là huyện Bảo Lâm 0,64%

Bảng 3.2 Nguyên nhân tai nạn thương tích ở trẻ em giữa khu vực

nông thôn và thành phố Nhóm tuổi

Nhận xét: Ngã là nguyên nhân gây tai nạn cao nhất ở trẻ em chiếm 37,02%,

tiếp đến là tai nạn giao thông (TNGT) chiếm 21,45% và bỏng chiếm 14,64%

Trang 32

Bảng 3.3 Phương tiện vận chuyển trẻ bị tai nạn thương tích

đến bệnh viện

Phương tiện

Ô tô cứu thương

Ô tô thường Xe đạp Tổng số

Trang 33

Bảng 3.4 Số trẻ bị tai nạn thương tích được sơ cứu và không được sơ cứu

trước khi đến bệnh viện

Nhận xét: Số bệnh nhân không được sơ cứu ban đầu trước khi vào viện

775 (71,36%), bệnh nhân được sơ cứu 311 (28,64%)

Trang 34

Bảng 3.5 Thời gian kể từ khi bị tai nạn đến khi được đưa đến bệnh viện Thời gian

Nhận xét: Phần lớn trẻ bị tai nạn thương tích được đưa đến viện trước 6

giờ là 74,68%; từ 6-24 giờ 19,06%; trên 24 giờ 6,26%

Trang 35

Nhận xét: Loại thương tích thường gặp là gẫy vỡ xương (31,86%), tổn

thương thần kinh (26,7%), tổn thương phần mềm và thương tích bỏng (14,64%)

Bảng 3.6 Xử trí tại khoa phòng với bệnh nhân nội trú

Di chứng sớm

Ngày đăng: 21/03/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Bộ Y tế (2000), Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2000
2- Bộ Y tế (2011), “Điều tra quốc gia về tai nạn thương tích năm 2010”, http://203.162.20.210/homebyt/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra quốc gia về tai nạn thương tích năm 2010”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
4- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2011), Báo cáo công tác thực hiện Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thực hiện Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2011
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Năm: 2011
5- Bộ Y tế Việt Nam (2008), Báo cáo về thương tích gây tử vong ở Việt Nam, Hà Nội: MOH, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về thương tích gây tử vong ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2008
6- Nguyễn Đức Chính, Cao Độc Lập và cộng sự (2007), “Tình hình tai nạn thương tích trẻ em qua giám sát tai nạn thương tích tại Bệnh viện Việt Đức năm 2006”, Ngoại khoa, (2), tập 57, tr. 18-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tai nạn thương tích trẻ em qua giám sát tai nạn thương tích tại Bệnh viện Việt Đức năm 2006”, "Ngoại khoa
Tác giả: Nguyễn Đức Chính, Cao Độc Lập và cộng sự
Năm: 2007
7- Nguyễn Đức Chính, Trần Văn Oánh và cộng sự. (2011), “Tình hình cấp cứu tai nạn thương tích tại bệnh viện Việt Đức năm 2009-2010”, Y học thực hành, (10), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình cấp cứu tai nạn thương tích tại bệnh viện Việt Đức năm 2009-2010”, "Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Đức Chính, Trần Văn Oánh và cộng sự
Năm: 2011
8- Cục Y tế dự phòng và Môi trường - Bộ Y tế (2009), Báo cáo tình hình tai nạn thương tích năm 2009, http://203.162.20.210/homebyt/vn/portal/Home Ảrea.jsp?area=222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình tai nạn thương tích năm 2009
Tác giả: Cục Y tế dự phòng và Môi trường - Bộ Y tế
Năm: 2009
9- Cục Quản lý môi trường Y tế-Bộ Y Tế (2011), Thông báo tình hình tai nạn thương tích 6 tháng đầu năm 2011,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo tình hình tai nạn thương tích 6 tháng đầu năm 2011
Tác giả: Cục Quản lý môi trường Y tế-Bộ Y Tế
Năm: 2011
10-Trịnh Xuân Đàn và CS (2007), “Nghiên cứu yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích ở học sinh phổ thông tỉnh Thái Nguyên”, Sinh lý học - Năm 2007, Tháng 12, (3), tập 11, tr 27-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích ở học sinh phổ thông tỉnh Thái Nguyên”, "Sinh lý học
Tác giả: Trịnh Xuân Đàn và CS
Năm: 2007
11- Trịnh Xuân Đàn (2009), “Mô hình tai nạn thương tích của học sinh thành phố Thái Nguyên”, Sinh lý học Việt Nam - Năm 2009, (4), số 1, tập 13, tr.68-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tai nạn thương tích của học sinh thành phố Thái Nguyên”, "Sinh lý học Việt Nam
Tác giả: Trịnh Xuân Đàn
Năm: 2009
14- Dương Hải (2011), “Nhức nhối tai nạn thương tích trẻ em”, http://laodong.com.vn/tin-tuc/nhuc-nhoi-tai-nan-thuong-tich-o-tre-em/42965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhức nhối tai nạn thương tích trẻ em
Tác giả: Dương Hải
Năm: 2011
15- Trần Thanh Hải, Nguyễn Thị Hải Lý và CS. (2010), “Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện đa khoa Tiền Giang năm 2007”, Y học TP. Hồ Chí Minh – năm 2010, (1), tập 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện đa khoa Tiền Giang năm 2007”, "Y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Thanh Hải, Nguyễn Thị Hải Lý và CS
Năm: 2010
16- Đỗ Thị Lệ Hằng (2006), “Một số đặc điểm dịch tễ học tai nạn thương tích ở trẻ em điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên”, Chuyên đề tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, Trường đại học Y khoa Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học tai nạn thương tích ở trẻ em điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Đỗ Thị Lệ Hằng
Năm: 2006
17- Hồ Thị Xuân Hương (2009), “Dịch tễ bỏng trẻ em 23 năm (01/1985 – 12/2007) tại Viện Bỏng Quốc Gia-Việt Nam”, Tạp chí Y học Bỏng và thảm họa - Năm 2009, (1), tr. 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ bỏng trẻ em 23 năm (01/1985 – 12/2007) tại Viện Bỏng Quốc Gia-Việt Nam”, "Tạp chí Y học Bỏng và thảm họa
Tác giả: Hồ Thị Xuân Hương
Năm: 2009
18- Nguyễn Hải Hữu (2012), “Thực trạng bạo lực trẻ em ở nước ta hiện nay- giải pháp”, nguồn: molisa.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng bạo lực trẻ em ở nước ta hiện nay-giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Năm: 2012
20- Vi Hồng Kỳ (2009) “Một số nhận xét về tình hình tai nạn thương tích tại Bệnh viện đa khoa Mộc Châu (Sơn La) từ 01/2007 - 07/2008”, Y học thảm họa và bỏng, số 2, tr. 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về tình hình tai nạn thương tích tại Bệnh viện đa khoa Mộc Châu (Sơn La) từ 01/2007 - 07/2008”, "Y học thảm họa và bỏng
21- Nguyễn Thị Trà My, Đỗ Văn Dũng (2010), “Kiến thức thực hành về phòng ngừa té ngã của phụ huynh có con học tại trường mầm non La Ngà, Định Quán, Đồng Nai tháng 4 năm 2009”, Y học TP.Hồ Chí Minh, (1), tập 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thực hành về phòng ngừa té ngã của phụ huynh có con học tại trường mầm non La Ngà, Định Quán, Đồng Nai tháng 4 năm 2009”, "Y học TP.Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Trà My, Đỗ Văn Dũng
Năm: 2010
22- Nguyễn Hoàng Nam (2009), “Mỗi ngày có 2000 trẻ bị chết vì các tai nạn có thể phòng ngừa được”, Tạp chí Nhi khoa, tháng 6, (2), tr.70-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỗi ngày có 2000 trẻ bị chết vì các tai nạn có thể phòng ngừa được”, "Tạp chí Nhi khoa
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nam
Năm: 2009
23- Trần Văn Nam (2003), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học tai nạn thương tích của trẻ em Hải Phòng và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học tai nạn thương tích của trẻ em Hải Phòng và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp
Tác giả: Trần Văn Nam
Năm: 2003
24- Trần Văn Nam (2007), “Phân tích một số đặc điểm tai nạn thương tích ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ tháng 8/2005 đến tháng 2/2007”, Y học Việt Nam, Tháng 7, (2) - SĐB Kỷ niệm 30 năm thành lập Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng - Hội nghị khoa học công nghệ lần thứ XV, tập 336, tr. 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số đặc điểm tai nạn thương tích ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ tháng 8/2005 đến tháng 2/2007”, "Y học Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Nam
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w