1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN (y dược) sử dụng một số TRẮC NGHIỆM tâm lý hỗ TRỢ CHẨN đoán lâm SÀNG các rối LOẠN TRẦM cảm

33 51 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 167 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆU TRẮC NGHIỆM, BÀI GIẢNG PPT CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH Y DƯỢC HAY NHẤT CÓ TẠI “TÀI LIỆU NGÀNH Y DƯỢC HAY NHẤT” ;https://123doc.net/users/home/user_home.php?use_id=7046916. TÀI LIỆU LUẬN VĂN – BÁO CÁO – TIỂU LUẬN (NGÀNH Y DƯỢC). DÀNH CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH Y DƯỢC VÀ CÁC NGÀNH KHÁC, GIÚP SINH VIÊN HỆ THỐNG, ÔN TẬP VÀ HỌC TỐT KHI HỌC TÀI LIỆU LUẬN VĂN – BÁO CÁO – TIỂU LUẬN (NGÀNH Y DƯỢC)

Trang 1

SỬ DỤNG MỘT SỐ TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ HỖ TRỢ CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG CÁC RỐI LOẠN TRẦM CẢM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong lĩnh vực Tâm thần học, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lý làmcông cụ thực hành để lượng hoá triệu chứng học tâm thần đã có từ hơn mộtnữa thế kỷ nay Đầu tiên là “Thang đánh giá lâm sàng bệnh tâm thần” củaKempt và cộng sự mô tả từ năm 1915, sau đó là bảng câu hỏi tự đánh giámang tên “Bảng dữ liệu cá nhân” (Personal Data Sheet) do W.Worth soạnthảo năm 1917; “Thang đánh giá tâm thần” của Wittenbort – 1951, “Thangđánh giá nhiều mức độ các bệnh tâm thần nội trú” của Lorr 1963; v.v (PichotP., 1973; Hamilton M., 1975; Hal R.C., 1980) [6], [7], [12]

Càng ngày người ta thấy mối quan tâm tới các “Thang đánh giá” càngnhiều, với những mục tiêu khác nhau như: đo lường độ nghiêm trọng của mộtrối loạn tâm lý, ước lượng tỉ lệ mắc một rối loạn tâm thần hoặc sử dụng làmchỉ số bệnh tật, v.v Nhiều công cụ đo lường ra đời và được sử dụng trongthực hành tâm thần học: đo lường năng lực trí tuệ cho người lớn bằng nghiệmpháp Raven, do J.C.Raven xây dựng 1938; đo lường năng lực trí tuệ cho trẻ

em bằng nghiệm pháp Wais, do D.Wechsler xây dựng 1939; đánh giá về nhâncách nhiều pha bằng nghiệm pháp MMPI (Minnesota Multiphasic PersonalityInventory), do S.R.HăthWay, J.Chamley và M.C.Kinley xây dựng năm 1941;thang đánh giá về cảm xúc trầm cảm bằng nghiệm pháp BECK (BeckDepression Inventory – BID), do A.T.Beck và cộng sự trình bày 1972; thangđánh giá trầm cảm của Hamilton (HDRS – Hamilton Depression RatingScale), do M.Hamilton giới thiệu 1960; nghiệm pháp tự đánh giá lo âu của

Trang 2

Zung (Zung – Self Rating Anxiety Scale – SAS), do W.K.Zung khởi xướngnăm 1980,… Cho đến nay, các công cụ đo lường này đang được sử dụng rộngrãi ở các cơ sở lâm sàng bệnh học tâm thần.

Tại Viện Sức khoẻ Tâm thần Bạch Mai, phòng trắc nghiệm tâm lý từnhiều năm nay đã sử dụng các “thang điểm đánh giá trầm cảm” để lượng hóamức độ rối loạn các trạng thái trầm cảm Công việc đó được tiến hành mộtcách thường xuyên trên nhiều bệnh nhân tâm thần nội trú hoặc ngoại trú, kể

cả trên những bệnh nhân của các chuyên khoa khác (đặc biệt là chuyên khoatim mạch và tiêu hoá) có một số biểu hiện rối loạn cảm xúc trầm cảm Nhữngkết quả thu nhận được đã góp phần hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng các rối loạntrầm cảm, giúp cho người thầy thuốc chuyên khoa có thêm thông tin để kếtluận bệnh, trạng thái bệnh và chọn lựa các giải pháp điều trị đúng

Như vậy, trong thực hành tâm thần học chẩn đoán các rối loạn trầm cảm,các “thang đánh giá trầm cảm” có một giá trị nhất định và không dễ gì có thểphủ nhận được

Để làm sáng tỏ giá trị góp phần hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng các rối loạntrầm cảm, tác giả trình bày các “Nghiệm pháp đánh giá trầm cảm” đã được sửdụng trong thực hành tâm thần học, và đó cũng là mục đích của bài tổng quannày

I KHÁI NIỆM VỀ TEST TÂM LÝ

1 Tâm lý và hoạt động tâm lý

Tâm lý gắn liền với hoạt động của bộ não (hệ thần kinh cấp cao) Do đóhoạt động tâm lý phải gắn liền với hoạt động thần kinh cấp cao Mọi cái diễn

ra trong ta khi ta nhìn, nghe, suy nghĩ, nhớ lại hoặc mọi phát minh khoa học,mọi sáng tạo nghệ thuật, mọi tình cảm sâu sắc như tình yêu, tình bạn, nỗi đauthương, niềm hạnh phúc,… đều qua hoạt động của não Không hề có một hiện

Trang 3

tượng tâm lý nào dù là phức tạp nhất mà lại không do các quá trình vật chất(TK cấp cao) chế định, những quá trình này diễn ra trong các cấu tạo của não,

có cấu trúc đa dạng và biến đổi thường xuyên Mác viết: “Không thể tách tưduy ra khỏi vật chất đang tư duy”* Lê Nin viết: “… tư duy, ý thức là sảnphẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức nhất định”**.Con người có hoạt động tâm lý vì có hệ thần kinh phát triển cao và được

tổ chức một cách đặc biệt đó là bộ não và phần cao nhất của nó là vỏ não Vỏnão là nơi nhận các tác động từ môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể đểtạo ra hình ảnh tâm lý: cảm giác, tri giác, tư duy, v.v là nơi chuẩn bị cho cáchành động, hoạt động nhiều vẻ của con người Nếu não và vỏ não không bìnhthường, bị thương tổn thì chắc chắn ảnh hưởng đến đời sống tâm lý

Giữa hoạt động của hệ thần kinh và các hiện tượng tâm lý có mối quan

hệ có tính quy luật Tính chất của các quá trình thần kinh cấp cao diễn ratrong một thời điểm nhất định trong bộ não đều nói lên tính chất của quá trìnhtâm lý Vì thế việc nghiên cứu các quá trình thần kinh và những biểu hiện của

nó cho ta thấy được cách thức nẩy sinh và diễn biến của các quá trình tâm lý,

và ngược lại nghiên cứu những biểu hiện và diễn biến của các quá trình tâm lýcho ta thấy được những biến đổi liên quan đến các cấu trúc thần kinh

Nội dung tâm lý của con người phản ánh hiện thực của thế giới kháchquan, phản ánh những quan hệ xã hội của con người, kể cả phản ánh mọi hiệntượng diễn ra ở môi trường bên trong cơ thể Sự phản ánh đó, thông qua cáchoạt động tâm lý như cảm giác, tri giác (nền tảng cho cảm xúc, tư duy cụ thể,nhận thức ban đầu), cảm xúc, ý thức, tư duy, trí tuệ, v.v Các hoạt động tâm lý

có tính thống nhất, tuân theo các nguyên tắc, quy luật cơ bản của hoạt độngthần kinh cấp cao Hoạt động thần kinh cấp cao thực hiện sự liên hệ giữa toàn

Hà Nội, 1960, tr 58.

Trang 4

bộ cơ thể với môi trường chung quanh thường xuyên biến động Hoạt độngthần kinh cấp cao là cơ sở sinh lý của tâm lý Do đó không thể có quan điểmtách rời tâm lý với sinh lý, nhưng cũng không được đồng nhất hai quá trình

đó Trên cơ sở đó, nghiên cứu những biến đổi tâm lý cho phép biết đượcnhững biến đổi sinh lý thần kinh cấp cao Ví dụ, nghiên cứu sự biến đổi cảmxúc cho ta thấy được những dấu hiệu sinh lý đặc trưng của các trạng thái cảmxúc nhất định: khi người ta buồn thì diễn ra quá trình ức chế, liên quan đến sựgiảm trương lực hoạt động nói chung của cơ thể, tim mạch, tiêu hoá, hô hấp,nội tiết, nội tiết, v.v.; khi người ta vui, quá trình hưng phấn làm tăng trươnglực cho hoạt động cơ thể

Các test tâm lý nói chung đều phải dựa vào mối quan hệ tâm sinh lý đó

để cho những đánh giá, kết luận về tình trạng sức khoẻ tâm thần và thể chấtcủa người bệnh, góp phần hướng tới chọn lựa những giải pháp can thiệp thíchhợp trong chẩn đoán và điều trị

2 Test tâm lý là gì? Cơ sở của việc sử dụng các test tâm lý

Test tâm lý là gì?

“Test” còn gọi là phép thử, phép đo hay nghiệm pháp Nhiều tài liệu ởnước ta đã sử dụng thuật ngữ “trắc nghiệm” tương đương với thuật ngữ “test”.Trắc nghiệm được coi là nhóm các phương pháp nghiên cứu đang được sửdụng rộng rãi nhất trong các lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực y học nóiriêng Nó là một công cụ đặc biệt giữ vai trò chủ yếu trong việc góp phầnchẩn đoán tâm lý lâm sàng

“Test tâm lý” là phép đo hay phép thử về những hoạt động của đời sốngtâm lý một cá nhân

Xung quanh về “Test tâm lý”, nhiều tác giả trong và ngoài nước đã cónhững định nghĩa khác nhau

Trang 5

Theo P.Pichot – 1973 [12]: “Test tâm lý là một tình huống đã được chuẩnhoá dùng làm kích thích, gây ra ở đối tượng một ứng xử Ứng xử này đượcđánh giá so sánh với đối tượng khác cũng trong một tình hướng như vậy,nhằm phân loại đối tượng về mặt loại hình hoặc để xếp họ vào vị trí nào đótrong quần thể”.

Theo N.K.Viện: “Test tâm lý là một hệ thống liệu pháp, được chuẩn hoá

về mặt kỷ thuật, được quy định về nội dung và cách làm, nhằm đánh giá sựứng xử ở một người, cung cấp một chỉ số tâm lý (trí tuệ, cảm xúc, năng lực,nhân cách…) trên cơ sở đối chiếu với thang đo đã được chuẩn hoá, hoặc vớimột hệ thống phân loại trên những nhóm mẫu khác nhau về phương diện xãhội”

“Trắc nghiệm tâm lý được coi là một thực nghiệm thử nghiệm, mạngtính chất của một bài tập nhất định, bài tập này kích thích một hình thức nhấtđịnh của tính tích cực và việc thực hiện nó là một triệu chứng của sự hoànthiện các chức năng nhất định, được đánh giá về mặt định lượng và định tính”(X.G Ghelecstein, 1979)

Từ những định nghĩa trên, có thể thống nhất về nhận thức trắc nghiệmtâm lý là hệ thống các biện pháp đã được chuẩn hoá về kỷ thuật, được quyđịnh về nội dung và quy trình thực hiện, nhằm đánh giá hành vi và kết quảhoạt động của một người hoặc một nhóm người Một trắc nghiệm tâm lý phải

có các đặc trưng riêng, đó là tính tương đối đơn giản của thủ tục và trang bị;thời gian ngắn; ghi lại trực tiếp các kết quả; tiện lợi trong việc xử lý toán học;

có những tiêu chuẩn đã được xác lập; khả năng sử dụng đối với cá nhân, cũngnhư toàn bộ nhóm Cơ sở của việc sử dụng các Test tâm lý

Trang 6

Pichot P., 1973; Hamilton M., 1975; Chelov B.M., 1979, Hankin J.R.,

1982 [1], [6], [8], [12] đã nhấn mạnh đến ba khái niệm làm cơ sở cho việc sửdụng các trắc nghiệm tâm lý:

+ Khái niệm quy chuẩn, nghĩa là kết quả thực hiện trắc nghiệm của mộtnhóm đông người, đại diện cho quần thể Đó là chuẩn mực Bất cứ một sựđánh giá cá nhân nào cũng được đánh giá theo những đơn vị chuẩn mực.+ Độ tin cậy của trắc nghiệm, nghĩa là sự ổn định của các kết quả thuđược bằng trắc nghiệm

+ Tính hiệu lực của trắc nghiệm, đó là vấn đề trắc nghiệm đo được cái

mà nó phải nghiên cứu và đo lường một cách có hiệu lực đến mức nào

Như vậy trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá,dùng để đo lường khách quan một hay nhiều khía cạnh của cá nhân trong mộtquần thể cần nghiên cứu qua những mẫu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngônngữ hoặc những loại hành vi khác

Một test tâm lý tốt sử dụng trong lâm sàng có hiệu lực đánh giá haykhông còn tuỳ thuộc vào người sử dụng test Bởi vì, test tâm lý là một công

cụ đo lường có tính khách quan, còn sự đánh giá của người sử dụng test làmang tính chủ quan Do đó, việc sử dụng test đòi hỏi người sử dụng testkhông những phải có trình độ hiểu biết tâm lý học sâu sắc, mà còn phải có taynghề thành thạo, biết đánh kết quả ở từng đối tượng trong từng tình huốnghoàn cảnh nhất định Người sử dụng test phải biết chọn được những test nàophù hợp cho đối tượng; biết tiếp xúc làm tâm lý với đối tượng để họ tựnguyện làm test; biết khuyến khích và động viên họ làm test, để họ thổ lộ hếttâm tư tình cảm, cảm xúc và năng lực trí tuệ của họ trong khi làm test

Người sử dụng test cần phải có kinh nghiệm lâm sàng để có thể đốichiếu, nhận định kết quả của test với những dấu hiệu lâm sàng đặc trưng Nếu

Trang 7

kết quả của test phù hợp với lâm sàng, thì cho phép kết luận là đúng; nhưngnếu trái ngược thì cần phải nhận định rằng, kết quả đó bị sai lệch là do yếu tốnào liên quan.

Trong một số trường hợp cần thiết, có thể tiến hành làm nhiều test để sosánh đối chiếu, nhằm đánh giá được một cách chính xác hơn với những kinhnghiệm lâm sàng thông thường

3 Vai trò các test tâm lý và giá trị của nó

Các test tâm lý nói chung được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựckhác nhau

Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, người ta đã sử dụng các testtâm lý nhằm đo lường đánh giá mức độ trí tuệ, các năng khiếu, sở thích,những đặc điểm nhân cách của từng thành viên trong quần thể; từ đó để tuyểnchọn vào những nghề nghiệp thích hợp hoặc phân bổ đúng vị trí và năng lựccủa họ là cần thiết

Trong lĩnh vực y học, trong nhiều tình huống, các thầy thuốc lâm sàngtìm đến sự giúp đỡ của các test Khi được sử dụng thích đáng, các test chẩnđoán có thể giúp nhiều cho các thầy thuốc lâm sàng Các test có ích để sànglọc, xác định các yếu tố nguy cơ cho bệnh và phát hiện bệnh kín đáo ở nhữngngười không có triệu chứng, hoặc triệu chứng rất mờ nhạt, không rõ ràng.Việc xác định các yếu tố nguy cơ có thể cho phép can thiệp sớm để ngăn ngừabệnh xẩy ra và phát hiện sớm bệnh kín đáo có thể làm giảm tỷ lệ bệnh và tỷ lệ

tử vong do được điều trị sớm

Test tâm lý không những hỗ trợ cho chẩn đoán lâm sàng mà còn gợi mởhướng điều trị và đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị

Trang 8

Trong tâm thần học, các test tâm lý đã góp phần hỗ trợ cho chẩn đoánlâm sàng do lực test lượng hoá được các triệu chứng học tâm bệnh lý, giúpxác định hoặc loại bỏ sự có mặt của bệnh ở những người có triệu chứng Một

số test giúp chẩn đoán sớm sau khi các triệu chứng và dấu hiệu bắt đầu xuấthiện (test trí tuệ), các test khác giúp chẩn đoán phân biệt các rối loạn có khảnăng xẩy ra (test lo âu, test trầm cảm), một số test nữa giúp xác định giaiđoạn, mức độ nặng nhẹ của bệnh (test BECK), v.v Test tâm lý làm cho côngviệc chẩn đoán không trở nên đơn điệu, làm tăng thêm niềm tin của bệnh nhânđối với thầy thuốc và chúng cũng là liệu pháp tâm lý có hiệu quả

Thêm nữa, giá trị của test tâm lý còn được nhận thấy trong nghiên cứu.Mỗi một nghiên cứu chỉ có thể cung cấp những kết luận tạm thời; nhưng nếungười ta làm lại test nhiều lần để cho kết luận được vững vàng hơn, thì thôngtin khai thác được không những sẽ có giá trị của một tiến bộ lớn về phươngdiện lý thuyết, mà thông tin này còn mang một tầm quan trọng to lớn hơn vềphương diện điều trị Và chính đây là một trong những lý do để khẳng địnhgiá trị việc sử dụng test đánh giá trong lâm sàng

Như vậy, giá trị của test tâm lý là phục vụ cho nhiều mục đích, nhưngcần được sử dụng thích ứng một cách riêng biệt cho từng mục đích khác nhau,

ví dụ: chẩn đoán, đánh giá trạng thái lâm sàng, đánh giá hiệu quả điều trị, tiênlượng bệnh, v.v

II CÁC TEST TÂM LÝ HỖ TRỢ CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG CÁCRỐI LOẠN TRẦM CẢM SỬ DỤNG TRONG LĨNH VỰC TÂM THẦNHỌC

Đã từ lâu người ta sử dụng các test tâm lý trong tâm thần học như mộtcông cụ nhằm đo lường các triệu chứng học tâm thần; cho phép đánh giá tìnhtrạng tâm thần của người bệnh: trí nhớ, trí tuệ, cảm xúc, nhân cách Việc sử

Trang 9

dụng các test tâm lý đánh giá nhằm hỗ trợ chẩn đoán trong thực hành tâmthần học ngày càng nhiều và thường xuyên hơn Ngày nay chúng ta có nhữngtest tâm lý được các thầy thuốc thâm thần say mê nghiên cứu lâm sàng chấpnhận một cách rõ rệt: thang đo trí tuệ bằng Test WISC: WerchslerInterllingence Scale Por Chindren – 1949, và Test WAIS: Werchsler AdultInterllingence Scale – 1955 (David Wechsler – 1939, 1949, 1955); bậc thang

tự đánh giá lo âu của Zung – Self Rating anxiety Scale – SAS” (W.K.Zung –1980) v.v

Trong thực hành chẩn đoán các rối loạn trầm cảm, việc sử dụng các testtrầm cảm ngày càng nhiều và thường xuyên hơn Khi tiếp cận với thực tế lâmsàng bệnh nhân nghi có rối loạn trầm cảm có thể cho phép đặt ra những câuhỏi: tại sao các nhà tâm thần học sử dụng test trầm cảm để xác định các rốiloạn trầm cảm? xác định điểm số cho các mức độ rối loạn trầm cảm khácnhau (nhẹ, vừa nặng)? Vậy, các nhà nghiên cứu trắc nghiệm tâm lý đã dựatrên cơ sở khoa học nào để xây dựng các thang điểm đánh giá rối loạn trầmcảm? Để làm sáng tỏ những câu hỏi trên, cần thiết tìm hiểu các thang đánh giátrầm cảm

1 Những thang đánh giá trầm cảm

Những thang nào có liên quan đến việc lượng hoá các triệu chứng trầmcảm, được dùng để hỗ trợ lâm sàng xác định các rối loạn trầm cảm và cácmức độ diễn biến của nó thì được gọi là thang đánh giá trầm cảm

Nếu sử dụng những thang đánh giá trầm cảm cùng với phương pháp hệthống hoá chuẩn sẽ cho phép nhà tâm thần học có thể dễ dàng tiến hành phânloại những triệu chứng trầm cảm của một bệnh nhân Kiểu thang đánh giáthông dụng nhất là thang dành để tạo dựng nên “tình trạng” của các bệnhnhân; kiểu thang này nhằm để đánh giá tất cả mọi thay đổi có thể xẩy ra, kể cả

Trang 10

những thay đổi sau khi bệnh nhân được điều trị Kiểu thang đầu tiên đượcquan tâm đến hiện nay là kiểu để chẩn đoán bệnh Thang dùng vào mục đíchnày cung cấp những thông tin cần thiết để xếp loại một trường hợp bệnh ởmức gần đúng nhất Thang này bao gồm nhiều triệu chứng liên quan đến quátrình phát sinh và diễn biến của bệnh (Pichot P., 1973) [12].

Khởi đầu chỉ là “các thang đánh giá” có bản chất rất chung chung, vìchúng được dành cho việc quan sát những mặt khác nhau về hành vi củanhững bệnh nhân tâm thần nội trú hoặc ngoại trú dù là chẩn đoán thế nào

“Thang đánh giá tâm thần” (PRS: Psychiatric Rate Scale) của Wittenbortkhởi thảo năm 1951 – 1955 được các nhà tâm thần học sử dụng và được sửachữa lại hoàn thiện vào năm 1964 “Thang đa kích thước để đánh giá các bệnhtâm thần” (MSRPP: Multidinenional Scale for Rating Psychiatric Patients)của Lorr và cộng sự xây dựng năm 1953, và được sửa chữa lại trở thành

“Thanh đánh giá đa kích thước bệnh tâm thần nội trú” (IMPS: InpatientMultidiménional Psychiatric Scale) vào năm 1963

Những thang đánh giá của Wittenbort và Lorr chứa đựng những đề mụcliên quan đến những khía cạnh khác nhau của triệu chứng học trầm cảm, vàđến sự phân tích những yếu tố đã được thực hiện, cho phép phân lập ra đượcnhững nhóm đề mục cấu tạo nên những thang triệu chứng đánh giá Đó lànhững công cụ để đo lường mức độ của triệu chứng trầm cảm Thí dụ, đề mục

“Trầm cảm” và “Lo âu” trong “Thang đánh giá tâm thần” (PRS), đề mục

“Trầm cảm chậm chạp” và “Kích động sầu uất” trong thang MSRPP, đề mục

“Chậm chạp và lãnh đạm” trong thang IMPS… Những thang này cho phépghi nhận một số triệu chứng liên quan đến rối loạn trầm cảm

Vào những năm 1960, người ta thấy xuất hiện những thang đánh giádùng đặc biệt cho việc nghiên cứu những trường hợp rối loạn trầm cảm

Trang 11

(Pichot P., 1973; Montgomery S.A., 1979; Baldwin R.C., 1995) [5], [11],[12]: “Thang nghiên cứu tác dụng của thuốc Imipramin”, do Lehmann xâydựng năm 1958; “Thang những hiện tượng trầm cảm” của Grin Ker xây dựngnăm 1961, nhằm thống kê những triệu chứng trầm cảm; và một số thang đánhgiá rối loạn trầm cảm khác cũng ra đời, như “Thang lượng hoá các phản ứngtrầm cảm” của Cutler và Kurland, 1961; “Thang đánh giá trạng thái trầmcảm” của Wechsles năm 1963; v.v.

Có rất nhiều thang đánh giá trầm cảm, nhưng trong đó thang đánh giátrầm cảm được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, đó là thang đánh giá trầmcảm của Hamilton và Beck, và bản câu hỏi tự đánh giá về nhân cách nhiềupha của Minnesota (MMPI)

1.1 Thanh đánh giá trầm cảm của Hamilton, ra đời năm 1960,thường được viết tắt theo các chữ cái đầu từ của tiếng Anh là HDRS(Hamilton Depression Rating Scale) hoặc HAMD (Hamilton Depression).Thang này thể hiện một phương pháp đơn giản để đánh giá bằng địnhlượng mức độ nghiêm trọng của tình trạng trầm cảm, và để chứng minhnhững chuyển biến của rối loạn này trong quá trình điều trị Thanh đánh giátrầm cảm của Hamilton không phải là một công cụ nhằm mục đích chẩn đoán.Lịch sử của thang đánh giá trầm cảm Hamilton

Thang đánh giá này mới đầu đã được nghĩ ra để đo lường những thay đổi

về cường độ của những triệu chứng trầm cảm trong thử nghiệm lâm sàngnhững thuốc chống trầm cảm Tác giả không có ý định xây dựng một bản đềmục với hết thảy mọi triệu chứng trầm cảm; tuy nhiên, thang đánh giá đượccấu tạo một mặt bởi những triệu chứng rất hay quan sát thấy trong bệnh nhântrầm cảm, mặt khác bởi những triệu chứng ít xảy ra hơn, nhưng khi xuất hiện

Trang 12

thì chúng cho phép xác định được mỗi thể lâm sàng riêng biệt của rối loạntrầm cảm.

Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton có nhiều phiên bản khác nhau.Phiên bản gốc có 21 đề mục (Hamilton, 1960) Phiên bản được tác giả coi làvĩnh viễn có 17 đề mục (Hamilton, 1967)

Kiểu cấu trúc Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton

Trong cấu trúc của thang đánh giá, 17 đề mục được giữ lạitrong phiên bản mà ông coi như vĩnh viễn là những đề mụcđại diện tốt nhất cho triệu chứng học của rối loạn trầm cảm.Theo tác giả, điểm tổng cộng phản ánh được cường độ chungcủa hội chứng trầm cảm 17 đề mục được giữ lại trong phiênbản để cho điểm những triệu chứng sau đây:

1 Khí sắc trầm

2 Cảm giác tội lỗi 10 Lo âu (triệu chứng tâm lý)

3 Tự sát 11 Lo âu (triệu chứng cơ thể)

4 Mất ngủ (lúc ban đầu) 12 Triệu chứng cơ thể (dạ dày – ruột)

5 Mất ngủ (vào giữa đêm) 13 Triệu chứng cơ thể chung

Trang 13

Có 4 đề mục được thêm vào, hình thành một thang đánh giá Hamilton cócấu trúc 21 mục, đó là:

18 Những biến động trong ngày

19 Giải thể nhân cách, tri giác sai thực tại

20 Triệu chứng hoang tưởng

21 Triệu chứng ám ảnh cưỡng bức

Các đề mục này tương đương với những triệu chứng ít gặp hơn, khôngnhất thiết tương quan với cường độ chung của hội chứng trầm cảm, nhưng lạixuất hiện trong một số thể trầm cảm

Ở Mỹ, có 3 đề mục bổ sung của phiên bản thực nghiệm, đó là: tình cảmbất lực, tình cảm vô hi vọng, và tình cảm giá trị Thêm 3 đề mục này, thangđánh giá trở nên có cấu trúc 20 đề mục Các đề mục này chúng tỏ mối quantâm của các tác giả muốn tăng thêm số lượng những đề mục “đặc hiệu” củarối loạn trầm cảm

Như vậy, Thang đánh giá trầm cảm được Hamilton dựng lên một “tìnhtrạng” với đầy đủ các khía cạnh rối loạn trầm cảm có trên các bệnh nhân.Thang được coi như “bức tránh” hiện thực sinh động, là những đề mục đạidiện cho triệu chứng lâm sàng của người bệnh rối loạn trầm cảm

Xây dựng cách đánh giá và cho điểm thang trầm cảm Hamilton cấu trúc

21 đề mục

Thang đánh giá được điền vào trong những phút tiếp sau một cuộc tiếpxúc, trong đó thầy thuốc lâm sàng tìm cách phát hiện những triệu chứng trầmcảm chính thức, chứ không phải những biến đổi không rõ ràng về khí chất.Phải đặt những câu hỏi cho bệnh nhân theo quan niệm này Những dữ liệu lâmsàng thu được bằng cách như vậy có thể được bổ sung, nếu cần, từ những

Trang 14

thông tin do người thân của bệnh nhân cung cấp Thời lượng của cuộc tiếpxúc cần thiết để điền vào những đề mục của thang đánh giá nhằm đáp ứng đầy

đủ tập hợp các triệu chứng phải kéo dài tối thiểu là 20 phút

Hamilton tính điểm từ các đề mục cụ thể Thang đánh giátrầm cảm được cho điểm sau khi đã hoàn thành phỏng vấn.Cuộc phỏng vấn bệnh nhân phải dựa vào cấu trúc của thang

21 đề mục, trong đó thông tin mỗi đề mục có thể quan sátđược cũng như để cho điểm các lời than phiền của bệnh nhân.Điểm tổng cộng được phản ánh cường độ chung của rối loạntrầm cảm Dựa vào kết quả số điểm, người thầy thuốc tâmthần có thể xác định tình trạng bệnh lý chung của người bệnh

có rối loạn trầm cảm ở mức độ nào

Đề mục Điểm số Triệu chứng

1 0 – 4 Khí sắc trầm

2 0 – 4 Cảm giác tội lỗi

3 0 – 4 Tự sát

4 0 - 2 Mất ngủ (lúc đầu của đêm)

5 0 – 2 Mất ngủ (vào giữa đêm)

6 0 – 2 Mất ngủ (về sáng)

7 0 – 4 Công việc và hoạt động

8 0 – 4 Chậm chạp

9 0 – 4 Kích động

10 0 – 4 Lo âu (triệu chứng tâm lý)

11 0 – 4 Lo âu (triệu chứng cơ thể)

12 0 - 2 Triệu chứng cơ thể (dạ dày – ruột)

13 0 – 2 Triệu chứng cơ thể chung

14 0 – 2 Triệu chứng sinh dục

15 0 – 4 Nghi bệnh

Trang 15

16 0 - 2 Sút cân

17 0 – 2 Mất sự thấu hiểu

18 0 – 2 Thay đổi trong ngày và đêm

19 0 – 4 Giải thể nhân cách, tri giác sai thực tại

20 0 – 4 Triệu chứng hoang tưởng

21 0 - 2 Triệu chứng ám ảnh cưỡng bức

Mỗi đề mục của thang đánh giá được cho điểm từ 0 đến 2 hoặc từ 0 đến

4 Điểm tổng cộng của phiên bản 17 đề mục (không tính 4 mục cuối) là từ 0đến 52 điểm

Những điểm cho từ 0 đến 4 tương đương lần lượt với các triệu chứngnhư sau: không có triệu chứng; triệu chứng nghi ngờ hoặc không có ý nghĩa;triệu chứng nhẹ; triệu chứng vừa và triệu chứng nặng

Những điểm cho từ 0 đến 2 tương đương với những mức độ triệu chứngsau: không có triệu chứng; triệu chứng nghi ngờ hoặc không đáng kể và triệuchứng biểu hiện rõ ràng

Cách cho điểm dựa tren những dữ liệu của cuộc tiếp xúc, cũng như cáctriệu chứng được bệnh nhân trình bày chi tiết hiện tại xảy ra trong quá trìnhmột tuần lễ vừa qua

Nhiều tác giả đã sử dụng điểm tổng cộng của thang đánh giá trầm cảmcủa Hamilton làm tiêu chuẩn trong những thử nghiệm trị liệu thuốc chốngtrầm cảm Việc sử dụng này hàm ý là điểm tổng cộng của thang đánh giá phảnảnh trung thành cho tổng thể những triệu chứng trầm cảm

Những điểm mốc đối với trầm cảm như sau:

+ Điểm tổng cộng đến dưới 14: không có trầm cảm

+ Điểm tổng cộng từ 14 đến 18: trầm cảm nhẹ

Trang 16

+ Điểm tổng cộng từ 19 đến 25: trầm cảm vừa

+ Điểm tổng cộng từ 25 trở lên: trầm cảm nặng

Điểm tổng cộng ngưỡng là 14 được nhiều tác giả chấp thuận để xác định

có biểu hiện trầm cảm, tức là có đầy đủ triệu chứng trầm cảm rõ ràng

Những nghiên cứu hợp thức hoá thang trầm cảm Hamilton

Những nghiên cứu hợp thức hoá thang đánh giá trầm cảm Hamiltonkhông phải chỉ giới hạn ở những phép tính tương quan giữa một điểm tổngcộng với một tiêu chuẩn của đề mục ghi lại được, để coi như đó là sự đánh giátổng thể của tình trạng trầm cảm trên bệnh nhân Theo Hamilton [6], cácnghiên cứu hợp thức hoá bên trong của thang đánh giá sử dụng cách phân tíchcác triệu chứng trong việc tìm ra một số triệu chứng chung của trầm cảm,hoặc những triệu chứng riêng biệt đối với các mẫu chọn khác nhau Phân tíchkhởi đầu của Hamilton về thang đánh giá 17 đề mục, khi nghiên cứu 272 bệnhnhân, đã chứng minh được 6 triệu chứng riêng biệt: chứng lo âu – cơ thể hoá;những thay đổi về trọng lượng cơ thể; những rối loạn về nhận thức; nhữngbiến động về chu kỳ ngày đêm; sự chậm chạp; và những rối loạn giấc ngủ.Một số công trình nghiên cứu khác về vấn đề này cũng đa đi tới kết luậnrằng, 6 đề mục của thang đánh giá Hamilton tương quan đủ với đánh giá tổngthể rối loạn trầm cảm và như vậy đáp ứng được những tiêu chuẩn chẩn đoántrầm cảm, đó là khí sắc trầm cảm; tự sát; công việc và hoạt động; sự chậmchạp; lo âu tâm lý; và những triệu chứng về cơ thể chung

Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả nhận định 6 đề mục này là đại diệncho “hạt nhân trầm cảm” trong thang đánh giá của Hamilton

Ứng dụng và những hạn chế của thang đánh giá trầm cảm Hamilton

Ngày đăng: 21/03/2021, 19:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Trọng Thuỷ (1992), khoa học chẩn đoán tâm lý, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: khoa học chẩn đoán tâm lý
Tác giả: Trần Trọng Thuỷ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
2. Tổ chức y tế thế giới (1997), Bản phỏng vấn chẩn đoán quốc tế kết hợp (CIDI), Giơnevơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản phỏng vấn chẩn đoán quốc tế kết hợp (CIDI)
Tác giả: Tổ chức y tế thế giới
Nhà XB: Giơnevơ
Năm: 1997
3. Tổ chức y tế thế giới (1992), Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi. Giơnevơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi
Tác giả: Tổ chức y tế thế giới
Nhà XB: Giơnevơ
Năm: 1992
5. Baldwin R.C, Tomenson B (1995), " Depression in later life. A comparison of symptoms and risk factors in carly and late onset cases", Br - J - Psychiatry, 167 (5), pp 649-652 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression in later life. A comparison of symptoms and risk factors in carly and late onset cases
Tác giả: Baldwin R.C, Tomenson B
Nhà XB: Br - J - Psychiatry
Năm: 1995
6. Hamilton. M (1975), "lesechelles dappreciation loes de depression", Etats depressigs, Berne Stuttgart Vienne, pp.100 -108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: lesechelles dappreciation loes de depression
Tác giả: Hamilton. M
Năm: 1975
7. Hall R.C, Gardner E.R, Stickney S.K et al (1980), " Physical illness manifesting as psychiatric disease.II. Analysis of a state hospital inpatient population", Arch -Gen- Psychiatry, 37 (9), pp. 989-995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physical illnessmanifesting as psychiatric disease.II. Analysis of a state hospital inpatientpopulation
Tác giả: Hall R.C, Gardner E.R, Stickney S.K et al
Năm: 1980
9. Hanrdy P. (1991), " Depressions et maladies somatiques", La depression études. Masson Paris Milan Barcelone Bonn, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depressions et maladies somatiques
Tác giả: Hanrdy P
Nhà XB: Masson Paris Milan Barcelone Bonn
Năm: 1991
10. Kessler R.C, Gonagle K.A, Zhao S. (1994), " Lifetime and 12 - month prevalence of DSM - IIIR psychiatric disorders in the United States.Results from the National Comrbidity Survey", Arch - Gen -Psychiatry, 51 (1), pp.8-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lifetime and 12 -month prevalence of DSM - IIIR psychiatric disorders in the United States.Results from the National Comrbidity Survey
Tác giả: Kessler R.C, Gonagle K.A, Zhao S
Năm: 1994
11. Montgomery S.A, Asberg M (1979), "A new depression scale designed to be sensitive to change" , Br -J - Psychiatry, 134,.pp. 382-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new depression scaledesigned to be sensitive to change
Tác giả: Montgomery S.A, Asberg M
Năm: 1979
12. Pichot. P. (1973),"Le probleme de lappreciation quantitative des symitimes depressifs", Etats depressifs, 3 (2), pp. 74-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le probleme de lappreciation quantitative dessymitimes depressifs
Tác giả: Pichot. P
Năm: 1973
13. Sireling L.I (1985), " Depression in genneral practice: Casethesholds and diagnosis", BR - J - Psychiatry, 147, P. 113-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression in general practice: Casethesholds and diagnosis
Tác giả: Sireling L.I
Nhà XB: BR - J - Psychiatry
Năm: 1985
14. Sveger. T, Thelin, T (1997) " Young adults withj alpha 1 - antitrypsin deficiency indentified neonatally: their health, knowledge about and adptation to the high - risk condition", Acta - Paediatr, 86 (1), pp.37-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Young adults with alpha 1 - antitrypsin deficiency identified neonatally: their health, knowledge about and adaptation to the high - risk condition
Tác giả: Sveger, T, Thelin, T
Nhà XB: Acta - Paediatr
Năm: 1997
4. American Psychiatric Association, DSM -IV (1994), Diagnostic and statistical manual of Mental disorders Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w