Kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng có helicobacter pylori dương tính bằng phác đồ alp tại bệnh viện a thái nguyên Kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng có helicobacter pylori dương tính bằng phác đồ alp tại bệnh viện a thái nguyên luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN THỊ QUYẾT
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG CÓ HELICOBACTER PYLORI DƯƠNG TÍNH BẰNG PHÁC ĐỒ
ALP TẠI BỆNH VIỆN A THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, năm 2016
Người cam đoan
Nguyễn Thị Quyết
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Bộ môn Nội Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, các khoa, phòng Bệnh viện A Thái Nguyên, nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Dương Hồng Thái - Trưởng bộ môn Nội, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên - người thầy luôn tận tình dành nhiều thời gian hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ CKII Nội khoa
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy, các Cô trong
bộ môn của trường đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi
Với tình cảm thân thương nhất dành cho những người thân yêu trong toàn thể gia đình, anh em, bạn bè - những người đã tạo điều kiện tốt nhất, là điểm tựa, nguồn động viên tinh thần giúp tôi thêm niềm tin và nghị lực trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu này
Thái Nguyên, 2016
Học viên
Nguyễn Thị Quyết
Trang 4ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
EAC : Esomeprazole, Amoxicillin, Clarithromycin
EAL : Esomeprazole, Amoxicillin, Levofloxacin
ELISA : Enzyme linked immunosorbent asay - Xét nghiệm hấp thụ
miễn dịch liên kết với enzyme GERD : Gastro-oesophageal reflux disease - Bệnh trào ngược dạ
dày thực quản
HE : Hematoxylin - Eosin
NSAID : Non-steroid anti-inflammatory drug - Thuốc chống viêm
không Steroid OAL : Omeprazole, Amoxicillin, Levofloxacin
PCR : Polymerase chain reaction - Phương pháp sinh học phân tử PPI : Proton pump inhibitors - Thuốc ức chế bơm Proton
RAC : Rabeprazole, Amoxicillin, Clarithromycin
RLT : Rabeprazole, Levofloxacin, Tinidazole
RUT : Rapid urease test - Test urease nhanh
UBT : Urea Breath Test - Test urease đường thở
UTDD : Ung thư dạ dày
TDB : Tripotasium dicitrato bismuth
WHO : World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Loét dạ dày tá tràng do Helicobacter pylori 3
1.2 Vi khuẩn Helicobacter pylori và loét dạ dày tá tràng 12
1.3 Một vài nét về thuốc Levofloxacin 22
1.4 Các phác đồ điều trị Helicobacter pylori hiện nay và hiệu quả điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori trên bệnh nhân loét dạ dày tá tràng 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.5 Một số tiêu chí đánh giá và phác đồ sử dụng trong nghiên cứu 35
2.6 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu 36
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 43
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và nội soi của đối tượng nghiên cứu 45
3.2 Kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng có Helicobacter pylori dương tính bằng phác đồ ALP 53
Chương 4 BÀN LUẬN 63
4.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 63
4.2 Đặc điểm về hình ảnh nội soi của đối tượng nghiên cứu 67
4.3 Kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng có Helicobacter pylori dương tính bằng phác đồ ALP 70
Trang 6KẾT LUẬN 81
1 Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh nội soi bệnh nhân loét dạ dày tá tràng điều trị tại bệnh viện A Thái Nguyên 81
2 Kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng nhiễm Helicobacter pylori (+) bằng phác đồ ALP 81
KHUYẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
DANH SÁCH BỆNH NHÂN
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 45
Bảng 3.2 Đặc điểm dân tộc của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 3.3 Đặc điểm yếu tố thuận lợi của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.4 Đặc điểm triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân loét DDTT 47
Bảng 3.5 Đặc điểm xét nghiệm công thức máu ở ĐTNC 48
Bảng 3.6 Đặc điểm xét nghiệm ure và creatinine của đối tượng nghiên cứu 48
Bảng 3.7 Đặc điểm vị trí ổ loét ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng 49
Bảng 3.8 Phân bố hình thái loét dạ dày tá tràng theo số lượng ổ loét 50
Bảng 3.9 Kích thước ổ loét bệnh nhân loét dạ dày tá tràng 51
Bảng 3.10 Phân bố triệu chứng lâm sàng theo hình thái loét 51
Bảng 3.11 Phân bố triệu chứng lâm sàng theo số lượng ổ loét 52
Bảng 3.12 Kết quả tiệt trừ H pylori theo vị trí ổ loét 53
Bảng 3.13 Kết quả tiệt trừ H pylori theo số lượng ổ loét 54
Bảng 3.14 Kết quả tiệt trừ H pylori theo kích thước ổ loét 54
Bảng 3.15 Kết quả điều trị lành ổ loét 54
Bảng 3.16 Kết quả lành ổ loét theo vị trí ổ loét 55
Bảng 3.17 Kết quả lành ổ loét theo số lượng ổ loét 55
Bảng 3.18 Kết quả lành ổ loét theo kích thước 56
Bảng 3.19 Kết quả tiệt trừ Helicobacter pylori và mức độ lành ổ loét 56
Bảng 3.20 Thay đổi các triệu chứng lâm sàng sau điều trị tiệt trừ H pylori 57
Bảng 3.21 Thay đổi các triệu chứng lâm sàng sau điều trị lành ổ loét 58
Bảng 3.22 Tác dụng không mong muốn của phác đồ điều trị ALP 59
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa giới và kết quả tiệt trừ H pylori 60
Trang 8Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tuổi bệnh nhân và kết quả tiệt trừ H
pylori 60
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa dân tộc và kết quả tiệt trừ H pylori 61
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thói quen uống rƣợu, hút thuốc và kết quả
tiệt trừ H pylori ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng 61
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh nhân và tiền sử gia đình với
kết quả tiệt trừ H pylori 62
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ nhiễm H pylori và loét hành tá tràng 9
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ nhiễm Helicobacter pylori 13
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 44
Hình 1.1 Hình ảnh Helicobacter pylori 14
Hình 2.1 Máy sinh hóa Olympus - AU400 37
Hình 2.2 Máy Celltac - F 38
Hình 2.3 Máy nội soi dạ dày tá tràng 39
Hình 2.4 Mẫu test H pylori 41
Hình 2.5 Kết quả test H pylori 41
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới của đối tƣợng nghiên cứu 45
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp của đối tƣợng nghiên cứu 46
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm kết quả nội soi ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng 49
Biểu đồ 3.4 Đặc điểm số lƣợng ổ loét ở bệnh nhân nghiên cứu 50
Biểu đồ 3.5 Kết quả điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori chung ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng sau điều trị bằng phác đồ ALP 53
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày tá tràng là một trong các bệnh phổ biến ở đường tiêu hóa Bệnh có tỉ lệ mắc tại một số nước như Mỹ là 1,9%; Nga là 3 - 4% [63], [75] Ở Việt Nam, theo báo cáo sơ bộ cho thấy khoảng 5% dân số có triệu chứng của bệnh loét dạ dày tá tràng [1], [36] Bệnh loét dạ dày tá tràng có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở tuổi 20 - 40 Bệnh hay gặp ở nam hơn so với nữ (tỉ lệ 3:1) và tỉ lệ bệnh loét tá tràng cao hơn tỉ lệ loét dạ dày [1], [36]
Bệnh loét dạ dày tá tràng do nhiều nguyên nhân phối hợp gây ra Một
trong những nguyên nhân quan trọng gây bệnh là do vi khuẩn Helicobacter
pylori [66], [70], [74] Việc phát hiện ra vi khuẩn Helicobacter pylori trong
bệnh loét dạ dày tá tràng đã kéo theo cả một cuộc cách mạng trong lĩnh vực điều trị bệnh, làm thay đổi quan niệm bệnh lý dạ dày tá tràng từ không phải
do nhiễm khuẩn chuyển sang do nhiễm khuẩn Sau đó là việc dùng thuốc điều
trị tiệt trừ Helicobacter pylori đã chữa lành và cải thiện rõ rệt tiên lượng cho
các bệnh nhân loét dạ dày tá tràng [77]
Có nhiều phác đồ thuốc điều trị tiệt trừ vi khuẩn Helicobacter pylori
trong loét dạ dày tá tràng Phác đồ hay gặp là phối hợp thuốc ức chế bơm
proton và hai kháng sinh đã có hiệu quả cao trong điều trị tiệt trừ Helicobacter
pylori [19], [54], [55] Nghiên cứu của Lin T và cs (1996) ở Châu Âu với
phác đồ phối hợp Omeprazole, Amoxicillin và Clarithromycin cho kết quả
điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori đến 96% [73]
Tuy nhiên càng về sau, tỉ lệ điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori thành
công ngày càng giảm Nghiên cứu của Trần Thiện Trung và cộng sự (2009)
thì hiệu quả tiệt trừ H pylori bằng phác đồ phối hợp Esomeprazole,
Amoxicillin và Clarithromycin chỉ đạt 65,1% [39] Nghiên cứu của Shinozaki
S và cộng sự (2016) sử dụng phác đồ phối hợp Rabeprazole, Amoxicillin và
Clarithromycin cho tỉ lệ tiệt trừ Helicobacter pylori đạt khoảng 80% [86]
Trang 12Nguyên nhân gây giảm hiệu quả tiệt trừ Helicobacter pylori chính là do sự kháng kháng sinh của Helicobacter pylori Tình trạng kháng kháng sinh của
vi khuẩn Helicobacter pylori ngày càng được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu
[27], [76], [77], [78] Vì vậy, thực hành điều trị viêm loét dạ dày tá tràng do
nhiễm Helicobacter pylori đã có nhiều thay đổi [89], [94] Theo quan điểm
hiện nay, trong trường hợp điều trị thất bại lần đầu với phác đồ bộ ba, có thể: kéo dài thời gian điều trị với phác đồ này lên 14 ngày; hoặc việc điều trị tiếp theo có thể dùng phác đồ 4 thuốc (Esomeprazole, Bismuth, Metronidazole, Tetracycline) trong 14 ngày; hoặc sử dụng một trong những loại kháng sinh mới như Levofloxacin, Furazolidone, Rifabutin thay thế cho các kháng sinh
trong phác đồ 3 thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori [26], [56], [85], [87]
Levofloxacin là một kháng sinh tổng hợp có phổ rộng thuộc nhóm fluoroquinolon, có tác dụng diệt khuẩn do ức chế sự tổng hợp ADN của vi
khuẩn [45] Đây là kháng sinh có tần suất đề kháng của Helicobacter pylori
thấp nhất trong các nghiên cứu [19] Bệnh viện A là bệnh viện đa khoa của tỉnh Thái Nguyên với quy mô hơn 500 giường bệnh Bệnh viện bắt đầu sử dụng phác đồ phối hợp Amoxicillin, Levofloxacin và Pantoprazol trong điều trị tiệt trừ
Helicobacter pylori cho bệnh nhân loét dạ dày tá tràng từ tháng 01 năm 2015 Câu
hỏi đặt ra là điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng bằng sử dụng thuốc Amoxicillin, Levofloxacin và Pantoprazol tại bệnh viện A Thái Nguyên có kết quả như thế
nào? Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kết quả điều trị loét dạ
dày tá tràng có Helicobacter pylori dương tính bằng phác đồ ALP tại
Bệnh viện A Thái Nguyên” với mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh nội soi bệnh nhân loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện A Thái Nguyên
2 Đánh giá kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng Helicobacter pylori dương tính bằng phác đồ Amoxicillin, Levofloxacin và Pantoprazol
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Loét dạ dày tá tràng do Helicobacter pylori
1.1.1 Khái niệm về loét dạ dày tá tràng
Loét dạ dày tá tràng (DDTT) là tình trạng tổn thương hoại tử mất niêm mạc, phá hủy cơ niêm xuống tới tận hạ niêm mạc hoặc sâu hơn, phần lớn được gây ra bởi axit và pepsin trong dịch vị dạ dày Loét DDTT là một vấn đề sức khỏe lớn bởi số lượng bệnh nhân nhiều, bệnh có thể diễn biến cấp hoặc mạn tính, dễ tái phát, chi phí điều trị cao và bệnh có thể gây một số biến chứng nguy hiểm [65] Loét DDTT do nhiều yếu tố phối hợp gây lên Các
nghiên cứu đã chứng minh vai trò của vi khuẩn Helicobacter pylori (H
pylori), các cơ chế thần kinh và thể dịch, một số thuốc chống viêm không
steroid (NSAID) và các yếu tố khác [22], [23], [36]
1.1.2 Sinh lý bệnh loét dạ dày tá tràng
Loét DDTT được xác định là do nhiều cơ chế gây nên, các cơ chế được
chia thành 3 nhóm chính bao gồm: (i) thuyết cơ bản; (ii) thuyết H pylori và
(iii) các yếu tố thuận lợi gây loét DDTT
1.1.2.1 Sinh lý bệnh loét dạ dày tá tràng theo thuyết cơ bản
Theo thuyết cơ bản, loét DDTT là do vai trò của acid dịch vị, gastrin, dây thần kinh X và pepsin
* Vai trò của acid
Vùng thân vị và đáy vị của dạ dày là nơi có khả năng chế tiết acid chlohydric Mỗi ion H+ được chế tiết kèm theo một ion Cl ˉ Ion H+ được chế tiết bởi quá trình bơm proton có liên quan tới H+ và K+ Chế tiết acid được kích thích bởi gastrin và các sợi thần kinh phó giao cảm hậu hạch, thông qua các thụ thể muscarinic trên tế bào thành Các ion H+ xâm nhập vào lớp nhầy, nhưng chúng bị
Trang 14trung hòa bởi bicarbonate Khi pH < 1, 7 thì vượt quá khả năng trung hoà của nó
và ion H+ đến được lớp niêm mạc dạ dày và gây ra loét
* Vai trò của gastrin
Gastrin là một nội tiết tố được tế bào G ở vùng hang vị chế tiết Gastrin
bị ức chế tiết ra khi dịch dạ dày rỗng, không co bóp hoặc trong môi trường pH thấp < 3,5 thì việc chế tiết gastrin bắt đầu giảm Khi pH = 2 thì việc chế tiết ngừng hẳn, cơ chế tự điều chỉnh chế tiết gastrin cho thấy ở người loét DDTT có gastrin trong máu cao thì có thể trường hợp này loét có nguyên nhân thể dịch
* Vai trò của dây thần kinh X
Dây thần kinh X gây: (i) Tăng tiết acid khi kích thích tế bào thành thông qua các thụ thể muscarinic đối với acetylcholin (ii) Giải phóng gastrin
do kích thích trực tiếp tế bào G và ức chế giải phóng somatostatin từ tế bào D
ở hang vị (iii) Hạ thấp ngưỡng đáp ứng với gastrin trên tế bào thành Đó là chuỗi phản ứng dây truyền, có sự phối hợp hoạt động giữa histamin với gastrin và thần kinh phó giao cảm trên tế bào thành, thông qua các thụ thể đối với histamin, gastrin và acetylcholin để gây tăng tiết acid, làm loét DDTT
* Vai trò của pepsin
Các tác nhân kích thích tiết acid cũng kích thích dạ dày tiết ra pepsinogen Trong môi trường acid của dạ dày, khi độ pH ≤ 6, pepsinnogen trở thành pepsin tiêu đạm Tác dụng phân hủy đạm của pepsin cùng với việc tiết ra acid ở dạ dày gây nên loét Hoạt động của pepsin mạnh ở độ pH = 2, giảm hoạt động khi độ pH > 4 và không hoạt động ở độ pH trung tính hoặc kiềm Pepsinogen được tiết ra còn nhờ hoạt động của acetylcholin và secretin Pepsinnogene dưới tác động của acid HCl biến thành pepsine hoạt động khi
pH < 3, 5 làm tiêu hủy chất nhầy và collagen
1.1.2.2 Sinh lý bệnh loét dạ dày tá tràng theo thuyết Helicobacter pylori
H pylori là một xoắn khuẩn có khả năng di chuyển dễ dàng qua lớp
niêm dịch vào lớp dưới niêm mạc dạ dày H pylori bám dính vào biểu mô tế
Trang 15bào niêm mạc dạ dày, tiết ra nhiều men urease, phân hủy urea thành amoniac trong dạ dày, gây kiềm hóa môi trường xung quanh Amoniac cùng các độc chất tế bào gây tổn thương trực tiếp các tế bào biểu mô dạ dày, gây thoái hóa, hoại tử, long tróc tế bào, tạo điều kiện cho acid - pepsin thấm vào tiêu hủy, gây trợt rồi loét [50], [70], [74]
H pylori gây tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng đồng thời sản xuất ra
amoniac làm môi trường tại chỗ bị acid để gây ra ổ loét Do H pylori gây tổn
thương niêm mạc dạ dày sẽ làm giảm tiết Somatostatin Chất này được sản xuất
từ tế bào D có mặt ở nhiều nơi trong niêm mạc ống tiêu hóa, trong đó có dạ dày Hậu quả làm tế bào thành ở thân vị tăng tiết HCl, kèm theo là tăng hoạt hóa Pepsinogen thành Pepsin Đây là hai yếu tố tấn công chính trong cơ chế bệnh sinh của loét DDTT
Ngoài ra, H pylori sản xuất ra nhiều yếu tố có tác dụng hoạt hóa bạch
cầu đa nhân trung tính, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, giải phóng các yếu
tố trung gian hóa học trong viêm (các Interleukin, các gốc tự do), giải phóng
ra yếu tố hoạt hóa tiểu cầu - một chất trung gian quan trọng trong viêm, làm cho biểu mô phù nề hoại tử, long tróc, bị acid - pepsin ăn mòn dẫn đến trợt rồi
loét Cơ thể bị nhiễm H pylori sản xuất ra kháng thể chống lại H pylori, các
kháng thể này lại gây phản ứng chéo với các thành phần tương tự trên các tế bào biểu mô dạ dày của cơ thể, tăng tổn thương niêm mạc dạ dày [9]
Như vậy tổn thương niêm mạc dạ dày do H pylori gây viêm loét dạ dày
qua 3 cơ chế khác nhau: sự thay đổi sinh lý dạ dày, nhiễm độc trực tiếp từ các sản phẩm của vi khuẩn, các phản ứng viêm với sự giải phóng nhiều sản phẩm
phản ứng độc tố khác nhau Nếu tình trạng nhiễm khuẩn H pylori không được
điều trị thì sau 10 - 20 năm sẽ bị teo niêm mạc dạ dày, làm tăng pH dạ dày lên
6 - 8, các tuyến bị mất, gây viêm teo niêm mạc dạ dày và dị sản ruột [9]
Trang 161.1.2.3 Các yếu tố thuận lợi gây loét dạ dày tá tràng
* Yếu tố gây căng thẳng thần kinh kéo dài (Stress)
Stress là một trạng thái của cơ thể phát sinh khi bị tác động mạnh của các kích thích khác nhau Trong đó cơ thể phải thay đổi đột ngột chương trình hoạt động sinh học nhằm đảm bảo cân bằng nội môi Trạng thái stress gây kích thích hệ thống dưới đồi, tuyến yên, vỏ thượng thận tăng cường bài tiết ACTH và glucocorticoid gây tăng tiết HCl và pepsin, giảm tiết chất nhầy, hoại tử niêm mạc và gây loét
* Tuổi: Loét DDTT có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nghiên cứu cho thấy
rằng lứa tuổi hay gặp hơn cả là từ 20 - 40 tuổi
* Giới: Loét DDTT gặp cả ở nam và nữ nhưng nhiều thống kê cho thấy
rằng tỉ lệ gặp ở nam thường cao hơn so với nữ Tỉ lệ này được giải thích bởi
sự phù hợp về tỉ lệ giới tính của các bệnh đường tiêu hoá nói chung
* Nhóm máu: Khi điều tra về nhóm máu ở bệnh nhân loét người ta đã
phát hiện ra nhóm máu O (hệ ABO) chiếm một tỉ lệ cao hơn so với các nhóm máu khác ở những bệnh nhân bị loét DDTT
* Rượu: Khi uống rượu, thức uống này đi qua các đoạn của ống tiêu hóa
sẽ làm biến đổi cấu trúc cũng như chức năng, rượu có thể làm biến tiết acid của dạ dày gây ra tổn thương cấp tính ở niêm mạc dạ dày Ngoài ra rượu còn kích thích sự tiết acid dạ dày bởi các sản phẩm phụ của quá trình lên men, rượu làm giảm sự tạo thành các Prostaglandin bảo vệ có thể đóng vai trò trong tổn thương niêm mạc dạ dày
* Thuốc lá: Nhiều kết quả điều tra cho thấy số lượng thuốc lá tiêu thụ
trong dân song hành với tỉ lệ loét DDTT của dân trong vùng, tuy nhiên số lượng thuốc hút hàng ngày ở từng cá nhân liên quan nhiều tới loét dạ dày hơn
là so với loét hành tá tràng Số lượng thuốc hút mỗi ngày càng lớn càng làm tăng nguy cơ của loét và chảy máu DDTT Nghiên cứu cho thấy rằng khói thuốc lá làm giảm khả năng bảo vệ của niêm mạc như làm giảm lưu lượng vi
Trang 17tuần hoàn, giảm sản xuất ion bicarbonat, giảm tổng hợp prostaglandin và giảm hoạt tính của một số enzym ở niêm mạc dạ dày tá tràng như các enzym tổng hợp nitric oxyd (là chất có vai trò quan trọng trong sửa chữa và liền sẹo vết loét) Do đó làm tăng nguy cơ của loét và biến chứng chảy máu
* Thuốc chống viêm giảm đau Nonsteroid (NSAID)
Prostaglandin là chất trung gian hóa học gây viêm, quá trình tổng hợp Prostaglandin cần sự tham gia của men cyclooxygenase (COX), COX gồm 2 đồng phân là COX - 1 và COX - 2 COX - 1 là men tham gia tổng hợp Prostaglandin có tác dụng bảo vệ (bảo vệ tế bào dạ dày, ổn định nội mạch mạc, kết tụ tiểu cầu, chức năng thận), COX - 2 tổng hợp các Prostaglandin gây ra các triệu chứng viêm Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) tác động trực tiếp tại chỗ lên niêm mạc dạ dày, mặt khác tác động toàn thể thông qua ức chế COX - 1, chúng làm thay đổi tính thấm của niêm mạc, cản trở tổng hợp Prostaglandin Khi thiếu hụt các Prostaglandin bảo vệ dạ dày, sẽ xảy ra các hiện tượng như: giảm lượng máu vi tuần hoàn trong dạ dày, rối loạn điều hòa các phân tử kết dính nội bào CD11/CD18, tăng kết dính bạch cầu đa nhân Điều này dẫn tới thiếu máu cục bộ hoặc giải phóng các gốc tự do
và men tiêu protein, tăng khuyếch tán ion H+
và pepsin
Loét DDTT thường gặp một ổ loét đôi khi gặp 2 - 4 ổ loét, có khi ổ loét mới cạnh ổ loét cũ Loét DDTT được chia ra loét mới, loét cũ, loét xơ chai và loét sẹo [50], [70], [74]
1.1.3 Triệu chứng loét dạ dày tá tràng
1.1.3.1 Triệu chứng lâm sàng bệnh loét dạ dày tá tràng
Triệu chứng chính hay gặp trong loét DDTT là đau bụng tái diễn: Đau bụng tái diễn được định nghĩa là có ít nhất 3 cơn đau làm ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của người bệnh, xuất hiện tái đi tái lại trong khoảng thời gian 3 tháng trong năm Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng tuỳ thuộc vào:
Trang 18giai đoạn tiến triển của bệnh: đợt cấp hay thuyên giảm; phụ thuộc vào vị trí ổ loét: loét dạ dày hay tá tràng; loét có hay không có biến chứng kèm theo
- Thăm khám bụng, trong cơn đau có thể thấy:
+ Co cứng cơ bụng ở vùng thượng vị, ấn vào vùng này cảm giác đau tăng lên, khi hết cơn đau các biểu hiện giảm dần
+ Có thể thấy các dấu hiệu lóc xóc do ứ đọng thức ăn ở dạ dày, do giảm nhu động
Các triệu chứng trên ngoài cơn đau thăm khám hầu như không thấy triệu chứng gì đặc biệt
b Loét hành tá tràng: có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở nam
giới trẻ tuổi từ 18 - 40 tuổi
- Triệu chứng chính là đau bụng vùng thượng vị vào lúc đói (sau khi ăn
từ 2 - 3 giờ) hoặc đau vào ban đêm
- Nôn và buồn nôn cả lúc đói
- Ợ chua trong thời kỳ tiến triển, người bệnh thấy cồn cào, nếu ăn một chút vào thấy dễ chịu hơn
- Những rối loạn thần kinh thực vật và ruột rõ: hay trướng hơi, ợ hơi, táo bón do rối loạn vận động của ruột
- Thăm khám bụng trong cơn đau Có thể thấy co cứng vùng thượng vị lệch sang phải Tăng cảm giác đau khi ta sờ nắn bụng Tuỳ theo vị trí của ổ loét ở thành trước hoặc thành sau của tá tràng mà vị trí lan của đau ra trước, ra sau lưng hoặc lan toả xung quanh [1], [36], [46]
Trang 19Sơ đồ 1.1 Sơ đồ nhiễm H pylori và loét hành tá tràng
1.1.3.2 Cận lâm sàng loét dạ dày tá tràng
- Thăm dò hình thái
+ Chụp X quang DDTT: cho bệnh nhân uống barit và tiến hành chụp X quang ở các tư thế và vị trí khác nhau của DDTT Đây là thăm dò gián tiếp tìm các ổ đọng thuốc của ổ loét
+ Soi DDTT bằng ống soi mềm: rất có giá trị để chẩn đoán xác định Quan sát trực tiếp tổn thương DDTT bằng mắt, trong trường hợp nghi ngờ có thể sinh thiết để xét nghiệm giải phẫu bệnh học Song việc nhận định kết quả phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm trình độ của người soi
- Thăm dò chức năng của dạ dày
Trang 20Hút dịch vị lúc đói; nghiệm pháp kích thích đánh giá tình trạng bài tiết của dạ dày; nghiệm pháp histamin; nghiệm pháp insulin và định lượng dịch vị trong thời gian như trên; ngoài ra người ta còn dùng cả cafein, CaCl2… để thăm
dò chức năng bài tiết Qua đánh giá chức năng bài tiết của dạ dày ở trên, chúng
- Dựa vào X quang: tìm ổ đọng thuốc trên các phim
- Nội soi: soi DDTT để xác định vị trí ổ loét
- Sinh thiết để xác định giải phẫu bệnh học
- Thăm dò chức năng: đánh giá cường tính hay nhược tính [1], [36], [41]
1.1.4.2 Chẩn đoán phân biệt
- Viêm dạ dày mạn tính
- Viêm túi mật
- Viêm tiểu tràng và đại tràng do ký sinh vật
- Ung thư dạ dày [1], [36], [41]
1.1.5 Biến chứng loét dạ dày tá tràng
- Chảy máu dạ dày tá tràng
Là biến chứng hay gặp nhất, hay gặp ở những bệnh nhân loét tá tràng Biến chứng này có thể gặp ở cả trẻ em [24]; ở bệnh nhân lớn tuổi loét dạ dày
có biến chứng chảy máu cần xem xét khả năng ung thư
- Thủng ổ loét
Gây viêm nhiễm phúc mạc cấp tính hoặc thủng ổ loét vào mặt sau gây viêm phúc mạc khu trú (thủng bít)
Trang 21- Hẹp môn vị
- Loét ung thư hoá: hay gặp là loét bờ cong nhỏ và loét môn vị [18]
- Viêm quanh dạ dày tá tràng
1.1.6 Điều trị loét dạ dày tá tràng
1.1.6.1 Nguyên tắc điều trị loét dạ dày tá tràng
Điều trị dựa trên cơ chế sinh lý bệnh của loét DDTT, có thể chia thành
ba nhóm gây loét: do sự tăng acid chlohydric và pepsin; do sự suy yếu của các
yếu tố bảo vệ niêm mạc và do tác động gây viêm loét của vi khuẩn H pylori
Do đó, nguyên tắc điều trị được đặt ra:
- Làm giảm acid - pepsin ở dịch vị bằng các thuốc ức chế bài tiết hoặc các thuốc trung hoà acid
- Tăng cường các yếu tố bảo vệ niêm mạc bằng các thuốc tạo màng che phủ, băng bó ổ loét, kích thích sự tái sinh của tế bào niêm mạc dạ dày
- Diệt trừ H pylori bằng các thuốc kháng sinh hoặc một số thuốc khác
như metronidazol, bismuth
- Điều trị hỗ trợ, nâng cao sức khoẻ bệnh nhân toàn diện
1.1.6.2 Điều trị loét dạ dày tá tràng do Helicobacter pylori
Diệt H pylori là quan trọng đối với bệnh loét DDTT có nhiễm H
pylori Thuốc được dùng: (1) Kháng sinh; (2) Muối Bismuth
Bismuth là kali loại nặng Cơ chế diệt H pylori là gây đông vón
protein của vi khuẩn Các muối của Bismuth điều trị bệnh loét DDTT có hiệu quả, nhưng dùng liều cao kéo dài đã gây hội chứng não Bismuth Hiện nay, người ta dùng Bismuth điều trị loét DDTT dưới dạng các chất hữu cơ: Colloidal bismuth (CBS) hoặc Tripotasium dicitrato bismuth (TDB) có kích thước phân tử lớn và chỉ dùng liều thấp rất ít gây tác dụng phụ [1], [49], [71]
Trang 22Kháng sinh: kháng sinh có tác dụng ức chế tổng hợp protein hoặc làm
rối loạn quá trình tổng hợp acid nucleic của vi khuẩn Kháng sinh được dùng phổ biến là: Amoxycillin, Tetracyclin, Clarythromycin Nếu sử dụng đơn độc một kháng sinh là ít có hiệu quả, dùng hai loại kháng sinh kết hợp với thuốc
ức chế bài tiết thì tỉ lệ diệt H pylori đến hơn 90%
Các công thức sau thường được dùng để tiệt trừ H pylori:
- Amoxycilin + Metronidazol + thuốc ức chế bơm proton (PPI) hoặc thuốc kháng thụ thể H2 của histamin (Anti H2)
- Tetracyclin +Metronidazol + CBS
- Clarythromycin + Metronidazol +thuốc ức chế bơm proton (PPI) hoặc thuốc kháng thụ thể H2 của histamin (AntiH2)
Trong những năm gần đây người ta nhận thấy hiện tượng kháng thuốc của
H pylori đối với Metronidazol [52], [91] Tỉ lệ kháng thuốc Châu Âu từ 8 - 27%,
Ấn Độ 50%, ở Thái Lan là 50%, Việt Nam là 33% H pylori không chỉ kháng
Metronidazol mà kháng cả với một số kháng sinh khác như Ampicillin, Tetracyclin [52], [80] Vì vậy dùng kháng sinh cần đủ liều, không nên lạm dụng bừa bãi, gây tăng thêm sự kháng thuốc của vi khuẩn
1.2 Vi khuẩn Helicobacter pylori và loét dạ dày tá tràng
1.2.1 Dịch tễ học Helicobacter pylori
Nhiễm H pylori là một trong những nhiễm khuẩn mạn tính thường gặp nhất ở người Tần suất nhiễm H pylori rất khác nhau tùy theo từng quốc gia
và quần thể sinh cùng lứa tuổi, tình trạng kinh tế và chủng tộc Tỉ lệ nhiễm
H pylori thường cao ở những nước đang phát triển và thấp ở những nước đã
phát triển Các yếu tố thuận lợi gây nhiễm H pylori là tình trạng kinh tế xã
hội thấp, trình độ học vấn của bố mẹ, sống trong gia đình đông anh chị em, thu nhập gia đình, ngủ chung giường và dùng nguồn nước chưa được xử lý Theo
thống kê, trên thế giới có hơn 3,5 tỷ người nhiễm H pylori và trên 700 triệu
Trang 23người bị bệnh lý đường tiêu hóa liên quan đến nhiễm H pylori Tỉ lệ nhiễm
H pylori ở các nước chiếm khoảng 50% dân số, tỉ lệ này chiếm khoảng 50 -
90% dân số ở lứa tuổi > 20 tuổi và hầu hết trẻ em bị nhiễm ở độ tuổi từ 2 - 8
tuổi Việt Nam có tỉ lệ nhiễm H pylori vào khoảng 70% ở người trưởng thành Đường lây nhiễm H pylori chủ yếu là đường ăn uống (phân - miệng)
hoặc trực tiếp ( miệng - miệng) qua nước bọt Ở những nơi có điều kiện vệ sinh kém, nước và thức ăn bị nhiễm là nguồn lây lan quan trọng ban đầu [19],
[63], [75] Các nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H pylori có vai trò quyết định
các biện pháp cơ bản trong chiến lược y tế cộng đồng nhằm khống chế sự lây nhiễm của vi khuẩn này
1.2.2 Đặc điểm vi khuẩn Helicobacter pylori
H pylori là một xoắn khuẩn Gram âm, đường kính từ 0,3 - 1µm, dài 1,5
- 5µm với 4 - 6 lông mảnh ở mỗi đầu
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ nhiễm Helicobacter pylori
Trang 24H pylori thường cư trú ở trong lớp nhày của dạ dày, tập trung chủ yếu ở
phần hang vị sau đó là thân vị H pylori sản sinh một lượng lớn urease, lớn
hơn nhiều so với bất kỳ loại vi khuẩn nào khác, vì thế ở dạ dày khi có sự hiện
diện của urease gần như đồng nghĩa với sự có mặt của H pylori H pylori
tăng trưởng ở nhiệt độ 30- 40 độ, chịu được môi trường pH từ 5 - 8,5 và sống
ở phần sâu của lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, giữa lớp nhầy với bề mặt của lớp tế bào biểu mô, ở các vùng nối giữa các tế bào này [79]
H pylori có thể chuyển dạng hình cầu khi gặp điều kiện không thuận lợi
hoặc sau khi dùng một số kháng sinh Khi ở dạng hình cầu các hoạt động
chuyển hóa giảm mạnh, không sinh urease Đây là thể ngủ của H pylori, dạng
này giúp vi khuẩn tồn tại lâu hơn trong môi trường không thuận lợi Vi khuẩn
H pylori được lây truyền qua nhiều đường như: miệng - miệng, phân - miệng,
dạ dày - miệng, dạ dày - dạ dày Ở những nơi có điều kiện vệ sinh kém, nước,
thức ăn bị nhiễm H pylori là nguồn lây lan quan trọng ban đầu [50], [65]
Hình 1.1 Hình ảnh Helicobacter pylori
Trang 25Tính đa dạng di truyền có thể là sự thích nghi của H pylori đáp ứng lại điều kiện môi trường của dạ dày vật chủ Bộ gen của H pylori có sự đa dạng
rất lớn về trình tự giữa các chủng Cấu trúc gen của chúng gồm một nhiễm sắc thể dạng vòng có các vùng mã hóa Nhiễm sắc thể chủ yếu chứa các gen tham gia vào sự tổng hợp men urease, yếu tố gây độc tế bào vacA, kháng nguyên cagA và lông
Yếu tố cagA (cytotocin associated gen A) là protein có trọng lượng phân
tử 120- 140 kDa Một số nghiên cứu ở Châu âu cho thấy 60% các chủng phân lập được là có cagA (+) và các thể viêm loét, ung thư dạ dày thường liên quan đến các chủng có cagA (+) Một số nghiên cứu khác cho thấy ở bệnh nhân loét tá tràng 80- 100% các chủng phân lập được có cagA (+)
Yếu tố vagA (vacuolating cytotocin) là một protein gây rỗng tế bào Gen
có tác dụng giảm điện trở tế bào, tăng tính thấm với các ion Fe3+, Ni2+ và các chất chuyển hóa nhỏ, tạo điều kiện cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn, đồng thời tạo lỗ để vận chuyển anion trong lớp lipid và các màng plastic Từ
đó độc tố vagA gây rỗng và làm chết tế bào
1.2.3 Khả năng gây bệnh của Helicobacter pylori
- Loét DDTT: thường là kết quả của viêm dạ dày mạn tính có nhiễm H
pylori [34] Trên 90% loét tá tràng và 80% loét dạ dày có nhiễm H pylori [1],
nếu diệt H pylori tỉ lệ liền sẹo cao, thời gian liền sẹo nhanh hơn rõ rệt, tỉ lệ tái
phát loét DDTT giảm nhiều [37] Đã có một số nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa số lượng vi khuẩn và mức độ tổn thương trên nội soi và mô bệnh học ở bệnh nhân loét DDTT [10], [11], [20], [42]
- Rối loạn tiêu hóa chức năng: là các rối loạn vận động dạ dày, ruột do thần kinh chi phối, sự suy giảm chức năng tiết acid
- Viêm dạ dày cấp: nếu do H pylori thì thường kèm theo thiểu toan kéo dài và diễn biến thành viêm dạ dày mạn tính nếu không tiệt trừ H pylori [37]
Trang 26- Viêm dạ dày mạn: có một số yếu tố là nguyên nhân hoặc điều kiện
thuận lợi của viêm dạ dày mạn, nhưng do H pylori chiếm 90% các trường hợp Các trường hợp này phục hồi sau khi điều trị H pylori đã chứng minh vai trò của H pylori trong cơ chế bệnh sinh viêm dạ dày mạn tính
- Ung thư dạ dày (UTDD): H pylori được xếp vào nhóm I các tác nhân
gây UTDD, điều này đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu của tổ chức
về ung thư của Tổ chức y tế thế giới (WHO) và các tác giả khác [48] [92]
- U tế bào lympho niêm mạc dạ dày: cũng có nhiều nghiên cứu chứng
minh mối lien quan giữa H pylori và u tế bào lympho niêm mạc dạ dày
- Bệnh trào ngược thực quản dạ dày (GERD): Vai trò của H pylori còn
nhiều tranh cãi, nhưng đã có nhiều ý kiến cho rằng khi bị GERD mà phát hiện
H pylori thì nên tiệt trừ
- Các bệnh ngoài đường tiêu hóa: Viêm gan, thiếu máu mạn tính không
do giun móc, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim, bệnh tự miễn (ban xuất huyết giảm tiểu cầu, ban dạng thấp…)
1.2.4 Các phương pháp phát hiện Helicobacter pylori
1.2.4.1 Các phương pháp cần nội soi tiêu hóa
Là các phương pháp được tiến hành bằng cách kiểm tra toàn bộ dạ dày
và lấy mảnh sinh thiết để phục vụ chẩn đoán phát triển sự có mặt của H
pylori Để có kết quả tối ưu thì khi thực hiện các phương pháp này cần tuân
thủ những nguyên tắc cơ bản khi lấy mẫu sinh thiết
* Phương pháp chẩn đoán tế bào học
Là phương pháp soi tìm vi khuẩn H pylori trực tiếp từ mẫu sinh thiết
phết trên lam kính và nhuộm theo cách thông thường (Gram, Giemsa hoặc Fucxin) hoặc soi kính hiển vi đối quang phân kỳ Độ nhậy của phương pháp này là 75 - 85% độ đặc hiệu giống như trong xét nghiệm mô bệnh học
Trang 27* Phương pháp chẩn đoán mô bệnh học
Phương pháp mô bệnh học được coi là phương pháp chuẩn vàng nếu không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn Nhuộm Hematoxylin - Eosin (HE) và Giemsa được sử dụng thường quy vì rẻ tiền, đơn giản dễ thực hiện, nhưng độ nhạy không cao (33 - 90% tùy kinh nghiệm người đọc) Đây là phương pháp thường được sử dụng để phát hiện sự có mặt của vi khuẩn tại Việt Nam
* Phương pháp phát hiện urease của H pylori trong mảnh sinh thiết
H pylori có lượng men urease cao gấp hàng trăm lần các vi khuẩn khác,
do vậy người ta dùng đặc tính này để áp dụng xác định sự có mặt của vi khuẩn này trong bệnh phẩm Test urease nhanh (RUT- Rapid urease test) được công bố năm 1986, đầu tiên có tên là CLO test (Campylobacter like organism test) [3] Nguyên lý của phương pháp này: dựa trên đặc điểm sinh
học của H pylori có hệ men ure rất phong phú nhanh chóng phân hủy ure
thành ammoniac và bicarbonate làm môi trường trở nên kiềm hóa và làm thay đổi chỉ thị màu có trong ống nghiệm, chất chỉ màu đỏ phenol từ không màu trong môi trường trung tính sang màu đỏ cánh sen ở môi trường kiềm, có thể thấy sự chuyển màu này bằng mắt thường [3] Độ nhạy của thử nghiệm phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm, chính vì vậy nó có thể sử dụng để đánh giá sàng lọc sau điều trị thất bại Độ nhạy 90%, độ đặc hiệu 100% khi đọc kết quả sau 10 phút [38]
* Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn
Nuôi cấy vi khuẩn dương tính được coi là tiêu chuẩn vàng để xác định
H pylori Tỉ lệ nuôi cấy H pylori từ mảnh sinh thiết đạt từ khoảng 50 - 70%
và tùy thuộc vào kinh nghiệm, khả năng của các phòng thí nghiệm
* Phương pháp sinh học phân tử PCR (Polymerase chain reaction)
Nguyên lý của kỹ thuật là dùng phản ứng chuỗi polymerase chung với cặp
mồi (primers) được thiết kế dựa trên một đoạn gen đặc hiệu của H pylori để
khuếch đại nhiều lần và phát hiện vi khuẩn nếu chúng có mặt trong bệnh phẩm
Trang 28PCR được coi là kỹ thuật có độ nhậy cao nhất trong việc phát hiện các vi khuẩn,
PCR đạt độ nhạy và độ đặc hiệu tới 93% và 100% trong phát hiện H pylori [25]
Tuy nhiên, phương pháp này cần nhiều trang thiết bị hiện đại, giá thành cao nên chưa được ứng dụng rộng rãi [17]
1.2.4.2 Các phương pháp không cần nội soi (non - invasive methods)
* Test thở dùng cacbon phóng xạ (Urea Breath Test - UBT)
UBT được thực hiện nhờ sử dụng carbon đánh dấu C13 hoặc C14 trong dung dịch urea Đây là một phương pháp chọn lọc để phát hiện nhiễm trùng
H pylori cấp tính trước và sau điều trị 13C - UBT được coi là phương pháp
hữu ích cho tình trạng đánh giá nhiễm H pylori ở trẻ em, dễ dàng nhận được
sự chấp nhận của bệnh nhân, có thể làm nhiều lần, đồng thời áp dụng được ở phụ nữ mang thai
* Phương pháp phát hiện kháng nguyên trong phân
Phương pháp này sử dụng test phát hiện kháng nguyên H pylori trong
phân ở bệnh nhân trưởng thành với độ nhậy và độ đặc hiệu của test lần lượt là 94% và 97% Ngoài giá trị chẩn đoán cao, test này có ưu điểm là đơn giản, có kết quả trong ngày và có độ chính xác tương đương test thở Vì vậy nó được
khuyến cáo dùng theo dõi kết quả điều trị diệt H pylori khi không có test thở
* Phát hiện nhiễm H pylori bằng xét nghiệm nước bọt và nước tiểu
Do độ nhậy và độ đặc hiệu còn thấp nên phương pháp này ít được sử dụng trong nghiên cứu Tuy nhiên, chúng có lợi điểm lớn là bệnh phẩm dễ lấy, không sang chấn cho bệnh nhân nên rất thuận lợi cho trẻ em [39]
* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học
Kỹ thuật ELISA (Enzyme-linked immunosorbent assay) được sử dụng
rộng rãi trong chẩn đoán nhiễm trùng H pylori bằng phát hiện kháng thể H
pylori trong huyết thanh Kỹ thuật ELISA được coi như phương pháp đầu tiên
trong số các phương pháp không xâm nhập được chọn lọc cho chẩn đoán H
pylori ELISA thực sự thuận tiện cho bệnh nhân, dễ thực hiện, rẻ tiền và đủ độ
Trang 29nhậy để phát hiện một số trường hợp mới nhiễm H pylori Trên thị trường hiện có rất nhiều loại kit thương mại dùng để phát hiện kháng thể kháng H
pylori Theo nguyên lý ELISA, độ nhậy và độ đặc hiệu của chúng dao dộng từ
60 - 95%, trung bình là 88%
1.2.5 Một số nghiên cứu về Helicobacter pylori với loét dạ dày tá tràng
1.2.5.1 Nghiên cứu về Helicobacter pylori với loét DDTT trên thế giới
Nghiên cứu về H pylori ở bệnh nhân loét DDTT và không loét DDTT
ở 3 nhóm chủng tộc ở Singapore, Kang J.Y và cs (1990) cho biết trong 1502 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu có 892 bệnh nhân (59%) dương tính với
H pylori H pylori liên quan mạnh mẽ với viêm dạ dày: 873 trong số 1197
(73%) bệnh nhân bị viêm dạ dày có dương tính với H pylori so với 19 trong
số 305 (6%) không bị viêm dạ dày Tỉ lệ hiện mắc H pylori và viêm dạ dày
tương tự như bệnh nhân loét DDTT ở các chủng tộc khác nhau Tỉ lệ dương
tính với H pylori ở người Malays là 22% (10/46), ở người Trung Quốc là
48% (292/605) và ở người Ấn độ là 57% (35/61) [67]
Nghiên cứu tổng quan do Kuipers và cộng sự (cs) (1995) cho thấy tỉ lệ
hiện mắc H pylori dương tính ở bệnh nhân loét tá tràng là 95%; chỉ một nghiên cứu trong 24 nghiên cứu có tỉ lệ H pylori dương tính dưới 80% [69]
Nghiên cứu trên 107 bệnh nhân bị loét DDTT tại Singapore, tác giả Vu
C và cs (2000) cho biết tỉ lệ H pylori dương tính ở bệnh nhân loét dạ dày là
67,9%, ở bệnh nhân loét tá tràng là 85,1% và ở bệnh nhân loét DDTT là 85,7% Ngoại trừ yếu tố về giới trong nhóm loét dạ dày, nghiên cứu này không phát hiện thấy có mối liên quan giữa tuổi, chủng tộc và sử dụng
NSAID với tỉ lệ hiện mắc H pylori [90]
Nghiên cứu của Pillay K.V và cs (2007) về nhiễm trùng H pylori ở
bệnh nhân loét DDTT tại bệnh viện Taiping ở Malaysia cho thấy trong tổng
số 416 đối tượng được chọn vào nghiên cứu thì 49,7% là dương tính với H
pylori và 50,3% là âm tính với H pylori Có mối liên quan giữa H pylori và
Trang 30tuổi, chủng tộc và hút thuốc lá và sử dụng NSAID Tuy nhiên không có mối
liên quan giữa tình trạng H pylori và giới hoặc loại loét DDTT Các chủng
tộc khác chứ không phải người Mã lai và người nghiện thuốc lá có nguy cơ
cao hơn bị nhiễm H pylori Sự khác biệt về chủng tộc có lẽ do di truyền và
hành vi văn hóa xã hội Loại bỏ thuốc lá có thể mang lại nhiều lợi ích cho
bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có H pylori dương tính [83]
Nghiên cứu về dịch tễ học nhiễm trùng H pylori trong số 1965 bệnh
nhân được nội soi ở bệnh viện Sungai Petani Hospital, Sreenivasan Sasidharan
và cs (2012) cho biết tỉ lệ hiện mắc H pylori tăng theo tuổi (p < 0,05) Khi bệnh nhân được chia theo chủng tộc và giới theo tuổi thì tỉ lệ hiện mắc H pylori ở
người trưởng thành cao hơn so với nhóm người cao tuổi (p < 0,05) Hơn thế
nữa, tỉ lệ hiện mắc mắc H pylori ở nam giới cao hơn nữ giới (p < 0,05) Ngoài ra còn có sự khác biệt có ý nghĩa về chủng tộc Tỉ lệ dương tính với H
pylori cao nhất ở người Ấn độ, tiếp theo là người Trung Quốc và thấp nhất là
người Malays [84]
1.2.5.2 Nghiên cứu về Helicobacter pylori với loét DDTT tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Mỹ Dung (2000) về tình hình nhiễm H
pylori trên bệnh nhân nội soi dạ dày tá tràng cho thấy tỉ lệ nhiễm H pylori cao
hơn trong nhóm loét dạ dày tá tràng so với nhóm viêm dạ dày tá tràng, nhưng không có ý nghĩa thống kê [8] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thịnh và cs
(2001) cũng không thấy sự khác biệt trong tỉ lệ nhiễm H pylori giữa các lứa tuổi Kết quả về về tỉ lệ nhiễm H pylori giữa nam và nữ là không có sự khác
biệt (tỉ lệ bệnh ở nam và nữ lần lượt là 54,3% và 45,7%,) [33]
Nghiên cứu của Lê Trung Thọ và cs (2007) đã đưa ra tỉ lệ nam/nữ là 1,1/1 Lứa tuổi mắc bệnh cao nhất là 40- 49 (27,71%), tiếp theo là nhóm tuổi
30 - 39 (23,49%) và nhóm tuổi từ 50 - 59 (16,86%) Nhóm tuổi mắc bệnh thấp nhất là > 60 (8,43%) Tỉ lệ viêm teo/viêm nông ở hang vị là 7,64/1 Viêm teo vừa và nặng ở hang vị cao hơn thân vị (73/5 trường hợp) Viêm nông chủ
Trang 31yếu gặp ở thân vị (31/14 trường hợp) Viêm hoạt động cao hơn viêm không hoạt động (134/32 trường hợp) Tỉ lệ viêm vừa và nặng chiếm đa số với
56,02% Tỉ lệ nhiễm H pylori trong viêm dạ dày mạn tính là 46,98%, cả 2 phương pháp là tương đương nhau Tỉ lệ nhiễm H pylori trong viêm dạ dày
mạn tính không hoạt động chiếm tỉ lệ 14/32 (43,75%), trong viêm dạ dày mạn tính hoạt động nhẹ là 22/41 (53,66%), trong hoạt động vừa là 27/58 (46,55%)
và trong hoạt động mạnh là 23/35 (65,71%) Tỉ lệ H pylori (+++) trong viêm
dạ dày hoạt động mạnh chiếm tỉ lệ cao với 45,46% [34]
Theo Quách Trọng Đức (2007) thì nguy cơ bị loét DDTT ở người nhiễm
H pylori cao gấp 27,8 lần so với người không nhiễm H pylori, nguy cơ phát
triển thành loét DDTT khoảng 15% và nguy cơ UTDD khoảng 1% [6]
Nghiên cứu của tác giả Phan Văn Tấn và Huỳnh Chí Hùng (2009) tại Bệnh viện Đa Khoa Phú Tân cho thấy kết quả tỉ lệ viêm dạ dày tá tràng hơn gấp đôi loét dạ dày tá tràng Tỉ lệ nam giới mắc bệnh 39,2% thấp hơn nữ 60,8% Tổn thương Viêm dạ dày tá tràng chiếm đa số 68,9%, loét dạ dày tá tràng 28,9% Tỉ lệ có tổn thương DDTT trên bệnh nhân có triệu chứng gợi ý
là rất cao Nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới Tỉ lệ nhiễm H pylori
trên bệnh nhân có triệu chứng DDTT là 24,6% Tỉ lệ này trong viêm dạ dày tá tràng là 23,1%, trong loét dạ dày tá tràng là 29,9% Không thấy mối liên hệ
giữa nhiễm H pylori với các nhóm tuổi và giới tính [29]
Nghiên cứu của Đặng Trần Dũng (2011) về bệnh loét DDTT cho kết quả: tổn thương ở tá tràng 60,7% nhiều hơn ở dạ dày 39,3% Ở dạ dày loét chảy máu ở hang vị chiếm 75%, trên 2 ổ loét chiếm 75% Kích thước ≤ 0,5cm chiếm 91,7% Ở tá tràng: tổn thương ở mặt trước HTT chiếm 55,2% 1 ổ loét chiếm 72,4% Kích thước ổ loét ≤ 5mm chiếm 69% [7], [31]
Nghiên cứu của Lê Quang Tâm và cs ở bệnh nhân viêm loét DDTT cho
tỉ lệ nhiễm H pylori là 60,4% Tỉ lệ các dạng tổn thương mô bệnh học được
phân bố như sau: viêm dạ dày mạn tính là 100% (75.0%; 23,8%; 1,2%), viêm
Trang 32dạ dày hoạt động là 65,8% (62,0%; 28,5%; 9,5%), viêm teo niêm mạc dạ dày
là 36,25% (66,7%; 25,3%; 8,0%), chuyển sản ruột là 25% (tất cả đều ở mức
độ nhẹ) Viêm đơn thuần chiếm 97,5%; viêm kèm loét chiếm 2,5% Dạng viêm thường gặp nhất qua nội soi là viêm sung huyết xuất tiết (53,8%) và viêm trợt phẳng (24,6%) [30]
1.3 Một vài nét về thuốc Levofloxacin
1.3.1 Dược lực học
Levofloxacin là một kháng sinh tổng hợp có phổ rộng thuộc nhóm fluoroquinolon, có tác dụng diệt khuẩn do ức chế sự tổng hợp ADN của vi khuẩn Levofloxacin có tác dụng trên nhiều chủng vi khuẩn Gram âm và Gram dương như tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn và cả phế cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột, Haemophilus influenzae, đặc biệt tác dụng trên vi khuẩn Gram dương và
kỵ khí tốt hơn so với các fluoroquinolon khác Thường không có đề kháng chéo giữa Levofloxacin và các họ kháng sinh khác [14]
1.3.2 Dược động học
Levofloxacin được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn qua đường tiêu hóa, sinh khả dụng tuyệt đối xấp xỉ 99% Các thông số dược động học của Levofloxacin sau khi dùng đường tĩnh mạch và đường uống với liều tương đương là gần như nhau, do đó có thể sử dụng hai đường này thay thế cho nhau Levofloxacin được phân bố rộng rãi trong cơ thể, nhưng khó thấm vào dịch não tủy Levofloxacin rất ít bị chuyển hóa trong cơ thể và thải trừ gần như hoàn toàn qua nước tiểu dưới dạng còn hoạt tính Thời gian bán thải của Levofloxacin từ 6 - 8 giờ và kéo dài hơn ở người suy thận [14]
1.3.3 Chỉ định
Nhiễm khuẩn do các vi khuẩn nhạy cảm với Levofloxacin: viêm xoang cấp, đợt cấp viêm phế quản mạn, viêm phổi cộng đồng, viêm tiền liệt tuyến, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn da
Trang 33áp dụng các biện pháp xử trí thích hợp Thuốc có thể gây viêm đại tràng màng giả do Clostridium difficile Cần lưu ý chẩn đoán chính xác các trường hợp tiêu chảy xảy ra trong thời gian người bệnh đang sử dụng kháng sinh để có biện pháp xử trí thích hợp Đã có thông báo người bệnh sử dụng các kháng sinh nhóm fluoroquinolon, trong đó có Levofloxacin xuất hiện mẫn cảm với ánh sáng mức độ từ trung bình đến nặng
Levofloxacin có thể gây rối loạn chuyển hóa đường, bao gồm tăng hoặc
hạ đường huyết thường xảy ra ở người bệnh đái tháo đường đang sử dụng Levofloxacin đồng thời với một thuốc uống hạ đường huyết hoặc với insulin;
do đó cần giám sát đường huyết trên người bệnh này
Cần tránh sử dụng trên người bệnh sẵn có khoảng QT kéo dài, người bệnh hạ kali máu, người bệnh rối loạn nhịp tim
1.3.6 Tương tác thuốc
Antacid, sucralfat, ion kim loại, multivitamin có thể làm giảm hấp thu Levofloxacin, nên uống xa ít nhất 2 giờ
Cần giám sát chặt chẽ nồng độ theophylin và hiệu chỉnh liều nếu cần khi
sử dụng đồng thời với Levofloxacin
Levofloxacin làm tăng tác dụng của warfarin và tăng nguy cơ rối loạn đường huyết khi dùng đồng thời với các thuốc hạ đường huyết, tăng nguy cơ
Trang 34kích thích thần kinh trung ương và co giật khi dùng đồng thời với thuốc chống viêm không steroid [35]
1.3.7 Tác dụng không mong muốn
Thường gặp: buồn nôn, tiêu chảy, tăng enzym gan, mất ngủ, đau đầu, kích ứng nơi tiêm
Ít gặp: hoa mắt, căng thẳng, kích động, lo lắng, đau bụng đầy hơi, khó tiêu, nôn, táo bón, tăng bilirubin huyết, viêm âm đạo, nhiễm nấm candida sinh dục, ngứa, phát ban
Hiếm gặp: tăng hoặc hạ huyết áp, loạn nhịp, đau cơ, đau khớp, viêm đại tràng màng giả, khô miệng, co giật, giấc mơ bất thường, trầm cảm, rối loạn tâm thần, choáng phản vệ [35]
1.3.8 Quá liều và cách xử trí
Khi quá liều, loại thuốc ra khỏi dạ dày và bù dịch, theo dõi điện tâm đồ
1.3.9 Liều dùng và cách dùng (dùng cho người lớn):
Nhiễm khuẩn đường hô hấp: Đợt cấp của viêm phế quản mạn tính: 500 mg,
1 lần/ ngày trong 7 ngày
Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng: 500 mg, 1 - 2 lần/ ngày x 7 - 14 ngày Viêm xoang hàm trên cấp tính: 500 mg, 1 lần/ ngày x 10 - 14 ngày
Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da: Không biến chứng: uống 500 mg x 1 lần/ ngày x 7 - 10 ngày Có biến chứng: 750 mg x 1 lần/ ngày x 7 - 14 ngày Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Không biến chứng: uống 250 mg x 1 lần/ ngày x 3 ngày Có biến chứng: uống 250 mg x 1 lần/ ngày x 10 ngày
Viêm thận - bể thận cấp: 250 mg, 1 lần/ ngày x 10 ngày
Bệnh than: Điều trị dự phòng sau khi phơi nhiễm với trực khuẩn than: ngày uống 1 lần, 500 mg, dùng trong 8 tuần
Các chỉ định khác:
- Độ thanh thải creatinin 50 - 80 ml/ phút: không cần hiệu chỉnh liều
Trang 35- Độ thanh thải creatinin 20 - 49 ml/ phút: liều ban đầu là 500 mg, liều duy trì 250 mg mỗi 24 giờ
- Độ thanh thải creatinin 10 - 19 ml/phút: liều ban đầu là 500 mg, liều duy trì 125 mg mỗi 24 giờ
Thẩm tách máu hoặc thẩm phân phúc mạc liên tục: liều ban đầu 500 mg, liều duy trì 125 mg mỗi 24 giờ [45]
1.4 Các phác đồ điều trị Helicobacter pylori hiện nay và hiệu quả điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori trên bệnh nhân loét dạ dày tá tràng
1.4.1 Các thuốc điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori
* Các thuốc kháng sinh
Các kháng sinh thường được sử dụng trong điều trị tiệt trừ H pylori từ
trước tới nay gồm: Amoxicillin, Clarithromycin, Metronidazole hoặc Tinidazole, Tetracycline Những năm gần đây, với sự ra đời của nhiều loại
kháng sinh mới được dùng tiệt trừ H pylori như: Levofloxacin, Furazolidone,
Rifabutin [15], [19], [46], [53], [59]
* Các thuốc ức chế bơm proton (PPI)
Ngày nay các thế hệ thuốc ức chế bơm proton mới ra đời là những thuốc kháng tiết mạnh và có hiệu quả cao khi kết hợp với thuốc kháng sinh
trong các phác đồ điều trị tiệt trừ H pylori PPI có tác dụng hiệp đồng đối với các thuốc kháng sinh và tự nó cũng có khả năng ức chế vi khuẩn H pylori
PPI làm giảm chế tiết acid và cùng với việc giảm thể tích dịch vị, vì vậy làm cho nồng độ của kháng sinh trong dạ dày tăng lên dẫn đến tác dụng diệt khuẩn cao của các kháng sinh trong phác đồ điều trị [61], [64]
* Thuốc kháng thụ thể H2
Là những thuốc có tác dụng ức chế tiết acid chọn lọc trên các thụ thể H2 ở màng đáy của tế bào thành So với nhóm thuốc ức chế bơm proton thì thuốc kháng thụ thể H2 có tác dụng làm giảm chế tiết acid của dạ dày kém
Trang 36hơn [61] Trong các phác đồ điều trị kết hợp thuốc kháng tiết acid, khuynh hướng hiện nay ủng hộ việc dùng PPI hơn là thuốc kháng thụ thể H2 [64]
* Các muối Bismuth
Các thuốc hiện nay hay được sử dụng là chế phẩm bismuth dạng keo (colloidal bismuth) như: TDB (biệt dược là Denol), Bismuth Subsalicylate, CBS (biệt dược là Trymo) và dạng kết hợp Ranitidin - Bismuth - Citrade [19]
1.4.2 Các phác đồ phối hợp thuốc trong điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori
Nếu chỉ dùng một trong thuốc nêu trên rất ít khả năng tiêu diệt H
pylori mà còn gây hiện tượng kháng thuốc, để điều trị diệt H pylori có hiệu
quả người ta thường dùng các biện pháp phối hợp thuốc Tổng hợp các nghiên
cứu của các tác giả, các phác đồ diệt H pylori như sau [16], [55], [58], [93]:
* Phác đồ chuẩn (dual therapy, standard therapy) [3],[44]
PPI + Tetacyclin +Metronidazole + Bismuth
* Phác đồ nối tiếp (sequential therapy)
Do tỉ lệ thành công không cao như lúc đầu mới áp dụng nên các tác giả nước ngoài ngày nay hay bàn về phác đồ nối tiếp (sequential therapy), gồm:
- 5 ngày đầu PPI + Amoxicilin
- 5 ngày tiếp theo: PPI + Clarithromycin + Tinidazole
Kết quả của phác đồ nối tiếp cho thấy thành công cao hơn phác đồ 3 thuốc Tỉ lệ thành công đạt 86,1% khi bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt [15]
* Phác đồ cứu vãn (salvage therapy)
Trang 37Phác đồ cứu vãn khi 2 phác đồ nói trên thất bại Các tác giả khuyến cáo nên dùng phác đồ cứu vãn với 4 thuốc: PPI + 2 kháng sinh + Bismuth hoặc 2
kháng sinh mới [16], [59], [76] Kết quả điều trị diệt trừ H pylori bằng phác
đồ lần 2 với PPI kết hợp 3 kháng sinh Tetracycline, Metronidazole và Bismuth cho thấy tỉ lệ thành công đạt từ 86,7% - 95,7% [44], [59], [76]
Theo Đồng thuận Châu Á- Thái Bình Dương (2009), Maastricht III Consensus Report (2007) và American College of Gastoenterology Guideline
(2007) các phác đồ diệt trừ H pylori như sau [16], [59], [76]:
dùng (ngày) Cách dùng
Phác đồ 3 thuốc có Levofloxacin 10 PPI + A + L
ngày tiếp PPI + C + Ti Phác đồ 4 thuốc không có Bismuth 10 PPI + A + C + M/Ti
Phác đồ 4 thuốc có Bismuth 14 PPI + M + Te + B
Ghi chú: PPI: Thuốc ức chế bơm proton, A: Amoxicillin, L: Levofloxacin,
Te: Tetracycline, Ti: Tinidazole, C: Clarithromycine, M: Metronidazole, B: Bismuth
Trang 381.4.3 Hiệu quả tiệt trừ Helicobacter pylori và bệnh loét dạ dày tá tràng
1.4.3.1 Hiệu quả điều trị Helicobacter pylori và bệnh loét DDTT trên thế giới
Tại Hội nghị đồng thuận Maastricht III năm 2006, Malfertheiner và cs các phác đồ mới thường sử dụng Levofloxacin hoặc Rifabutin Tỉ lệ diệt của Levofloxacin theo một số nghiên cứu gần đây đạt > 80% [76] Trong một nghiên cứu khác của Bilardi và cs (2004), có sử dụng Levofloxacin và một phác
đồ bộ ba chuẩn cho hai nhóm bệnh nhân, kết quả cho thấy nhóm sử dụng Levofloxacin có kết quả đạt 70% và 37% cho nhóm còn lại [47] Nghiên cứu của Giannini và cs (2006) sử dụng phác đồ RLT (Rabeprazole, Levofloxacin, Tinidazole) trên 85 bệnh nhân, kết quả cho thấy hiệu quả điều trị đạt 86% [60] Phác đồ điều trị ba thứ thuốc bao gồm thuốc ức chế bơm proton và hai kháng sinh (Clarithromycin và hoặc Amoxycillin hoặc Metronidazole) loại bỏ
H pylori trên 90% các trường hợp Có một tỉ lệ tương đối cao kháng
Metronidazole trong một số chủng H pylori ở khu vực này và do đó sự phối
hợp Clarithromycin và Amoxycillin có thể là phù hợp khi sử dụng điều trị
nhiễm H pylori ở bệnh nhân loét tá tràng Trong vấn đề này, Fock và cs
(2009) cho thấy Clarithromycin kết hợp với Omeprazole có thể loại trừ 75%
trường hợp bệnh nhân bị loét tá tràng do H pylori và được dung nạp tốt [59]
1.4.3.2 Hiệu quả điều trị H pylori và bệnh loét DDTT tại Việt Nam
Với các trường hợp bị viêm loét DDTT nhiễm H pylori lần đầu, phác đồ
chuẩn 3 thuốc được dùng Có 3 trường hợp dùng phác đồ 4 thuốc có bismuth Không có trường hợp nào phải dùng phác đồ mới là phác đồ “liên tiếp” [5] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Việt Hà (2010), tỉ lệ kháng kháng sinh Clarithromycin, Metronidazol, Amoxicillin lần lượt là 50,9%; 65,3%; 0,5%
Tỉ lệ thất bại khi sử dụng hai nhóm kháng sinh Clarithromycin và Metronidazol lên đến 35% ở bệnh nhân kháng Clarithromycin [10]
Tác giả Trương Văn Lâm và cs (2013), tỉ lệ thành công trên bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng có sử dụng phác đồ bộ ba chuẩn (Rabeprazol 20mg
Trang 39x 2 lần/ngày; Amoxicillin 0,5g x 4 viên/2 lần/ngày; Clarithromycin 0,25g x 4 viên/2 lần/ngày) là 57,4% [21] Tác giả Nguyễn Phúc Thịnh và cs (2014) đã đƣa ra một kết quả đáng kinh ngạc hơn là tỉ lệ kháng Clarithromycin, Metronidazol, Tetracyclin, Amoxicillin, Levofloxacin lần lƣợt là 87,5%; 66,7%; 29,2%; 20,8% và 25% [32] Với một số trích lƣợc nêu trên về các kết quả nghiên cứu cho thấy đã bắt đầu có sự kháng thuốc đối với một phác đồ
“cứu vãn” cho bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng Đòi hỏi việc đánh giá cũng nhƣ sử dụng thuốc hợp lý trên bệnh nhân là vô cùng quan trọng [15]
1.4.4 Hiệu quả điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori đối với bệnh loét dạ dày
tá tràng bằng phác đồ có Levofloxacin
1.4.4.1 Phác đồ ALP điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng
Phác đồ ALP là phác đồ 3 thuốc chuẩn phối hợp để tiệt trừ H pylori
trong bệnh viêm loét dạ dày tá tràng Phác đồ gồm 2 nhóm thuốc: (i) Một trong các thuốc ức chế bơm proton - PPIs (là thuốc kháng tiết mạnh, giảm thể tích dịch vị và có hiệu quả cao khi kết hợp với kháng sinh - Pantoprazole) và (ii) Hai loại kháng sinh phối hợp (Amoxicillin và Levofloxacin)
Phác đồ cụ thể trong nghiên cứu này sử dụng bao gồm:
- Amoxicillin 500 mg x 2 lần/ngày x 10 ngày
- Levofloxacin 500mg x 2 lần/ ngày x 10 ngày
- Pantoprazol 40mg x 2 lần/ ngày x 4 tuần
1.4.4.2 Nghiên cứu hiệu quả điều trị tiệt trừ H pylori trong bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
Nghiên cứu của Nista và cs (2003) điều trị theo phác đồ EAL (Esomeprazole, Amoxicillin, Levofloxacin) trong 7 ngày tỉ lệ thành công là 90,6% [82] Theo tác giả Gisbert Javier P và cs (2006), phác đồ OAL (Omeprazole, Amoxicillin, Levofloxacin) trong thời gian điều trị 10 ngày ở những bệnh nhân
thất bại với các phác đồ đầu tiên đạt tỉ lệ tiệt trừ H pylori là 88,5% [62]
Trang 40Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị 3 thứ thuốc dựa vào Levofloxacin, Ermis F và cs (2011) so sánh phác đồ điều trị LAC (Lansoprazole 30 mg, Amoxicillin 1 g và Clarithromycin 500 mg cho 14 ngày) và phác đồ OLA (Omeprazole 20 mg, Levofloxacin 500 mg và Amoxicillin 1 g ) trong 7 ngày
Kết quả cho thấy tỉ lệ tiêu diệt H pylori dùng phác đồ LAC là 57,14% (52/91), tỉ lệ tiêu diệt H pylori dùng phác đồ OLA 37,83% (14/37) [57]
Nghiên cứu hiệu quả điều trị 3 thứ thuốc dựa trên PPI với Levofloxacin trong 7 ngày, Schrauwen R.W và cs (2009) so sánh trong 123 bệnh nhân
dương tính với H pylori, 59 bệnh nhân được điều trị bằng Esomeprazole,
Amoxicillin and Levofloxacin (nhóm I) và 64 bệnh nhân được điều trị bằng Esomeprazole, Clarithromycin và Levofloxacin (nhóm II) Kết quả cho biết ở nhóm I, tỉ lệ khỏi bệnh chung là 96% và ở nhóm II là 93% Tác dụng không mong muốn xảy ra ở 29% bệnh nhân ở nhóm I và 41% bệnh nhân ở nhóm II Tác giả đã đưa ra kết luận phác đồ điều trị 3 thứ thuốc Esomeprazole, Levofloxacin và hoặc Amoxicillin hoặc Clarithromycin trong 7 ngày rất có
hiệu quả và an toàn tiêu diệt H pylori [85]
Năm 2009, Trần Thiện Trung và cs đã tiến hành nghiên cứu trên 45 bệnh nhân, chia làm hai nhóm nghiên cứu: Một nhóm gồm 26 bệnh nhân điều trị theo phác đồ EBMT và 19 bệnh nhân điều trị theo phác đồ EAL Kết quả tiệt
trừ H pylori được đánh giá sau 4 tuần Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm sử
dụng EBMT có hiệu quả điều trị là 93,3%, trong khi nhóm EAL là 57,9% [40] Cũng nghiên cứu của Trần Thiện Trung và cs (2009) trên 81 bệnh nhân, chia hai nhóm sử dụng phác đồ EAC (43 bệnh nhân) và EAL (38 bệnh nhân), kết quả cho thấy hiệu quả của EAC là 65,1% còn EAL là 68,4% [39]
Năm 2010, tác giả Đào Hữu Ngôi và cs đã đưa ra kết quả nghiên cứu trên 350 bệnh nhân cũng chia làm hai nhóm sử dụng phác đồ OAL (175 bệnh nhân) và OAC (175 bệnh nhân) lần lượt là 88,2% và 68,5% [26]