Kết quả điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống tại bệnh vện đa khoa trung ương thái nguyên Kết quả điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống tại bệnh vện đa khoa trung ương thái nguyên luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1––––––––––––––––––––––––––
LÊ HỮU TƯ
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG THẮT LƯNG HÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP NỘI KHOA VÀ KÉO GIÃN CỘT SỐNG
TẠI BỆNH VỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: NỘI KHOA
Mã số: 62 72 20 40
LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Tuấn
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin đảm bảo những số liệu và kết quả trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
TÁC GIẢ
Lê Hữu Tƣ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập nghiên cứu để hoàn thành luận án tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu và sự giúp đỡ tận tình của các thày
cô, các bạn bè đồng nghiệp và các đơn vị, bộ phận liên quan
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, cùng các Phòng, Ban của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Xin trân thành cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện, Các vị lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Khoa Thần kinh, khoa Nội, khoa Phục hồi chức năng của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Hồng Thái, TS Trần Văn Tuấn, 2 người thày đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận án này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã dành tình cảm động viên, giúp đỡ và cùng đồng hành với tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để tôi có được kết quả của ngày hôm nay
Tác giả: Lê Hữu Tƣ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
Danh mục các hình vi
Đặt vấn đề 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Những vấn đề cơ bản về hội chứng thắt lưng hông 3
1.2 Điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống thắt lưng 13
1.3 Tình hình điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông hiện nay trên thế giới và Việt Nam 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 39
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 40
3.3 Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị 49
Chương 4: BÀN LUẬN 53
4.1 Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu 53
4.2 Kết quả điều trị 56
4.3 Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị 65
KẾT LUẬN 70
KHUYẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá khả năng thực hiện chức năng sinh hoạt 33
Bảng 2.2 Đánh giá tầm vận động cột sống thắt lưng 33
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới 40
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo hoàn cảnh xuất hiện bệnh 41
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh 41
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo thể trạng 42
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng theo số lần tái phát trên năm 42
Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo một số bệnh mắc kèm 43
Bảng 3.7 Hình thái tổn thương khớp cột sống thắt lưng 43
Bảng 3.8 Thay đổi mức độ đau sau điều trị 44
Bảng 3.9 Sự thay đổi về khả năng thực hiện các chức năng sinh hoạt sau điều trị 44
Bảng 3.10 Sự thay đổi độ giãn cột sống sau điều trị 45
Bảng 3.11.Thay đôi về tầm vận động của cột sống sau điều trị 46
Bảng 3.12 Sự thay đổi về cảm giác sau điều trị 47
Bảng 3.13 Sự thay đổi về vận động sau điều trị 47
Bảng 3.14 Sự thay đổi độ cong sinh lý cột sống sau điều trị 48
Bảng 3.15 Sự thay đổi các triệu chứng kèm theo 48
Bảng 3.16 Kết quả phục hồi chức năng đau thắt lưng 49
Bảng 3.17 Liên quan giữa độ tuổi bệnh nhân với kết quả điều trị 49
Bảng3.18 Liên quan giữa giới tính với kết quả điều trị 50
Bảng 3.19 Liên quan giữa nghề nghiệp bệnh nhân với kết quả điều trị 50
Bảng 3.20 Liên quan giữa thời gian mắc bệnh với kết quả điều trị 51
Bảng 3.21 Liên quan giữa thể trạng bệnh nhân với kết quả điều trị 51
Bảng 3.22 Liên quan giữa thời gian điều trị với kết quả điều trị 52
Bảng 3.23 Liên quan giữa kết quả điều trị và một số bệnh mắc kèm 52
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 40 Biểu đồ 3.2 Chỉ số Shober trước và sau điều trị 45 Biểu đồ 3.3 Chỉ số Lasègue trước và sau điều trị 46
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình đoạn vận động của cột sống 3 Hình 1.2.Mô tả các vị trí giải phẫu khi tổn thương gây ra đau thắt lưng 5 Hình 2.1 Bộ thước đo TVĐ khớp của hãng Ito (Nhật Bản) dùng trong NC 36
Trang 8Đau thắt lưng thường xảy ra ở người trưởng thành, khoảng 50% số người ở độ tuổi lao động bị đau thắt lưng hàng năm Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, đau thắt lưng là nguyên nhân thường gặp gây tình trạng
ốm đau và mất sức lao động ở người dưới 45 tuổi, thời gian nghỉ việc do đau thắt lưng chiếm 63% tổng số ngày nghỉ ốm của những người lao động Chi phí cho điều trị đau thắt lưng khá cao, theo ước tính ở Mỹ, tổng chi phí để điều trị, đền bù sức lao động và thiệt hại về sản phẩm lao động do đau thắt lưng gây ra khoảng 63 - 80 tỷ USD Ở Anh, mỗi năm có khoảng 1,1 triệu người đau thắt lưng và chi phí cho y tế khoảng 500 triệu USD [12], [45]
Hội chứng thắt lưng hông là bệnh lý của hệ vận động nên có thể áp dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp điều trị (nội khoa, ngoại khoa, vật
lý trị liệu…) Từ trước đến nay điều trị nội khoa vẫn là phương pháp được sử dụng phổ biến tại các cơ sở y tế Tuy nhiên do chủ yếu chỉ tác động theo cơ chế hoá học nên phương pháp này có một số hạn chế như tác dụng chậm, có tác dụng phụ của thuốc, không giải quyết được một số nguyên nhân mang tính chất gây tổn thương cơ học của cột sống Hiện nay vật lý lí trị liệu đang được xem là một giải pháp tốt giải quyết các triệu chứng và cả nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng thắt lưng hông
Tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên việc điều trị hội chứng thắt lưng hông bằng các thuốc kháng viêm, giảm đau, sinh tố nhóm B
Trang 9là phổ biến và đã được thực hiện từ rất lâu Một số phương pháp vật lý trị liệu trong đó có kỹ thuật kéo giãn cột sống được áp dụng vào điều trị từ những năm đầu của thế kỷ này Phần lớn đối tượng được thực hiện thủ thuật kéo giãn cột sống là những bệnh nhân điều trị ngoại trú tại khoa Phục hồi chức năng của bệnh viện Một số bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa thần kinh, ngoài việc dùng thuốc cũng được kết hợp kéo giãn cột sống trong quá trình điều trị Qua khảo sát sơ bộ tình hình điều trị hội chứng thắt lưng hông tại Bệnh viện chúng tôi nhận thấy kết quả điều trị có nhiều khả quan, số lượng bệnh nhân đau thắt lưng đến chữa bệnh tại bệnh viện ngày một nhiều Tuy nhiên kết quả điều trị
ở mỗi bệnh nhân có sự khác nhau và có liên quan đến các yếu tố như: tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, thể trạng người bệnh, bệnh kèm theo,
sự tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân…đây cũng là một vấn đề chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Với mong muốn xác định được thực
tế kết quả điều trị hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và
so sánh với các công trình nghiên cứu khác Đồng thời tìm hiểu một số yếu tố yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp điều trị này, chúng tôi tiến
hành đề tài nghiên cứu: “Kết quả điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên” với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá kết quả của phương pháp điều trị nội khoa và kết hợp kéo
giãn cột sống thắt lưng trong điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Những vấn đề cơ bản về hội chứng thắt lưng hông
1.1.1 Sơ lược về giải phẫu và sinh lý cột sống thắt lưng
Cột sống thắt lưng gồm 5 đốt sống, được đánh số từ L1 đến L5, có 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn (ngực - thắt lưng và thắt lưng - cùng) Cột sống thắt lưng có cấu tạo giải phẫu phù hợp chức năng là tham gia vận động với động tác có biên độ rộng, linh hoạt như gập, duỗi, nghiêng và xoay, đồng thời còn có chức năng chịu lực nâng đỡ nửa trên cơ thể Trong từng đoạn cột sống có nhiều đơn vị chức năng gọi là đoạn vận động, theo khái niệm của Junghanns và Schmorl đoạn vận động là một đơn vị cấu trúc và chức năng vận động của cột sống gồm các thành phần: nửa phần thân đốt sống lân cận, dây chằng trước, sau, dây chằng vòng, khớp đốt sống và tất cả phần mềm, những bộ phận ở cùng đoạn cột sống tương ứng, lỗ sống, lỗ liên đốt cũng như những khe khớp giữa mỏm gai sau, gai ngang của đốt sống [7],[29]
Hình 1.1 Mô hình đoạn vận động của cột sống
Như vậy tất cả những biến đổi gây tác động về giải phẫu, sinh lý, chức năng của đoạn vận động cột sống đều có thể là nguyên nhân dẫn đến ĐTL
Nhân nhày
Trang 111.1.2 Nguyên nhân gây ra hội chứng thắt lưng hông
1.1.2.1 Nguyên nhân tại cột sống
- Nguyên nhân có nguồn gốc từ đĩa đệm
+ Thoái hoá đĩa đệm (hư đĩa đệm) là nguyên nhân hay gặp, có thể chiếm tới 85% các trường hợp Các thay đổi thoái hoá hoặc lồi đĩa đệm ở ít nhất 1 đĩa đệm thắt lưng gặp ở 35% bệnh nhân trong độ tuổi 20 - 39 và hầu như gặp ở tất cả các bệnh nhân trên 50 tuổi [2], [22]
+ Rách vòng sợi của đĩa đệm, do một phần ba ngoài của đĩa đệm có các dây thần kinh nên khi rách vòng sợi ở vùng này có thể gây đau lưng và chi dưới
+ Thoát vị đĩa đệm gây triệu chứng chèn ép rễ thần kinh
+ Hẹp ống sống gây chẻn ép tuỷ sống và rễ thần kinh Hẹp ống sống mắc phải có thể do thoái hoá cột sống, lồi hoặc thoát vị đĩa đệm, thoái hoá dây chằng, trượt đốt sống
- Nguyên nhân từ hệ thống cơ: những thay đổi về sự thăng bằng của hệ thống cơ cột sống có thể dẫn đến nguy cơ ĐTL
- Nguyên nhân do dây chằng: ở bệnh nhân thoái hoá nặng các dây chằng trở nên dày và mất tính đàn hồi, khiến cho ống sống có thể hẹp lại khi cột sống ở tư thế duỗi do dây chằng lồi vào trong ống sống
- Hư đốt sống (thoái hoá đốt sống): thoái hoá thân sống là các thay đổi thoái hoá không do viêm nhiễm xảy ra ở thân sống
- Loãng xương: loãng xương có thể là nguyên phát ở người lớn tuổi (týp II), phụ nữ sau mãn kinh (týp I) hoặc loãng xương thứ phát do bất động lâu, do bệnh về chuyển hoá hay do dùng corticoid kéo dài
- Nguyên nhân do bất thường bẩm sinh cột sống: các rối loạn nguồn gốc phôi thai của cột sống, rối loạn liên quan đến quá trình đóng ống sống, vẹo cột sống…là những nguyên nhân bẩm sinh gây ĐTL
Trang 12- Các nguyên nhân khác gây tổn thương tại cột sống: tổn thương cột sống thắt lưng do chấn thương, các nguyên nhân do viêm, các khối u, các trường hợp thất bại sau phẫu thuật đều có thể gây ĐTL [19], [20], [21]
Hình 1.2.Mô tả các vị trí giải phẫu khi tổn thương gây ra đau thắt lưng
1.1.2.2.Nguyên nhân ngoài cột sống
Khi nghiên cứu các nguyên nhân ngoài cột sống, các tác giả thấy rằng tổn thương các tạng trong, ngoài ổ bụng và tiểu khung có thể dẫn tới ĐTL như các bệnh thận tiết niệu, bệnh đường sinh dục, đường đường tiêu hóa… Tuy nhiên các trường hợp ĐTL này bao giờ cũng kết hợp với các triệu chứng khác của tạng bị bệnh Một số yếu tố khác như yếu tố tâm thần, trường hợp thấp khớp cận ung thư cũng có thể là nguyên nhân gây ĐTL [2], [29], [48]
Trang 13Cơ chế đau thắt lƣng
Ðau lưng nói chung hay đau thắt lưng nói riêng được chia làm 2 nhóm
do cơ chế cơ học (mechanical low back pain) hoặc thần kinh (dây thần kinh bị chèn ép - neurogenic low back pain)
* Cơ bắp bị căng là lý do chiếm đại đa số đau thắt lưng vì cơ học Cột xương sống có 6 đốt sống và nhóm đốt xương cùng tạo thành đuôi cột sống Trong 1 đốt sống lưng có hai xương lồi ra từ trong thân đốt sống gọi là gai sống ngang và 1 xương mọc ra từ phía sau là gai sống dọc Ðể nối liền các đốt sống các gai cột sống ngang và dọc, có hàng tá các dây chằng để giữ chúng với nhau và để cột sống này nối thẳng vào các đốt sống lưng Tất cả các dây chằng và cơ ở hai bên có thể bị dãn ra khi cột sống bị tổn thương tạo thành gân dãn/trật gân và vì đó gây đau lưng Có những nguyên do khác gây nên đau lưng là do thoái hoá dĩa đệm, rách dĩa đệm, hoặc là thoái hoá các mặt khớp của đốt sống lưng Ðau lưng vì cơ học thường bắt đầu từ chỗ rách của đốt sống phía dưới Loại đau cơ học này cũng có thể làm đau lan ra mông hoặc đùi nhưng rất hiếm bị đau lan xuống đầu gối
* Ðau do chèp ép thần kinh xảy ra ở gốc dây thần kinh nơi mà dây thần kinh rời cột sống để đến các nơi ngoại biên Một nguyên nhân thông thường
là thoái vị nhân đĩa đệm (herniated disk) Các dây thần kinh từ cột sống ra tạo thành dây thần kinh toạ Dây thần kinh toạ cung cấp cảm giác và điều khiển vận động cơ của phần dưới của cẳng chân Ðè ép hoặc gây kích thích rễ của dây thần kinh thắt lưng có thể làm ảnh hưởng đến chức năng của dây thần kinh toạ Một trong những dấu hiệu sớm của sự đè ép của rễ thần kinh là tê cứng vùng mà dây thần kinh chi phối cảm giác, thường là có một vùng bị đau
đó là dưới đầu gối tới bàn chân Khi mà có sự đè ép của dây thần kinh, nơi mà
nó vừa ra khỏi cột sống lưng thì thường chính lưng có thể không bị đau Cho nên đôi lúc làm cho nhiều người nhầm lẫn vì không thấy đau lưng mà tổn
Trang 14thương lại nằm ở phía thắt lưng Cuối cùng khi mà thần kinh chi phối các cơ
bị đè ép, bắp thịt sẽ trở nên yếu và phản xạ thần kinh sẽ bị mất đi Ðó là vì sự chèn ép/đè ép của rễ thần kinh ngăn cản những tín hiệu thông tin từ não bộ đến các cơ đó để chỉ thị cho cơ bắp đó co thắt làm việc Hẹp ống tuỷ sống (spinal stenosis) cũng là nguyên nhân làm đau do đè ép Trong một số người, thoái hóa tuỷ sống tạo thành hẹp ống tuỷ nơi mà dây thần kinh cột sống ở đó Ðây là nguyên nhân gây ra tất cả dây thần kinh nằm trong ống tuỷ bị sưng và không còn làm việc được nữa Một lý do là khi ống tuỷ bị nhỏ lại máu không lưu thông đủ để cung cấp cho các dây thần kinh này Khi chúng ta nghỉ ngơi thì các dây thần kinh này bình thường nhưng khi chúng ta vận động thì các dây thần kinh này cần nhiều máu và chất dưỡng khí (oxygen), nhưng vì ống tuỷ quá nhỏ sự cung cấp máu không tăng lên được Ðây là lý do gây tê cả hai chân và tê trở nên tê hơn khi đi bộ Ðau có thể đau cả hai chân Ðau cũng trở nên nhiều hơn như lúc đi bộ và đỡ hơn sau một lúc nghỉ ngơi Yếu cơ cũng
có thể xảy ra một lần nữa và thường sẽ nặng hơn khi vận động tăng hơn
* Trong một vài trường hợp thoái vị đĩa đệm cũng có thể nhiều đến nỗi chiếm toàn bộ ống tuỷ sống Sự đè ép tức thời trên các dây thần kinh tuỷ sống sẽ gây nên liệt các cơ chi phối vận động của ruột và bàng quang Bệnh này được gọi là "cauda equina syndrome" - triệu chứng đuôi ngựa Nếu mà bệnh nhân không tự chủ được đại tiểu tiện, cần thông báo cho bác sĩ ngay, đây
là trường hợp cần phải phẫu thuật [16], [23], [49]
Trang 15cột sống Một số nghiên cứu cho thấy có tới trên một nửa số trường hợp đau lưng khỏi trong vòng 2 tuần, nhưng tỷ lệ tái phát khá cao sau một tháng hoặc một nǎm sau Có khoảng 5 đến 10% bệnh nhân bị đau vùng thắt lưng cấp chuyển thành mạn tính [2], [43]
Trong nhiều trường hợp, chúng ta không có khả nǎng xác định chính xác nguyên nhân sinh lý bệnh của đau lưng, do vậy chẩn đoán và điều trị thường là không đặc hiệu Hơn nữa, đau đã ảnh hưởng đến tình thần của người bệnh và thường gây ra cảm giác bệnh không đỡ, đặc biệt là ở những người có tiền sử khỏe mạnh Hậu quả sau đó là cả thầy thuốc và bệnh nhân đều trở nên thất vọng Việc có quá nhiều cách điều trị đã cho thấy những cố gắng của thầy thuốc thường không đem lại hiệu quả trong việc xử lý vấn đề này Cũng như vậy, việc đến nhiều thấy thuốc khám nhiều lần của bệnh nhân
bị đau vùng thắt lưng cho thấy sự không thỏa mãn của bệnh nhân Các thầy thuốc gia đình, thầy thuốc nội khoa, bác sĩ sản khoa, các bác sĩ phòng cấp cứu, bác sĩ chỉnh hình, các nhà thần kinh, phẫu thuật thần kinh, các nhà thao tác trị liệu, các nhà điều trị bằng nắn bóp cột sống, các nhà chữa bệnh bằng lòng tin, các nhà châm cứu, các nhà điều trị bằng xoa bóp và lý liệu pháp, tất
cả đều điều trị đau vùng thắt lưng Sự chẩn đoán và điều trị phụ thuộc rất nhiều vào thầy thuốc hoặc người điều trị đầu tiên Thí dụ bệnh nhân đến gặp một bác sĩ phẫu thuật thần kinh trước thì có nhiều khả nǎng được làm tủy đồ hoặc chụp CT scan Một bệnh nhân đến gặp một nhà nắn bóp cột sống thì có nhiều khả nǎng sẽ được tiến hành một loạt các thao tác điều trị [10], [34]
Một số yếu tố liên quan đến hội chứng thắt lƣng hông
Dương Thế Vinh (2001) nghiên cứu trên những công nhân hái chè nông trường Thanh Ba (Phú Thọ) cho biết tỷ lệ ĐTL là 40,3%, điều kiện lao động vất vả, tư thế lao động gò bó là yếu tố nguy cơ dẫn đến tỷ lệ ĐTL cao như vậy Có sự liên quan giữa tỷ lệ ĐTL và thâm niên hái chè, nhóm có thâm
Trang 16niên hái chè dưới 10 năm tỷ lệ ĐTL 29,76%, nhóm thâm niên trên 20 năm tỷ
lệ ĐTL cao hơn rõ rệt là 49,56% [26]
Năm 2001 Lê Thế Biểu nghiên cứu tình hình ĐTL ở một số đối tượng lao động và đơn vị quân đội thuộc tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh thấy tỷ lệ ĐTL 27,29%, trong đó tỷ lệ ĐTL ở những công nhân 27,11%, ở quân nhân làm nhiệm vụ lái xe tải, lái xe tăng là 28,08% và ở học sinh là 25,21% Nghiên cứu còn cho thấy có 47,88% ĐTL sau khi nâng vác nặng Điều tra tại phân xưởng đóng bao của nhà máy xi măng Hoàng Thạch và công nhân bảo quản vũ khí ở kho KV4 thấy 100% số công nhân bốc vác (nâng vác và xếp các bao xi măng 50 kg lên ô tô, khiêng xếp thùng đạn vào kho) đều bị ĐTL
Có thể do tải trọng được đặt lên cột sống một cách đột ngột đã làm tỷ lệ ĐTL cao như vậy Có 25,21% quân nhân nghĩa vụ quân sự ở đảo bị ĐTL, điều kiện sống của những quân nhân này ở trong môi trường khí hậu khắc nghiệt và luôn sống trong một tâm lý căng thẳng vì xa nhà, xa đất liền là những yếu tố nguy cơ có thể có liên quan đến tỷ lệ ĐTL ở đối tượng này [3]
Nguyễn Đình Dũng và cộng sự nghiên cứu tình hình đau thắt lưng ở công nhân may công nghiệp cho biết tỷ lệ đau thắt lưng ở công nhân may là 60,5%, cao gấp 2,8 lần nhóm giáo viên (p < 0,05) Có 98,2% công nhân may xuất hiện ĐTL trong và cuối ca lao động, ĐTL gây ảnh hưởng tới lao động và sinh hoạt của công nhân rõ rệt: phần lớn công nhân may (76,7%) và giáo viên (100%) đều hạn chế công việc và hạn chế vận động do ĐTL, số công nhân bị rối loạn giấc ngủ chiếm tỷ lệ 38,3% và hạn chế tình dục 3,9%, cao hơn nhóm giáo viên, 11,2% công nhân may và 2% giáo viên phải nghỉ việc vì ĐTL Tỷ
lệ ĐTL cấp tính và bán cấp tính là 88,7% Nguyên nhân gây ĐTL ở công nhân may được cho rằng do lao động ở tư thế gò bó [9]
Nghiên cứu của Lưu Thu Hà từ năm 2007 đến 2010 về thực trạng đau thắt lưng trong công nhân nhà máy gang thép Thái Nguyên và can thiệp
Trang 17bằng kết hợp nhiệt nóng với tập thể dục có đưa ra một số yếu tố liên quan như: những người công nhân có các hoạt động tăng gánh nặng cho CSTL có
tỷ lệ đau thắt lưng là 33,4%, hơn hẳn so với những công nhân trong công việc
có các hoạt động khác (27,2%) Những người có công việc vượt sức chịu đựng của họ có tỷ lệ đau thắt lưng là 40,4%, nguy cơ đau thắt lưng cao gấp 1,91 lần những người cảm thấy công việc vừa với sức chịu đựng Những công nhân làm việc ở tư thế đứng và cúi có liên quan đến đau thắt lưng, tỷ lệ đau thắt lưng của những người làm việc ở tư thế đứng và cúi là 41,3%, cao hơn tỷ
lệ mắc của những người làm việc ở tư thế khác là 30,0% Có 607/1033 người thực hiện tư thế ngồi làm việc không đúng, nguy cơ đau thắt lưng cao gấp 1,43 lần những người thực hiện tư thế ngồi đúng; có 915/1033 người thực hiện bê vật nặng không đúng, nguy cơ đau thắt lưng cao gấp 1,89 lần những người có tư thế đúng, có 949/1033 người có tư thế xách vật nặng không đúng, nguy cơ đau thắt lưng cao gấp 4,10 lần những người có tư thế xách vật nặng đúng [12]
1.1.4 Lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng thắt lưng hông
1.1.4.1 Lâm sàng: hội chứng thắt lưng hông gồm có hai hội chứng thành
phần là hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh
* Hội chứng cột sống:
- Đau: đau cột sống thắt lưng có thể xuất hiện đột ngột cấp tính tự phát hoặc sau chấn thương, nhưng cũng có thể xuất hiện từ từ theo kiểu bán cấp hoặc mạn tính Đau thường khu trú rõ ở những đốt sống nhất định Cường độ đau nếu cấp tính có thể dữ dội, nếu bán cấp và mạn tính có thể chỉ âm ỉ
- Điểm đau cột sống: khi khám ấn trên mỏm gai các đốt sống bệnh nhân sẽ thấy đau chói ở các trên đốt sống bị bệnh
- Biến dạng cột sống: biểu hiện là thay đổi cong sinh lý cột sống thắt lưng (giảm ưỡn, mất ưỡn cột sống thắt lưng hoặc cong sinh lý đảo ngược có
Trang 18nghĩa là cột sống thắt lưng không ưỡn như bình thường mà lại gù) và lệch vẹo cột sống
- Giảm biên độ hoạt động của cột sống thắt lưng: Các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay cột sống đều bị hạn chế Khi cúi: chỉ số Schober giảm (< 14/10), khoảng cách ngón tay - nền nhà tăng (> 0 cm)[5], [21]
- Giảm khả năng đi lại, hoạt động và sinh hoạt của bệnh nhân
+ Các dấu hiệu căng rễ thần kinh: Đó là các nghiệm pháp nhằm phát hiện một dây hoặc rễ thần kinh nào đó có tăng kích thích không?
- Điểm đau cạnh sống: ấn trên đường cạnh sống, ngang điểm giữa của khe gian đốt bệnh nhân thấy đau
- Các điểm đau Valleix: ấn trên một số điểm dọc đường đi của dây thần kinh hông to thì bệnh nhân đau
- Dấu hiệu Lasègue: bệnh nhân nằm ngửa, 2 chân duỗi thẳng, từ từ nâng gót chân lên khỏi mặt giường Bình thường có thể nâng được một góc
>700 bệnh nhân không đau, nếu nâng một góc dưới 700 bênh nhân đau phải gấp gối lại là dương tính
- Dấu hiệu Déjerine dương tính: ho hắt hơi bệnh nhân đau tăng
- Dấu hiệu Siccar dương tính: gấp bàn chân về phía mu, trong khi chân duỗi thẳng bệnh nhân sẽ thấy đau
- Dấu hiệu Bonnet dương tính: gấp mạnh cẳng chân vào đùi và đùi vào bụng bệnh nhân thấy đau
Trang 19+ Rối loạn cảm giác:
Rối loạn cảm giác nông tại vùng da do các rễ thần kinh bị tổn thương phân bố Trong đó có hai rễ quan trọng là rễ L5 và S1
- Rễ L5: phân bố cảm giác cho dải da dọc mặt ngoài đùi, cẳng chân tới mắt cá ngoài, mu bàn chân và ngón chân 1- 2
- Rễ S1: phân bố cảm giác cho dải da dọc mặt sau đùi, cẳng chân, tới gót chân và gan bàn chân
+ Rối loạn vận động:
- Bệnh nhân không đi xa được do đau, đi phải nghỉ từng đoạn
- Yếu các cơ do các rễ thần kinh bị tổn thương phân bố
Rễ L5: nhóm cơ chày trước bị yếu, bệnh nhân gấp bàn chân về phía mu khó khăn, khi làm nghiệm pháp đứng trên gót chân bệnh nhân đứng rất khó
Rễ S1: giảm sức cơ dép, bệnh nhân gặp khó khăn khi duỗi thẳng bàn chân, khi làm nghiệm pháp đứng trên mũi bàn chân bệnh nhân đứng rất khó khân
+ Rối loạn phản xạ: khi có tổn thương rễ thần kinh S1 sẽ thấy giảm hoặc mất phản xạ gân gót
+ Rối loạn thực vật dinh dưỡng: nhiệt độ da giảm, rối loạn tiết mồ hôi, mất phản xạ dựng lông, lông chân khô dễ gẫy, teo cơ Các triệu chứng rối loạn thực vật chỉ thấy rõ khi có tổn thương dây thần kinh ngoại vi Trong tổn thương rễ thần kinh các biểu hiện trên không rõ rệt [5],[21],[32],[35]
1.1.4.2 Cận lâm Sàng
- Chụp XQ thẳng nghiêng thường qui hoặc cộng hưởng từ vùng cột sống thắt lưng: Có thể xác định được các nguyên nhân gây bệnh: Thoát vị đĩa đệm, rách vòng đĩa đệm, gai cột sống, hẹp ống sống…
- Các xét nghiệm khác như công thức máu, xét nghiệm đánh giá chức năng gan, thận chủ yếu phục vụ điều trị và tiên lượng bệnh [21]
Trang 201.2 Điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông bằng phương pháp kết hợp nội khoa và kéo giãn cột sống thắt lưng
1.2.1 Một vài nét về các phương pháp điều trị hội chứng thắt lưng hông
Hiện nay việc điều trị hội chứng thắt lưng hông đang được áp dụng bằng các phương pháp sau:
1.2.1.1 Điều trị bảo tồn: có rất nhiều phương pháp điều trị bảo tồn có thể lựa
chọn điều trị cho các trường hợp ĐTL
- Sử dụng thuốc: có thể sử dụng các thuốc chống viêm, giảm đau không
có nhân Steroid (non – steroid) hoặc loại có nhân steroid, các thuốc giãn cơ,
an thần và các Vitamin nhóm B
- Phong bế giảm đau cạnh cột sống, phong bế vào rễ thần kinh ở lỗ ghép khi xác định chắc chắn vị trí định chọc hoặc phong bế ngoài màng cứng cho các trường hợp ĐTL do căn nguyên đĩa đệm
- Tiêm Hydrocortison vào đĩa đệm: phương pháp này được Feifer HL
là người đầu tiên tiêm cho 18 bệnh nhân năm 1956, 14 bệnh nhân kết quả tốt Tuy nhiên phương pháp này hiện nay không được áp dụng vì thao tác khó và nhiều biến chứng [37]
- Các phương pháp Vật lý trị liệu: nhiệt trị liệu, kéo giãn cột sống, điện trị liệu, xoa bóp…
- Điều trị bằng phương pháp Đông y như châm cứu, bấm huyệt [18],[42]
1.2.2.2 Điều trị bằng phương pháp can thiệp tối thiểu: phương pháp điều trị
can thiệp tối thiểu được áp dụng điều trị cho các trường hợp ĐTL có nguyên nhân do đĩa đệm cột sống mà muốn tránh một cuộc phẫu thuật, có thể lựa chọn điều trị bằng một trong các phương pháp sau [24]
- Liệu pháp làm mất nước bằng dung dịch ưu trương
- Phương pháp hóa tiêu nhân
Trang 21- Phương pháp tiêm ozon oxygen vào đĩa đệm
- Điều trị giảm áp đĩa đệm bằng tia laser
1.2.2.3 Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật: chỉ đặt ra với những trường
hợp ĐTL do thoát vị đĩa đệm cột sống mức độ nặng hoặc điều trị nội khoa thất bại Có thể lựa chọn áp dụng một trong các phương pháp sau [24].:
- Cắt đĩa đệm bằng đường vào phía sau
- Cắt đĩa đệm thắt lưng bằng kính vi phẫu
- Cắt đĩa đệm thắt lưng bằng nội soi vi phẫu
- Cắt đĩa đệm và hàn xương bằng đường vào phía trước cột sống
- Cắt đĩa đệm và hàn xương tự thân bằng đường vào phía sau
- Phương pháp cấy nhân đĩa đệm giả
1.2.2 Những vấn đề cơ bản trong phương pháp điều trị kéo giãn cột sống thắt lưng hiện nay
1.2.2.1 Cơ sở sinh học của phương pháp kéo giãn cột sống[25], [36]
Kéo giãn cột sống là hình thức dùng lực thích ứng để kéo cột sống giãn ra một cách từ từ, thường được áp dụng để kéo cột sống cổ hoặc cột sống thắt lưng
* Vài nét tổng quan về điều trị hội chứng thắt lưng bằng phương pháp kéo giãn cột sống
Kéo giãn cột sống đã được chứng minh là phương pháp điều trị có kết quả và được ứng dụng từ thời kỳ cổ đại trong việc chữa trị chứng bệnh đau vùng thắt lưng hông, dựa trên cơ sở của sự tác động làm tách rời các đơn vị chức năng vận động của cột sống
Điều trị thoát vị đĩa đệm bằng kéo giãn cột sống đã được Wildhagen đề xuất từ năm 1952 Đây là một kỹ thuật có tác dụng khá tốt nhưng chỉ được tiến hành ở các cơ sở y tế chuyên khoa
* Cơ chế tác dụng
Làm giãn cơ tích cực: trong bệnh lý đau cột sống, sự kích thích rễ thần kinh và đau, sẽ gây ra co cứng cơ phản xạ, nếu sự co cứng tác động trở lại sẽ
Trang 22làm cho cơn đau càng trầm trọng hơn Kéo giãn cột sống trước tiên lực sẽ tác động lên cơ và gây và giãn cơ thụ động, giảm co cứng cơ và cắt đứt vòng xoáy bệnh lý đau Tuy nhiên trong khi kéo, nếu tăng giảm lực quá nhanh có thể gây kích thích làm tăng co cơ, do đó cần tăng giảm lực từ từ, đặc biệt là trong bệnh lý đau cấp
Làm giảm áp lực nội đĩa đệm: lực kéo giãn dọc theo cột sống sẽ tác động vào nhiều điểm khác nhau của đoạn cột sống làm các khoang được giãn rộng và có thể cao thêm trung bình 1,1mm mỗi đốt Trong quá trình làm giảm
áp lực nội đĩa đệm, sẽ mang lại tác dụng điều trị
Làm tăng thẩm thấu nuôi dưỡng đĩa đệm, giúp nhân nhày và đĩa đệm căng phồng trở lại, tăng dinh dưỡng cho đĩa đệm do đó làm giảm quá trình thoái hóa của đĩa đệm Có thể giúp thu nhỏ thể tích đĩa đệm bị lồi hoặc thoát
vị (nếu khối thoát vị chưa bị xơ hóa)
Điều chỉnh sai lệch của khớp đốt sống và cột sống: trong thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm do chiều cao khoang gian đốt giảm, làm di lệch diện khớp đốt sống Sự di lệch này tuy nhỏ nhưng nó sẽ thúc đẩy quá trính thoái hóa và kích thích gây đau tăng lên Kéo giãn cột sống làm điều chỉnh di lệch, tăng tính linh hoạt của khớp đốt sống và giải phóng sự khóa cứng của các khớp đốt sống
Giải phóng sự chèn ép lên các rễ và dây thần kinh sống: do làm tăng kích thước lỗ tiếp hợp, giảm thể tích khối thoát vị… từ đó làm giảm kích thích rễ và giảm đau
* Các yếu tố ảnh hưởng đến lực tác dụng lên cột sống
- Trọng lượng cơ thể: lực ép lên cột sống do trọng lực là tương đối nhỏ, chiếm khoảng 55% trọng lượng cơ thể Trung bình ở nam giới là 39 kg Tuy nhiên, khi cột sống chuyển động nhanh thì trọng lượng tác động lên cột sống lại tương đối nhiều vì lực quán tính tương đương với mức độ chuyển động
Trang 23- Tư thế:
+ Khi đứng hoặc ngồi thì lực tác động lên đĩa đệm lần lượt từ ngoài vào trong là 51 kg và 71 kg, trong đó 39 kg là trọng lượng cơ thể phần còn lại là
do cơ lưng và cơ bụng
+ Khi cúi về phía trước hoặc nâng vật nặng từ dưới đất lên thì cơ lưng tạo ra Moment lực duỗi lớn cơ dựng sống tác động lên trung tâm đĩa đệm cột sống với cánh tay đòn ngắn, vì thế tạo ra một lực căng rất lớn ép lên cột sống thắt lưng Khi cúi hoặc nâng vật nặng căng cơ ép lên cột sống một lực gấp 5 – 10 lần trọng lượng cơ thể
+ Lực ép lên cột sống tăng dần từ 25kg, 51kg, 71kg lần lượt từ tư thế nằm ngửa, đứng, ngồi Khi sách một vật nặng 5 kg với cánh tay dạng lực này
là 194 kg và tăng tới 561 kg khi nâng một vật 30 kg từ mặt đất Đĩa đệm là nơi chịu trọng tải áp lực khá lớn ở cột sống thắt lưng, ở tư thế nằm là 15-25
kg, đứng là 100 kg, ngồi là 150 kg còn ở các tư thế nghiêng hay hạ nâng các vật thì lực này sẽ tăng rất nhiều
* Tóm lại: Phương pháp kéo giãn cột sống vùng thắt lưng sẽ làm giảm
áp lực của cột sống đè ép lên đĩa đệm, làm giảm chèn ép vào các các rễ của thần kinh toạ, giảm dần triệu chứng tại vùng thắt lưng hông và phần cơ thể phía dưới do dây thần kinh toạ chi phối
1.2.2.2 Các kỹ thuật kéo giãn cột sống
- Nằm bàn dốc: chỉ cần một mặt bàn phẳng (giảm độ ma sát) cùng một
bộ đai cố định ở nách và ngực bệnh nhân Lực kéo được điều chỉnh bằng góc
độ dốc của mặt bàn so với mặt phẳng nằm ngang (mặt phẳng nền), độ dốc càng nhiều thi lực kéo càng lớn do tự trọng lượng của bệnh nhân trượt xuống theo mặt bàn Cách kéo này lực bị dàn đều từ chỗ cố định trở xuống, tuy nhiên đoạn cột sống ở càng gần nơi cố định chựu lực càng lớn Phương pháp này đơn giản, thuận tiện dễ thực hiện ở mọi cơ sở và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng Hạn chế của kỹ thuật này là phụ thuộc vào trọng lượng của
Trang 24bệnh nhân và khó khăn cho việc thực hiện kéo liên tục (gây khó chịu nhiều cho bệnh nhân)
- Kéo giãn bằng lực đối trọng: kỹ thuật này được áp dụng ở tư thế nằm, lực kéo thường được tập trung vào các vùng nhất định Tại vùng định kéo dùng 2 đai một đai cố định và một đai kéo (khoảng giữa 2 đai là phần chịu lực kéo chủ yếu) Lực kéo xác định bằng số cân nặng của tạ kéo Trong khi kéo
có thể tăng giảm lực kéo bằng cách thay đổi trọng lượng của tạ
- Hệ thống kéo giãn dưới nước: là một kỹ thuật kết hợp thuỷ trị liệu và kéo giãn cột sống Hệ thống gồm một bể sâu khoảng 2m với nhiệt độ ấm giúp cho giãn cơ lúc kéo Kéo theo trục thẳng đứng được cố định ở các phao đặt ở nách, lực kéo bằng tạ mác ở đai kéo thắt lưng Do có sức đẩy của nước nên lực kéo thông thường phải lớn hơn khi kéo bình thường [17],[44]
- Kéo giãn trên hệ thống bàn-máy kéo: hệ thống này được tự động hoá,
xử dụng nguyên lý trượt hiện đại và được xử lý các thông số qua máy vi tính Chế độ kéo có thể liên tục, ngắt quãng, có lực nền và có thể điều chỉnh tăng giảm Có thể tự điều chỉnh bằng tay hoặc đặt kéo theo chương trình, Có bộ phận để bệnh nhân tụ ngừng kéo khi thấy khó chịu Hiện nay các bàn – máy kéo được sử dụng khá rộng rãi, một số bàn máy kéo được sử dụng phổ biến như Trutrac(Mỹ), Eltrac(Hà Lan), TM 300, TM400 (nhật Bản) Tại Bệnh viện
Đa khoa Thái Nguyên đang sử dụng một số loại là Eltrac của Hà Lan, BIOTRACK của Hàn Quốc và TM 400 do hãng ITO của Nhật Bản sản xuất
1.3 Tình hình điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lƣng hông hiện nay trên thế giới và Việt Nam
1.3.1.Tình hình điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông hiện nay trên thế giới
1.3.1.1 Can thiệp bằng tác động vào KAP (Knowledge, Attitude, Practice- Kiến thức - Hành vi - Thực hành) của đối tượng
932 bệnh nhân tuổi từ 18-65 được tham gia một thử nghiệm lâm sàng can thiệp về tâm lý xã hội nhằm giảm thiểu sự lo lắng, trầm cảm, cải thiện
Trang 25chất lượng cuộc sống cho những người ĐTL ở 38 Trung tâm Chăm sóc sức khỏe Barcelona Tây Ban Nha và các khu vực lân cận Kết quả các đối tượng nghiên cứu đã cải thiện đáng kể hiểu biết về bệnh do vậy giảm được sự lo lắng về bệnh
37 đối tượng bị ĐTL cấp tính và mạn tính được Paatelma M và cộng
sự điều trị bằng tư vấn để thay đổi kiến thức, thái độ và các hoạt động trong điều trị bệnh, đánh giá sau điều trị 3 tháng, 6 tháng và 1 năm thấy có sự cải thiện đáng kể tình trạng ĐTL và đau thần kinh tọa ở các đối tượng trên
Tác giả Rozenberg S cho rằng các yếu tố chính gây ĐTL trở thành mạn tính là những yếu tố cá nhân, yếu tố tâm lý hoặc các yếu tố xã hội nghề nghiệp trong đó các yếu tố xã hội nghề nghiệp gây nhiều ảnh hưởng hơn so với các yếu tố vật lý, các liệu pháp làm thay đổi nhận thức, hành vi và trị liệu phục hồi chức năng có thể cải thiện đáng kể tình trạng ĐTL
Một bảng thống kê 495 tin tức từ báo chí và tạp chí xuất bản năm
2001-2003 và 2005-2006 ở Na Uy cho thấy thông tin về yếu tố nguy cơ đau thắt lưng, phương phám khám, điều trị và phòng ngừa là chủ đề được đề cập nhiều nhất, 44- 62% các ấn phẩm có hướng dẫn các động tác đúng trong hoạt động hàng ngày và trong công việc, kết quả người dân có kiến thức về đau thắt lưng tốt hơn nhờ những bài báo này
108 bệnh nhân ĐTL mạn tính tự nguyện tham gia vào thử nghiệm lâm sàng và được chia ngẫu nhiên vào ba nhóm điều trị: Nhóm 1 điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu và vận động trị liệu, nhóm 2 điều trị vận động trị liệu, nhóm 3 điều trị bằng tư vấn thay đổi hành vi Trong 4 tuần đầu, không có
sự khác biệt kết quả điều trị giữa các nhóm, sau 6 tháng nhóm 1 giảm cường
độ đau hơn các nhóm còn lại Thử nghiệm cho thấý các phương pháp điều trị riêng biệt không hiệu quả để cải thiện ĐTL mạn tính [47]
Trang 261.3.1.2 Can thiệp bằng tác động vào hệ thống chăm sóc sức khỏe
Tại Anh các bác sỹ gia đình là nơi liên hệ đầu tiên mà các bệnh nhân tìm kiếm cho việc chăm sóc sức khỏe, Chính phủ Vương quốc Anh dự định rằng các bác sĩ gia đình sẽ có trách nhiệm trong việc quản lý, cấp giấy chứng nhận bệnh tật và đưa ra lời khuyên đến các bộ phận quản lý lao động của các đối tượng trên Coole C và cộng sự qua nghiên cứu 441 bác sỹ gia đình thấy rằng 76,8% các bác sỹ chưa đáp ứng được nhiệm vụ, do vậy, một chương trình hoạt động nhằm thay đổi nhận thức của các bác sỹ gia đình về vai trò của họ để đáp ứng được nhu cầu người dân của chính phủ đã được thực hiện
Đau thắt lưng mạn tính là một bệnh phổ biến đòi hỏi có sự chăm sóc sức khỏe thường xuyên và tuân thủ các hướng dẫn theo những người chăm sóc sức khỏe trong khoảng thời gian dài Wasiak R đưa ra mô hình quản lý, chăm sóc bệnh nhân ĐTL gồm những người chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp, các hãng bảo hiểm lao động, các bác sĩ gia đình…sự phối hợp hoạt động của những đối tượng này đóng vai trò quan trọng để quản lý, chăm sóc, giáo dục nâng cao kiến thức cho bệnh nhân ĐTL
Vai trò của y tế cơ sở trong hoạt động của chương trình rất quan trọng Werner EL thực hiện một nghiên cứu so sánh kiến thức, thái độ và thực hành của 1105 bác sĩ vật lý trị liệu và bác sĩ chuyên khoa xương khớp trong ba quận của Na Uy về quản lý và điều trị cho những bệnh nhân ĐTL Kết quả nghiên cứu cho thấy các bác sỹ chuyên khoa xương khớp có số lượng bệnh nhân ĐTL lớn nhất trong tổng số bệnh nhân của họ nên họ thể hiện quan tâm mức độ cao nhất cho nhóm bệnh nhân này Không có sự khác biệt cơ bản về kiến thức giữa các nhóm bác sĩ, 77% bác sĩ vật lý trị liệu sẽ tham khảo với bác sĩ thần kinh những trường hợp đau thần kinh tọa cấp tính, trong khi chỉ 24% bác sĩ chuyên khoa xương khớp làm như vậy 65% các bác sĩ và 10% bác sĩ chuyên khoa xương khớp giới thiệu bệnh nhân ĐTL mạn tính điều trị
Trang 27vật lý trị liệu Các bác sỹ ở các lĩnh vực khác nhau và bác sĩ vật lý trị liệu có
sự hợp tác tốt, trong khi các bác sĩ chuyên khoa xương khớp dường như ít khi giới thiệu bệnh nhân những phương pháp chữa bệnh khác Một phần năm các bác sĩ và bác sĩ chuyên khoa xương khớp và 13% bác sĩ vật lý trị liệu chẩn đoán ĐTL cấp tính có dựa vào phim xquang Rất ít bác sĩ cho rằng có thể chữa khỏi ĐTL, ngoài ra ít người tin rằng có thể tìm thấy một nguyên nhân chính xác cho bệnh nhân ĐTL [12], [36], [50]
1.3.1.3 Can thiệp bằng các phương pháp nội khoa
305 bệnh nhân ĐTL được Liu M, Huang ZM chia một cách ngẫu nhiên thành hai nhóm, một nhóm 153 bệnh nhân điều trị bằng phương pháp phong
bế thần kinh và một nhóm 152 bệnh nhân điều trị bằng sóng cực ngắn với dòng điều biến tần số trung bình phối hợp với mát xa và tập luyện chức năng Kết quả sau điều trị, mức độ đau và tầm vận động cột sống thắt lưng được cải thiện ở cả hai nhóm và kết quả điều trị của nhóm phong bế thần kinh tốt hơn nhóm điều trị sóng cực ngắn kết hợp với Massage
Một báo cáo về tác dụng điều trị của diclofenac kết hợp với điều trị bằng động lực quang học cho các bệnh nhân đau thắt lưng kèm cao huyết áp thấy: điều trị diclofenac đưa vào tĩnh mạch thời gian ngắn trước khi điều trị động lực quang học đã làm giảm một cách có ý nghĩa mức độ đau của những bệnh nhân ĐTL có tăng huyết áp
Vorsanger GJ đánh giá sự an toàn và hiệu quả của Tramadol trong điều trị cho 386 bệnh nhân đau thắt lưng mạn tính Bệnh nhân được chia thành 3 nhóm; chọn ngẫu nhiên 128 người điều trị Tramadol 300 mg/lần/ngày; 129 bệnh nhân điều trị Tramadol 200 mg/lần/ngày và 129 điều trị giả dược Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giảm đau của nhóm tiêm 300 mg tốt hơn nhóm điều trị bằng giả dược với p = 0,009, nhóm tiêm 200 mg cũng có sự cải thiện khác biệt với nhóm dùng giả dược p = 0,0052, chất lượng giấc ngủ cả 2
Trang 28nhóm điều trị Tramadol cải thiện đáng kể (p ≤ 0,029) so với giả dược Kết quả nghiên cứu không thấy có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa nhóm hai nhóm điều trị Tramadol Các tác dụng không mong muốn hay gặp là buồn nôn, táo bón, nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ, và tiêu chảy
Phương pháp tiêm corticosteroid - procaine ngoài màng cứng cho bệnh nhân đau lưng mãn tính do thoái hóa không đáp ứng với các thuốc chống viêm không steroid được Dulović D và cộng sự điều trị cho 60 bệnh nhân tuổi từ 34-85 Kết quả 92% bệnh nhân giảm cường độ đau đớn sau ba tháng [12], [26]
1.3.1.4 Can thiệp bằng các phương pháp Vật lý trị liệu
Các tác giả Waller B, Lambeck J, Daly D áp dụng phương pháp thể dục dưới nước để điều trị cho các trường hợp ĐTL trong đó có nguyên nhân ĐTL liên quan đến mang thai ở nữ Kết quả cho thấy tập thể dục dưới nước có tác dụng giảm ĐTL, tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy phương pháp này không tốt hơn các biện pháp can thiệp khác cho bệnh nhân bị đau thắt lưng và đau thắt lưng liên quan đến có thai
Năm 2008, Helmhout PH và cộng sự ở Thụy Sĩ đánh giá hiệu quả điều trị ĐTL bằng phương pháp vật lý trị liệu cho 127 quân nhân bằng tập thể dục
và tập aerobic, một nhóm tập với tần xuất 2 lần/1 tuần, một nhóm tập thường xuyên, kết quả cho thấy cả hai nhóm mức độ ĐTL giảm dần sau 10 tuần điều trị và tốt dần ở 12 tháng tiếp theo
Nghiên cứu của Fritz JM, Cleland JA và cộng sự đã nghiên cứu qua hồ sơ thanh toán của các nhà bảo hiểm cho 471 bệnh nhân ĐTL cấp tính, kết quả cho thấy bệnh nhân được điều trị vật lý trị liệu có kết quả tốt hơn điều trị kê đơn thuốc (57,2% so với 46,2%, p < 0,05), chi phí thấp hơn (trung bình $ 167, p
<0,05), triệu chứng đau được cải thiện hơn và tàn tật cũng được cải thiện
Trang 29Macario A điều trị 94 ĐTL mạn tính do đĩa đệm bằng máy kéo giãn cột sống DRX9000 kết hợp với nhiệt nóng hoặc với nước đá và kích thích
cơ bắp bằng điện Kết quả tỷ lệ giảm đau được cải thiện 83% ở các đối tượng nghiên cứu
Kỹ thuật điều trị laze qua da kết hợp với hỗn hợp O2 - O3 được Zhao
B, Shao GH, Yu Y áp dụng điều trị cho 48 bệnh nhân có thời gian đau kéo dài trên 6 tháng Kết quả cho thấy kỹ thuật laze qua da kết hợp với hỗn hợp O2- O3 là phương pháp hiệu quả và an toàn trong điều trị đau thắt lưng nguồn gốc do đĩa đệm
Năm 2008, Yousefi-Nooraie R và cộng sự nghiên cứu hiệu quả của laser công suất thấp trong điều trị các rối loạn cơ xương như đau lưng, nghiên cứu chỉ ra kết quả điều trị phụ thuộc nhiều vào thời gian điều trị, bước sóng
và liều lượng sử dụng [47], [49]
1.3.1.5 Can thiệp bằng các biện pháp khác
Muto M mô tả phương pháp tiêm ozon (O2-O3) trong đĩa đệm để điều trị cho 2.900 bệnh nhân dưới hướng dẫn của X quang (CT) Kết quả ở 6 và 12 tháng tỷ lệ thành công là 75 - 80% cho các trường hợp ĐTL, 70% ở đối tượng thoát vị một đĩa, và 55% cho thoát vị tầng
Dùng đai hỗ trợ thắt lưng có thể ngăn chặn sự khởi đầu đau thắt lưng hoặc ngăn ngừa tái phát của các trường hợp ĐTL (phòng chống) hay không, Van Duijvenbode IC, Jellema P đánh giá hiệu quả điều trị của phương pháp qua tám nghiên cứu điều trị trên 1.361 người, kết quả nghiên cứu chưa chứng minh rõ hiệu quả của phương pháp so với các can thiệp khác
56 bệnh nhân được Maurer P lựa chọn điều trị bằng nhiệt điện trong các đĩa đệm, kết quả mức độ đau lưng của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt so với trước điều trị (p = 0,0001), khả năng hoạt động như ngồi, đứng, và đi bộ cải thiện với p = 0,0001 [42]
Trang 30Đĩa đệm nhân tạo đã có lúc được gọi là "vàng" để điều trị đau thắt lưng
và ĐTL có đau thần kinh tọa do thoái hóa đĩa, tuy nhiên Mulholland RC thấy đây là phương pháp còn có những hạn chế [46]
Với mục tiêu nghiên cứu tính khả thi và tác dụng điều trị của phương pháp thiền, một chương trình dành cho cộng đồng người lớn tuổi bị đau thắt lưng mạn tính, Morone NE nghiên cứu ở 89 người có độ tuổi trung bình 74,9,
tỷ lệ nữ là 57%, thời gian thiền trung bình 4,3 ngày một tuần và trong khoảng 31,6 ngày Chương trình cho thấy có sự cải thiện đau đớn, cải thiện chức năng
ở những người tham gia nghiên cứu
Các tác giả Wei J, Zhao P, Zhou W tiến hành điều trị cho những bệnh nhân ĐTL và đau thần kinh toạ mạn tính bằng mát xa 1 lần một tuần, mỗi lần kéo dài 45 phút ở vị trí các nhóm cơ cạnh cột sống, cơ vùng thắt lưng chậu, đùi
và ở chân Kết quả cho thấy điều trị bằng Massage có hiệu quả làm giảm cường
độ đau thắt lưng và làm tăng tầm vận động đối với những bệnh nhân này
Hiệu quả của Massage trong điều trị ĐTL được Quinn F khảo sát qua đường bưu chính 500 đối tượng ở các Viện quốc tế và Trung tâm thể dục Những người được hỏi cảm nhận Massage có một ảnh hưởng tích cực làm giảm ĐTL (94,3%), cải thiện giấc ngủ, giảm lo lắng và căng thẳng [11],[42]
Nghiên cứu của Kloth DS và cộng sự đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn các bệnh nhân điều trị theo phương pháp lấy bỏ một phần đĩa đệm qua da bằng nhiệt như sau:
1 Bệnh nhân đau thắt lưng kéo dài có thể kèm đau chân và không đáp ứng với ≥ 6 tuần chăm sóc bảo tồn
2 Bệnh nhân có tiền sử đau thắt lưng do đĩa đệm, không có biểu hiện triệu chứng thần kinh rõ rệt ở chi dưới
3 Có hình ảnh nhân nhầy thoát vị qua phim cộng hưởng từ với chiều cao đĩa đệm ít nhất còn lại 50% [51]
Trang 3148 bệnh nhân ĐTL được chẩn đoán xác định nguyên nhân do đĩa đệm được Jawahar A và cộng sự áp dụng phương pháp điều trị làm cứng khớp CSTL Kết quả 46% có cải thiện kết quả lâm sàng, 48% có cứng khớp ở thể rắn Kết quả nghiên cứu cho thấy hội chứng đau có nguồn gốc đĩa đệm có thể được điều trị bằng cách làm cứng khớp [37]
1.3.2 Tình hình điều trị bệnh nhân hội chứng thắt lưng hông hiện nay ở Việt Nam
Ở nước ta hầu như tất cả các cơ sở y tế đều điều trị hội chứng thắt lưng hông bằng các thuốc giảm đau, chống viêm, thuốc giãn cơ và các vitamin nhóm B Tại một số bệnh viện lớn, bệnh viện chuyên khoa và một số công trình nghiên cứu khoa học đã áp dụng các phương pháp khác vào điều trị và
đã thu được những kết quả khả quan
1.3.2.1 Can thiệp bằng tác động vào KAP của đối tượng
Lê Trinh điều trị cho 989 bệnh nhân đau cột sống thắt lưng bằng các phương pháp không dùng thuốc: với bệnh nhân ĐTL được hướng dẫn bất động khi đang đau nhiều, giảm đau bằng nhiệt, với bệnh nhân đau bán cấp
và mạn tính điều trị phương pháp vận động trị liệu kết hợp với điều chỉnh các động tác trong sinh hoạt và lao động phù hợp Kết quả tình trạng đau của bệnh nhân được cải thiện đáng kể, nghiên cứu còn đưa ra một số vấn đề trong lao động và sinh hoạt cần tránh để giảm tình trạng đau lưng như sự quá gắng sức khi lao động, các động tác đột ngột không thích ứng, các chấn động nhỏ liên tục như đi ô tô đường xa, đi xe đạp bị xóc nhiều, sự mẫn cảm của cơ thể người già với thời tiết [23], [41]
1.3.2.2 Can thiệp bằng kéo giãn cột sống
Nguyễn Thị Ngọc Chi nghiên cứu trên 124 bệnh nhân đau thắt lưng điều trị tại khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Giao thông vận tải Trong đó
có 58 bệnh nhân được kéo giãn cột sống bằng máy kéo giãn ELTRAC 471
Trang 32và 68 bệnh nhân điều trị bằng y học cổ truyền Các bệnh nhân kéo giãn cột sống được điều trị thành 2 đợt mỗi đợt kéo 6 lần và 2 đợt cách nhau 2-3 ngày Kết quả nhóm kéo giãn cột sống có chuyển biến nhanh và rõ ràng hơn nhóm điều trị bằng y học cổ truyền (bấm huyệt, châm cứu, uống thuốc đông y) [8]
Đa số các nghiên cứu đều áp dụng kỹ thuật kéo giãn cột sống phối hợp với các biện pháp khác trong điều trị đau thắt lưng Lưu Thị Hiệp phối hợp châm cứu và kéo giãn cột sống thắt lưng điều trị cho 29 bệnh nhân đau cột sống thắt lưng do thoái hóa ở cơ sở 3, Bệnh viện Đại học Y dược thành phố
Hồ Chí Minh, lứa tuổi từ trên 30 trong đó nam có 7 trường hợp, nữ có 22 trường hợp làm ở nhiều ngành nghề khác nhau Kết quả, hầu hết bệnh nhân
có cảm giác đau giảm sau 5 ngày điều trị, chỉ có 2 trường hợp đỡ ít do đi lại nhiều trong quá trình điều trị, khả năng vận động của cột sống cũng tăng rõ rệt với độ tin cậy 95% [11]
28 bệnh nhân lứa tuổi từ 20 - 48, trong đó có 4 nữ và 24 nam bị thoát
vị đĩa đệm cột sống đã được Nguyễn Xuân Thản và cộng sự lựa chọn ngẫu nhiên điều trị 8 bệnh nhân bằng bấm huyệt, 20 bệnh nhân điều trị bằng kéo giãn cột sống Kết quả điều trị nhóm bệnh nhân kéo giãn cột sống có 50% kết quả tốt, không có trường hợp nào không tiến triển, nhóm bệnh nhân điều trị bấm huyệt có 6 trường hợp chỉ đỡ ít, 2 trường hợp điều trị không kết quả [12]
Tại khoa thần kinh Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong vòng một năm (tháng 5 /2010 - tháng 5/2011) Đặng Đức Định và các cộng sự đã điều trị cho 130 bệnh nhân đau lưng bằng phương pháp kết hợp kéo giãn cột sống và bài tập vận động cột sống của Wiliams Mỗi bệnh nhân được điều trị 1 tháng và được đánh giá ở 3 thời điểm trước can thiệp, sau 15 ngày điều trị, sau 30 ngày điều trị Kết quả sau điều trị triệu chứng đau giảm nhiều 71,5%, chức năng sinh hoạt cải thiện tốt 93,1%, độ giãn và tầm vận động của cột sống gia tăng đáng kể
Trang 331.3.2.3 Can thiệp bằng các biện pháp khác: Phạm Văn Minh điều trị 18
bệnh nhân vẹo cột sống tự phát bằng đeo áo nẹp chỉnh hình (TLSO) trong 2 năm từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2001 tại xưởng chỉnh hình bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là những bệnh nhân dưới 17 với nữ và dưới 19 tuổi với nam có vẹo cột sống tự phát và chịu đeo nẹp 16 giờ/ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy áo nẹp chỉnh hình TLSO
có thể nắn chỉnh được vẹo cột sống tự phát ở 50% các trường hợp nghiên cứu, có khả năng phòng ngừa tiến triển vẹo cột sống [12]
Năm 1997, Đoàn Sỹ Quốc và cộng sự đã so sánh tác dụng điều trị giữa hai phương pháp điện từ trường và châm cứu cho 61 bệnh nhân đau lưng do thoái hóa Kết quả trong số 30 bệnh nhân điều trị châm cứu có 16 bệnh nhân đạt loại A, 14 bệnh nhân đạt loại B Trong số 31 bệnh nhân điều trị điện từ trường có 5 bệnh nhân đạt loại A, 15 bệnh nhân đạt loại B, 11 bệnh nhân đạt loại C Như vậy, châm cứu có tác dụng giảm đau hơn hẳn điện từ trường, châm cứu có tác dụng giảm đau ngay sau khi châm cứu và giảm rõ sau vài lần điều trị, trái lại giảm đau của điện từ trường không được rõ rệt nhưng điện từ trường có ưu điểm bệnh nhân không phải bộc lộ vùng điều trị [26]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng thắt lưng hông điều trị nội trú tại khoa thần kinh Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái nguyên
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Lâm sàng
+ Có hội chứng cột sống thắt lưng
+ Có hội chứng rễ thần kinh
- Cận lâm sàng: được chụp XQ thường qui cột sống thắt lưng hoặc MRI
- Tuổi từ 18 - 70, không phân biệt giới tính
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh lý cột sống đang ở giai đoạn cấp tính
- Có tổn thương và chèn ép tủy, bệnh ống tủy
- Bệnh nhân mắc các bệnh lao cột sống, u ác tính, viêm tấy áp xe vùng lưng
- Chấn thương có gẫy xương biến dạng cột sống
- Viêm khớp dạng thấp
- Hội chứng đuôi ngựa
- Viêm cột sống hoặc thoái hóa cột sống đã có cầu xương nối các đốt sống
- Loãng xương nặng
- Thoát vị đĩa đệm độ 4
- Tăng huyết áp
- Phụ nữ có thai hoặc đang có kinh nguyệt
- Trẻ em dưới 15 tuổi, người già trên 70 tuổi
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11 năm 2012- tháng 7 năm 2013
Trang 352.1.4 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Thần kinh Bệnh viện Đa khoa Trung ương
Thái Nguyên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
+ Mô tả (mô tả kết quả điều trị)
+ Can thiệp trước sau không có đối chứng
2 2 1 1
2 1 2 / 1
) (
) (
) (
p p
q p q p Z
Z n
= 0,1 nên ta có Z1- = 1,28 (lực mẫu được lựa chọn là 90%)
p1 = 0,33 (theo nghiên cứu của Lưu Thu Hà kết quả sau can thiệp đạt kết quả tốt là 32,7% [12])
p2 = 0,57 (mong muốn sau can thiệp tỷ lệ đạt kết quả tốt là 57%)
q1 = 1- p1 = 0,67; q2 = 1- p2 = 0,43
Sau khi tính toán được n = 56 Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu để can thiệp
là 56 bệnh nhân Trong nghiên cứu chúng tôi lựa chọn cỡ mẫu để can thiệp là
60 bệnh nhân
2.2.3.2 Kỹ thuât chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện có chủ đích, đối tượng nghiên
cứu được chọn từ các bệnh nhân có hội chứng thắt lưng hông đang điều trị nội trú tại khoa thần kinh của Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên
2.2.3 Phương pháp can thiệp
- Tất cả các bệnh nhân sau khi đã xác định có hội chứng thắt lưng hông nằm trong tiêu chuẩn lựa chọn đều được điều trị nội khoa bằng các
Trang 36thuốc giảm đau, chống viêm, chống phù nề, vitamin nhóm B …phác đồ thông dụng là:
1 Meloxicam 7,5mg x 2 viên/ngày, uống 8 giờ sau ăn
2 Mydocalm 150 mg x 2 viên/ngày, uống chia 2 lần
3 Paracetamol 0,5 g x 4 viên /ngày, uống chia 2 lần
4 Vitamin 3B x 2 viên/ngày, uống chia 2 lần
- Sau khi dùng thuốc bệnh nhân được giải thích và hướng dẫn thực hiện thủ thuật kéo giãn cột sống Phương pháp được áp dụng là kéo giãn ngắt quãng
* Qui trình thực hiện thủ thuật kéo giãn cột sống thắt lưng[25]
- Tính lực kéo: lực kéo là yếu tố quyết định hiệu quả điều trị Thông thường dùng phương pháp tăng dần lực kéo theo phản ứng của người bệnh đến lực kéo tối đa Khi lực kéo đạt ½ trọng lượng cơ thể thì các khoang gian đốt bắt đầu mở, khi lực kéo bằng trọng lượng cơ thể thì độ giãn của khoang gian đốt đạt tối đa khi đó có tăng lực kéo cũng không làm khoang gian đốt mở rộng thêm Như vậy lực kéo có tác dụng trong khoảng từ ½ - 1 lần trọng lượng cơ thể Thông thường sử dụng lực kéo tối đa là 2/3 trọng lượng cơ thể, lần kéo đầu tiên lấy lực kéo tối đa trừ đi 5 kg, mỗi ngày tăng thêm 1 kg cho đến khi đạt lực kéo tối đa thì duy trì cho đến hết đợt điều trị
- Chuẩn bị bệnh nhân kéo: bệnh nhân nằm ngửa tư thế thoải mái trên bàn kéo, buộc đai kéo vào nách, bụng của bệnh nhân
- Tiến hành kéo: cài đặt các thông số và khởi động máy kéo, theo dõi sát bệnh nhân, dừng kéo khi có dấu hiệu bất thường
- Thời gian kéo: thời gian kéo 1 lần là 15-20 phút, một ngày kéo 1 lần, mỗi đợt điều trị 10 - 14 ngày
- Sau mỗi lần kéo bệnh nhân nằm nghỉ ngơi thư giãn 5-10 phút để thích ứng dần dần với hoạt dộng cột sống trở lại, tránh các thay đối đột ngột gây đau lại
Trang 37* Tiêu chuẩn về ký thuật
- Kỹ thuật viên thực hiện thủ thuật có trình độ về chuyên môn, thông thạo về kỹ thuật, hiểu biết sâu về tính năng tác dụng của máy và được tập huấn kỹ càng về mẫu phiếu điều tra
- Máy kéo giãn cột sống được kiểm tra kỹ lưỡng, chỉ thực hiện thủ thuật khi máy ổn định không có các sự cố kỹ thuật, các thông số kỹ thuật trong giới hạn an toàn và nguồn điện ổn định
2.2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu chung và yếu tố liên quan đến kết quả diều tri
+ Chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI
+ Hình thái tổn thương khớp cột sống thắt lưng (trên XQ hoặc MRI)
2.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị
+ Biểu hiện căng rễ thần kinh (Nghiệm pháp Lasègue)
+ Triệu chứng rối loạn về vận động
+ Triêu chứng rối loạn về cảm giác
Trang 38+ Điểm đau cạnh cột sống thắt lưng
+ Điểm đau gai sống
- Đánh giá việc thực hiện các các chức năng sinh hoạt(theo bộ câu hỏi chỉ số Oewstry Disability)
+ Khả năng tự chăm sóc cá nhân + Khả năng nhấc vật nặng
+ Khả năng đi bộ + Khả năng ngồi + Khả năng đứng + Ảnh hưởng đến giấc ngủ + Khả năng tham gia hoạt động xã hội
- Đo độ giãn cột sống thắt lưng : nghiệm pháp Schober
- Đánh giá mức độ căng dây thần kinh: nghiệm pháp Lasègue
- Đánh giá thể trạng: đo chỉ số khối cơ thể theo công thức:
BMI = P
h2
Trang 39* Đánh giá chỉ số BMI theo tiêu chuẩn của WHO (2005) áp dụng cho người châu Á trưởng thành [3]
- Gầy: BMI < 18,5
- Trung bình: BMI từ 18,5 đến 22,9
- Thừa cân: BMI thừ 23 đến 24,9
- Béo độ I: BMI 25- 29,9
- Béo độ II: BMI ≥ 30
2.2.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Để đánh giá kết quả trong nghiên cứu, chúng tôi dựa vào 4 tiêu chuẩn theo phương pháp cho điểm đánh giá kết quả can thiệp của các tác giả Giorgio Zeppieri Jr [34], Lưu Thu Hà [12] như sau:
2.2.5.2.1 Đánh giá cường độ đau theo thang điểm Vas
(thang điểm Vas có 5 mức từ 0 đến 5, trong nghiên cứu mỗi mức tương ứng 5 điểm tối đa là 20 điểm)
2.2.5.2.2- Đánh giá khả năng thực hiện các chức năng trong sinh hoạt theo
bộ câu hỏi chỉ số Oewstry Disability
(tối đa đạt 35 điểm)
Bộ câu hỏi chỉ số Oewstry Disability gồm 10 chỉ số đánh giá nhưng trong tiêu chuẩn để đánh giá mức độ phục hôi đau thắt lưng chỉ sử dụng 7 chỉ
số cơ bản sau:
Trang 40Bảng 2.1 Đánh giá khả năng thực hiện chức năng sinh hoạt
Mức
Các chỉ số
Điểm Mức