Quản lý môi trường là các hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhằm điều chỉnh các hành vi cũng như hoạt động của con người khi thực hiện các hoạt động phát triển sao cho có thể thu được hiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
PGS.TS VŨ HOÀNG HOA – PGS.TS NGUYỄN VĂN THẮNG
BÀI GIẢNG QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
(Sử dụng cho sinh viên đại học)
- Hà Nội, 2017 -
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG 4
1.1 Giới thiệu chung 4
1.1.1 Khái niệm quy hoạch môi trường 4
1.1.2 Mục đích, vai trò, lợi ích của QHMT 9
1.1.3 Đặc tính, đặc điểm của quy hoạch môi trường 11
1.1.4 Quá trình phát triển của quy hoạch môi trường 14
1.2 Phạm vi, phân loại quy hoạch môi trương 17
1.2.1 Phạm vi của quy hoạch môi trường 17
1.2.2 Các loại quy hoạch môi trường 17
1.2.3 Quy hoạch môi trường và các quy hoạch khác 19
1.3 Chu trình quy hoạch 19
1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị 20
1.3.2 Giai đoạn lập quy hoạch 21
1.3.3 Giai đoạn thực hiện quy hoạch 22
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG 25
2.1 Giới thiệu chung 25
2.2 Điều tra khảo sát, thu thập các thông tin cho lập quy hoạch 25
2.2.1 Vai trò và ý nghĩa của điều tra khảo sát, thu thập thông tin số liệu cho lập quy hoạch 25
2.2.2 Các thông tin số liệu cần điều tra, khảo sát và thu thập và địa chỉ thu thập thông tin số liệu 27
2.3 Phương pháp phân tích lập quy hoạch 29
2.3.1 Mô hình DPSIR 29
2.3.2 Áp dụng mô hình DPSIR trong phân tích lập quy hoạch môi trường 33
2.4 Các bước và nội dung của lập quy hoạch 34
2.4.1 Giai đoạn phân tích ban đầu để xây dựng khung quy hoạch 34
2.4.2 Giai đoạn phân tích chi tiết, xây dựng phương án và ra quyết định quy hoạch 37
2.4.3 Xây dưng chương trình/kế hoạch hoạt động của quy hoạch 41
2.4.4 Viết báo cáo , chuẩn bị hồ sơ quy hoạch 44
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LẬP QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 47
3.1 Cơ sở pháp lý của quy hoạch bảo vệ môi trường tại Việt Nam 47
3.1.1 Cơ sở pháp lý chung của quy hoạch bảo vệ môi trường 47
3.1.2 Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường tại Luật Bảo vệ môi trường 2014 48
3.2 Nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh/ thành 51
Trang 33.2.1 Mục đích, yêu cầu của quy hoạch bảo vệ môi trường 51
3.2.2 Nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh, thành 52
3.3 Lồng ghép các chiến lược, chính sách của Nhà nước lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường trong quá trình lập quy hoạch 55
3.3.1 Giới thiệu chung 55
3.3.2 Giới thiệu Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 57
3.3.3 Giới thiệu Chiến lược quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020 59
3.4 Đánh giá môi trường trong lập quy hoạch môi trường 67
3.5 Sự tham gia của cộng đồng trong lập quy hoạch môi trường 69
CHƯƠNG 4: QUY HOẠCH QUẢN LÝ BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 72
4.1 Giới thiệu chung 72
4.1.1 Yêu cầu của quy hoạch 72
4.1.2 Các nội dung chủ yếu cần thực hiện của quy hoạch 73
4.2 Điều tra, kiểm kê nguồn ô nhiễm 74
4.2.1 Giới thiệu chung 74
4.2.2 Khái niệm các chất ô nhiễm và các nguồn gây ô nhiễm môi trường 74
4.2.3 Khái niệm, vai trò, mục đích và nội dung của kiểm kê nguồn ô nhiễm 76
4.2.4 Phương pháp kiểm kê nguồn ô nhiễm 78
4.2.5 Quan hệ giữa kiểm kê nguồn ô nhiễm với quan trắc chất lượng nước và với cải thiện chất lượng nước lưu vực sông 79
4.2.6 Các bước thực hiện kiểm kê nguồn gây ô nhiễm nước lưu vực sông 81
4.2.6.1 Công tác chuẩn bị 83
4.2.6.2 Thu thập thông tin, dữ liệu 84
4.3 Tính toán, ước tính tải lượng chất ô nhiễm trên lưu vực sông 93
4.3.1 Giới thiệu chung 93
4.3.2 Các phương pháp tính toán/ước tính tải lượng chất ô nhiễm 94
4.3.2.1 Tinh toán tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt của khu dân cư 96
4.3.2.2 Tinh toán tải lượng chất ô nhiễm do hoạt động công nghiệp của khu vực 99
4.3.2.3 Tinh toán tải lượng chất ô nhiễm do nông nghiệp của khu vực 101
4.3.2.4 Tinh toán tải lượng chất ô nhiễm trên bề mặt đất tự nhiên 102
4.3.3 Ứng dụng tính toán tải lượng trong lập quy hoạch lưu vực sông 106
Trang 44.4 Đánh giá chất lượng nước và ô nhiễm nước trong sông 106
4.4.1 Mục đích đánh giá chất lượng nước 107
4.4.2 Các phương pháp đánh giá chất lượng nước 107
4.4.2.1 Phương pháp đánh giá chất lượng nước theo tiêu chuẩn chất lượng nước hiện hành: 107
4.4.2.2 Phương pháp đánh giá chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI - Water Quality Index) 108
4.5 Tính toán, dự báo biến đổi chất lượng nước lưu vực sông 109
4.5.1 Giới thiệu chung 109
4.5.2 Phương pháp ứng dụng mô hình chất lượng nước 109
4.5.3 Phương pháp tính toán cân bằng nước và tải lượng chất ô nhiễm trong sông 112
4.6 Lập quy hoạch/kế hoạch quản lý bảo vệ CLN lưu vực sông Cầu: phụ lục 2 121
Trang 5CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
1.1 Giới thiệu chung
1.1.1 Khái niệm quy hoạch môi trường
Môi trường bao gồm 4 thành phần: Khí quyển, thủy quyển, địa quyển và sinh quyển Môi trường có các chức năng là:
Môi trường cung cấp không gian sống cho con người
Môi trường cung cấp tài nguyên cho con người
Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải của con người tạo ra
Môi trường luôn bị tác động mạnh mẽ bởi các hoạt động phát triển của con người, cường độ của hoạt động phát triển càng tăng thì chất lượng môi trường càng có xu thế suy giảm Vì thế trong quá trình phát triển con người cần phải chú trọng điều chỉnh các hành vi của mình sao cho không tác động xấu hoặc làm suy giảm các chức năng của môi trường, phải cân nhắc: “ làm gì và làm như thế nào”? Nói cách khác cần phải cân nhắc xem mỗi hoạt động dự kiến sẽ ảnh hưởng đến môi trường trong tương lai như thế nào, có đảm bảo tiêu chí PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG hay không?
Quản lý môi trường là các hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhằm điều chỉnh các hành vi cũng như hoạt động của con người khi thực hiện các hoạt động phát triển sao cho có thể thu được hiệu quả kinh tế nhưng không làm tổn hại hoặc suy giảm nguồn tài nguyên tự nhiên cũng như chất lượng môi trường sống
Để hạn chế các tác động xấu có thể xảy ra trong tương lai đối với môi
trường sống khi chung ta hoạch định các kế họach phát triển, chúng ta cần “ lập
quy hoạch cho các hoạt động dự kiến, trong đó dự đoán xu thế diễn biến của các yếu tố môi trường sẽ diễn ra trong tương lai cho mỗi kế hoạch phát triển ” khi đó
chúng ta phải lập quy hoạch môi trường
Để hiểu một cách đầy đủ về quy hoạch môi trường (QHMT) trước tiên cần làm rõ khái niệm quy hoạch (planning)
Thế nào là quy hoạch?
Danh từ quy hoạch viết bằng tiếng Anh là Planning
“Planning is figuring out what needs to be done and how to do it”
Trang 6Câu tiếng Anh trên có nghĩa theo khái niệm chung thì "quy hoach là việc
tìm ra tất cả những gì cần phải làm và cách thức đề thực hiện được chúng"
Theo Friedmann (1987) thì đó là quá trình “applying knowledge to actions”
or “basic problem solving” Dịch nghĩa thì đó là " quá trình vận dụng kiến thức
để đi tới các hoạt động cụ thể " hoặc " giải quyết các vấn đề chủ yếu " của thực
tế
Từ các khái niệm trên có thể thấy rằng nội dung của quy hoạch sẽ bao gồm
việc xác định các mục tiêu mong muốn sẽ đạt được, thông qua tổng hợp phân tích
tất cả các thông tin, dữ liệu có liên quan đến bài toán quy hoạch, từ đó đưa ra các
biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đã đặt ra Đó cũng chính là quá trình xây
dựng, phân tích và lựa chọn phương án quy hoạch, trong đó chỉ ra các hoạt động
(actions) phải đưa ra được các chương trình dự án cũng như kế hoạch thực hiện
các chương trình dự án đó của quy hoạch
Quy hoạch là bước triển khai tiếp theo, sau bước xác định chiến lược phát
triển KT-XH toàn quốc
Các loại quy hoạch
Quy hoạch Tổng thể kinh tế xã hội: là luận chứng phát triển KT-XH,
tổ chức không gian các hoạt động KT-XH hợp lý theo ngành và lãnh thổ để thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH
Quy hoạch ngành: luận chứng lựa chọn phương án phát triển và
phân bố ngành đô thị, QHSDĐ, QH các kết cấu hạ tầng, QH nông nghiệp, QH công nghiệp, QH các ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng…
Trang 7 Quy hoạch xây dựng: tổ chức không gian, hệ thống công trình KT
hạ tầng đô thị (cụ thể Qh vùng lãnh thổ, QH ngành)
Quy hoạch cụ thể: lựa chọn địa điểm bố trí các công trình và tổ chức không gian cụ thể trên một lãnh thổ xác định trong từng thời kỳ, là bước cụ thể hóa QH lãnh thổ, QH ngành
Vai trò của công tác quy hoạch
Nền Kinh tế của quốc gia tồn tại như một hệ thống, chủ nhân điều khiển là Nhà nước (thông qua quy hoạch và chính sách)
Nguồn lực cho phát triển có giới hạn, sự huy động và phân bố nguồn lực đòi hỏi phải có sự can thiệp và quản lý của nhà nước (thông qua quy hoạch và chính sách)
Sự chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cư giữa các vùng đòi hỏi phải có sự điều tiết và Quản lý nhà nước (thông qua quy hoạch và chính sách)
Hạn chế của công tác Quy hoạch
Các căn cứ lập QH còn thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn;
Trình độ người lập và cả người thẩm định, phê duyệt còn hạn chế;
Phương pháp lập quy hoach chậm đổi mới:
+ Xây dựng QH chỉ căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch từ cấp trên giao, còn duy ý chí, áp đặt
+ Dự đoán các tác động từ bên ngoài còn hạn chế
Tính pháp lý của quy hoạch không cao
+ Quá trình thực hiện chưa bám sát vào quy hoạch + Người dân ít tuân thủ theo quy hoạch
Thế nào là quy hoạch môi trường?
Với quy hoạch môi trường thì bài toán quy hoạch sẽ tập trung chủ yếu vào giải quyết vấn đề môi trường, trong đó tập trung vào bảo vệ các nguồn tài nguyên
tự nhiên và chất lượng các thành phần môi trường khu vực quy hoạch
Cũng theo cách hiểu như trên thì quy hoạch môi trường sẽ là “ Xác định
các mục tiêu môi trường của khu vực, từ đó đề xuất phương án và các giải pháp hợp lý nhất để bảo vệ, cải thiện và phát triển cho một hay nhiều thành phần /tài nguyên môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng môi trường sống theo các mục tiêu đã xác định ”
Trang 8Rõ ràng rằng theo cách hiểu ở trên thì phạm vi của quy hoạch môi trường
rất rộng, trong đó cần phải xem xét cả việc tổ chức không gian lãnh thổ và sử
dụng các tài nguyên thiên nhiên phù hợp với chức năng của môi trường và các điều kiện tự nhiên của khu vực, qua đó giúp cho môi trường làm tốt các vai trò của chúng đối với thế giới sinh vật cũng như cuộc sống con người
Quy hoạch môi trường luôn hướng tới việc bảo vệ tất cả các nguồn tài nguyên tự nhiên và chất lượng môi trường sống của con người trong khu vưc quy
hoạch như là:
Bảo vệ tài nguyên và môi trường nước
Bảo vệ tài nguyên và môi trường đất
Bảo vệ tài nguyên và môi trường không khí
Bảo vệ tài nguyên sinh vật và hệ sinh tháiĐĐĐối với khu vực mà ối
Tại sao phải lập quy hoạch môi trường ?
Tài nguyên và chất lượng môi trường luôn chịu áp lực rất lớn của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội do các hoạt động phát triển phải sử dụng một lượng đáng kể các nguồn tài nguyên và tạo ra các chất thải, từ đó sẽ góp phần làm cạn kiệt tài nguyên và suy thoái chất lượng môi trường sống
Một quy luật rất phổ biến là hoạt động phát triển càng tăng về cường độ thì áp lực lên môi trường càng lớn và chất lượng môi trường càng có xu thế bị suy giảm, mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường sẽ càng lớn
Thực tế trên thế giới trong nửa cuối thế kỷ 19 cho đến nay đã cho thấy phát triển đã gây áp lực ngày càng tăng và làm suy giảm chất lượng môi trường sống của nhiều nước trên thế giới Điều đó đòi hỏi con người phải có biện pháp phù hợp dể bảo vệ môi trường, lấy lại sự cân bằng cho môi trường Nói cách khác để biết phải làm những gì và làm như thế nào để bảo vệ môi trường các khu vực đã bị suy thoái chúng ta phải bắt đầu bằng việc lập quy hoạch môi trường
Thông qua lập quy hoạch chúng ta sẽ chọn được con đường ngấn nhất hay cách tốt nhất sao cho tốn ít chi phí lại nhanh chóng nhất để bảo vệ hoặc phục hồi môi trường tùy theo điều kiện môi trường của khu vực đã suy thoái như thế nào và nguồn lực đầu tư của con người
Thực ra, trong quy hoạch giữa tài nguyên và môi trường không thể tách rời nhau mà luôn phải xem xét cả hai khía cạnh: (i) khai thác sử dụng hợp lý các tài
Trang 9nguyên tự nhiên, và (ii) bảo vệ chất lượng môi trường sống Vì thế quy hoạch môi trường nói một cách đầy đủ phải là “quy hoạch bảo vệ tài nguyên và môi trường”
Quy hoạch môi trường được lập cho từng vùng hay từng khu vực/địa phương cụ thể nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc về môi trường của khu vực,
và khi thực hiện cũng phải chính do những “con người” sinh sống trong khu vực/địa phương đó thực hiện
Khi tiến hành lập một quy hoạch môi trường chúng ta có thể gặp các trường hợp sau đây :
- Trong vùng quy hoạch chưa có vấn đề nào gay cấn về tài nguyên và môi trường Lúc này quy hoạch cần phải chú ý đến các biện pháp để tiếp tục duy tri điều kiện môi trường sống không để xảy ra các vấn đề gay cấn mới trong tương lai, hay nói cách khác quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường theo hướng bền vững
- Trong vùngquy hoạch đã có những vấn đề gay cấn/bức xúc về tài nguyên
và môi trường Đây là trường hợp thường gặp trong thực tế và quy hoạch môi trường phải chú trọng đến cách thức thế nào để từng bước giải quyết hoặc tháo gỡ các vấn đề gay cấn đó và không làm xuất hiện thêm vấn đề gay cấn nào khác nữa
Ở mức cao hơn nữa là giải quyết tận gốc những vấn đề đó
- Trong vùng quy hoạchcó một hoặc một số thành phần tài nguyên và môi trường của khu vực quy hoạch đã bị suy thoái nghiêm trọng, thí dụ như ô nhiễm môi trường nước, không khí một số đô thị lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, ô nhiễm nguồn nước các lưu vực sông Đồng nai, sông Nhuệ, sông Đáy Quy hoạch có thể lập để giải quyết từng thành phần cho từng vùng cụ thể
Quy hoạch môi trường phải làm những gì?
Có 3 nội dung chủ yếu mà quy hoạch môi trường phải xem xét và giải quyết đó là:
(1) Phân tích tình hình thực tế của khu vực từ đó xác định các vấn đề bức xúc về môi trường cần giải quyết của quy hoạch
(2) Từ các nguyên tắc của khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ chất lượng môi trường sống, quy hoạch phải: (i) chỉ ra được con đường (hay hướng đi, cách thức) để giải quyết vấn đề bức xúc trên một cách phù hợp nhất, (ii) chỉ ra những hoạt động/công việc cụ thể cần phải tiến hành để giải quyết được vấn đề bức xúc và đạt đươc mục tiêu của quy hoạch đã đặt ra
Trang 10(3) Xây dựng một kế hoạch cụ thể để tiến hành những công việc (kế hoạch
hành động) và kế hoạch thực hiện các nội dung của quy hoạch
Tất cả các nội dung trên để từng bước phục hồi các thành phần tài nguyên
và yếu tố môi trường cho khu vực đã bị suy thoái, đồng thời bảo vệ tất cả các
thành phần tài nguyên và các yếu tố môi trường của khu vực chưa bị suy thoái sao
cho sau một thời gian thực hiện quy hoạch, sẽ lấy lại cân bằng về môi trường và
đảm bảo bền vững
Những ai sẽ tham gia vào quy hoạch môi trường ?
Quy hoạch môi trường lập cho vùng nào thì tất cả những người sinh sống
trong vùng đó phải có trách nhiệm tham gia đóng góp vào việc xây dựng và thực
hiện quy hoạch sau khi quy hoạch được phê duyệt Tuy nhiên mức độ và vai trò
tham gia có thể khác nhau, có thể chia thành các nhóm tham gia sau đây:
(i) Nhóm xây dựng/lập quy hoạch: bao gồm những người được giao lập
quy hoạch và bộ phận tư vấn kỹ thuật trợ giúp Những người này có trách nhiệm
chủ yếu trong việc xem xét và ra các quyết định của quy hoạch, viết báo cáo quy
hoạch
(ii) Cộng đồng, bao gồm tất cả các thành phần dân cư sinh sống trong khu
vực quy hoạch Đây là những người sẽ chịu tác động tốt hay xấu do các quyết
định của quy hoạch, họ là những người sẽ tham gia góp ý kiến cho các phương án
cũng như các quyết định của quy hoạch do những người lập quy hoạch đề xuất
Quy hoạch cuối cùng phải được cộng đồng dân cư chấp nhận thì mới được trình
thẩm định, phê duyệt để thực hiện
Trong quá trình lập quy hoạch phải có sự thông tin, tham vấn chặt chẽ giữa
hai nhóm người tham gia nói trên thì kết quả quy hoạch mới đảm bảo
1.1.2 Mục đích, vai trò, lợi ích của QHMT
Mục đích của quy hoạch môi trường
Suy thoái môi trường có nguyên nhân sâu xa là mất cân bằng giữa phát
triển với môi trường, thí dụ như phát triển quá nóng mà không chú trọng đầu tư
cho các biện pháp bảo vệ môi trường Chính vì vậy quy hoạch môi trường có mục
đích chính là “điều hòa giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường ” sao
cho phát triển luôn cân đối với bảo vệ môi trường và phù hợp với điều kiện tự
nhiên và nguồn lực của khu vực
Trang 11Nội dung điều hoà của quy hoạch môi trường là đảm bảo một cách chắc chắn sự phát triển kinh tế xã hội không vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên, đảm bảo cho sự phát triển của KTXH phù hợp tốt nhất với hệ thống tự nhiên của khu vực
Vai trò của quy hoạch môi trường
1) Quy hoạch môi trường là một công cụ có tính chiến lược trong phát triển và bảo vệ môi trường
Quy hoạch môi trường chỉ ra con đường đúng đắn và phù hợp nhất cho các hoạt động phát triển cần tiến hành trong khu vực quy hoạch thể hiện qua các chương trình dự án cụ thể thực hiện cho từng giai đoạn Nhà nước trên cơ sở quy hoạch đã được lập sẽ xem xét phê duyệt quy hoạch và quản lý việc thực hiện các hoạt động theo quy hoạch đã được phê duyệt nên có thể coi quy hoạch môi trường
là công cụ có tính chiến lược của Nhà nước trong phát triển và bảo vệ môi trường khu vực
2) Quy hoạch môi trường là cơ sở để cải tiến và phát triển thể chế chính sách liên quan đến khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên tự nhiên, bảo vệ môi trường sống của khu vực
Quy hoạch môi trường được thực hiện sẽ chỉ ra các thiếu sót/bất cập cũng như lỗ hổng về thể chế, chính sách liên quan đến khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên tự nhiên, bảo vệ môi trường của khu vực, đồng thời sẽ đưa ra yêu cầu về cải tiến, phát triển thể chế chính sách để khắc phục các tồn tại đó Vì thế có thể coi quy hoạch môi trường là cơ sở để cải tiến và phát triển thể chế chính sách liên quan đến khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên tự nhiên, bảo vệ môi trường sống của khu vực
Lợi ích của quy hoạch môi trường
Quy hoạch môi trường là vô cùng cần thiết, nó mang lại lợi ích rất đáng kể đối với kinh tế-xã hội và môi trường cho khu vực, như là:
- Lợi ích kinh tế: lập quy hoạch môi trường và thực hiện theo quy hoạch đã được phê duyệt sẽ đảm bảo cho kinh tế của khu vực phát triển một cách hài hòa ổn định, phù hợp với môi trường, tiết kiệm được chi phí xử lý môi trường trong tương lai do môi trường suy thoái do không có quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực trước đó
Trang 12- Lợi ích xã hội: quy hoạch sẽ đảm bảo lợi ích cho cộng đồng dân cư khu vực quy hoạch, tạo cơ sở cho xã hội phát triển một cách ổn định
- Lợi ích về môi trường: Quy hoạch giúp cho các hoạt động phát triển tránh được những sai lầm và môi trường không phải trả giá do môi trường bị suy thoái
1.1.3 Đặc tính, đặc điểm của quy hoạch môi trường
Quy hoạch môi trường có những đặc tính, đặc điểm nổi bật sau:
Tính tổng hợp
Môi trường có nhiều thành phần có liên quan chặt chẽ với nhau, các mối liên quan này rất phức tạp thường không dễ nhận biết một cách rõ ràng, vì thế để giải quyết bài toán quy hoạch môi trường cần phải đứng trên quan điểm tổng hợp xem xét tất cả mọi vấn đề, mọi khía cạnh liên quan tác động đến tài nguyên và môi trường của khu vực quy hoạch Có thể mô tả tính tổng hợp của bài toán quy hoạch môi trường qua một số khía cạnh sau đây:
- Tổng hợp trong mục tiêu môi trường: Mục tiêu tổng quát của quy hoạch môi trường thường mang tính tổng hợp trong đó kết hợp cả các mục tiêu về chất lượng, về số lượng nước, về sinh thái và bảo vệ các hệ sinh thái thủy sinh có giá trị cao và duy trì tốt điều kiện môi trường của khu vực
- Tổng hợp xem xét tất cả các thành phần tài nguyên và môi trường của khu vực trong quy hoạch: thí dụ như quy hoạch để bảo vệ tài nguyên và môi trường nước cũng không thể tách rời với bảo vệ tài nguyên đất, bảo vệ thảm phủ thực vật
và hệ sinh thái thủy sinh trong quá trình lập quy hoạch
- Tổng hợp trong phạm vi rất rộng tất cả các loại biện pháp, công cụ để giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường trong khu vực quy hoạch, bao gồm biện pháp/công cụ về cải tiến thể chế chính sách, tổ chức quản lý, biện pháp về kỹ thuật xử lý các nguồn gây ô nhiễm, các biện pháp/ công cụ về kinh tế-tài chính, biện pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng để đạt được các mục tiêu môi trường của quy hoạch
- Tổng hợp tất cả các thành phần có liên quan và cộng đồng dân cư trong quá trình xây dựng và lựa chọn các quyết định của quy hoạch, trong đó các phương án và biện pháp đề xuất của quy hoạch khi đưa ra, đều được thông tin rộng rãi tới cộng đồng cũng như những thành phần có liên quan để lấy ý kiến tham gia trước khi lựa chọn và ra quyết định
Trang 13Tính hệ thống
Môi trường khu vực là một hệ thống mở trong đó các thành phần môi trường có mối liên quan chặt chẽ, tương tác và phụ thuộc với nhau và chịu tác động của các hệ thống xung quanh Vì thế để giải quyết bài toán quy hoach môi trường cần phải dựa trên lý thuyết phân tích hệ thống, trong đó phải xem xét đánh giá toàn bộ hệ thống môi trường khu vực một cách tổng quát, sau đó đi sâu chi tiết các thành phần bên trong của hệ thống cùng các mối liên quan, tương tác, ràng buộc giữa các yếu tố môi trường của hệ thống
Do đặc tính này nên trong quy hoạch môi trường, người ta thường xây dựng hoặc ứng dụng các mô hình mô phỏng hệ thống để xem xét phân tích các mối quan hệ, đánh giá các tác động của phương án quy hoạch tới môi trường và kinh tế xã hội làm cơ sở cho việc lựa chọn phương án phù hợp nhất
Tính địa phương
Mỗi địa phương hay khu vực lập quy hoạch đều có điều kiện tài nguyên và đặc điểm kinh tế xã hội nhất định của khu vực mà quy hoạch môi trường cần phải đánh giá một cách sát thực đề từ đó đề xuất các giải pháp, xây dựng phương án phù hợp Chính vì vậy quy hoạch môi trường có tính đặc thù rất rõ rệt của mỗi địa phương và chỉ có bám sát và phản ảnh được đầy đủ các điều kiện đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương thì quy hoạch mới có thể đưa ra được các phương án, giải pháp phù hợp, giải quyết được vấn đề môi trường bức xúc của địa phương
Tuy nhiên khi lập quy hoạch môi trường, ngoài xem xét tài nguyên và các yếu tố môi trường của khu vực quy hoạch, việc xem xét cũng cần mở rộng ra một phạm vi rộng lớn hơn, thí dụ trong phạm vi toàn vùng, toàn quốc để đánh giá các tác động cũng như sự chi phối của cả khu vực tới khu vực dự án quy hoạch
1) Tính tiên phong, đi đầu để ứng phó kịp thời
Quy hoạch môi trường luôn tìm tới những vấn đề bức xúc về môi trường hay những tác động tiêu cực để tìm biện pháp ứng phó kịp thời Điều đó khiến cho quy hoach môi trường có tính tiên phong hay đi đầu trong việc giải quyết các bức xúc nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Việc hướng vào tác động của quy hoạch môi trường đòi hỏi người lập quy hoạch phải phân tích và xem xét một cách đầy đủ tác động của các hoạt động phát
Trang 14diễn biến các tác động trong tương lai khi có các giải pháp quy hoạch Từ việc hướng vào tác động cũng giúp cho quy hoạch xác định các hoạt động cần làm cũng như các biện pháp cần có để giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường của các hoạt động phát triển
6) Tính biến đổi theo thời gian
Lập quy hoạch môi trường phải xem xét sự biến đổi của các yếu tố và điều kiện môi trường theo một chuỗi thời gian dài cả quá khứ, hiện tại và tương lai trong thời gian của quy hoạch, cụ thể là phải đánh giá sự biến đổi môi trường đưới tác động của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong các thời kỳ dài ngắn khác nhau và từ các điều kiện và đặc điểm môi trường trong quá khứ để dự báo và hoạch định các hoạt động cần thiết để quản lý, kiểm soát môi trường trong các giai đoạn tương lai của quy hoạch Khi thực hiện quy hoạch cũng phải đánh giá kết quả thực hiện trong kỳ quy hoạch trước để điều chỉnh cho kỳ quy hoạch tiếp sau nếu thấy những gì chưa phù hợp
Có thể thấy tính biến đổi theo thời gian thể hiện cụ thể trong phương pháp phân tích, tính toán để lập quy hoạch và theo dõi thực hiện quy hoạch
Trang 151.1.4 Quá trình phát triển của quy hoạch môi trường
1) Trên thế giới
Quy hoạch có lịch sử phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng rõ rệt nhất là từ thế kỷ 19 đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Cũng vì lý do đó trong quá trình phát triển, quy hoạch môi trường cũng luôn linh hoạt để thích ứng với yêu cầu của
xã hội trong từng giai đoạn
Tại Mỹ quy hoạch môi trường được xã hội quan tâm từ những năm cuối thể
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và phát triển liên tục cho đến ngày nay Do yêu cầu của xã hội nên trong quá trình phát triển, quy hoạch môi trường của các giai đoạn tiếp sau luôn kế thừa các giai đoạn trước và thêm vào những yêu cầu mới phục vụ cho phát triển xã hội của từng giai đoạn, thí dụ như:
- Trong những năm 1850-1950 là giai đoạn hình thành và phát triển cơ sở
hạ tầng xã hội nhằm tạo ra nhiều thành phố và vùng đô thị mới nên quy hoạch môi trường trong giai đoạn này chủ yếu là phục vụ cho thiết kế/quy hoạch phát triển đô thị
- Trong những năm từ năm 1925 đến năm 1940 nền kinh tế nước Mỹ đang trong giai đoạn xây dựng cấu trúc với việc hình thành các vùng/vành đai kinh tế, vấn đề quản lý kiểm soát cũng như điều hành các vùng kinh tế này là rất cần thiết cho nên quy hoạch môi trường trong thời kỳ này đi sâu vào các giải pháp “quản
lý, điều hành” để giúp cho Nhà nước có thể quản lý, điều hành và kiểm soát tốt hoạt động phát triển kinh tế xã hội của các vùng kinh tế
Từ năm 1940 trở đi xã hội đòi hỏi phải giải quyết nhiều bài toán phức tạp
về kinh tế và phát triển xã hội nên quy hoach từ thời gian này được vận dụng nhiều các kiến thức và phương pháp luận khoa học hơn trước đây nên quy hoạch mang sắc thái khoa học ngày càng rõ nét hơn
Từ năm 1960 yêu cầu quản lý các hoạt động phát triển được coi trọng nên bài toán quy hoạch được tập trung nhiều vào cải tiến và xây dựng các chính sách của nhà nước để quản lý các hoạt động phát triển, hạn chế các mâu thuẫn nảy sinh trong khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Từ năm 1970 trở đi và nhất là trong những năm 1980’ khi mà khái niệm phát triển bền vững được đề xuất và đi vào thực tế thì sự tham gia của cộng đồng dân cư được đặt ra và là một yêu cầu không thể thiếu trong lập quy hoạch nên vấn
Trang 16đề đẩy mạnh “ thông tin và truyền thông” được nhấn mạnh để tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư khi lập các quy hoạch môi trường
- Từ năm 1990 trở lại đây, khi lập quy hoach đòi hỏi có sự tham gia của tất
cả những thành phần có liên quan nên trong quy hoạch môi trường lại luôn nhấn mạnh vấn đề “ phối hợp, hợp tác” để tạo ra cơ chế thuận lợi cho sự phối hợp, hợp tác giữa các thành phần có liên quan trong lập quy hoạch
- Từ năm 2000 và nhất là những năm đầu thế kỷ 21 cho đến nay, yêu cầu tổng hợp trong khai thác sử dung tài nguyên và bảo vệ môi trường luôn được đưa lên hàng đầu nên quy hoạch môi trường được nhấn mạnh phải đảm bảo tính tổng hợp và khi lập quy hoạch phải tổng hợp của các lĩnh vực như thể chế chính sách, kinh tế, kỹ thuật, sự phối hợp hợp tác, sự tham gia của cộng đồng trong phương
án và các giải pháp đề xuất
Các lĩnh vực mà quy hoach môi trường được coi trọng và nhấn mạnh trong từng giai đoạn theo yêu cầu phát triển của xã hội như phân tích ở trên được tóm tắt trong bàng 1-1, nó cũng biểu thị quá trình phát triển của quy hoạch môi trường tại các nước phát triển trên thế giơí mà tiêu biểu là nước Mỹ
Bảng 1-1 Quá trình phát triển của quy hoạch môi trường qua các thời kỳ tại Mỹ
Giai đoạn Lĩnh vực quy hoạch chú
trọng
Đáp ứng yêu cầu xã hội
1850-1950 QH _ cho thiết kế Thiét kế các đô thị do yêu cầu đô thị
hóa
dân cư đô thị của chính quyền bang
khoa học, kinh tế
các hoạt động phát triển
sự tham gia của cộng đồng
liên quan
khoa học, phối hợp, thiết kế Giải quyết bài toán tổng hợp phát triển KTXH Tại các nước phát triển khác như các nước châu Âu, châu Á, quy hoạch môi trường cũng phát triển theo nhịp độ và sắc thái tương tự như ở Mỹ Để đáp
Trang 17ứng yêu cầu phát triển, các nước trên thế giới nhất là các nước phát triển rất chú trọng đến quy hoạch môi trường, coi đó là công cụ quan trọng dể quản lý cũng như xây dựng các kế hoạch phát triển đảm bảo yêu cầu bền vững Để đạt được hiệu quả, các nước đều coi trọng việc lập quy hoạch và sau đó thực hiện tất cả các biện pháp quản lý, kiểm soát môi trường khu vực theo quy hoạch đã được phê duyệt
Tại các nước đang phát triển, quy hoach môi trường cũng đang trong quá trình tiếp cận dể thực hiện trong hơn nửa thế kỷ vừa qua phục vụ cho xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, hạn chế các suy thoái môi trường Tuy nhiên, do các khó khăn về kinh tế và các hạn chế về kiến thức, kỹ thuật nên việc lập và thực hiện quy hoạch tùy theo điều kiện mỗi nước đều còn những tồn tại nhất định cần phải tiếp tục khắc phục
2) Ở Việt Nam
Ở nước ta quy hoạch không phải là vấn đề mới, tuy nhiên với quy hoạch môi trường thì việc tiếp cận khái niệm và thực hiện đầy đủ các bước để lập quy hoạch mới chỉ được chú trọng trong một vài thập kỷ gần đây
Khng pháp lý cơ bản cho quy hoạch môi trường Việt nam gần đây đã được quy định trong Luật BVMT số 55/2014/QH13 và các văn bản liên quan nhất là Nghị định số 18/2015/NĐ ngày 14/2/2015 Tuy nhiên hiện tại do còn thiếu kinh nghiệm nên việc lập quy hoạch môi trường trong thực tế ở nước ta còn nhiều tồn tại về phương pháp luận cũng như quá trình thực hiện mà chúng ta cần phải học hỏi các nước trên thế giới để từng bước hoàn thiện Một số tồn tại hiện nay là:
- Các tài liệu, hướng dẫn về lập quy hoạch, nhất là quy hoạch môi trường trong thực tế hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của lập quy hoạch
- Nhà nước chưa có các quy định cụ thể, sát thực phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta về việc lập và thực hiện các quy hoạch môi trường
Chính vì vậy cho đến nay ở nước ta có rất ít quy hoạch môi trường được xây dựng một cách đầy đủ, được nhà nước phê duyệt và thực hiện trong thực tế đạt được kết quả tốt Một số quy hoạch môi trường đã xây dựng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế nên chưa được phê duyệt để thực hiện
Trang 181.2 Phạm vi, phân loại quy hoạch môi trương
1.2.1 Phạm vi của quy hoạch môi trường
Phạm vi xem xét về môi trường
Mỗi quy hoạch đều có một phạm vi xem xét và giải quyết về bảo vệ tài nguyên và môi trường nhất định, phạm vi này được xác định ngay từ khi ra đầu bài lập quy hoạch Thí dụ tùy theo yêu cầu quy hoạch có thể xem xét một cách tổng thể về tài nguyên và môi trường của các vùng hoặc chỉ xem xét một lĩnh vực tài nguyên và môi trường nhất định như tài nguyên và môi trường nước, hoặc đất, hoặc một thành phần nào khác Từ phạm vi xem xét về môi trường của quy hoạch
mà có các mục tiêu môi trường cần đạt được trong mỗi quy hoạch
1.2.2 Các loại quy hoạch môi trường
Có thể chia thành hai loại quy hoạch là: (i) quy hoạch tổng thể môi trường,
và (ii) quy hoạch môi trường chuyên ngành
1) Quy hoạch tổng thể môi trường
Trang 19Quy hoạch tổng thể môi trường thường được lập cho các khu vực lớn, thí
dụ như quy hoạch môi trường cho một vùng lãnh thổ, một vùng kinh tế lớn hay
cho một lưu vực sông lớn, trong đó xem xét tổng hợp nhiều thành phần và yếu tố
- Quy hoạch quản lý chất lượng môi trường: quy hoạch xem xét việc quản
lý tổng hợp và bảo vệ tất cả các yếu tố môi trường khu vực như là quản lý chất lượng nước, quản lý chất lượng không khí, quản lý chất thải rắn và các chất thải nguy hại
- Quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên: quy hoạch xem xét giải quyết việc quản lý sử dụng tổng hợp tất cả các loại tài nguyên của khu vực như là tài nguyên đất, tài nguyên nước, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ thảm phủ và các tài nguyên sinh vật hoang dã
chế chính sách môi trường, quy hoạch hệ thống quan trắc, giám sát môi trường
Nói chung quy hoạch tổng thể môi trường rất phức tạp và có rất nhiều mục tiêu môi trường cần đạt được trong quy hoạch Quy hoạch giải quyết những vấn đề trên cách nhìn tổng thể và không quá đi sâu vào chi tiết
2) Quy hoạch môi trường chuyên ngành
Quy hoạch môi trường chuyên ngành là quy hoạch để đạt được một /hoặc
một số ít mục tiêu môi trường đối với một/hoặc một vài thành phần môi trường riêng biệt nào đó (thí dụ như nước/không khí/ rừng/ sinh vật và đa dạng sinh học,
khu bảo tồn/ vệ sinh môi trường ) trên một phạm vi lãnh thổ địa lý xác định
Quy hoạch môi trường chuyên ngành có thể lập một khu vực bất kỳ phục
vụ cho quản lý môi trường của khu vực, tuy nhiên cũng có thể lập cho một khu vực đã có vấn đề môi trường gây cấn hoặc nghiêm trọng Trong trường hợp này quy hoạch sẽ tập trung vào vấn đề gây cấn đó Một số quy hoạch môi trường chuyên ngành như là:
Quy hoạch quản lý chất lượng nước sông hoặc hồ
Quy hoạch bảo vệ đất, chống xói mòn khu vực
Quy hoach bảo vệ chất lượng không khí khu vực
Quy hoạch bảo vệ đa dạng sinh học khu vực
Trang 20 Quy hoạch bảo vệ cảnh quan khu vực (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên )
1.2.3 Quy hoạch môi trường và các quy hoạch khác
Cần thấy rằng các hoạt động phát triển của con người trong các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là các nguyên nhân gây nên các biến đổi môi trường, từ
đó tác động tiêu cực đến môi trường khu vực, mà quy hoạch môi trường là tìm các biện pháp, giải pháp để quản lý, kiểm soát và khắc phục các tác động tiêu cực đó, nên quy hoạch môi trường không thể tách rời mà ngược lại có mối quan hệ chặt chẽ với các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của khu vực
Chính vì vậy khi lập quy hoạch môi trường cần phải thu thập và phân tích đầy đủ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đã tiến hành, đang tiến hành cũng như các hoạt động dự kiến trong tương lai của các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong khu vực làm đầu vào cho lập quy hoạch môi trường
Qua lập quy hoạch môi trường chúng ta có thể dự báo được các tác động tiêu cực của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong thời gian sắp tới đối với môi trường khu vực như thế nào từ đó đưa ra phương án quản lý, kiểm soát hoặc giảm nhẹ các tác động tiêu cực đó, đưa môi trường trở lại trạng thái cân bằng
1.3 Chu trình quy hoạch
Nói chung một quy hoạch từ khi xây dựng đến khi thực hiện theo một chu trình như hình 1-1 bao gồm 3 giai đoạn như hình 1-1, đó là : (i1) giai đoạn chuẩn
bị, (2) giai đoạn lập quy hoạch , và (3) giai đoạn thực hiện quy hoạch
Trang 21Hình 1-1 Chu trình quy hoạch
1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị
Đây là giai đoạn chuẩn bị trước khi lập quy hoạch trong đó làm các công việc chuẩn bị như là:
- Tìm hiểu một cách khái quát khu vực quy hoạch
- Xác định phạm vi, yêu cầu và nội dung chủ yếu của quy hoạch
Giai đoạn Chuẩn bị
Giai đoạn lập quy hoạch
Giai đoạn thực hiện quy hoạch
Thẩm định, phê duyệt
Xây dựng và lựa chọn phương án,
Trang 22- Lập đề cương chi tiết cho lập quy hoạch và trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Chuẩn bị các thủ tục pháp lý cho việc lập quy hoạch như là các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép lập quy hoạch, tuyển chọn cơ quan chịu trách nhiệm lập quy hoạch, nguồn kinh phí cho lập quy hoạch
- Xác định rõ các thành phần tham gia đối với quy hoạch (stakeholder) và các cơ hội cho sự tham gia của họ Các thành phần tham gia ở đây bao gồm hai nhóm : (i) những người trực tiếp lập và ra quyết định quy hoạch, và (ii) cộng đồng dân cư trong vùng quy hoạch những người có thể đóng góp ý kiến cho quy hoạch
- Cơ quan được giao lập quy hoạch thành lập một đội ngũ cán bộ chuyên môn trực tiếp tham gia lập quy hoạch (chịu trách nhiệm xây dựng, lựa chọn và ra các quyết định quy hoạch) Có thể có thêm một nhóm chuyên gia tư vấn kỹ thuật
để trợ giúp
1.3.2 Giai đoạn lập quy hoạch
Một quy hoạch bất kỳ đều phải thông qua bước lập quy hoạch, và sau đó là thẩm định và phê duyệt quy hoạch
1) Lập quy hoạch
Đây là giai đoạn quan trọng nhất, trong đó bao gồm hai bước chính
a) Bước 1: Phân tích bối cảnh, xác định các vấn đề chủ yếu của quy hoạch,
Phân tích bối cảnh, xác định các vấn đề chủ yếu của quy hoạch còn gọi là phân tích hiện trạng Bước này nhằm đưa ra một khuôn khổ chung hay khung của quy hoạch, bao gồm:
Hiện trạng vùng quy hoạch
Xác định mục tiêu của quy hoạch ( mục tiêu về môi trường)
Xác định các vấn đề chủ yếu cần giải quyết (vấn đề môi trường bức xúc)
b) Bước 2: Xây dựng và lựa chọn các quyết định của quy hoạch
Đây là bước xây dựng quy hoạch, nó bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
Trang 23 Phân tích xác đinh vấn đề/mục tiêu ưu tiên
Xác định định hướng để giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc
Đề xuất giải pháp để thực hiện đạt được mục tiêu đã đặt ra
Xây dựng và lựa chọn phương án quy hoạch
Xây dựng kế hoạch hành động của quy hoạch, bao gồm các hoạt động, các chương trình, dự án dự kiến sẽ thực hiện trong quy hoạch
Kế hoạch thực hiện quy hoạch
c) Bước 3: viết báo cáo quy hoạch, lấy ý kiến tham vấn của cộng đồng
Báo cáo dự thảo quy hoạch là sản phẩm mà những người lập quy hoạch phải chuẩn bị sau khi đã quyết định được phương án quy hoạch cùng các hoạt động của quy hoạch Sau khi lấy ý kiến của các thành phần có liên quan và ý kiến tham vấn của cộng đồng đối, dự thảo báo cáo phải bổ sung, chỉnh sửa cho đầy đủ
sẽ được báo cáo hoàn chỉnh của quy hoạch Báo cáo quy hoạch phải trình bày kết quả thực hiện trong các bước lập quy hoạch, luận chứng được phương án quy hoạch được lựa chọn cùng các hoạt động cần tiến hành, kế hoạch thực hiện quy hoạch
2) Thẩm định và phê duyệt quy hoạch
Báo cáo quy hoạch sau khi chỉnh sửa theo các ý kiến đóng góp của các thành phần liên quan và được sự nhất trí của cộng đồng dân cư trong vùng dự án
sẽ được trình lên cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền về môi trường thẩm định và phê duyệt
- Cơ quan quản lý môi trường ra quyết định thành lập hội đồng thẩm định
để thẩm đinh báo cáo quy hoạch
- Báo cáo quy hoạch nếu được thông qua và sau khi chỉnh sửa hoàn chỉnh theo ý kiến của hội đồng thẩm định sẽ được trình lên cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để phê duyệt
- Sau khi được phê duyệt, báo cáo quy hoạch sẽ có căn cứ pháp lý để thực hiện trong thực tế
1.3.3 Giai đoạn thực hiện quy hoạch
Quy hoạch sau khi đã được cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường phê duyệt sẽ được thực hiện trong thực tế Giai đoạn này sẽ bao gồm:
Trang 24(1) Thực hiện phương án quy hoạch : chủ yếu là thực hiện phương án quy hoạch theo kế hoạch thực hiện trong báo cáo quy hoạch đã được phê duyệt
(2) Đánh gía thực hiện quy hoạch : để đánh giá việc thực hiện quy hoạch cần phải dựa trên các số liệu theo dõi kết quả thực hiện, gọi chung là số liệu giám sát thực hiện quy hoạch Qua đánh giá có thể rút ra các ý kiến về sự phù hợp cũng như tính hiệu quả của các giải pháp, phương án quy hoạch đã đề xuất, từ đó đưa ra
ý kiến bổ sung hoặc điều chỉnh cho tốt hơn trong các kỳ quy hoạch, hoặc giai đoạn thực hiện tiếp sau của quy hoạch
Theo chu trình trên có thể thấy quy hoạch môi trường là bài toán rất phức tạp và để lập quy hoạch cần phải xem xét giải quyết rất nhiều vấn đề, từ việc chuẩn bị xác định phạm vi bài toán quy hoạch, chuẩn bị số liệu đến vận dụng phương pháp luận, phân tích tính toán để đưa ra các quyết định cuối cùng về giải pháp, phương án quy hoạch nhằm giải quyết một cách tốt nhất các vấn đề môi trường bức xúc của khu vực
Để xây dựng quy hoạch môi trường cho một khu vực, nhất là một khu vực lớn, cơ quan lập quy hoạch cần thành lập một “ đội ngũ ” hoặc một “hội đồng” lập quy hoạch bao gồm những chuyên gia, cán bộ chuyên môn, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trực tiếp lập quy hoạch Phối hợp với đội ngũ này còn cần phải động viên sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan và cộng đồng dân cư sống trong vùng dự án
Trong các chương tiếp sau của môn học sẽ đi sâu trình bày các bước cụ thể hay phương pháp luận để lập quy hoạch môi trường cũng như những vấn đề liên quan đến lập quy hoạch môi trường cũng như vận dụng phương pháp luận để lập một quy hoạch môi trường cụ thể làm cơ sở cho sinh viên học hỏi và hiểu sâu sắc hơn vấn đề lập một quy hoạch môi trường trong thực tế
Trang 25Chu trình quy hoạch với các bước lập quy hoach cụ thể như hình 1-2
Hình 2-1 Chu trình quy hoạch (chi tiết các bước lập quy hoạch )
DỰ THẢO BÁO CÁO QH
Sự tham gia các thành phần liên quan, ý kiến tham vấn của cộng đồng dân cư
Lập đề cương QH
Tổ chức đội ngũ lập QH
RA QUYẾT ĐỊNH
Xác định các mục tiêu ưu tiên
Đề xuất đinh hướng và các giải pháp
Phương án quy hoạch
THỰC HIỆN QH
Luật pháp, thể chế, hoạt
động quản lý, nâng cao
năng lực
Trang 26CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
2.1 Giới thiệu chung
Trong chương 1 đã giới thiệu một cách khái quát về khái niệm và chu trình chung của quy hoạch môi trường nhưng chưa đi sâu vào phương pháp luận lập quy hoạch
Trong chương này giới thiệu cụ thể về phương pháp luận lập quy hoạch môi trường cũng như quy trình quy hoạch môi trường Nội dung trình bày bao gồm các vấn đề sau đây:
(1) Điều tra khảo sát, thu thập thông tin số liệu cho lập quy hoạch
(2) Phương pháp phân tích để lập quy hoạch môi trường
(3) Quy trình lập quy hoạch
Quy trình chung
Khung quy hoạch và vấn đề xây dựng
Phân tích xác định các vấn đề chủ yếu cần giải quyết của quy hoạch
Xây dựng kế hoạch quản lý môi trường khu vực
(4) Tổ chức lập quy hoạch môi trường
2.2 Điều tra khảo sát, thu thập các thông tin cho lập quy hoạch
2.2.1 Vai trò và ý nghĩa của điều tra khảo sát, thu thập thông tin số liệu cho lập quy hoạch
Để lập quy hoạch cần phải có đủ các thông tin, số liệu cần thiết Nếu số liệu sai hoặc thu thập không đầy đủ thì không thể đảm bảo chất lượng của quy hoạch
Điều tra khảo sát, thu thập thông tin, số liệu cho lập quy hoạch bao gồm hai loại: (i) thu thập thông tin, số liệu đã có trước thời điểm quy hoạch, và (ii) điều tra khảo sát, thu thập thông tin số liệu tại thực địa ngay tại thời điểm lập quy hoạch
1) Thu thập các thông tin, số liệu đã có trước thời điểm quy hoạch
Nói chung các thông tin, số liệu cần cho quy hoạch trong thực tế đã có rất nhiều, tuy nhiên chúng nằm rải rác tại nhiều nơi, thuộc nhiều đề tài, dự án nghiên
Trang 27cứu đã thực hiện trong vùng trước đây Vì thế khi lập một quy hoạch môi trường cần thu thập và tìm cách khai thác sử dụng các nguồn thông tin, số liệu này Đây
là thu thập các thông tin, số liệu đã có trong thời gian trước thời điểm lập quy hoạch
Mục đích của thu thập các thông tin số liệu là để kế thừa các nguồn thông tin số liệu đã có trong vùng quy hoạch, giúp cho người lập quy hoạch có thể nhanh chóng tiếp cận các vấn đề chính của vùng, không phải đi lòng vòng Do kế thừa được các thông tin số liệu đã có nên người lập quy hoạch sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí nhất là trong giai đoạn ban đầu “ đánh giá hiện trạng” để xác định được các vấn đề chủ yếu của vùng quy hoạch một cách nhanh chóng và đúng đắn nhất
Việc thu thập các thông tin số liệu này bằng cách tiếp cận các cơ sở nghiên cứu, các nhà khoa học cũng như các cơ quan quản lý hoặc cơ quan có liên quan đến các đề tài dự án nói trên Một cách khác nữa là thu thập các thông tin, số liệu của các đề tài dự án đó thông qua tiếp cận các báo cáo của đề tài, dự án lưu trữ trong trung tâm thông tin hoặc thư viện quốc gia hoặc của các bộ, ngành, các tỉnh
và địa phương
2) Điều tra khảo sát, thu thập thông tin số liệu tại thực địa
Ngoài các thông tin số liệu đã có trước đây, để lập một quy hoạch cũng cần phải cần có các thông tin số liệu về của vùng dự án ngay thời điểm lập quy hoạch Các thông tin, số liệu này phải thu thập tại hiện trường thông qua việc điều tra, phỏng vấn cộng đồng dân cư và những thành phần có liên quan và đo đạc các
số liệu cần thiết ngay tại thực địa, gọi chung là " điều tra, khảo sát và thu thập
thông tin số liệu tại thực địa" Đây là các số liệu về tài nguyên môi trường tại thời
điểm lập quy hoạch để đánh giá hiện trạng kinh tế, xã hội cũng như tài nguyên và môi trường vùng lập quy hoạch
Điều tra, khảo sát tại thực địa là " điều tra khảo sát tổng hợp về tài nguyên,
môi trường" của vùng quy hoạch, trong đó tập trung vào các nhóm thông tin, số
liệu chủ yếu cần cho quy hoạch Tuy nhiên việc điều tra cũng cần phải đặt ưu tiên vào những thông tin số liệu cần phải có để lập quy hoạch nhưng trong các thông tin số liệu đã thu thập được chưa có, hoặc nếu có nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của lập quy hoạch
Điều tra khảo sát, thu thập thông tin tại thực địa là công việc cần phải tiến hành ngay trong bước đầu tiên của lập quy hoạch, nó có các vai trò sau đây:
Trang 28- Cung cấp các thông tin, số liệu gốc làm cơ sở cho đánh giá hiên trạng
vùng quy hoạch, đặc biệt là hiện trạng tài nguyên và môi trường
- Giúp cho những người lập quy hoạch tiếp cận địa bàn, tìm hiểu thực tế và nhận thức một cách toàn diện về vùng quy hoạch, nhất là những gì đang xảy ra, những gì là bức xúc cần phải xem xét giải quyết, cũng như "đâu " là nguyên nhân gây nên những bức xúc đó.v.v
- Tạo cơ hội cho người lập quy hoạch tiếp xúc với cộng đồng dân cư và những thành phần có liên quan, thu thập các thông tin số liệu một cách trực tiếp,
đa chiều, là cơ sở cho việc lấy ý kiến đóng góp cũng như tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các thành phần có liện quan đối với quy hoạch trong quá trình lập quy hoạch sau này
2.2.2 Các thông tin số liệu cần điều tra, khảo sát và thu thập và địa chỉ thu thập thông tin số liệu
Để có thể thu thập được thông tin số liêu cần thiết cho lập quy hoạch, người lập quy hoạch phải xây dựng một đề cương cho việc điều tra, khảo sát và thu thập thông tin số liệu trong đó chỉ rõ:
o Những loại thông tin, số liệu nào dự án cần điều tra khảo sát/ thu thập ?
o Những nơi nào có thể đến để điều tra khảo sát/thu thập các thông tin số liệu đó ?
o Lập kế hoạch phân công các nhóm đi điều tra khảo sát/thu thập các loại thông tin sồ liệu kể trên
Có thể thấy rằng những nơi nào có thông tin số liệu có thể sử dụng và kế thừa được thì người lập quy hoạch phải tìm hiểu, xác định và cử người đến thu thập để kế thừa và tận dụng một cách cao nhất các thông tin, số liệu đã có
Thông tin số liệu cụ thể cần thu thập phụ thuộc vào nội dung và bài toán quy hoạch Tuy nhiên, nhìn chung các thông tin, số liệu thu thập cần thu thập của một dự án quy hoạch môi trường bao gồm các loại sau đây:
1) Thông tin số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng quy hoạch
2) Phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh, huyện trong vùng quy hoạch trong các giai đoạn tới: cần thu thập các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển KTXH của các tỉnh, của các ngành (nông nghiệp,
Trang 29công nghiệp, giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước đô thi và nông thông, thủy sản )
để lấy thông tin, số liệu trong đó
3) Thông tin, số liệu về các nguồn tài nguyên tự nhiên của vùng quy hoạch
và tình hình khai thác sử dụng, quản lý bảo vệ tài nguyên tính đến thời điểm lập quy hoạch : bao gồm tài nguyên nước, tài nguyên đất, khí hậu, các tài nguyên sinh học, điều kiện và đặc điểm hệ sinh thái trên cạn và dưới nước Việc thu thập các thông tin này chủ yếu tập trung vào số lượng và phân bố của từng loại tài nguyên, tình hình biến đổi/biến động của tài nguyên theo thời gian, đánh giá tiềm năng và giá trị khai thác sử dụng của các tài nguyên, vai trò của tài nguyên đối với đời sông người dân và phát triển kinh tế của vùng
4) Hiện trạng các thành phần môi trường của vùng quy hoạch: thu thập thông tin, số liệu về chất lượng các yếu tố môi trường đất, nước, không khí, môi trường sinh thái của vùng dự án trong thời gian trước đây và tại thời điểm lập dự
án quy hoạch Có thể lấy từ báo cáo hiện trạng môi trường các tỉnh trong vùng quy hoạch hàng năm hoặc giai đoạn 5 năm
5) Tình hình suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường trong vùng dự án, ảnh hưởng tới kinh tế xã hội của suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đối với vùng quy hoạch
6) Báo cáo các đề tài, dự án nghiên cứu đã thực hiện từ trước đến nay trong vùng quy hoạch liên quan đến khai thác sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường trong vùng quy hoạch
7) Các bản đồ : hành chính, địa hình, sông suối, địa chất , đất và sử dụng đất, thảm phủ thực vật của các tỉnh và địa phương trong vùng quy hoạch
8) Các số liệu đo đạc khí tượng thủy văn (mưa, dòng chảy, bùn cát, các yếu
tố khí hậu khác như nhiệt độ, độ ẩm, gió bão, bốc hơi ) trong vùng quy hoạch và khu vực lân cận
9) Các số liệu quan trắc môi trường đã có trong vùng quy hoạch: như số liệu chất lượng nước, chất lượng đất, chất lượng không khí và số liệu đo đạc mới trong quá trình điều tra
10) Tình hình quản lý, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường của các tỉnh trong vùng quy hoạch
11) Các rủi ro, hiểm họa môi trường trong vùng
Trang 30Địa điểm thu thập thông tin số liệu
1) Các cơ quan nghiên cứu, trường đại học, các nhà khoa học đã thực hiện câc đề tài, dự án nghiên cứu có nội dung chuyên môn liên quan đến quy hoạch
2) Các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý thuộc các Sở, Ban, Ngành của các tỉnh trong vùng quy hoạch
3) Các thư viện, cơ quan lưu trữ thông tin, số liệu tại Trung ương và địa phương
4) Thông tin số liệu trên mạng internet, đặc biệt là các văn bản pháp luật trong website của Chính phủ, các Bộ, Ngành và các tỉnh nằm trong vùng quy hoạch
5) Thông tin của người dân trong vùng quy hoạch thông qua điều tra, phỏng vấn tại thực địa
2.3 Phương pháp phân tích lập quy hoạch
2.3.1 Mô hình DPSIR
Mô hình DPSIR là một mô hình thường được sử dụng để phân tích lập quy hoạch môi trường cũng như phân tích để đề xuất chính sách môi trường hiện nay DPSIR là ký tự đầu của một chuỗi các danh từ, động từ tiếng Anh biểu thị :
ĐỘNG LỰC - ÁP LỰC –TRẠNG THÁI - TÁC ĐỘNG- ĐÁP ỨNG
(DINAMIC - PRESURE- STATE- IMPACT - RESPOND)
Đây là một mô hình định hướng cho quá trình phân tích để hướng tới xây dựng được các phương án cũng như giải pháp quy hoạch, nó bao gồm:
(1) Phân tích Động lực (Dynamic) của các hoạt động của con người đã
thực hiện trong các thời gian vừa qua để phát triển kinh tế xã hội trong vùng quy hoạch
(2) Đánh giá Áp lực (Presure) của các hoạt động nói trên đối với tài
nguyên môi trường của vùng quy hoạch
(3) Đánh giá Trạng thái (State) hay hiện trạng tài nguyên và môi trường
của vùng quy hoạch, hậu quả của các hoạt động phát triển kể trên đã gây ra và chỉ
ra các vấn đề bức xúc về môi trường cần phải giải quyết
Trang 31(4) Đánh giá và dự báo các Tác động (Impact) của các hoạt động phát
triển KTXH dự kiến sẽ thực hiện trong thời gian quy hoạch tới biến đổi tài nguyên
và môi trường vùng quy hoạch
(5) Phân tích để để xuất các biện pháp cần tiến hành hay sự Đáp ứng (Respond) hay phản hồi của con người để đối phó lại sự suy giảm môi trường có
thể diễn ra nhằm kiểm soát, hạn chế hoặc giảm thiểu các tác động tiêu cực kể trên, duy trì sự cân bằng giửa môi trường và phát triển trong vùng quy hoạch
Có thể thấy rằng mô hình DPSIR với các thành phần như nêu ở trên đã mô
tả được mối quan hệ tương hỗ giữa hiện trạng môi trường (S) với những áp lực đối với môi trường do con người gây ra (P) và những động lực quan trọng trực tiếp hoặc gián tiếp (D) trong vùng quy hoạch Ngoài ra mô hình cũng chỉ rõ những tác động tiêu cực (I) có thể xảy ra trong tương lai làm biến đổi điều kiện môi trường, cùng những sự đáp ứng (R) cần có từ xã hội chống lại những tác động không mong muốn nói trên Tất cả các thành phần trên đều là những bước hay hạng mục cần tiến hành khi giải quyết một vấn đề bức xúc trong thực tế của quy hoạch
Mô hình DPSIR minh họa cả những hoạt động xã hội ảnh hưởng đến môi trường và những đáp ứng/phản hồi từ môi trường tới xã hội dưới hình thức những động thái về chính sách môi trường cho từng lĩnh vực cụ thể ( nông nghiệp, công nghiệp, giao thông…) Những sự đáp ứng/phản hồi này bao gồm những mục tiêu
và biện pháp mà xã hội đưa ra nhằm chống lại những thay đổi không mong muốn
về tình trạng môi trường và tác động tiêu cực của những thay đổi này lên hệ sinh thái cũng như điều kiện sống của con người
Động lực (D) nằm trong các hoạt động được thực hiện bởi con người Hoạt động càng mạnh thì sẽ có động lực càng lớn, càng thúc đẩy sự phát triển Tuy nhiên những hoạt động của con người trong sản xuất, tiêu dùng cũng là động lực gây nên các áp lực tới môi trường
Những động lực đều bắt nguồn từ các hoạt động của các ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng Một áp lực (P) có thể sinh ra từ hoạt động của một ngành cụ thể hoặc từ nhiều ngành Tuy nhiên hoạt động của mộtn ngành cụ thể có thể tạo ra một vài hoặc một chuỗi các áp lực khác nhau, qua đó ảnh hưởng tới một hoặc nhiều vấn đề môi trường
Mức độ áp lực do các hoạt động của một ngành cụ thể gây ra tùy thuộc vào mức độ và loại hình hoạt động, công nghệ áp dụng khi tiến hành hoạt động cũng như “ hành vi môi trường” của những người đang thực hiện các hoạt động đó
Trang 32Trạng thái hay tình trạng môi trường (S) thường được mô tả theo các thành phần môi trường như môi trường vật lý (đất, nước, không khí) và môi trường sinh thái (các loại động vật, thực vật), trong đó mỗi thành phần được biểu thị cả về số lượng và chất lượng
Tình trạng môi trường là hậu quả tác động của nhiều yếu tố cả tự nhiên và
xã hội Yêu tố tự nhiên ảnh hưởng đến môi trường là những hiểm họa, rủi ro môi trường của thiên nhiên gây ra có tính định kỳ, thí dụ như là bão, lũ, xói lở lở đất
đa xảy ra hàng năm trong mùa mưa bão Yếu tố xã hội gây ra áp lực P đối với môi trường là do con người gây ra, trong đó cụ thể nhất là các hoạt động phát triển của con người làm tiêu tốn tài nguyên và tạo ra nước thải, chất thải rắn và khí thải làm ô nhiễm môi trường Việc sử dụng tài nguyên cũng như các mô hình sử dụng đất khác nhau của con người và những rủi ro khi ứng dụng các công nghệ, ví dụ đưa vào môi trường những loài sinh vật biến đổi gien cũng có thể coi là những áp lực quan trọng tác động lên môi trường sinh thái Ba yếu tố: hoạt động, công nghệ
và hành vi là trọng tâm của các chính sách và biện pháp (R) mà xã hội có thể áp dụng nhằm giảm các áp lực môi trường
Mặc dù làm giảm các áp lực có thể là mục đích trước mắt của rất nhiều chính sách về môi trường nhưng đó không phải là lý do cơ bản của các chính sách này Lý do cơ bản chính là đề ra được các chính sách để hạn chế những tác động không mong muốn mà một môi trường đang bị suy thoái có thể sẽ tạo ra
Trên cơ sở đánh giá những tác động không mong muốn, mô tả một cách hệ thống bức tranh cũng như tổng quan về những tác động tương hỗ giữa chất lượng môi trường, các áp lực và các hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau mà mô hình DPSIR đưa ra, xã hội sẽ đưa ra (R) các biện pháp để phản hồi hay chống lại những tác động không mong muốn này
Việc áp dụng các biện pháp để đáp ứng/phản hồi lại hàm chứa việc đưa ra những vấn đề được ưu tiên giải quyết, đặt ra những mục tiêu về môi trường và xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp về môi trường Những chính sách và biện pháp này có thể bao gồm cả những biện pháp về pháp lý, tài chính, những biện pháp đẩy mạnh đầu tư
Sơ đồ của mô hình
Mô hình DPSIR tổng quát được biểu thị trong hình 2-1, trong đó diễn tả sự
tương tác giữa các yếu tố trạng thái môi trường (S), các áp lực do con người gây
ra (P) và các động lực trực tiếp/gián tiếp đằng sau các yếu tố đó (D) Có thể nhận
Trang 33thấy mối liên hệ giữa hiện trạng môi trường và xã hội thông qua các mục tiêu môi trường và các biện pháp (R) được thực hiện nhằm chống lại những tác động ngoài
ý muốn (I), trong đó:
(1) Động lực nảy sinh từ các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội
Kinh tế: các ngành và lĩnh vực (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng, sử dụng nước, thủy sản, dịch vụ )
Xã hội: dân số và sự gia tăng dân số
(2) Áp lực sinh ra do các quá trình chủ yếu như là:
Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường nước, đất, không khí
Những thay đổi trong sử dụng đất
(4) Tác động: là tác động của các hoạt động phát triển lên các đối tượng sau:
Tài nguyên thiên nhiên
Hệ sinh thái, đa dạng sinh học
Con người: sức khỏe, thu nhập, phúc lợi/chất lượng cuộc sống, môi trường sống
Các lĩnh vực/ngành kinh tế
(5) Đáp ứng: là các phản hồi của xã hội để kiểm soát, hạn chế tác động tiêu cực do các hoạt động phát triển gây nên, bao gồm:
Trang 34 Các hoạt động cần tiến hành để giảm thiểu các tác động tiêu cực
Các chính sách môi trường nhằm đạt được các mục tiêu quóc gia về môi trường (ví dụ: các tiêu chuẩn và tiêu chí để điều chỉnh áp lực)
Các chính sách ngành (các giới hạn và biện pháp kiểm soát việc phát triển của ngành để giảm/thay đổi các hoạt động hay các áp lực do các hoạt động gây ra)
Nhận thức về môi trường
Các biện pháp xóa đói giảm nghèo cụ thể
Mô hình DPSIR áp dụng đối với môi trường nước có thể biểu thị như hình 2-2
2.3.2 Áp dụng mô hình DPSIR trong phân tích lập quy hoạch môi trường
Mô hình DPSIR sử dụng rất hữu hiệu trong việc mô tả các mối quan hệ giữa nguồn gốc/nguyên nhân và các hậu quả trong các vấn đề môi trường Tuy nhiên để hiểu được động lực chính của những tương tác này thì việc xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố trong mô hinh DPSIR cũng sẽ rất hữu ích Ví dụ mối quan
hệ giữa các yếu tố D và I trong các hoạt động kinh tế là hàm để tính hiệu quả về sinh thái của công nghệ và các hệ thống liên quan khác đang được sử dụng Tính hiệu quả về mặt sinh thái của công nghệ càng cao sẽ càng giảm được áp lực P trong khi có sự gia tăng các yếu tố động lực D
Cũng tương tự như vậy, mối liên hệ giữa các tác động đối với con người hay hệ sinh thái và tình trạng môi trường S phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chịu tải và mức ngưỡng của các hệ thống này Việc xã hội có biện pháp đáp ứng R lại các tác động này sẽ không phụ thuộc vào cách nhận thức và đánh giá các tác động
và các kết quả của R đối với D phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả của R
Mô hình DPSIR là cơ sở phân tích để lập một quy hoạch môi trường, trong
đó để lập một quy hoạch chúng ta cũng cần phải phân tích đánh giá một cách sát thực tình trạng các yếu tố môi trường của vùng quy hoạch, phân tích đánh giá động lực của các hoạt động của con người gây sức ép lên môi trường, chỉ rõ các tác động cũng như dự báo xu thế của tác động sẽ xảy ra trong tương lai thời gian quy hoạch Cuối cùng phải nghiên cứu để đưa ra các biện pháp là các phản hồi của con người để giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc đáp ứng các mục tiêu môi trường đã đặt ra của quy hoạch
Trang 352.4 Các bước và nội dung của lập quy hoạch
Quá trình lập quy hoạch môi trường từ khi phân tích ban đầu đến khi hoàn chỉnh báo cáo có thể chia thành 3 giai đoạn như sau:
1) Giai đoạn 1; phân tích ban đầu để đưa ra một khung hay khuôn khổ chung cho quy hoạch
2) Giai đoạn 2: Phân tích chi tiết để xây dựng phương án và ra quyết định quy hoạch
3) Giai đoạn 3: Viết báo cáo và chuẩn bị hồ sơ quy hoạch sau khi hoàn tất hai bước trên
Sau đây là các nội dung chủ yếu trong các giai đoạn nêu trên để lập quy hoạch
2.4.1 Giai đoạn phân tích ban đầu để xây dựng khung quy hoạch
Phân tích ban đầu là rất cần thiết để nhân dạng bài toán và các vấn đề cần giải quyết cũng như xác định mục tiêu của quy hoạch Phấn tích ban đầu nhằm tiến tới đưa ra một " khuôn khổ chung " hay một khung của quy hoạch
Giai đoạn này bao gồm 4 nội dung như sau:
Phân tích bối cảnh và đánh giá thực trạng của vùng quy hoạch
Phân tích xác định các vấn đề bức xúc cần giải quyết trong quy hoạch
Sơ bộ xác định mục tiêu của quy hoạch
Xác định cách tiếp cận, phương pháp và công cụ sử dụng, các nội dung chuyên môn để lập quy hoạch
1) Phân tích bối cảnh và đánh giá thực trạng của vùng quy hoạch
Đây là quá trình tiếp cận vùng quy hoạch để nhận biết bối cảnh của vùng quy hoạch, xem xét trong những thời gian vừa qua những gì đã xảy ra đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống do những hoạt động và các tác động tích lũy của con người, nói cách khác là thực trạng tài nguyên, môi trường của vùng quy hoạch Nội dung phân tích, đánh giá bao gồm:
a) Điều kiện tự nhiên (các tài nguyên thiên nhiên và tình hình khai thác sử dụng)
Trang 36b) Các hoạt đông phát triển KTXH (dân số và gia tăng dân số, các hoạt động phát triển KT của các ngành); phân tích động lực và áp lực của các hoạt động phát triển tới môi trường
c) Phân tích đánh giá tình trạng môi trường (đất, nước, không khí, các tài nguyên sinh vật);
d) Đánh giá tình hình ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống
Từ các kết quả phân tích và đánh giá trên sẽ làm rõ được hiện trạng của
vùng dự án về tài nguyên tự nhiên, kinh tế xã hội cũng như điều kiều môi trường sống là những thông tin vô cùng cần thiết làm cơ sở cho các phân tích, nhận định
để xây dựng các nội dung quy hoạch sau này
2) Phân tích xác định các vấn đề bức xúc cần giải quyết trong quy hoạch
Quy hoạch cần có mục tiêu để thực hiện, mục tiêu đó là nhằm vào các vấn
đề tồn tại, bức xúc về môi trường cần phải giải quyết để duy trì và bảo vệ tốt điều kiện môi trường sống khu vực Chính vì vậy sau khi đã nắm được bối cảnh vùng quy hoạch phải tập trung vào phân tích các định các vấn đề bức xúc mà quy hoạch cần xem xét, giải quyết, bao gồm:
a) Phân tích các tồn tại trong khai thác sử dụng tài nguyên, trong quản lý
và bảo vệ môi trường vùng quy hoạch trong những thời gian vừa qua
b) Phân tích và chỉ rõ những bức xúc về môi trường còn chưa được giải quyết, lý do vì sao chưa giải quyết được, hậu quả có thể xảy ra trong tương lai nếu các vấn đề bức xúc đó vẫn không giải quyết
c) Phân tích chỉ rõ yêu cầu và sự cần thiết giải quyết các vấn đề bức xúc đã xác định.
d) Chỉ rõ khả năng có thể giải quyết, những cơ hội và thách thức, những thuận lợi và khó khăn sẽ gặp phải hoặc phải vượt qua khi giải quyết những vấn đề bức xúc của quy hoạch.
Cần lưu ý rằng mỗi khu vực có thể có nhiều các tồn tại lớn hoặc bé trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ các yếu tố môi trường khu vực Tuy nhiên trong những tồn tại đó chỉ có một số vấn đề có thể coi là bức xúc mà thôi
Trang 37Những vấn đề môi trường bức xúc là những vấn đề môi trường quan trọng, thiết yếu đối với phát triển kinh tế xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của con người Sự bức xúc là do các tồn tại chưa tháo gỡ được nên đã gây nên những sự gay cấn, áp lực to lớn đến môi trường, đã ảnh hưởng rất đáng kể cho sự phát triển KTXH và thực hiện phát triển bền vững trong vùng, thí dụ như:
- Bức xúc trong khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên khai thác
sử dụng quá mức hay không hợp lý của các tài nguyên như tài nguyên nước, đất
- Bức xúc do không quản lý và kiểm soát được các chất thải khiến cho o nhiễm càng ngày càng gia tăng, đe dọa cuộc sống của con người
Mỗi sự bức xúc đều có nguyên nhân gây nên và chúng dều để lại hậu quả
mà con người đang phải gánh chịu Chúng có thể ví như những nút thắt cổ chai của một bình để ngăn cản không cho các vật có kích thước lớn hơn nút thắt cổ chai ở trong bình có thể ra bên ngoài Vì thế, không chỉ phân tích xác định các vấn
đề môi trường bức xúc mà còn cần phải làm rõ lý do gây nên sự bức xúc đó để sau này trong quá trình lập quy hoạch sẽ đề xuất các biện pháp tháo gỡ
Nói chung các vấn đề bức xúc đều là vấn đề sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu muốn giải quyết Đó cũng là những thách thức rất lớn nếu không có sự cố gắng vượt bậc trong việc đầu tư tâm, lực và trí tuệ thì sẽ không thể giải quyết được Chính vì vậy khi phân tích xác định các vấn đề bức xúc cũng cần phân tích làm rõ
cơ hội và thách thức phải đối mặt, cũng như khó khăn và thuận lợi khi tiến hành giải quyết vấn đề đó Nếu xác định không đúng hoặc không đầy đủ các vấn đề bức xúc trong vùng quy hoạch sẽ khiến cho quy hoạch khi xây dựng sẽ không đáp ứng được yêu cầu thực tế và có thể sẽ bị lệch hướng
3) Sơ bộ xác định mục tiêu của quy hoạch
Một quy hoạch khi xây dựng phải có mục tiêu để hướng tới, nó thể hiện sự mong muốn giải quyết các vấn đề tồn tại/bức xúc của khu vực trong thời gian của quy hoạch
Một khu vực có thể có một số vấn đề bức xúc, tuy nhiên mức độ bức xúc
có thể khác nhau Trong khoảng thời gian của quy hoạch từ 10 tới 20 năm, trong điều kiện nguồn lực đầu tư có hạn nhiều quy hoạch không thể mong muốn giải quyết xong tất cả các vấn đè tồn tại ngay trong thời gian quy hoạch mà có vấn đề chỉ đặt ra giải quyết ở một mức độ nhất định, phần còn lại sẽ giải quyết trong giai đoạn tiếp sau Chính vì thế sau khi phân tích xác định các vấn đề bức xúc cần xem
Trang 38Nói chung việc xác định đúng mục tiêu của quy hoạch không phải là dể dàng nhất là ngay trong giai đoạn phân tích ban đầu Vì thế trong giai đoạn này chỉ cần phần tích để đưa ra các mục tiêu sơ bộ, sau này trong quá trình lập quy hoạch với lượng thông tin nhiều hơn và thời gian cũng nhiều hơn sẽ xem xét và xác định lại mục tiêu sao cho phù hợp hơn nếu thấy cần thiết
Việc đưa ra sơ bộ mục tiêu của quy hoạch phải dựa vào các mục tiêu của quốc gia đã được xác định trong các chiến lược/kế hoạch quốc gia, thí dụ như là Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020, Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 Mặt khác, xác định mục tiêu cũng phải dựa trên tình hình thực tế của khu vực quy hoạch (như tiềm năng tài nguyên
tự nhiên, năng lực về kinh tế tài chính, khoa học kỹ thuật của các tỉnh và địa phương, sự trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức quốc tế)
Đề xuất sơ bộ mục tiêu cần xác định mục tiêu tổng quát của quy hoạch và
mục tiêu cụ thể đối với từng vấn đề bức xúc phải giải quyết trong thời gian quy
Xác định cách tiếp cận để lập quy hoạch
Xác đinh các phương pháp, công cụ sử dụng để lập quy hoạch
Xác đinh các nội dung chuyên môn cần nghiên cứu, giải quyết để lập quy hoạch
Sơ bộ đề xuất các giải pháp cần phải nghiên cứu xem xét để giải quyết các vấn đề chủ yếu của quy hoạch
5) Đưa ra kế hoạch tiến hành lập QH
2.4.2 Giai đoạn phân tích chi tiết, xây dựng phương án và ra quyết định quy hoạch
Đây là giai đoạn chủ yếu để lập quy hoạch với đầu bài đã xác định rõ trong giai đoạn phân tích ban đầu ở trên
Trang 39Lập quy hoạch là quá trình sử dụng phương pháp, các công cụ kỹ thuật để thực hiện các nội dung của quy hoạch, đặc biệt là đề xuất và thiết kế các giải pháp phù hợp giải quyết được các vấn đề bức xúc theo mục tiêu đã xác định ở trên, xây dựng phương án quy hoạch và kế hoạch hành động đẻ thực hiện quy hoạch Giai đoạn này có thể gọi chung là giai đoạn xây dựng và ra quyết định Các bước của giai đoạn phân tích chi tiết và ra quyết định quy hoạch bao gồm như sau:
Phân tích chi tiết viễn cảnh KTXH và các tác động tiêu cực đến môi trường vùng dự án
Phân tích xác định vấn đề ưu tiên, mục tiêu cụ thể quy hoạch
Nghiên cứu xác định các định hướng và các giải pháp quy hoạch
1) Phân tích chi tiết viễn cảnh KTXH và tác động môi trường vùng
dự án
Quy hoạch được lập cho một khoảng thời gian nhất định là thời gian quy hoạch Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội sẽ được thực hiện trong viễn cảnh biến đổi kinh tế xã hội trong khoảng thời gian này Cũng vì vậy phân tích chi tiết
để xác định các giải pháp của quy hoạch cần phải:
a) Phân tích các hoạt động phát triển dự kiến và viến cảnh kinh tế xã hội trong thời gian quy hoạch
Các hoạt động phát triển dự kiến nói chung đã được hoạch định trong các chiến lược và các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh nằm trong vùng quy hoạch, hoặc trong quy hoạch của các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thủy lợi Dựa trên các hoạt động dự kiến này có thể phân tích để chỉ ra viến cảnh kinh tế xã hội của vùng quy hoạch làm nền tảng để xây dựng và lựa chọn phương án quy hoạch
b) Phân tích tác động của các hoạt động phát triển dự kiến tới tài nguyên và chất lượng môi trường sống khu vực và dự báo xu thế biến đổi môi trường vùng
dự án Các phân tích này giúp cho việc đề xuất và lựa chọn các biện pháp ứng phó
để kiểm soát hạn chế các tác động tiêu cực nói trên, giải quyết tận gốc các tồn tại
về môi trường trong thời gian của quy hoạch
2) Phân tích xác định vấn đề ưu tiên, mục tiêu cụ thể quy hoạch
Các mục tiêu sơ bộ đã đề xuất trong giai đoạn phân tích ban đầu cần phải xem xét và xác định lại trong giai đoạn phân tích chi tiết để điều chỉnh lại nếu thấy
Trang 40tiên giải quyết trong quy hoạch, và (ii) các mục tiêu cụ thể và tiêu chí của môi mục tiêu đối với từng vấn đề môi trường bức xúc
Cần phải xác định rõ trong tất cả các vấn đề cần giải quyết của quy hoạch thì vấn đề nào cần ưu tiên giải quyết trước hết Điều này sẽ giúp cho khi đề xuất các giải pháp của quy hoạch cũng sẽ tập trung các nguồn lực cho giải quyết các vấn đề được ưu tiên so với các vấn đề khác của quy hoạch
Các mục tiêu khi phân tích xác định trong bước này là các mục tiêu cụ thể
và tiêu chí của từng mục tiêu Thí dụ: khi đặt mục tiêu cho việc thực hiện xử lý nước thải công nghiệp trong vùng quy hoạch để hạn chế ô nhiễm nước sông,
không thể chỉ đặt ra một cách chung chung như là “ thực hiện tốt xử lý nước thải
công nghiệp của các cơ sở công nghiệp trong vùng” mà phải cụ thể như là “ Thực hiện tốt quy định xử lý nước thải công nghiệp, phấn đấu đến năm 2020, tất cả (100%) các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung và 80% các cơ sở công nghiệp phân tán phải có hệ thống xử
lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi xả vào nguồn nước ”
Việc phân tích xác định các mục tiêu cụ thể cần dựa vào điều kiện và năng lực giải quyết các vấn đề đặt ra của tỉnh và các địa phương trong vùng quy hoạch cũng như các nguồn lực đầu tư ( tài chính, khoa học, kỹ thuật, ) Việc phân tích
và xác định các mục tiêu cụ thể và các tiêu chí của mỗi mục tiêu phải có cơ sở rõ ràng sao cho mục tiêu đặt ra có thể thực hiện được trong thức tế, tránh trường hợp mục tiêu đặt ra với tiêu chí quá cao so với điều kiện và nguồn lực của vùng thì sẽ làm cho quy hoạch lập nên sẽ không phù hợp cới thực tế và không thể thực hiện được như mong muốn
3) Nghiên cứu xác định các định hướng và các giải pháp quy hoạch
Đây là nội dung chính để đưa ra các quyết định quy hoạch bao gồm hai nội dung chủ yếu đó là:
Phân tích xác định các định hướng để giải quyết các vấn đề MT bức xúc;
Đề xuất các giải pháp, phân tích lựa chọn giải pháp phù hợp theo các hướng nêu trên để đạt được mục tiêu quy hoạch