1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng mô hình tăng trưởng và phát triển

139 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình nhằm thu được phúc lợi xã hội tốt nhất từ các nguồn sẵn có thông thường sẽ dẫn đến một tốc độ tăng trưởng ròng của sản lượng trên đầu người trong hệ thống kinh tế.. Trên phạm v

Trang 2

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

DANH MỤC HÌNH 5

Chương 1 6

CÁC SỰ KIỆN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6

A CÁC SỰ KIỆN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI 6

I Giới thiệu 6

1.1 Lược sử 6

1.2 Mục đích 7

1.3 Cách tiếp cận 7

II Số liệu về tăng trưởng và phát triển 8

2.1 Định nghiã về tăng trưởng kinh tế 8

2.1.1 Thước đo của tăng trưởng kinh tế 9

2.1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (Economic growth rate) 9

2.2 Số liệu về tăng trưởng và phát triển của một số nước trên thế giới 10

2.3 Các “sự kiện đặc biệt khác” khác 16

B TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM QUA HAI THẬP KỶ 19

I Tăng trưởng GDP thực tế và GDP thực tế/đầu người qua 2 thập kỷ 19

1.1 Tăng trưởng GDP thực tế 19

1.2 So sánh GDP, GDP thực tế/đầu người và các chỉ tiêu cơ bản trong thời kỳ 1986-2013 20

C NHỮNG VẤN ĐỀ CỒN LẠI CẦN GIẢI QUYẾT 23

CHƯƠNG 2 – MÔ HÌNH SOLOW 25

I GIỚI THIỆU 25

II MÔ HÌNH SOLOW CƠ BẢN 26

2.1 Giả thiết của mô hình 26

2.2 Mô hình 26

2.3 Hình Solow 29

2.4 So sánh tĩnh 31

2.4.1 Tăng tỷ lệ đầu tư 31

2.4.2 Tăng tốc độ tăng dân số 32

2.5 Các đặc điểm của trạng thái dừng 33

2.6 Tăng trưởng kinh tế trong một mô hình giản đơn 33

III CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH SOLOW 35

3.1 Phân loại Sự tiến bộ Công nghệ 35

3.2 Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính 35

3.3 Tăng trưởng cân đối 37

3.4 Hình Solow với công nghệ 37

3.5 Tìm trạng thái dừng 38

3.6 Quy tắc vàng của tích luỹ vốn 42

III ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH SOLOW 42

IV HẠCH TOÁN TĂNG TRƯỞNG VÀ SUY GIẢM NĂNG SUẤT 43

4 1 Số liệu về hạch toán tăng trưởng và suy giảm năng suất của một số nước trên thế giới 43

Trang 3

4.2 Phương pháp kinh tế lượng ước lượng đóng góp của tiế bộ công nghệ trong mô hình

Solow và ứng dụng vào Việt Nam 46

4.2.1.Phương pháp phương trình đơn 46

Bài tập 49

BÀI TẬP LỚN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3 – ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM CÁC 52

MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG TÂN CỔ ĐIỂN 52

A ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG TÂN CỔ ĐIỂN TRONG VIỆC MỞ RỘNG GIẢI THÍCH VÌ SAO GIÀU VÌ SAO NGHÈO 52

I GIÓI THIỆU 52

II MÔ HÌNH SOLOW VỚI VỐN NHÂN LỰC 52

2.1.Mở rộng mô hình 52

2.2 Chỉ định phương trình của mô hình Solow ước lượng thực nghiệm để giải thích sự giàu nghèo giữa các nước 54

2.2.1 Chỉ định các mô hình kinh tế lượng 56

III HỘI TỤ VÀ LÝ GIẢI SỰ KHÁC BIỆT TRONG TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG 58

IV DIỄN BIẾN PHÂN PHỐI THU NHẬP 62

B ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM CHỈ ĐỊNH VÀ ƯỚC LƯỢNG CÁC THAM SỐ CỦA MÔ HÌNH SOLOW 64

I CHUYỂN CÁC PHƯƠNG TRÌNH CỦA MÔ HÌNH TỪ THỜI GIAN LIÊN TỤC SANG RỜI RẠC 64

II CHỈ ĐỊNH MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG 65

III VẤN ĐỀ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH VÀ GIẢI THÍCH 65

3.1 Phương pháp ước lượng phương trình (3.21a) với điều kiện ràng buộc hệ số của Ln(si) phải bằng đối của hệ số của Ln(ni + g + ) 66

IV CHỈ ĐỊNH VÀ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG SOLOW VỚI VỐN CON NGƯỜI 66

4.1 Mô hình 66

4.2 Kiểm định mô hình với giả thiết H0 tổng các hệ số của Lnsk và Lnsh phải bằng đối của hệ số của Ln (n+g+) 67

V MỘT VÀI KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH SOLOW 68

Bài tập 68

CHƯƠNG 4 : KINH TẾ HỌC Ý TƯỞNG 71

GIỚI THIỆU 71

I CÔNG NGHỆ LÀ GÌ? 71

1.1 Khái niệm công nghệ : 71

1.2 Khái niệm ý tưởng (các ý tưởng cải thiện công nghệ sản xuất) 71

1.3 Các ví dụ về các ý tưởng và các sự cải thiện công nghệ 71

II KINH TẾ HỌC Ý TƯỞNG 72

2.1 Mối quan hệ giữa kinh tế học ý tưởng và tăng trưởng 72

2.2 Lợi thế theo quy mô : Chi phí trung bình cao hơn chi phí biên và nếu đặt giá bằng chi phí biên thì doanh nghiệp sẽ lỗ 75

2.3 Mô hình độc quyền 77

III BẢN QUYỀN VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 78

Trang 4

IV DỮ LIỆU VỀ CÁC Ý TƯỞNG 81

V TÓM TẮT 83

Bài tập 83

CHƯỜNG 5 ĐỘNG CƠ CỦA TĂNG TRƯỞNG 85

I GIỚI THIỆU 85

II CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH 85

2.1 Tăng trưởng trong mô hình ROMER 88

2.2 Tác động tăng trưởng và tác động mức 91

2.3 so sánh tĩnh: gia tăng thường xuyên trong tỷ phần R&D 92

III ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH 95

3.1 Kkhu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng 95

3.2 Khu vực hàng hóa trung gian 97

3.3 Khu vực nghiên cứu 98

3.4 Giải mô hình 99

IV Tối ưu R&D 101

V TÓM TẮT 103

PHỤ LỤC: GIẢI TỶ PHẦN R&D 104

BÀI TẬP 104

CHƯƠNG 7 106

THƯỢNG TẦNG KIẾN TRÚC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TRONG DÀI HẠN 106

I GIỚI THIỆU 106

II BÀI TOÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH 106

III CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH TỚI F 108

IV CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH TỚI ∏ 109

V NÊN ĐẦU TƯ VÀO ĐÂU? 111

VI BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 111

VII LỰA CHỌN THƯỢNG TẦNG KIẾN TRÚC 115

VIII THẦN KỲ VÀ THẢM HOẠ TĂNG TRƯỞNG 117

IX TÓM TẮT 120

Bài tập 122

CHƯƠNG 8 123

MỘT SỐ DẠNG CỦA LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH 123

I GIỚI THIỆU 123

II MỘT MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH ĐƠN GIẢN: MÔ HÌNH “AK” 123

II Ý NGHĨA CỦA CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KHÁC 126

III ẢNH HƯỞNG NGOẠI ỨNG CỦA MÔ HÌNH AK 127

IV ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH 129

V TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH LÀ GÌ? 132

Bài tập 133

CHƯƠNG 9 134

HIỂU BIẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 134

I GIỚI THIỆU 134

II TẠI SAO CÓ NƯỚC THÌ GIÀU NHƯNG LẠI CÓ NHỮNG NƯỚC QUÁ NGHÈO? 134

Trang 5

III ĐỘNG CƠ CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ LÀ GÌ 135

IV CHÚNG TA HIỂU GÌ VỀ THẦN KỲ TĂNG TRƯỞNG? 135

V KẾT LUẬN 136

BÀI TẬP TỔNG HỢP 136

Trang 6

Bảng 1 1 Số liệu thống kê tăng trưởng và phát triển 10

Bảng 1 2 Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế thời kỳ 1986-2013 19

Bảng 2 1 Hạch toán tăng trưởng cho nước Mỹ 44 Bảng 2 2 Ước lượng hệ số hàm sản xuất CES 46

Bảng 2 3 Kết quả ước lượng hệ phương trình đồng thời cho toàn bộ nền kinh tế (3SLS) 47

Bảng 2 4 Kết quả ước lượng đồng thời cho khu vực công nghiệp (2SLS) 47

Bảng 3 1 Dữ liệu và dự đoán của mô hình tân cổ điển 57 Bảng 3 2 Ước lượng thực nghiệm mô hình Solow đã bổ xung 68

DANH MỤC HÌNH Hình 1 1 Tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất của Việt Nam 1986-2013 20

Hình 1 2 So sánh tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất 21

Hình 1 3 Tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất có hiệu chỉnh ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh 22

Hình 2 1 Hàm sản xuất Cobb-Douglas 27 Hình 2 2 Hình Solow cơ bản 29

Hình 2 3 Hình Solow và hàm sản xuất 31

Hình 2 4 Tăng tỷ lệ đầu tư 32

Hình 2 5 Quá trình động quá độ 34

Hình 2 6 Hình Solow với tiến bộ công nghệ 38

Hình 2 7 Tăng tỷ lệ đầu tư 39

Hình 2 8 Tỷ lệ đầu tư tăng – quá trình động quá độ 40

Hình 2 9 Tác động của tăng đầu tư tới tăng trưởng 41

Hình 2 10 Tác động của tăng đầu tư tới y 41

Hình 3 1 Quá trình động quá độ trong mô hình tân cổ điển 61 Hình 4 1 Các thuộc tính của các hàng hóa được chọn lọc 73 Hình 4 2 Chi phí cố định và lợi tức tăng dần 75

Hình 4 3 Chi phí cố định và lợi tức tăng dần 76

Hình 4 4 Tăng trưởng dân số đến 1990 78

Hình 4 5 Các bằng phát minh được cấp ở Mỹ từ 1900-1991 82

Hình 4 6 Số các nhà khoa học và các kỹ sư liên quan đến R&D1950-1988 82

Hình 5 1 Tiến bộ công nghệ: Tăng trong tỷ phần R&D 92 Hình 5 2 A A theo thời gian 93

Hình 5 3 Mức của công nghệ theo thời gian (Ảnh hưởng của việc ra tăng trong phần lực lượng lao động tham gia vào R&D) 94 Hình 8 1 Lược đồ Solow với mô hình AK 124

Trang 7

CÁC SỰ KIỆN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

A CÁC SỰ KIỆN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRấN THẾ GIỚI

I Giới thiệu

1.1 Lược sử

Phỏt biểu tại cuộc họp thường niờn của Hiệp hội Kinh tế Mỹ năm 1989, nhà lịch sử kinh

tế nổi tiếng David S Landes đó chọn cõu hỏi cơ bản về tăng trưởng và phỏt triển kinh tế làm tiờu đề cho bài thuyết trỡnh của mỡnh: “Tại sao chỳng ta giàu thế và họ thỡ nghốo thế?”1

Cõu hỏi từ ngàn xưa này đó thu hỳt cỏc nhà kinh tế hàng thế kỷ Cõu hỏi này làm cỏc nhà kinh tế

học cổ điển say mờ đến nỗi nú được in lờn bỡa luận văn nổi tiếng của Adam Smith Nghiờn cứu

Bản chất và Nguyờn nhõn của Sự giàu cú của cỏc quốc gia Và chớnh dự bỏo sai lầm của

Thomas Malthus vào đầu thế kỷ XIX về những triển vọng tương lai của tăng trưởng kinh tế

mà mụn học này cú tờn gọi được cụng nhận nhiều nhất là “khoa học buồn thảm”

Nghiờn cứu dưới quan điểm hiện đại cõu hỏi này bởi cỏc nhà kinh tế vĩ mụ bắt đầu từ những năm 1950 và với việc xuất bản hai bài bỏo nổi tiếng của Robert Solow Cỏc lý thuyết

của Solow đó giỳp làm rừ vai trũ của tớch luỹ tư bản hiệ vật và nhấn mạnh tầm quan trọng của

tiến bộ cụng nghệ như lực đẩy quan trọng đằng sau tăng trưởng kinh tế bền vững Trong

những năm 1960 và ở mức độ ớt hơn trong những năm 1970, nở rộ những cụng trỡnh nghiờn cứu về tăng trưởng kinh tế.2

Tuy nhiờn, vỡ lý do phương phỏp luận, cỏc khớa cạnh quan trọng của nghiờn cứu lý thuyết về thay đổi cụng nghệ bị chậm lại.3

Đầu những năm 1980, cụng trỡnh nghiờn cứu của Paul Romer và Robert Lucas đó khuấy động lại sự quan tõm của cỏc nhà kinh tế vĩ mụ đối với tăng trưởng kinh tế, nhấn mạnh kinh tế học vờ “những tư tưởng” và về tư bản nhõn lực Tận dụng những phỏt triển mới trong lý thuyết về cạnh tranh khụng hoàn hảo, Romer đó mở đầu mụn kinh tế học cụng nghệ cho cỏc nhà kinh tế vĩ mụ Sau những bước tiến về lý thuyết này, đó nổi lờn những nghiờn cứu thực nghiệm bởi nhiều nhà kinh tế, như Robert Barro, để lượng hoỏ và kiểm định cỏc lý thuyết tăng trưởng Cả nghiờn cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm đó tiếp tục với sự quan tõm lớn vào những năm 1990

3

Romer (1994) đã cung cấp một thảo luận hay về điểm này và về lịch sử nghiên cứu về tăng tr-ởng kinh tế

Trang 8

Cách tiếp cận của các bài giảng này là trước tiên đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về

tăng trưởng và sau đó sẽ trình bày những lý thuyết giải thích cho những quan sát thực nghiệm

Cách tiếp cận này giống cách tiếp cận mà các nhà khoa học sử dụng trong nghiên cứu thiên văn và vũ trụ Các nhà thiên văn không thể thực hiện các thí nghiệm được kiểm soát để làm xác nhận của hoá học và vật lý Thay vì như vậy, thiên văn học tiếp diễn thông qua sự tác động lẫn nhau giữa quan sát và lý thuyết Có sự quan sát: các hành tinh, các ngôi sao, và các thiên hà được sắp đặt trong vũ trụ theo một cách riêng Các thiên hà đang chuyển động riêng

rẽ và vũ trụ dường như rất thưa thớt thỉnh thoảng mới có những “tảng” vật chất Và có lý thuyết: thí dụ lý thuyết Tiếng nổ lớn cho một giải thích chặt chẽ đối với những quan sát này

Sự tác động lẫn nhau này giữa quan sát và lý thuyết cũng được sử dụng để xây dựng các bài giảng của khoá học này

Chương thứ nhất này sẽ phác thảo những điều thường thấy trong thực nghiệm gắn với tăng trưởng và phát triển

(i) Những nước giàu giàu thế nào và những nước nghèo nghèo thế nào?

(ii) Những nước giàu và những nước nghèo tăng trưởng nhanh ra sao?

(iii) Phần còn lại của cuốn sách bao gồm các lý thuyết để giải thích các quan sát

này

Trong một số tiết có hạn mà ta có, chúng ta sẽ không sử dụng nhiều thời gian vào những điều chứng kiến về từng nước, mặc dù những điều chứng kiến này rất quan trọng Thay vì như vậy, mục đích là cung cấp một khung khổ kinh tế chung để giúp ta hiểu quá trình tăng trưởng và phát triển Tuy nhiên , đây là một giáo trình cho sinh viên Việt Nam vì vậy tôi cũng dành một

số trang đáng kể để bàn về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Tất nhiên, một khác nhau quan trọng giữa thiên văn học và kinh tế học là “vũ trụ” kinh

tế có tiềm năng có thể được tạo lại bởi chính sách kinh tế Không giống như người thợ chế tạo

đồng hồ làm ra chiếc đồng hồ rồi để nó chạy mãi mãi, các nhà hoạch định chính sách kinh tế

không ngừng uốn nắn tiến trình tăng trưởng và phát triển Một điều kiện tiên quyết đối với các chính sách tốt là hiểu biết tốt về tăng trưởng kinh tế

Trang 9

II Số liệu về tăng trưởng và phát triển

2.1 Định nghiã về tăng trưởng kinh tế

Như ta đã biết tăng trưởng kinh tế được xác định theo sự thay đổi của GDP thực tế bằng hai cách sau:

Tăng trưởng kinh tế là lượng tăng của GDP thực tế từ thời kỳ này đến thời kỳ tiếp theo Như

vậy tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiềm năng của một nước Nói cách khác tăng trưởng kinh tế diễn ra khi đường giới hạn khả năng sản xuất của một nước dịch chuyển ra phía ngoài Một khái niệm thường được sử dụng là mức tăng sản lượng trên đầu người Điều này quyết định nâng cao mức sống của cư dân một nước Theo nghĩa đó ta có thể định nghĩa:

Tăng trưởng kinh tế là lượng tăng của GDP thực tế trên mỗi đầu người, tức là GDP thực tế

chia cho dân số của mỗi quốc gia

Trong khái niệm về tăng trưởng trên cần lưu ý đó là quá trình cần mở rộng những sự lựa chọn

để thực hiện các ưu tiên của xã hội trong việc xây dựng đất nước Quá trình nhằm thu được phúc lợi xã hội tốt nhất từ các nguồn sẵn có thông thường sẽ dẫn đến một tốc độ tăng trưởng ròng của sản lượng trên đầu người trong hệ thống kinh tế Sự tăng trưởng này sẽ bắt nguồn từ việc phân bổ nguồn lực tốt hơn, sự quản lý và các kỹ năng cải tiến, sự tiến bộ kỹ thuật và đầu

tư ròng Tuy nhiên khi phân tích tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chúng ta quan tâm đến tăng trưởng của sản lượng thực tế (hay sản lượng trên mỗi đầu người) qua một thời kỳ dài

Hai định nghĩa tăng trưởng kinh tế nêu trên đưa ra thông tin khác nhau về hoạt động kinh tế của chúng ta Tăng trưởng GDP thực tế đo lường tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng Như vậy, nó đo lường quy mô mở rộng của nền kinh tế và tầm quan trọng của nền kinh tế Tăng trưởng với tốc độ tương đối cao góp phần cho sự ổn định xã hội Tăng trưởng GDP thực tế trên đầu người đo lường tăng trưởng bình quân của mức sống của nhân dân Hai tốc độ tăng trưởng này có thể rất khác nhau Trên phạm vi thề giới một vài nước có tăng trưởng GDP nhanh cũng có tốc độ tăng dân số nhanh: những nước này có thể có mức tăng nhỏ hơn về mức sống so với nước có tăng trưởng GDP khiêm tốn hơn nhưng không có hoặc ít tăng trưởng về dân số

Ý nghĩa quan trọng của tăng trưởng kinh tế là ở chỗ nó góp phần vào sự thịnh vượng chung của cộng đồng , vì nó cho phép cộng đồng có thể tiêu thụ thêm nhiều hàng hoá và dịch vụ ,

Trang 10

đồng thời làm tăng thêm lương hàng hoá và dịch vụ của xã hội, như y tế và giáo dục v.v do

đó cải thiện được mức sống của cộng đồng

2.1.1 Thước đo của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế thường được đo bằng sự tăng lên cuả tổng sản phẩm quốc dân thực tế (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người qua thời gian

2.1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (Economic growth rate)

Mức thay đổi của tổng sản phẩm quốc dân, được biểu thị bằng một tỷ số phần trăm trong một đơn vị thời gian chẳng hạn quý hay năm Nếu được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát, nó được gọi là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực

Dưới dạng rời rạc ta có thể biểu diễn bằng các công thức sau:

y e , chẩng hạn y(t) đo GDP trên đầu người của nền kinh tế , thì: logy(t)= logy 0 +gt và do đó tốc

độ tăng trưởng g có thể biểu diễn bằng công thức: g=1

t( logy(t)-logy0) Như vậy tính tốc độ tăng trưởng giữa hai thời kỳ t và t-1 là g=logy(t)-logy(t-1) =  logy(t) Hai công thức cuối cùng này cung cấp cho ta cách tính tốc độ tăng trưởng như là phần trăm thay đổi của loga của biến Công thức tính tăng trưởng theo loga này có liên hệ với công thức đã cho ở trên như thế nào? Như đã biết ( ) ( 1) ( ) 1 1

Trang 11

2.2 Số liệu về tăng trưởng và phát triển của một số nước trên thế giới

Thế giới bao gồm các nền kinh tế dưới nhiều hình dạng và quy mô Có những nước rất giàu, và có những nước rất nghèo Một số nền kinh tế tăng trưởng nhanh, và một số thì không tăng trưởng chút nào Cuối cùng, có một số lớn nền kinh tế – thực tế là hầu hết – nằm giữa hai thái cực này Suy nghĩ về tăng trưởng và phát triển kinh tế, hữu ích là bắt đầu xem xét các trường hợp thái cực: các nước giàu, các nước nghèo, và các nước đang chuyển động nhanh ở giữa Phần còn lại của chương này đưa ra chứng cứ thực nghiệm – các “sự kiện” – gắn với các nhóm nước này Khi đó những câu hỏi then chốt về tăng trưởng và phát triển hầu như tự nhiên

là hỏi chính chúng

Bảng 1 1 Số liệu thống kê tăng trưởng và phát triển

GDP bình quân đầu người,

2010 (đô la)

GDP bình quân công nhân, 2010 (đô la)

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động,

2010

Tốc độ tăng bình quân năm, 1960-2010

Số năm để tăng gấp đôi

Trang 12

Zimbabwe 319 606 0.53 -0.30 -231

Nguồn: Penn World Tables Mark 7.1

Chú thích: Số liệu GDP được quy theo sức mua tương đương (PPP) và năm gốc là 2005 Tốc độ tăng trưởng là thay đổi trung bình năm của log GDP bình quân đầu công nhân

Bảng 1.1 trình bày một số số liệu cơ bản về tăng trưởng và phát triển đối với mườinước Chúng ta sẽ tập trung thảo luận vào những thước đo thu nhập bình quân đầu người thay vì những số liệu báo cáo như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết trẻ sơ sinh, hoặc các thước đo chất lượng sống Lý do chính đối với tiêu điểm này là các lý thuyết mà chúng ta phát triển trong các chương sau sẽ được diễn đạt dưới dạng thu nhập bình quân đầu người Hơn nữa, thu nhập bình quân đầu người là một “con số thống kê tóm tắt” hữu ích của mức phát triển kinh tế theo nghĩa nó tương quan cao với các thước đo chất lượng sống khác.4

Ta sẽ diễn giải bảng 1.1 trong bối cảnh một số “sự kiện”, bắt đầu bằng sự kiện thứ nhất:5

Sự kiện # 1: Có sự khác nhau rất lớn giữa các nền kinh tế về thu nhập bình quân đầu người Các nước nghèo nhất có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 5% thu nhập bình quân đầu người ở các nước giàu nhất

Phần thứ nhất của Bảng 1.1 nói về tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người năm 2010, cùng một số số liệu khác, đối với Mỹ và một số nước “giàu” khác Theo bảng 1.1 năm 2010 Mỹ vẫn là nước giàu nhất thế giới, với GDP bình quân đầu người đạt 41.365 đô la (theo giá đô la 2005), và là nước giàu nhất hơn hẳn – các nước như Nhật Bản (31.447 đô la), Pháp (31.299 đô la) và Anh (34.268 đô la)

Các con số này thoạt đầu có vẻ hơi gây ngạc nhiên Ta thường đọc thấy trong báo chí rằng Mỹ đã thụt lại sau các nước phát triển khác về thu nhập bình quân đầu người Tuy nhiên, các báo cáo trên báo chí như vậy có thể gây hiểu lầm do điển hình là tỷ giá hối đoái thị trường được sử dụng trong so sánh GDP của Mỹ được đo bằng đô la, trong khi GDP của Nhật Bản được đo bằng yên Bằng cách nào ta chuyển đổi yên Nhật thành đô la để so sánh? Một cách là

sử dụng tỷ giá hối đoái thịnh hành Thí dụ, vào tháng 1 năm 1997 tỷ giá hối đoái yên - đô la vào khoảng 120 yên trên đô la Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái có thể cực kỳ biến động Chỉ trước

Trang 13

đó hơn một năm, tỷ giá chỉ là 100 yên trên đô la Tỷ giá hối đoái nào trong các tỷ giá này là

“đúng”? Rõ ràng, tỷ giá mà chúng ta sử dụng là rất quan trọng: với tỷ giá 100 yên trên đô la, Nhật Bản sẽ dường như giàu hơn 20% so với với tỷ giá 120 yên trên đô la

Thay vì dựa vào tỷ giá hối đoái thịnh hành để thực hiện so sánh quốc tế về GDP, các nhà kinh tế cố gắng đo giá trị thực của một đồng tiền xét về khả năng mua các sản phẩm tưong tự Hệ số chuyển đổi thu được đôi khi được gọi là tỷ giá hối đoái hiệu chỉnh theo sức

mua tương đương Thí dụ, tạp chí Nhà kinh tế đưa ra báo cáo hàng năm về tỷ giá hối đoái theo

sức mua tương đương (PPP) dựa trên giá của một bánh humburger Big Mac của McDonald Nếu một Big Mac giá 2 đô la ở Mỹ và 300 yên ở Nhật Bản, thì tỷ giá hối đoái theo PPP trên

cơ sở Big Mac là 150 yên trên đô la Bằng cách mở rộng phương pháp này cho nhiều hàng hoá khác nhau, các nhà kinh tế xây dựng một tỷ giá hối đoái theo PPP có thể áp dụng đối với GDP Những tính toán như thế gợi ý rằng 150 yên trên đô la là một con số tốt hơn nhiều so với tỷ giá hối đoái thịnh hành là 100 hay 120 yên trên đô la.6

Cột thứ hai của Bảng 1.1 trình bày một độ đo có liên quan, GDP thực bình quân một công nhân năm 1990 Khác nhau giữa hai cột này là ở mẫu số: Cột thứ nhất chia tổng GDP cho toàn bộ dân số của một nước, trong khi cột thứ hai chia GDP chỉ cho lực lượng lao động Cột thứ ba trình bày tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2010 – tỷ số giữa lực lượng lao động trên dân số – cho thấy quan hệ giữa hai cột đầu Lưu ý rằng trong khi Nhật Bản và Pháp

có GDP bình quân đầu người năm 2010 xấp xỉ nhau, nhưng GDP bình quân một công nhân rất khác nhau Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Nhật Bản cao hơn so với ở các nước đã công nghiệp hoá khác

Ta nên sử dụng cột nào để so sánh mức phát triển? Câu trả lời phụ thuộc vào câu hỏi nào được hỏi Có lẽ GDP bình quân đầu người là thước đo tổng quát hơn về phúc lợi theo nghĩa nó cho ta biết bình quân một người có bao nhiêu đầu ra (sản lượng) sẵn sàng để tiêu dùng, đầu tư hoặc dùng cho một sử dụng khác nào đó

Mặt khác, GDP bình quân một công nhân cho ta biết nhiều hơn về năng suất của lực lượng lao động Theo ý nghĩa này, số thống kê thứ nhất có thể được coi là một thước đo phúc lợi, trong khi số thống kê thứ hai là một thước đo năng suất Đây có vẻ là một cách hợp lý để diễn giải các độ đo này, nhưng ta cũng có thể biện hộ cho việc sử dụng GDP bình quân một công nhân làm thước đo phúc lợi Những người không chính thức được tính trong lực lượng lao động có thể tham gia “sản xuất gia đình” hoặc có thể làm việc trong kinh tế ngầm Các hoạt động này không được tính vào GDP, và trong trường hợp này đầu ra (sản lượng) đo được

6

Nhµ kinh tÕ 19 th¸ng 4, 1995, trang 74

Trang 14

chia cho đầu vào lao động đo được có thể chính xác hơn để so sánh phúc lợi Trong cuốn sách này, ta sẽ thường sử dụng cụm từ “thu nhập bình quân đầu người” như một thước đo phúc lợi chung, ngay cả khi nói về GDP bình quân một công nhân, nếu như bối cảnh là rõ ràng Cho

dù ta sử dụng độ đo nào thì Bảng 1.1 cũng cho ta thấy một trong những điều then chốt đầu tiên về phát triển kinh tế: một nền kinh tế càng đưa nhiều “nỗ lực” vào sản xuất đầu ra (sản lượng) thì càng có nhiều đầu ra (sản lượng) để chia “Nỗ lực” trong bối cảnh này tương ứng với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động

Phần thứ hai của Bảng 1.1 cung cấp tư liệu về sự nghèo tương đối và cả tuyệt đối của một số nền kinh tế nghèo nhất thế giới Năm 2010, Ấn độ có GDP bình quân đầu người là 3.477 đô la, hơn 8% GDP bình quân đầu người ở Mỹ một chút Một số nền kinh tế Châu Phi cận Sahara thậm chí còn nghèo hơn: Thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ năm 2010 cao hơn

61 lần so với thu nhập ở Ethiopia

Để hiểu các số này đúng các khía cạnh của chúng, hãy xét một số số thống kê khác Một công nhân tiêu biểu ở Ethiopia hoặc Uganda phải làm việc một tháng rưỡi để kiếm được cái

mà một công nhân tiêu biểu ở Mỹ kiếm đuợc trong một ngày Tuổi thọ trung bình ở Ethiopia chỉ bằng hai phần ba ở Mỹ và tỷ lệ chết trẻ sơ sinh cao hơn 20 lần Gần 40% GDP ở Ethiopia được sử dụng cho lương thực thực phẩm, so với khoảng 7% ở Mỹ

Bao nhiêu phần trăm dân số thế giới sống với mức nghèo như vậy? Năm 1998, gần một nửa dân số thế giới sống trong những nước với dưới 10% mức GDP bình quân một công nhân

Mỹ Phần chủ yếu của dân số này sống ở chỉ hai nước: Trung Quốc, với hơn một phần năm dân số thế giới, có GDP bình quân một công nhân nhỏ hơn một phần mười lăm con số này ở Mỹ; Ấn Độ, với một phần sáu dân số thế giới, có GDP bình quân một công nhân nhỏ hơn một phần mười con số này ở Mỹ Hợp lại, hai nước này chiếm gần 40% dân số thế giới Trái lại,

39 nước ở Châu Phi cận Sahara chiếm dưới 10% dân số thế giới

Nhìn chung, phân bố bớt chênh lệch hơn khi tỷ lệ dân số thế giới sống ở các nước với GDP bình quân công nhân nhỏ hơn 30% GDP bình quân ở Mỹ giảm đi, phần lớn chuyển sang các nhóm 40% à 50% Trong số các nước nghèo nhất, cả Trung Quốc và Ấn Độ có tăng trưởng đáng kể trong GDP bình quân công nhân, ngay cả so với Mỹ Thu nhập tương đối của Trung Quốc tăng từ 4% GDP Mỹ năm 1960 lên 6% năm 1988 và năm 2010 là 17%; thu nhập tương đối của Ấn Độ tăng từ 7% GDP Mỹ lên hơn 8% trên cùng thời kỳ này

Phần thứ ba của Bảng 1.1 trình bày số liệu đối với một số nước đang chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất Bốn nước được gọi là các nước mới công nghiệp hoá (NIC) là Hồng Kông, Singapore, Đài Loan và Hàn Quốc Đáng chú ý là, nếu năm 1990 Hồng Kông có GDP trên đầu người cao hơn tất cả các nước đã công nghiệp hoá trừ Mỹ Năm 2010,

Trang 15

Singapore là quốc gia có GDP trên đầu người lớn nhất trong các nước trong bảng 1.1 GDP bình quân đầu người của Singapore lớn hơn hai lần của Hàn Quốc Tuy nhiên, cũng như Nhật Bản, GDP bình quân đầu người cao của Singapore được thúc đẩy ở mức độ lớn bởi tỷ lệ tham gia lao động cao Xét về GDP bình quân công nhân, Singapore và Hồng Kông là 2 nước có GDP bình quân đầu công nhân cao hơn so với các nền kinh tế đã công nghiệp hoá khác

Một đặc trưng quan trọng của các nước NIC này là tốc độ tăng trưởng cực nhanh của

họ, và điều này dẫn đến sự kiện tiếp theo:

Sự kiện # 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế khác nhau đáng kể giữa các nước

Hai cột cuối của Bảng 1.1 mô tả đặc trưng về tăng trưởng kinh tế Cột thứ tư trình bày thay đổi trung bình năm trong log (tự nhiên) của GDP bình quân công nhân từ 1960 dến

2010 7 Tăng trưởng trung bình trong GDP bình quân một công nhân ở Mỹ từ 1960 đến 2010 chỉ 1,5 phần trăm năm Pháp, và Anh tăng nhanh hơn một chút, trong khi Nhật Bản tăng với một tốc độ khoảng 3,3% Các nước NIC thậm chí còn vượt tốc độ tăng của Nhật bản, minh hoạ đúng ý nghĩa của tên gọi “thần kỳ tăng trưởng” Các nước thuộc nhóm các nước mới nổi (BRICS) có tốc độ tăng trưởng khá khác nhau Trong khi tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc

và Ấn Độ những năm gần đây tăng nhanh đã kéo tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ

1960-2010 đạt mức 5,75% và 3,16% (đặc biệt là Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng lớn hơn cả tốc

độ tăng của các nước NIC), các nước còn lại trong nhóm này như Brazil hay Nam Phi lại có tốc độ tăng trưởng thấp Cuối cùng, tốc độ tăng trưởng ở một số nước âm từ 1960 đến 2010, mang lại cho các nước này nhãn hiệu “thảm kịch tăng trưởng” Thu nhập thực ở các nước như Venezuela, Madagascar và Zimbabwe thực sự giảm như chỉ ra trong phần cuối cùng của Bảng 1.1

Quy tắc của Lucas

Một cách hữu ích để giải thích các tốc độ tăng trưởng là được cho bởi Robert E Lucas,

Jr trong một bài báo mang tên “Về cơ chế của sự phát triển kinh tế” (1988) Một quy tắc mang tính kinh nghiệm thuận tiện mà Lucas sử dụng là một nước tăng trưởng với tốc độ g phần trăm năm sẽ tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người của mình sau 70/g năm.8

Trang 16

Quy tắc này có thể giải thích như sau:

Cho y(t) là thu nhập bình quân đầu người tại thời gian t và y 0 là giá trị ban đầu nào đó

của thu nhập bình quân đầu người Khi đó y(t) = 0 gt

y e Thời gian cần thiết để thu nhập tăng

gấp đôi là thời gian t* mà tại đó y(t) = 2y 0 Do đó,

g

  

Quy tắc kinh nghiệm được thiết lập bởi nhận xét rằng log 2  0,7

Hộp 2: Quy tắc Lucas về tăng trưởng Theo quy tắc này, GDP bình quân công nhân Mỹ sẽ tăng gấp đôi sau xấp xỉ 46 năm, Trong khi GDP bình quân công nhân Nhật Bản sẽ tăng gấp đôi sau xấp xỉ 21 năm Nói cách khác, nếu các tốc độ tăng trưởng này không đổi trong vòng 46 năm tới, một người Mỹ trung bình sẽ giàu gấp hai lần một người Mỹ hiện nay Trong khi đó một công dân trung bình của Nhật Bản sẽ giầu hơn gấp 4 lần một công dân Nhật Bản hôm nay, người Hồng Kông, hoặc Hàn Quốc sẽ giàu bằng 8 lần một công dân của họ so với hiện tại Như vậy, những khác nhau nhỏ trong tốc độ tăng trưởng có thể dẫn đến những khác nhau rất lớn trong thu nhập bình quân đầu người

Sự kiện # 3: Tốc độ tăng trưởng không nhất thiết không đổi qua thời gian

Ở Mỹ và ở nhiều nước nghèo nhất của thế giới, tốc độ tăng trưởng không thay đổi nhiều trong thế kỷ qua Trái lại, tốc độ tăng trưởng tăng đột biến ở các nước như Nhật Bản và các nước NIC Một cách đơn giản để thấy điều này là nhận xét rằng một nước tăng trưởng với tốc

độ 5% năm và có thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 10.000 đô la không thể tăng như vậy mãi mãi Với tốc độ này, cứ sau 14 năm thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng gấp đôi, nghĩa là thu nhập bình quân đầu người trong thế kỷ trước phải thấp hơn 250 đô la Nếu ta coi

số này là mức thu nhập vừa đủ để tồn tại, thì rõ ràng các nước không thể tăng trưởng với tốc

độ 5% trên một thời gian rất dài Bằng lập luận tuơng tự, ngay cả tốc độ tăng trưởng vừa phải bằng 2% ở các nước đã công nghiệp hoá không thể diễn ra mãi mãi Các tốc độ tăng trưởng phải tăng ở một điểm nào đó trong quá khứ

Một cách khác để thấy rằng tốc độ tăng trưởng không luôn luôn không đổi qua thời gian

là xét một vài thí dụ Tốc độ tăng trưởng trung bình của Ấn Độ từ 1960 đến 2010 là 3,16%;

==>

g

2 log

*

Quy tắc kinh nghiệm được thiết lập bở nhận xét rằng log 2  0,7 Xem Phụ lục A

Trang 17

trong khi đú từ 1960 đến 1990 là 2,0% năm và từ 1960 đến 1980, tốc độ tăng trưởng của nú chỉ là 1,3% năm; trong những năm 1980 tăng trưởng tăng tốc lờn 3,4% năm Trước những năm 1950, Singapore khụng kinh qua tăng trưởng đặc biệt cao Đảo quốc Maritus đó giảm mạnh trong GDP bỡnh quõn cụng nhõn xuống 1,2% năm trong hai thập kỷ sau 1950 Tuy nhiờn, từ 1970 đến 1990, Mauritus tăng với tốc độ 3,6% năm Như một thớ dụ cuối cựng, theo một số bỏo cỏo, tốc độ tăng trưởng hàng năm của Trung Quốc đó gần 10% trong những năm gần đõy Tốc độ này cú vẻ quỏ cao để thừa nhận theo giỏ trị bề ngoài của nú, nhưng cú rất ớt nghi ngờ rằng nền kinh tế Trung Quốc gần đõy đó tăng trưởng rất nhanh

Khỏc nhau đỏng kể trong cỏc tốc độ tăng trưởng giữa cỏc nước và trong một nước dẫn đến một hệ quả quan trọng của cỏc sự kiện 2 và 3 Nú quan trọng đến mức ta sẽ gọi bản thõn

Cỏc sự kiện từ 1 đến 4 ỏp dụng rộng rói cho cỏc nước trờn thế giới Sự kiện tiếp theo mụ

tả một số đặc điểm của nền kinh tế Mỹ Cỏc đặc điểm này trở nờn cực kỳ quan trọng, như ta

sẽ thấy trong Chương 2 Chỳng là những đặc trưng tổng quỏt của hầu hết cỏc nền kinh tế “ở dài hạn”

Sự kiện # 5: Ở Mỹ trong thế kỷ qua,

1 Tỷ lệ hoàn vốn thực của tư bản, r, khụng cho thấy cú xu hướng đi lờn hoặc đi xuống

2 Tỷ lệ thu nhập giành cho tư bản, rK/Y, và lao động, wL/Y, khụng cho thấy cú một xu hướng nào

3 Tốc độ tăng trưởng trung bỡnh của đầu ra (sản lượng) bỡnh quõn đầu người dương và tương đối cố định qua thời gian – nghĩa là, Mỹ cú tăng trưởng thu nhập bỡnh quõn đầu người

được giữ vững, ổn định

9 Một thí dụ cổ điển của tr-ờng hợp sau là Argentina, Vào cuối thế kỷ XIX, Argentina là một trong những n-ớc giàu nhất thế giới Với cơ sở tài nguyên thiên nhiên cực lớn và một hạ tầng phát triển nhanh, nó đã thu hút đầu t- n-ớc ngoài và sự di c- ở quy mô lớn Tuy nhiên, vào năm 1990 thu nhập bình quân đầu ng-ời của Argentina chỉ khoảng một phần ba thu nhập bình quân đầu ng-ời của Mỹ Carlos Diaz-Alejandro (1970) cung cấp một thảo luận cổ điển về lịch sử kinh tế Argentina

Trang 18

Sự kiện cỏch điệu hoỏ này, thực tế là tập hợp cỏc sự kiện, được rỳt ra chủ yếu từ một bài giảng bởi Nicholas Kaldor tại một hội nghị 1958 về tớch luỹ tư bản (Kaldor, 1961) Kaldor, theo lời khuyờn của Charles Babage, đó bắt đầu bài giảng này bằng phỏt biểu rằng nhà lý thuyết kinh tế nờn bắt đầu bằng một tổng kết cỏc sự kiện “được cỏch điệu hoỏ” mà lý thuyết

cú nhiệm vụ giải thớch

Sự kiện thứ nhất của Kaldor – tỷ lệ hoàn vốn thực của tư bản gần như khụng đổi – là dễ thấy nhất bởi nhận xột rằng lói suất thực trờn nợ chớnh phủ trong nền kinh tế Mỹ khụng cú xu hướng nào Giả dụ là ta khụng quan sỏt lói suất thực, nhưng ta cú thể lấy lói suất danh nghĩa

và trừ đi tốc độ lạm phỏt kỳ vọng hoặc thực tế để làm quan sỏt này

Sự kiện thứ hai liờn quan đến cỏc khoản chi trả cho cỏc nhõn tố sản xuất, mà ta cú thể gộp thành tư bản và lao động Đối với Mỹ ta cú thể tớnh toỏn tỷ lệ của lao động trong GDP bằng cỏch nhỡn vào phần thanh toỏn tiền cụng và tiền lương và bự đắp cho lao động tự làm trong GDP.10 Những tớnh toỏn này cho thấy rằng phần tỷ lệ của lao động tương đối khụng đổi qua thời gian, với giỏ trị khoảng 0,7 Nếu ta tập trung vào mụ hỡnh với hai nhõn tố, và nếu ta giả thiết rằng khụng cú lợi nhuận kinh tế nào trong mụ hỡnh, thỡ phần tỷ lệ của tư bản đơn giản bằng 1 trừ đi phần tỷ lệ của lao động, hay 0,3 Hai sự kiện đầu tiờn này hàm ý rằng tỷ lệ tư bản trờn đầu ra (sản lượng), K/Y, gần như khụng đổi ở nước Mỹ

Sự kiện thứ ba là một giải thớch lại sơ qua một trong những sự kiện đựoc cỏch điệu hoỏ của Kaldor, được minh hoạ trong Hỡnh 1.3 Hỡnh này vẽ biểu đồ GDP bỡnh quõn đầu người (theo thang log) đối với Mỹ từ 1870 đến 1994 Đường xu thế trong hỡnh tăng với tốc độ 1,8% năm, và cú thể thấy tớnh tương đối khụng thay đổi của tốc độ tăng trưởng bởi nhận xột rằng ngoài sự lờn xuống của chu trỡnh kinh doanh, quỹ đạo tốc độ tăng trưởng khụng đổi này rất

“ăn khớp” với số liệu

Sự kiện # 6: Tăng trưởng trong đầu ra (sản lượng) và tăng trưởng trong khối lượng thương mại quốc tế cú tương quan chặt chẽ

Cú mối quan hệ hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng trong đầu ra (sản lượng) (GDP) của một nước và tăng trưởng trong khối lượng thương mại Ở đõy, khối lượng thương mại được định nghĩa là tổng của xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng cú thể tạo ra một con số tương tự với mỗi thành phần của thương mại Lưu ý rằng đối với nhiều nước, khối lượng thương mại tăng

10

Các số liệu này đuợc báo cáo trong các tài khoản sản phẩm và thu nhập quốc gia Xem, chẳng hạn, Hội đồng t- vấn kinh tế (1997)

Trang 19

nhanh hơn GDP; tỷ lệ của xuất khẩu và nhập khẩu trong GDP núi chung tăng khắp thế giới kể

từ 1960.11

Mối quan hệ giữa thương mại và kết quả thực hiện kinh tế rất phức tạp Một số nền kinh tế, như nền kinh tế Hồng Kụng, Singapore và Luxembourg đó phỏt đạt như những “trung tõm thương mại” vựng Tỷ số cường độ thương mại – Tổng của xuất khẩu và nhập khẩu chia cho

GDP - đối với cỏc nền kinh tế này lớn hơn 150% Vỡ sao cú thể như vậy? Cỏc nền kinh tế này

nhập khẩu cỏc sản phẩm chưa hoàn thiện, làm tăng giỏ trị bằng việc hoàn tất quỏ trỡnh sản xuất, và sau đú xuất khẩu kết quả Tất nhiờn GDP chỉ được tạo ra trong bước thứ hai Một yếu

tố quan trọng của kết quả tăng trưởng mạnh thu lại bởi cỏc nền kinh tế này gắn với gia tăng trong cường độ thương mại

Mặt khỏc, cường độ thương mại ở Nhật Bản thực sự giảm từ khoảng 21% vào năm 1960 xuống khoảng 18% vào năm 1992 mặc dự tăng trưởng trờn đầu người nhanh Và gần như tất

cả cỏc nước vựng Chõu Phi cận Sahara cú cường độ thương mại cao hơn Nhật Bản Một số trong cỏc nước này cú cường độ thương mại tăng từ 1960 đến 1990 trong khi kết quả tăng trưởng kinh tế sỳt kộm

Sự kiện # 7: Cả cụng nhõn cú kỹ năng lẫn khụng cú kỹ năng cú xu hướng di cư từ cỏc nước hoặc vựng nghốo sang nước hoặc vựng giàu

Robert Lucas nhấn mạnh sự kiện được cỏch điệu hoỏ này trong bài bỏo đó nờu trờn Cú thể thấy chứng cớ đối với sự kiện này ở sự hiện diện của chớnh sỏch hạn chế nhập cư ở cỏc nước giàu Đõy là một quan sỏt quan trọng bởi vỡ những sự di chuyển lao động này, cú lẽ thường rất tốn kộm, cho ta thấy một điều gỡ đú về tiền cụng thực Chi trả cho cả lao động cú

kỹ năng lẫn khụng cú kỹ năng ở cỏc vựng thu nhập cao phải cao hơn so với ở cỏc vựng thu

nhập thấp Về lao động cú kỹ năng, điều này dẫn đến một cõu hỏi khú trả lời rất thỳ vị Cú thể cho rằng lao động cú kỹ năng là khan hiếm ở cỏc nền kinh tế đang phỏt triển, và cỏc lý thuyết đơn giản dự đoỏn rằng chi trả cho nhõn tố cao nhất ở những nơi mà cỏc nhõn tố khan hiếm Vậy thỡ tại sao lao động cú kỹ năng khụng di cư từ Mỹ sang Zaire?

11 Về điểm này, lý thú là nhận xét rằng tr-ớc Chiến tranh Thế giới thứ I nền kinh tế thế giới đã rất mở

đối với th-ơng mại quốc tế Jeffrey Sachs và Andrew Warner (1995) lập luận rằng phần nhiều của việc

tự do hoá th-ơng mại sau Chiến tranh Thế giới thứ II, ít nhất cho đến những năm 1980, đơn giản thiết lập lại bản chất toàn cầu của thị tr-ờng đã thịnh hành năm 1900

Trang 20

B TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM QUA HAI THẬP KỶ

I Tăng trưởng GDP thực tế và GDP thực tế/đầu người qua 2 thập kỷ

Trước hết chúng ta phác thảo bức tranh về tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam theo hai định nghĩa đã trình bày ở trên bằng việc trình bày tăng trưởng GDP thực tế và của GDP thực tế/đầu người của nền kinh tế

1.1 Tăng trưởng GDP thực tế

Trong gần 30 năm qua GDP thực tế của Việt Nam đã tăng trưởng trung bình là gần 6,6/năm Tuy nhiên tăng trưởng GDP không phải đều đều qua mỗi năm mà cũng có thăng trầm Điều này được mô tả qua tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam năm 1986 đến năm 2013 ở bảng 1.2 dưới đây:

Nguồn: tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê

Tăng trưởng GDP thực tế/đầu người

Tuy nhiên chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống của người dân tốt hơn đó là chỉ tiêu tăng trưởng GDP thực tế/đầu người Theo kết quả tính toán dựa trên số liệu thu thập được từ GSO, tốc độ tăng GDP thực tế hàng năm bình quân đầu người của Việt Nam trong thời kỳ 1986-

2013 là khoảng 5% Điều này có thể thấy ở bảng 2 dưới đây:

Trang 21

Bảng 1 3 Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế/đầu người 1987-2013

Nguồn: tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê

1.2 So sánh GDP, GDP thực tế/đầu người và các chỉ tiêu cơ bản trong thời kỳ 1986-2013

Dưới đây sẽ trình bày, phân tích và so sánh 5 chỉ tiêu cơ bản của tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong hơn hai thập kỷ vừa qua đó là: tăng trưởng GDP thực tế, tốc độ tăng dân số và việc làm, tốc độ tăng trưởng GDP/đầu người và tăng trưởng năng suất lao động

Hình 1 1 Tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất

của Việt Nam 1986-2013

Trang 22

Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê

Sự tăng trưởng của GDP thực tế không phải là một quá trình ổn định Nó gia tăng trong giai đoạn bùng nổ của chu kỳ kinh doanh và giảm xuống mức thấp hơn trong giai đoạn cuối của chu kỳ Nó cũng bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong sản xuất các ngành chủ yếu phu thuộc vào các điều kiện tự nhiên như hạn hán hay mùa vụ tốt và môi trường kinh doanh bên ngoài Ở đây chúng ta quan tâm đến những ảnh hưởng dài hạn đối với sự tăng trưởng Với mục đích này có thể hữu ích khi thể hiện sự tăng trưởng của nền kinh tế trong hơn hai thập kỷ qua thông qua cách “làm mất” những giao động ngắn hạn Hình 1.2 và 1.3 mô tả kết quả của quá trình xử lý này

Hình 1 2 So sánh tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất

Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê

Trang 23

Hình 1 3 Tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất có hiệu

chỉnh ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh

Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê

Trong đó:

GGDP: Tăng trưởng của GDP thực tế,

GGDP/N: Tăng trưởng của GDP thực tế/đầu người,

GDS: Tăng trưởng của dân số,

GL: Tăng trưởng của lực lượng lao động,

GNS: Tăng trưởng của năng suất lao động

Các đường thẳng ở phần (Hình 1.2) biểu diễn tốc độ tăng trưởng trong dài hạn của 5chỉ tiêu đã được đề cập đến Ở phần (Hình 1.3), các xu hướng dài hạn này được biểu diễn bởi các đường thẳng theo trục hoành, và các số trung bình trượt dao động 7 năm được vẽ trên đồ thị theo tỷ lệ phần trăm của các giá trị xu hướng Trong hơn hai thập kỷ qua, tốc độ tăng GDP thực tế (tổng và trên đầu người) và việc làm tăng, nhưng tốc độ tăng năng suất giảm

Chúng ta sẽ làm mất đi các giao động ngắn hạn và chỉ chú ý đến các khuynh hướng của tăng trưởng của các chỉ tiêu này Các đường thẳng ở hình 1.2 thể hiện các xu hướng dài hạn của 5 chuỗi số liệu trong hơn hai thập kỷ Ta lấy tốc độ tăng trưởng theo tỷ lệ cố định, khi vẽ trên

đồ thị, xuất hiện với tư cách là các đường thẳng Tốc độ tăng theo tỷ lệ % hàng năm được biểu diễn theo 5 đường thẳng như hình 1.2

Trang 24

Do đó, GDP thực tế/đầu người tăng nhanh hơn so với năng suất lao động, phản ánh tốc độ tăng trưởng tỷ lệ với dân số lao động

Trong khi các tốc độ tăng trưởng dài hạn này có ý nghĩa quan trọng đối với sự hiểu biết của chúng ta về tăng trưởng kinh tế, chúng ta cũng cần có một số kiến thức về các tỷ lệ thay đổi khác nhau trong một thời kỳ Vấn đề của những dao động do chu kỳ kinh doanh có thể được khắc phục một phần bằng cách sử dụng số liệu trung bình trượt (ở đây ta lấy thay đổi theo 7 năm) Các số liệu này được tính toán bằng cách lấy trung bình trượt kết quả quan sát liên tiếp trong các dãy số ( 7 quan sát liên tiếp) Do đó con số được sử dụng cho năm 1989 sẽ là bình quân của số liệu thực tế trong năm 1986, 1987, 1988, 1989, 1990, 1991 và 1992; và trong năm

1990 nó sẽ là bình quân số liệu của các năm 1987, 1998, 1989, 1990, 1991, 1992 và 1993 Trên hình 1b, các giá trị bình quân dao động, được rút ra theo cách này, đem so sánh với các giá trị xu hướng (được thể hiện bởi các đường thẳng theo trục hoành)

C NHỮNG VẤN ĐỀ CỒN LẠI CẦN GIẢI QUYẾT

Ba câu hỏi trung tâm của tăng trưỏng và phát triển kinh tế được xem xét trong phần còn lại của cuốn giáo trình

Câu hỏi thứ nhất là câu hỏi đã hỏi ở đầu chương này: Tai sao chúng ta giàu thế và họ thì nghèo thế? Đó là một câu hỏi về các mức phát triển và phân phối thu nhập bình quân đầu người của thế giới Chủ đề này được nghiên cứu trong các Chương 2 và 3 và sau đó được trở lại trong Chương 7

Câu hỏi thứ hai là, đầu máy của tăng trưởng kinh tế là gì? Làm sao để các nền kinh tế có

sự tăng trưởng trong đầu ra (sản lượng) bình quân một công nhân được duy trì trên thời kỳ một thế kỷ trở lên? Vì sao Mỹ tăng trưởng với tốc độ 1,8% từ 1870? Trả lời cho những câu

Trang 25

hỏi này là tiến bộ công nghệ Hiểu được vì sao tiến bộ công nghệ diễn ra và bằng cách nào

một nước như nước Mỹ có thể có tăng trưởng được giữ vững là chủ đề của Chương 4 và 5

Câu hỏi cuối cùng liên quan với các thần kỳ tăng trưởng Làm sao các nền kinh tế như

Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ II và gần đây hơn các nền kinh tế Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc có thể biến đổi nhanh chóng từ “nghèo” thành “giàu”? Sự biến đổi giống như Cô bé lọ lem như vậy là tâm điểm của tăng trưởng và phát triển kinh tế Chương 6

và 7 trình bày một lý thuyết tích hợp các mô hình của các chương trước Chương 8 thảo luận các lý thuyết khác về tăng trưởng kinh tế và Chương 9 đưa ra một số kết luận

Các sự kiện mà chúng ta đã xem xét trong chương này chỉ ra rằng không đơn thuần là

sự tò mò trí tuệ mà chúng ta hỏi các câu hỏi này Các câu trả lời là chìa khoá để mở khoá cho

sự tăng trưởng kinh tế nhanh lan rộng Thực vậy, kinh nghiệm gần đây của Đông Á gợi ý rằng

sự tăng trưởng như vậy có sức mạnh biến đổi mức sống trên thời gian chỉ một thế hệ Nghiên cứu bằng chứng này trong Bài thuyết trình Marshall 1985, Robert E Lucas, Jr., đã biểu lộ ý kiến làm nhiên liệu cho nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đối với thập kỷ tiếp theo:

Tôi không thấy vì sao người ta lại có thể nhìn vào những con số giống như những con số này

mà không thấy chúng biểu thị những khả năng Có một hành động nào đó mà một chính phủ

của Ấn Độ có thể làm để đưa nền kinh tế Ấn Độ tăng trưởng giống như Indonesia hoặc Ai Cập không? Nếu có, thì chính xác là gì? Nếu không, điều gì thuộc “bản chất Ấn Độ” khiến cho nó như vậy? Những hệ quả đối với phúc lợi con người trong những câu hỏi kiểu như những câu hỏi này đang gây choáng váng: Khi ta bắt đầu nghĩ về chúng, khó mà nghĩ về cái

gì khác

Trang 26

CHƯƠNG 2 – MÔ HÌNH SOLOW

I GIỚI THIỆU

Năm 1956, Robert Solow đã công bố một bài báo về tăng trưởng và phát triển kinh tế

có tiêu đề “Đóng góp vào Lý thuyết Tăng trưởng Kinh tế” Với công trình này cũng như những đóng góp sau này của ông mang lại cho chúng ta những hiểu biết về tăng trưởng kinh

tế, Solow đã được trao giải thưởng Nobel kinh tế năm 1987 Trong chương này, chúng ta xây dựng mô hình mà Solow đã đưa ra và tìm hiểu về khả năng giải thích thực tế tăng trưởng và

phát triển mà chúng ta đã bàn luận trong chương 1 Như chúng ta sẽ thấy, mô hình Solow là

một hòn đá tảng quan trọng giúp chúng ta hiểu được tại sao một số quốc gia trở nên giàu có trong khi các quốc gia khác vẫn cứ nghèo khổ

Theo Solow “Tất cả lý thuyết đều dựa trên những giả thiết không hoàn toàn đúng thực tế

Chính điều này khiến người ta gọi nó là lý thuyết Nghệ thuật xây dựng lý thuyết thành công

là đưa ra những giả thiết đơn giản hóa nhưng không làm cho các kết quả trở nên quá nhạy cảm”, chúng ta sẽ đưa ra một số giả thiết hơi cường điệu Tuy nhiên, chúng ta hy vọng rằng

đây là những giả thiết đơn giản hóa nhằm giúp chúng ta thao tác đơn giản hơn, tuy nhiên chúng sẽ không gây ra quá nhiều méo mó cho bức tranh thế giới mà chúng ta tạo ra

Trước khi trình bày mô hình Solow, chúng ta cần xem xét lại một cách chính xác về: mô hình

là gì và nó dùng để làm gì

Định nghĩa: Mô hình kinh tế mô hình là sự mô tả hệ thống kinh tế, mối quan hệ hay tình

trạng kinh tế Sự mô tả này có thể mang nhiều dạng thức khác nhau:

(i) Dạng miêu tả bằng ngôn ngữ hay mô phỏng hệ thống kinh tế

(ii) Dạng biểu đồ như Hình của một mô hình

(iii) Dạng toán học, biểu diễn bằng một hệ thống các phương trình trình bày mối liên

hệ giữa các biến số kinh tế với nhau

Chúng ta có thể nghĩ mô hình giống như các nền kinh tế trò chơi bao gồm các rôbốt Chúng ta

sẽ chỉ ra chính xác hành vi ứng xử của rôbốt là như thế nào, đó chính là tối đa hóa lợi ích của bản thân Chúng ta cũng chỉ định những ràng buộc mà rôbốt gặp phải trong quá trình tìm cách cực đại lợi ích Ví dụ, các rôbốt hình thành nên nền kinh tế của chúng ta có thể muốn tiêu dùng càng nhiều đầu ra càng tốt, tuy nhiên họ gặp phải giới hạn về số lượng đầu ra mà họ có thể sản xuất được trong điều kiện công nghệ đã cho Những mô hình tốt nhất thường đơn giản nhưng lại chứa đựng một cái nhìn sâu sắc về sự vận hành của thế giới Chúng ta hãy xem xét khung phân tích cung và cầu trong kinh tế vi mô Công cụ cơ bản này rất có hiệu quả trong việc dự đoán giá và lượng của các hàng hóa như y tế, máy tính, và vũ khí hạt nhân sẽ phản ứng ra sao trước những thay đổi trong môi trường kinh tế

Với những hiểu biết về cách thức và lý do tại sao các nhà kinh tế xây dựng mô hình, chúng ta tạm dừng việc làm rõ một trong những giả thiết quan trọng mà chúng ta sẽ đưa ra Thay vì viết ra hàm lợi ích mà các rôbốt trong nền kinh tế chúng ta sẽ cực đại, chúng ta sẽ tóm lược các kết quả của việc tối đa hóa lợi ích theo những nguyên tắc cơ bản mà các rôbốt phải tuân theo Ví dụ, một vấn đề chung trong kinh tế học là một cá nhân phải ra quyết định tiêu dùng bao nhiêu cho ngày hôm nay và tiết kiệm bao nhiêu để phục vụ cho việc tiêu dùng trong tương lai Hay là các cá nhân phải quyết định dành bao nhiêu thời gian đến trường để tích lũy

kỹ năng bao nhiêu thời gian dành cho công việc trên thị trường lao động Thay vì phải viết

Trang 27

những bài toán này xuống một cách chính thức thì chúng ta sẽ giả định rằng các cá nhân tiết kiệm một tỷ lệ thu nhập nhất định và dành một tỷ lệ thời gian nhất định cho việc tích lũy kỹ năng Đây là những đơn giản hóa hết sức hữu ích, nếu không có chúng thì các mô hình sẽ rất khó có thể giải ra nếu không sử dụng những kỹ thuật toán nâng cao Đây là những giả thiết tốt

để giúp chúng ta bước đầu có thể hiểu được về tăng trưởng kinh tế Tất nhiên chúng ta sẽ bỏ

đi các giả thiết này trong chương 7

II MÔ HÌNH SOLOW CƠ BẢN

2.1 Giả thiết của mô hình

(i) Trong nền kinh tế xem xét bao gồm những quốc gia chỉ sản xuất và tiêu dùng duy

nhất một hàng hóa (đầu ra) thuần nhất và duy nhất

(ii) Công nghệ là ngoại sinh - tức là công nghệ mà các doanh nghiệp có được trong thực

tế không chịu ảnh hưởng từ hành động của các doanh nghiệp, bao gồm cả hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)

(iii) Công nghệ của nền kinh tế tuân theo giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô (iv) Nền kinh tế này có rất nhiều doanh nghiệp, đảm bảo cho cạnh tranh hoàn hảo tồn

tại và các doanh nghiệp là người chấp nhận giá

(v) Lượng tư bản thay đổi K đúng bằng hiệu số giữa tổng mức đầu tư và mức khấu hao

xảy ra trong quá trình sản xuất K

(vi) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không đổi và bằng với tỷ lệ tăng trưởng dân số

Trong đó  là một giá trị nằm giữa 0 và 1.12 Lưu ý rằng hàm sản xuất này có hiệu quả không

đổi theo quy mô: nếu tất cả đầu vào được gấp đôi lên thì đầu ra sẽ tăng gấp đôi.13

Các hãng trong nền kinh tế trả lương cho nhân công w cho mỗi đơn vị lao động và trả r để thuê một đơn vị tư bản trong một thời kỳ Giả định rằng có rất nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế đảm bảo cho cạnh tranh hoàn hảo tồn tại và các doanh nghiệp là người chấp nhận giá.14 Chuẩn hóa giá đầu ra trong nền kinh tế bằng một đơn vị, các doanh nghiệp cực đại lợi nhuận sẽ giải bài toán sau:

Charles Cobb và Paul Douglas (1928) đã đưa ra dạng hàm này trong phân tích về ngành sản xuất của Mỹ Họ

đã lý giải cho dạng hàm sản xuất này với giá trị  bằng ¼ đã rất phù hợp với dữ liệu mà không cần tính tới tiến

bộ công nghệ

13

Chúng ta nhớ lại rằng nếu F(aK, aL) = aY với a bất kỳ lớn hơn 1 thì khi đó chúng ta nói rằng hàm sản xuất có

hiệu quả không đổi theo quy mô Nếu F(aK, aL) > aY thì hàm sản xuất có hiệu quả tăng dần theo quy mô, và nếu ngược lại thì hàm sản xuất có hiệu quả giảm dần theo quy mô

14

Bạn có thể nhớ lại trong kinh tế vi mô là khi hiệu quả không đổi theo quy mô thì số doanh nghiệp là không xác định, tức là không được mô hình chỉ ra

Trang 28

Theo điều kiện đạo hàm bậc nhất thì các doanh nghiệp sẽ thuê số lao động cho tới khi sản phẩm biên của lao động bằng tiền lương và thuê tư bản cho tới khi sản phẩm biên của tư bản bằng với giá thuê:

Lưu ý rằng wL + rK = Y Tức là khoản chi trả cho đầu vào đúng bằng giá trị đầu ra sản xuất

ra và do vậy không có lợi nhuận kinh tế Kết quả quan trọng này là một đặc điểm chung của những hàm sản xuất có hiệu quả không đổi theo quy mô

Nhớ lại trong chương 1, điều chúng ta quan tâm giải thích là mức đầu ra trên một công nhân hay đầu ra trên một người Với quan điểm này, chúng ta có thể viết lại hàm sản xuất trong phương trình (2.1) dưới dạng đầu ra trên một công nhân y  Y/L và tư bản trên một công nhân

k  K/L

Hàm sản xuất này được vẽ trong Hình 2.1 Khi tư bản trên một công nhân tăng thì các doanh

nghiệp sản xuất nhiều đầu ra trên một công nhân hơn Tuy nhiên, có một vấn đề là hiệu quả

giảm dần theo tư bản trên một công nhân: mỗi đơn vị tư bản bổ sung thêm cho mỗi công nhân

sẽ làm tăng đầu ra trên một công nhân nhưng mức tăng ngày càng giảm

Trang 29

Phương trình này sẽ được sử dụng trong suốt cuốn sách này và rất quan trọng, do vậy chúng

ta sẽ tạm dừng lại một chút để giải thích cẩn thận về ý nghĩa của phương trình này Theo phương trình này, lượng tư bản thay đổi K đúng bằng tổng mức đầu tư sY trừ đi mức khấu hao xảy ra trong quá trình sản xuất K Chúng ta sẽ bàn về ba đối tượng này kỹ hơn

Vế trái của phương trình (2.3) là dạng liên tục theo thời gian của Kt+1 – Kt, tức là thay đổi lượng tư bản tính trên mỗi thời kỳ Chúng ta sử dụng ký hiệu chấm trên đầu 15để thể hiện đạo hàm theo thời gian:

dK

K

dt

Cụm thứ hai trong phương trình (2.3) là tổng mức đầu tư sY Theo Solow, chúng ta giả định

rằng người công nhân/người tiêu dùng tiết kiệm một tỷ lệ s cố định trong thu nhập từ tiền công và tiền thuê Y = wL + rK Nền kinh tế đóng nên tiết kiệm bằng đầu tư, và đầu tư được

sử dụng để tích lũy tư bản trong nền kinh tế Người tiêu dùng khi đó sẽ cho doanh nghiệp thuê

tư bản này để sử dụng trong sản xuất

Cụm thứ ba trong phương trình (2.3) phản ánh mức khấu hao của lượng tư bản trong quá trình sản xuất Dạng hàm chuẩn được sử dụng ở đây là một tỷ lệ cố định  trong tổng lượng tư bản

bị hao mòn trong mỗi thời kỳ (bất kể đầu ra được sản xuất là bao nhiêu) Ví dụ, chúng ta thường giả định  = 0.05 tức là 5% máy móc và nhà máy trong mô hình của chúng ta sẽ mất

đi sau mỗi năm

Để nghiên cứu quá trình tăng trưởng của đầu ra tính trên mỗi người trong nền kinh tế này, chúng ta viết lại phương trình tích lũy tư bản theo mức tư bản đầu người Khi đó, hàm sản xuất trong phương trình (2.2) sẽ cho chúng ta biết số đầu ra trên mỗi người được sản xuất ra ứng với mỗi mức tư bản đầu người hiện có trong nền kinh tế Chúng ta sẽ sử dụng một mẹo toán học đơn giản mà thường được sử dụng trong nghiên cứu tăng trưởng để làm cho vấn đề trở nên đơn giản hơn Mẹo toán này là “lấy loga và sau đó lấy đạo hàm” Hai ví dụ của mẹo toán này như sau:

Ví dụ 1: k K/L log k = log K – log L k K L

là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không đổi và tỷ lệ tăng trưởng dân số bằng tham số n.16

Tức là tăng trưởng lực lượng lao động L L/ do vậy cũng bằng n Nếu n = 0.01 thì dân số và lực lượng lao động tăng với tốc độ một phần trăm mỗi năm Tăng trưởng mũ có thể được rút

Trang 30

Lấy loga và vi phân phương trình này thì bạn sẽ nhận được gì?

2.3 Hình Solow

Bây giờ chúng ta đã có được hai phương trình chủ chốt trong mô hình Solow biểu thị dưới

dạng đầu ra trên một công nhân và tư bản trên một công nhân Đó là các phương trình:

Trang 31

Bây giờ chúng ta đã có thể đặt ra những câu hỏi nền tảng của mô hình Ví dụ, một nền kinh tế xuất phát điểm có một lượng tư bản trên một công nhân là k 0 và tỷ lệ tăng trưởng dân số , tỷ

lệ khấu hao, và tỷ lệ đầu tư cho trước

(i) Đầu ra trên một công nhân sẽ thay đổi theo thời gian như thế nào - tức là nền kinh

tế tăng trưởng ra sao?

(ii) Đầu ra trên một công nhân giữa hai nền kinh tế có tỷ lệ đầu tư khác nhau so với

nhau trong dài hạn thì sẽ như thế nào?

Những câu hỏi này được phân tích tương đối dễ dàng bằng Hình Solow, như chúng ta thấy trong Hình 2.2 Hình Solow gồm hai đường được vẽ theo tỷ số tư bản-lao động

(i) Đường thứ nhất là lượng đầu tư trên một công nhân, sy = sk Đường này có hình

dạng giống như hàm sản xuất chúng ta đã vẽ trong Hình 2.1, chỉ có khác ở chỗ là

có thêm nhân tử s

(ii) Đường thứ hai là đường (n + )k, nó thể hiện lượng đầu tư mới tính trên một công

nhân cần thiết để giữ cho lượng tư bản trên một công nhân không thay đổi - cả khấu hao và tăng trưởng lực lượng lao động đều có khuynh hướng làm giảm lượng

tư bản đầu người trong nền kinh tế Độ chênh giữa hai đường này chính là mức thay đổi tư bản trên một công nhân

(iii) Khi mức thay đổi này mang dấu dương thì nền kinh tế đang tăng lượng tư bản trên

một công nhân, chúng ta gọi đó là đầu tư tư bản theo chiều sâu

(iv) Khi mức thay đổi này bằng không nhưng lượng tư bản thực tế K tăng lên (do tăng

dân số) thì chúng ta nói rằng chỉ có đầu tư tư bản theo chiều rộng

Chúng ta sẽ xem xét một ví dụ cụ thể, một nền kinh tế ngày hôm nay có lượng tư bản bằng k0

như trong Hình 2.2 Điều gì sẽ xảy ra theo thời gian? Tại k0, lượng đầu tư trên một công nhân lớn hơn lượng đầu tư cần thiết để duy trì mức tư bản trên một công nhân không đổi nên chúng

ta có đầu tư theo chiều sâu - tức là k tăng theo thời gian

Đầu tư theo chiều sâu tư bản sẽ tiếp diễn cho tới khi k = k*, tại đó sy = (n + )k*, và do vậy

k = 0 Tại vị trí này, lượng tư bản trên một công nhân sẽ không đổi và chúng ta gọi đó là

trạng thái dừng

Điều gì sẽ xảy ra nếu nền kinh tế bắt đầu với lượng tư bản đầu người lớn hơn k*? Những điểm nằm về bên phải của k* trong Hình 2.2 sẽ có mức đầu tư trên một công nhân nhỏ hơn

mức đầu tư cần thiết để duy trì tỷ số tư bản-lao động không đổi k khi đó sẽ mang dấu âm và

lượng tư bản trên một công nhân sẽ bắt đầu giảm trong nền kinh tế Việc sụt giảm này sẽ tiếp diễn cho tới lượng tư bản trên một công nhân giảm về k*

Trang 32

Hình 2 3 Hình Solow và hàm sản xuất

Lưu ý rằng Hình Solow xác định giá trị trạng thái dừng của lượng tư bản trên một công nhân Hàm sản xuất của phương trình (2.4) khi đó sẽ xác định giá trị trạng thái dừng của mức đầu ra trên một công nhân y* là một hàm theo k* Đôi khi chúng ta có thể đưa hàm sản xuất vào trong chính Hình Solow để làm rõ hơn điều này

Hình 2.3 thể hiện điều này Lưu ý rằng mức tiêu dùng trên một công nhân tại trạng thái dừng

là hiệu số giữa mức đầu ra trên một công nhân ở trạng thái dừng y* với mức đầu tư trên một công nhân ở trạng thái dừng sy*

2.4 So sánh tĩnh

So sánh tĩnh được sử dụng để kiểm tra phản ứng của mô hình trước những thay đổi trong giá trị tham số Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét điều gì xảy ra với mức thu nhập đầu người trong một nền kinh tế có xuất phát điểm ở trạng thái dừng nhưng sau đó gặp phải một cú sốc Những cú sốc chúng ta xem xét ở đây là tăng tỷ lệ đầu tư s, và tăng tốc độ tăng dân số n

2.4.1 Tăng tỷ lệ đầu tư

Chúng ta hãy xem xét một nền kinh tế đã đạt tới trạng thái dừng của đầu ra trên một công nhân Bây giờ giả sử rằng nền kinh tế quyết định tăng tỷ lệ đầu tư trong dài hạn từ s tới giá trị s‟ nào đó, Điều gì xảy ra với k và y trong nền kinh tế này?

Câu trả lời được tìm thấy trong Hình 2.4 Tăng tỷ lệ đầu tư làm dịch chuyển đường sy lên phía trên tới s‟y Tại giá trị hiện tại của lượng tư bản k*, đầu tư trên một công nhân vượt quá lượng đầu tư cần thiết để giữ cho lượng tư bản trên một công nhân không đổi, vào do vậy nền kinh tế lại tiếp tục đầu tư tư bản theo chiều sâu Quá trình đầu tư theo chiều sâu tiếp diễn cho tới khi nào s‟y = (n +)k và lượng tư bản trên một công nhân đạt được giá trị cao hơn tương ứng với k** Từ hàm sản xuất, chúng ta biết rằng mức tư bản trên một công nhân cao hơn sẽ

Trang 33

gắn kèm với mức đầu ra trên một công nhân cao hơn; nền kinh tế trở nên giàu hơn so với lúc trước

2.4.2 Tăng tốc độ tăng dân số

Bây giờ chúng ta xem xét một trường hợp khác Giả sử một nền kinh tế đã đạt tới trạng thái dừng của nó nhưng do nhập cư chẳng hạn mà tốc độ tăng dân số của nền kinh tế tăng từ n tới n‟ Điều gì xảy ra với k và y của nền kinh tế này?

k*

s’y

k**

Trang 34

Hình 2.5 đưa ra câu trả lời Đường (n + )k xoay lên về bên trái tới đường (n‟ + )k Tại giá trị tư bản k* hiện tại, lượng đầu tư trên một công nhân không còn đủ để giữ cho tỷ số tư bản-lao động không đổi do dân số tăng Chính vì vậy, tỷ số tư bản-lao động bắt đầu giảm Nó tiếp tục giảm cho tới khi sy = (n‟ + )k, đó là vị trí k** trong Hình 2.5 Tại vị trí này, nền kinh tế

có ít tư bản hơn mức ban đầu và do vậy nó đã nghèo đi: đầu ra trên một công nhân cuối cùng thấp hơn sau khi tốc độ tăng dân số tăng lên Tại sao vậy?

2.5 Các đặc điểm của trạng thái dừng

Theo định nghĩa, lượng tư bản trên một công nhân ở trạng thái dừng được xác định bằng điều

kiện k = 0 Các phương trình (2.4) và (2.5) cho phép chúng ta sử dụng điều kiện này để xác

định lượng tư bản trên một công nhân ở trạng thái dừng và mức đầu ra trên một công nhân ở trạng thái dừng Thay từ (2.4) vào (2.5), chúng ta có:

k k n

Những quốc gia này tích lũy nhiều tư bản trên một công nhân hơn và những nước có nhiều tư bản trên một công nhân hơn sẽ có mức đầu ra trên một công nhân cao hơn Theo mô hình Solow, những nước có tỷ lệ tăng dân số nhanh thì ngược lại, sẽ có khuynh hướng nghèo đi

Tỷ lệ tiết kiệm cao hơn ở những quốc gia này chỉ đơn giản là giữ cho tỷ số tư bản-lao động không đổi do dân số tăng lên Yêu cầu đầu tư theo chiều rộng tư bản khiến cho việc đầu tư theo chiều sâu gặp nhiều khó khăn hơn và các nền kinh tế này có xu hướng tích lũy ít tư bản trên một công nhân hơn

Những dự đoán này của mô hình Solow đúng trong thực nghiệm tới mức độ nào? Hình 2.6 và 2.7 biểu diễn GDP đầu người theo tỷ trọng tổng đầu tư trong GDP và tỷ lệ tăng trưởng dân số

Các dự đoán của mô hình Solow được đưa ra dựa vào chứng cớ thực nghiệm Tính trung bình,

những nước có tỷ lệ đầu tư cao có xu hướng giàu có hơn các nước có tỷ lệ đầu tư thấp, và những quốc gia có tốc độ tăng dân số cao có xu hướng nghèo hơn Do vậy, các dự đoán tổng quát của mô hình Solow dường như được dữ liệu thực tế ủng hộ

2.6 Tăng trưởng kinh tế trong một mô hình giản đơn

Tăng trưởng kinh tế như thế nào ở trạng thái dừng trong mô hình Solow dạng giản đơn? Câu

trả lời là không có tăng trưởng đầu người trong dạng mô hình này! Đầu ra trên một công nhân

(và cũng là trên một người do chúng ta giả định tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không đổi)

17

Ceteris Paribus: giả thiết các yếu tố khác là như nhau

Trang 35

sẽ không đổi ở trạng thái dừng Bản thân đầu ra vẫn tăng lên, nhưng chỉ đúng bằng tốc độ tăng dân số.18

Dạng mô hình này đúng với một số đặc điểm thực tế mà chương 1 đã bàn tới Nó dẫn tới sự khác biệt về mức thu nhập đầu người giữa các nước Nó tạo ra tỷ số tư bản-đầu ra không đổi (do cả k và y không đổi nên K/Y không đổi) Nó tạo ra mức lãi suất không đổi, sản phẩm biên của tư bản không đổi Tuy nhiên, nó không dự đoán được một thực tế rất quan trọng: nền kinh

tế đang liên tục có sự tăng trưởng thu nhập đầu người Trong mô hình này nền kinh tế có thể tăng trưởng trong một khoảng thời gian nhưng không phải là mãi mãi Ví dụ, một nền kinh tế bắt đầu với lượng tư bản đầu người thấp hơn giá trị ở trạng thái dừng của nó sẽ có tăng trưởng

k và y trong tiến trình quá độ tới trạng thái dừng Theo thời gian, tăng trưởng sẽ chậm lại khi nền kinh tế tiệm cận tới trạng thái dừng của nó và cuối cùng tăng trưởng sẽ dừng lại

Để thấy được tăng trưởng chậm lại dọc theo tiến trình quá độ này, chúng ta cần nhớ hai đặc điểm Thứ nhất, từ phương trình tích lũy tư bản,

Do  nhỏ hơn một nên khi k tăng lên thì tốc độ tăng trưởng của k dần chậm lại Thứ hai, từ ví

dụ hai, tăng trưởng của y tỷ lệ với tăng trưởng của k nên mệnh đề này cũng đúng với mức đầu

ra trên một công nhân

Hình 2 5 Quá trình động quá độ

Tính động của tiến trình quá độ mà phương trình (2.6) nói tới được thể hiện trong Hình 2.8.19Cụm thứ nhất ở vế bên phải của phương trình là sk-1, nó bằng với sk/y Mức tư bản trên một

Trang 36

công nhân mà càng cao thì mức sản phẩm bình quân trên tư bản là y/k càng giảm do tính hiệu quả giảm dần của việc tích lũy tư bản ( nhỏ hơn một) Do vậy, đường này có độ dốc đi xuống Cụm thứ hai trong vế bên phải của phương trình (2.6) là n + , nó không phụ thuộc vào k và do vậy nó được vẽ là một đường thẳng Khoảng cách giữa hai đường trong Hình 2.8

là tốc độ tăng trưởng của lượng tư bản /k k Do vậy, Hình này chỉ rõ ràng rằng nền kinh tế

càng thấp hơn giá trị k ở trạng thái dừng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng nhanh Nền kinh

tế càng cao hơn hơn trạng thái dừng của k thì k giảm càng nhanh

III CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH SOLOW

3.1 Phân loại Sự tiến bộ Công nghệ

Để đo ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ, chúng ta không thể không phân biệt các loại tiến bộ công nghệ vì nhờ đó mà ta mới có thể có ước lượng tốt ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ Trong các nghiên cứu lý thuyết, hai cách phân loại sự tiến bộ công nghệ phổ biến nhất được vận dụng là các cách phân loại của Hicks (1932) và của Harrod (1948) Hicks định nghĩa một phát minh “trung tính” là một phát minh mà với tỷ lệ các nhân tố cho trước, sản phẩm biên của lao động tăng cùng tỷ lệ với sản phẩm biên của vốn Harrod xác định sự tiến bộ công nghệ là “trung tính” nếu với một lãi suất không đổi, tỷ số vốn/lao động không đổi Các định nghĩa về độ chệch tiết kiệm lao động và tiết kiệm vốn được suy ra từ các định nghĩa này Sau đây ta sẽ đưa ra một định nghĩa một cách hình thức các tiến bộ công nghệ

Một hàm sản xuất động tổng quát có thể viết dưới dạng

Dấu dương của Yt chỉ ra rằng có xảy ra tiến bộ về công nghệ, nhưng không đưa ra sự giải thích tiến bộ đó diễn ra thế nào Có thể chỉ định hàm sản xuất động theo cách khác bằng cách cho A = A(t), với dA/dt > 0, khi đó có thể viết

Ưu điểm của của cách chỉ định sau so với cách chỉ định trước là ở chỗ, với biến A, bây giờ ta

có thể hoặc để A như một biến ngoại sinh hoặc làm cho nó trở thành nội sinh bằng cách chỉ định A được xác định trong mô hình như thế nào

3.2 Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính

Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính kiểu Hicks

Tiến bộ công nghệ được gọi là “trung tính” kiểu Hicks nếu nó để cho tỷ lệ thay thế kỹ thuật

biên (MRTS = MPPL/MPPK) không thay đổi tại cùng một tỷ lệ K/L Nghĩa là, nếu giữ cho K/L không đổi và xem xét MRTS trước và sau tiến bộ công nghệ, thì hai MRTS trùng nhau

Đặc trưng của tiến bộ công nghệ trung tính kiểu Hicks có thể biểu diễn dưới dạng đặc biệt

sau đây của :

Y = A(t) F[K.L] [trung tính kiểu Hicks]

ở đây F(K,L) là thuần nhất tuyến tính theo các biến K và L Biến A không ảnh hưởng đến tỷ

lệ của các sản phẩm biên của K và L là nó nằm ngoài biểu thức F(K,L)

Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính kiểu Harrod

Trái lại, tiến bộ kỹ thuật là trung tính kiểu Harrod nếu nó để cho tỷ lệ đầu ra- vốn (Y/K)

không thay đổi tại cùng năng suất hiện vật biên của vốn ( MPPK) Đặc trưng của tiến bộ công

nghệ trung tính kiểu Harrod có thể biểu diễn dưới dạng đặc biệt sau đây :

Xavier Sala-i-Martin (1990) nhấn mạnh tới điểm này

Trang 37

Y = F[K, A(t)L] [trung tính kiểu Harrod]

ở đây Y là tuyến tính thuần nhất theo K và A(t)L Vì A(t) chỉ được gắn vào L, loại tiến bộ công nghệ này được gọi là thuần tuý gắn với lao động Khi xem xét cách thức mà A(t) và L kết hợp với nhau, ta có thể coi công nghệ và lao động là những cái hoàn toàn thay thế được cho nhau trong quá trình sản xuất Chính việc A hoàn toàn tách với biến K giải thích vì sao tỷ

số Y/K không bị ảnh hưởng tại cùng một mức MPPK khi tiến bộ công nghệ xảy ra

Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính kiểu Solow

Kiểu trung tính thứ ba là trung tính kiểu Solow Đây là ảnh phản chiếu của trung tính kiểu

Harrod, với vai trò K và L thay đổi cho nhau Khi đó hàm sản xuất có thể được viết là Y =

ở đây, Y là thuần nhất tuyến tính theo AK và L

Để tạo ra sự tăng trưởng thu nhập đầu người liên tục trong mô hình này, chúng ta phải đưa thêm vào mô hình yếu tố tiến bộ công nghệ Chúng ta đưa thêm biến công nghệ A vào hàm sản xuất:

Tiến bộ công nghệ xảy ra khi A tăng lên theo thời gian - một đơn vị lao động

sẽ năng suất hơn khi mức công nghệ cao hơn

Một giả thiết quan trọng của mô hình Solow là tiến bộ công nghệ là ngoại sinh; theo cách hiểu

thông thường thì công nghệ giống như “món quà từ thiên đường”, nó rơi xuống nền kinh tế một cách tự động và không cần quan tâm tới điều gì đang diễn ra trong nền kinh tế này Thay

vì mô hình hóa một cách cẩn trọng tiến bộ công nghệ có được là từ đâu thì tạm thời chúng ta chỉ đơn giản thừa nhận rằng có tiến bộ công nghệ và đưa ra giả thiết là A tăng trưởng với một tốc độ không đổi:

Phương trình tích lũy tư bản trong mô hình Solow với biến công nghệ giống như phần trước Viết lại phương trình này, chúng ta có:

20

Các trường hợp khác là F(AK, L) được gọi là công nghệ “tăng cường hiệu quả tư bản” hay “ Trung tính kiểu Solow”, và AF(K, L) là dạng công nghệ “ Trung tính kiểu Hicks” Với dạng hàm Cobb-Douglas thì sự phân biệt này không còn quan trọng nhiều lắm

Trang 38

và điều quan trọng nhất là y và k sẽ tăng với cùng một tốc độ

3.3 Tăng trưởng cân đối

Trạng thái mà tư bản, đầu ra, tiêu dùng, và dân số tăng với một tốc độ không đổi được gọi

là tiến trình tăng trưởng cân bằng

Một phần do tính hấp dẫn của nó trong thực nghiệm mà chúng ta thường muốn phân tích tình huống này trong các mô hình của chúng ta Ví dụ, theo Thực tế 5 trong chương 1, trạng thái này mô tả nền kinh tế Mỹ

Chúng ta sử dụng ký hiệu gx để thể hiện tăng trưởng của một biến x nào đó dọc trên tiến trình tăng trưởng cân bằng Khi đó, dọc theo tiến trình tăng trưởng cân bằng, gy = gk dựa vào luận điểm nêu trên Thay quan hệ này vào phương trình (2.9) và với A A/ = g, ta có:

gy = gk = g (2.10) Tức là dọc theo tiến trình tăng trưởng cân bằng trong mô hình Solow, đầu ra trên một công nhân và tư bản trên một công nhân tăng cùng một tốc độ bằng với tốc độ tiến bộ công nghệ ngoại sinh g Lưu ý rằng trong mô hình phần 2.1, chúng ta không có tiến bộ công nghệ và do vậy không có tăng trưởng dài hạn đầu ra trên một công nhân và tư bản trên một công nhân, nên gy = gk = g = 0 Mô hình có biến công nghệ cho thấy rằng tiến bộ công nghệ là nguồn gốc

của tăng trưởng đầu người lâu dài Trong chương này, kết quả này không hơn gì so với một

giả thiết, tuy nhiên ở các chương sau, chúng ta sẽ tìm hiểu kết quả này một cách chi tiết và đi tới cùng một kết luận

3.4 Hình Solow với công nghệ

Phân tích mô hình Solow với biến công nghệ cũng rất giống với phân tích trong phần 2.1: chúng ta xây dựng phương trình vi phân và phân tích nó trong lược đồ Solow để tìm ra trạng thái dừng Điểm khác biệt quan trọng duy nhất là biến k lúc này không còn cố định trong dài hạn và do vậy chúng ta phải viết phương trình vi phân theo một biến khác Biến trạng thái

dừng mới là k  K/AL Lưu ý rằng nó tương đương với k/A và rõ ràng là không đổi dọc theo tiến trình tăng trưởng cân bằng do gk = gA = g Biến k biểu thị tỷ số giữa tư bản trên một lao

động với công nghệ Chúng ta gọi đây là tỷ số “tư bản-công nghệ” (nhớ rằng tử số là tư bản trên một công nhân chứ không phải tổng tư bản)

Viết lại hàm sản xuất theo k , chúng ta có:

Trang 39

Viết lại phương trình tích lũy tư bản theo k theo cách đã sử dụng trong phần 2.1 Trước tiên,

Hình 2 6 Hình Solow với tiến bộ công nghệ

Hình Solow với tiến bộ công nghệ được thể hiện trong Hình 2.9 Phân tích lược đồ này rất giống với phân tích khi không có tiến bộ công nghệ, tuy nhiên cách giải thích có đôi chút khác biệt Nếu nền kinh tế bắt đầu với tỷ số tư bản-công nghệ thấp hơn mức trạng thái dừng của nó,

ví dụ ta gọi là k0 thì tỷ số tư bản-công nghệ sẽ tăng dần theo thời gian Tại sao vậy? Bởi vì lượng đầu tư được thực hiện lớn hơn lượng đầu tư cần thiết để giữ cho tỷ số tư bản-công nghệ không đổi Điều này sẽ đúng cho tới khi sy  (n g )k tại điểm k , ở đó nền kinh tế ở *trạng thái dừng và sẽ tăng trưởng dọc theo tiến trình tăng trưởng cân bằng

3.5 Tìm trạng thái dừng

Tỷ số đầu ra công nghệ ( đầu ra trên một đơn vị lao động hiệu quả) tại trạng thái dừng được xác định dựa vào hàm sản xuất và điều kiện k = 0 Giải *k , chúng ta sẽ tìm ra:

  1/ 1

Trang 40

  / 1

0 và A0 = 1 - tức là không có tiến bộ công nghệ thì kết quả sẽ trùng với kết quả rút ra trong phần 2.1

Một kết quả thú vị có thể rút ra từ phương trình (2.13) và được bàn luận chi tiết hơn trong bài

tập 2 ở cuối chương Đó là sự thay đổi của tỷ lệ đầu tư hay tăng trưởng dân số có ảnh hưởng

dài hạn tới mức đầu ra trên một công nhân nhưng không ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của đầu ra trên một công nhân Để thấy được điều này rõ hơn, chúng ta hãy xem một ví dụ

đơn giản sau

Giả sử một nền kinh tế bắt đầu ở trạng thái dừng với tỷ lệ đầu tư s và sau đó tăng tỷ lệ đầu tư lên s‟ trong dài hạn (có thể do tăng trợ cấp cho đầu tư trong dài hạn) Lược đồ Solow đối với

sự thay đổi chính sách này được thể hiện trong Hình 2.10 và kết quả tương tự như trường hợp không có tiến bộ công nghệ Tại tỷ số tư bản-công nghệ ban đầu *k , đầu tư lớn hơn lượng

đầu tư cần thiết để duy trì tỷ số tư bản-công nghệ không đổi, do vậy k tăng lên

Ngày đăng: 21/03/2021, 18:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm