1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế tài nguyên thiên nhiên 1

150 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 6,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các thuật ngữ chung một hàm phúc lợi xã hội giữa các khoảng thời gian khi đó có thể được viết là Dạng hàm đặc biệt thường được sử dụng bởi những người theo chủ nghĩa vị lợi là Với

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG 2

CHƯƠNG 2- ĐẠO ĐỨC, KINH TẾ HỌC, VÀ MÔI TRƯỜNG 6

CHƯƠNG 3: CÁC KHÁI NIỆM BỀN VỮNG 16

CHƯƠNG 4: KINH TẾ PHÚC LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG 29

CHƯƠNG 5: SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VÀ TỐI ƯU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 66

CHƯƠNG 6: LÝ THUYẾT KHOAN HÚT TÀI NGUYÊN TỐI ƯU: 82

TÀI NGUYÊN KHÔNG-TÁI TẠO 82

CHƯƠNG 7 - NHỮNG VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHO 101

CHƯƠNG 8 - TÀI NGUYÊN TÁI TẠO 115

CHƯƠNG 9: TÀI NGUYÊN RỪNG 132

Trang 3

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Mục đích chương

 Giới thiệu về các khái niệm hiệu quả, tối ưu và bền vững

 Nghiên cứu lịch sử của kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường

 Các vấn đề chính của kinh tế tài nguyên và môi trường hiện đại

Giới thiệu về các khái niệm hiệu quả, tối ưu và bền vững

Các khái niệm hiệu quả và tối ưu được sử dụng theo những cách rất đặc biệt trong phân tích kinh tế

dụng-Khi đó lựa chọn sử dụng-tài nguyên là tối ưu về mặt xã hội nếu lựa chọn đó làm tối đa mục đích đó khi

đã cho các ràng buộc thích hợp có thể đang vận hành

• Nguyên nhân hiệu quả và tối ưu liên quan với nhau là phân bổ tài nguyên không thể tối

ưu trừ phi đó là hiệu quả Tức là, hiệu quả là điều kiện cần cho tối ưu

1.3 Bền vững: là sự quan tâm tới thế hệ tương lai

1 Sự xuất hiện của kinh tế học tài nguyên môi trường

2.1.Kinh tế học cổ điển: các đóng góp của Smith, Malthus, Ricarrdo và Mill cho phát triển

kinh tế học tài nguyên thiên nhiên

Xuất phát từ thế kỷ mười tám và mười chín, là giai đoạn mà cách mạng công nghiệp đang được tiến hành (ít nhất trong phần lớn Châu Âu và Bắc Mỹ) và năng suất nông nghiệp đã tăng lên một cách nhanh chóng

 Adam Smith (1723-1790): tác giả đầu tiên đã tổng hợp lý luận về tầm quan trọng của thị trường

trong việc phân bổ tài nguyên,- tác động động học thị trường.

o là tác giả đầu tiên với phát biểu nổi tiếng về vai trò của ‘bàn tay vô hình’: “….Bằng cách theo đuổi lợi ích cá nhân của riêng anh ta, anh ta thường thúc đẩy lợi ích xã hội một cách có hiệu lực hơn cả khi anh ta thực sự có ý định thúc đẩy lợi ích xã hội.” Hàm ý là tự bản thân mỗi cá nhân tự theo đuổi lợi ích của riêng mình thì tự khắc sẽ thúc đẩy xã hội phát triển thay vì có những công cụ thúc đẩy xã hội trực tiếp=> đó chính là “bàn tay vô hình” giúp phát triển xã hội

o Mối quan tâm trọng tâm của các nhà kinh tế cổ điển là câu hỏi về cái gì xác định ra các chuẩn sống và tăng trưởng kinh tế Tài nguyên thiên nhiên được xem là những nhân tố quan trọng của của cải và tăng trưởng quốc gia.Tuy nhiên việc đất đai là đầu vào cần thiết của sản xuất và đất đai tuân theo quy luật giao hoàn giảm dần, nên các nhà kinh tế cổ điển trước đây đã đi đến kết luận rằng tiến bộ kinh tế chỉ là một đặc điểm nhất thời của lịch sử

Và nhìn nhận viễn cảnh sống chuẩn ảm đạm

Trang 4

đủ tái sản xuất bản thân mình, và nền kinh tế sẽ đạt được trạng thái ổn định với qui mô

dân số cố định và các chuẩn sống mức-chỉ-đủ-tồn-tại cố định

 David Ricardo (1772-1823): phát triển khái niệm trạng thái ổn định

o Giả thiết của Malthus về đất đai cố định đã được thay thế bằng khái niệm trong đó đất đai bao gồm những mảnh ruộng có chất lượng không giống nhau

o Sản lượng nông nghiệp có thể được mở rộng bằng cách gia tăng cận biên thâm canh (khai thác mảnh ruộng đã cho với cường độ cao hơn _ thâm canh) hoặc bằng cách gia tăng cận biên quảng canh (đưa các mảnh ruộng chưa được canh tác vào sử dụng sinh lợi)

o Tuy nhiên, giao hoàn cho đầu vào đất đai đều chịu quy luật giao hoàn giảm dần=> Phát triển kinh tế khi đó được tiến hành theo cách thức ‘thặng dư kinh tế’ như tô, giao hoàn đất đai=> phát triển hội tụ tới ổn định

 John Stuart Mill (1806-1873): kinh tế học cổ điển ở mức hoàn chỉnh nhất

ý tưởng giao hoàn giảm dần, nhưng với ảnh hưởng bù đắp của tăng trưởng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và trong sản xuất một cách tổng quát=> năng

suất đạt cao

chấp nhận quan điểm rộng rãi hơn về vai trò của tài nguyên thiên nhiên so với các

bậc tiền bối như ngoài vai trò đất đai cho nông nghiệp và khai khoáng, Mill cũng đã

thấy đây là nguồn gốc của các giá trị tiện nghi (như vẻ đẹp nội tại của các vùng quê),

là những thứ sẽ sẽ trở nên ngày càng quan trọng khi điều kiện vật chất đã được cải thiện

2.2 Kinh tế học tân cổ điển: lý thuyết cận biên và giá trị

 Xuất phát từ thay đổi cách thức giải thích giá trị:

o Kinh tế học cổ điển: giá trị xuất hiện từ năng lực lao động được hiện thân (trực tiếp hay gián tiếp)

o Kinh tế tân cổ điển giải thích giá trị được xác định trong giao dịch, do vậy phản ánh

ưa thích và chi phí sản xuất Các khái niệm trước đây về khan hiếm và giá trị tuyệt đối được thay thế bởi khái niệm khan hiếm tương đối với các giá trị (giá cả) tương đối được xác định bởi các lực cung và cầu=> tiền đề phát triển kinh tế học phúc lợi

 Phương pháp luận: Dùng kỹ thuật phân tích cận biên, cho phép các các khái niệm trước đây

về giao hoàn giảm dần có được cơ sở hình thức theo nghĩa năng suất cận biên giảm dần

 Điểm nổi bật trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển trước đây là sự thiếu vắng đất đai, hoặc bất kỳ tài nguyên thiên nhiên nào, trong hàm sản xuất được sử dụng trong các mô hình như vậy

 Bước đầu nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên vào các mô hình tân cổ điển của tăng trưởng kinh tế

đã bắt đầu từ những năm 1970, quan tâm tới sự cạn kiệt hiệu quả và tối ưu các nguồn tài nguyên

2.3 Kinh tế học phúc lợi:

Trang 5

 Cung cấp khung nghiên cứu trong đó có thể thực hiện các nghiên cứu chuẩn tắc về các cấu hình hoạt động kinh tế thay thế nhau hay chỉ ra những tình huống về việc một phân bổ tài nguyên

là tốt hơn so với phân bổ khác

 Hiệu quả phân bổ hoặc tối ưu Pareto: một nền kinh tế được tổ chức như một nền kinh tế thị trường cạnh tranh sẽ đạt được trạng thái hiệu quả kinh tế => Hậu duệ của “bàn tay vô hình” của

A.Smith

 Khi nền kinh tế tồn tại ‘thất bại thị trường’ (ngoại ứng xuất hiện trong những tình huống mà,

vì cấu trúc của quyền sở hữu, các mối quan hệ giữa các tác nhân kinh tế không phải được dàn xếp hoàn toàn thông qua các thị trường) => Biện pháp hiệu chỉnh

 Vấn đề ô nhiễm là một mối quan tâm lớn của kinh tế học môi trường=> nghiên cứu những bài toán ô nhiễm

=> Các chuyên ngành hiện đại của kinh tế học tài nguyên thiên nhiên và kinh tế học môi trường

có nguồn gốc rất khác nhau trong tâm điểm của kinh tế học chính thống hiện đại Kinh tế học tài nguyên

thiên nhiên xuất hiện chủ yếu từ kinh tế học tăng trưởng tân cổ điển, và kinh tế học môi trường xuất hiện chủ yếu từ kinh tế học phúc lợi và nghiên cứu thất bại thị trường

2.4 Kinh tế học sinh thái (Kenneth Boulding): lĩnh vực đa ngành tương đối mới

 Sinh thái là nghiên cứu về sự phân phối và mức độ phong phú của động vật và thực vật Trọng tâm chính là hệ sinh thái, là tập tương tác lẫn nhau của các tổng thể thực và động vật và môi trường vô sinh của chúng

 Xuất phát từ nhận thức các hệ thống kinh tế và môi trường là phụ thuộc lẫn nhau

 Kinh tế học ‘Con tàu Trái đất’ của Kenneth Boulding 1966

 Đặc trưng phân biệt của kinh tế học sinh thái là ở chỗ nó coi điểm khởi đầu và nguyên tắc tổ chức trung tâm của nó là sự kiện hệ thống kinh tế là một bộ phận của hệ thống lớn hơn là hành tinh trái đất

2 Những vấn đề căn bản trong tiếp cận kinh tế tới những vấn đề tài nguyên và môi trường

3.1 Quyền sở hữu, hiệu quả và can thiệp chính phủ

• Ý tưởng chính trong kinh tế học hiện đại:thị trường sẽ dẫn tới hiệu quả trong phân bổ

=> Xác định rõ quyền sở hữu và có thể cưỡng chế là một trong những điều kiện cần đó

• Trong KTTN:quyền sở hữu không tồn tại, hoặc không được xác định rõ ràng nên thị trường không thể phân bổ hiệu quả => Tín hiệu giá cả không thể phản ánh các chi phí

và lợi ích thực của xã hội, cần can thiệp chính phủ để tìm kiếm những lợi ích về hiệu quả

3.2.Vai trò và giới hạn của đánh giá giá trị trong việc đạt tới hiệu quả

 Do TNMT và các dịch vụ TNMT không xác định tốt quyền sở hữu (ví dụ không khí sạch)

=> Các tài nguyên được sử dụng nhưng không được trao đổi thông qua thị trường, => không có giá cả thị trường (ví dụ như ngoại ứng - Xả thải sulphur từ nhà máy năng lượng đốt-than)

 Cần đánh giá giá trị: quyết định về các dịch vụ môi trường được đánh giá giá trị bằng tiền tệ => giúp cho việc làm quyết định môi trường

Trang 6

3.3 Khía cạnh thời gian của các quyết định kinh tế

 Phân biệt giữa các tài nguyên ‘kho’ và ‘luồng’:

o Tài nguyên ‘kho’: các tài nguyên sử dụng ngày hôm nay có các hàm ý cho khả năng sẵn

có trong ngày mai, ví dụ trầm tích, khoáng sản,…

 Phân biệt tài nguyên tái tạo vs không tái tạo:

 Tài nguyên tái tạo: là tài nguyên sinh học, các tổng thể thực và động vật,

và có năng lực tăng trưởng về quy mô theo thời gian, thông qua tái sản xuất sinh học

 Tài nguyên không tái tạo (tài nguyên cạn kiệt) là các tài nguyên vô sinh, các kho khoáng sản, và không có năng lực tăng trưởng theo thời gian

 Khi xem xét hiệu quả và tối ưu của việc sử dụng chúng, không chỉ sử dụng tại một thời điểm mà còn cả mẫu hình sử dụng theo thời gian Tức là, hiệu quả và tối ưu có

thuộc tính giữa-các-khoảng-thời gian, hoặc thuộc tính động học, cũng như thuộc

tính bên-trong-khoảng-thời gian, hoặc tĩnh

Tỷ lệ giao hoàn cho các tài sản môi trường phải được tính tới trong sự nỗ lực nhận

biết các quỹ đạo hiệu quả và tối ưu của sử dụng tài nguyên môi trường theo thời gian

o Tài nguyên luồng: không có hàm ý cho khả năng sẵn có ngày mai- ví dụ bức xạ mặt trời, năng lượng gió,…

 Hai thuộc tính chính cho những vấn đề độ thay thế:

o phạm vi để một tài nguyên thiên nhiên có thể được thay thế bởi một tài nguyên khác (ví dụ năng lượng mặt trời có thay thế nhiên liệu hóa thạch?)

o mức độ tài nguyên môi trường có thể được thay thế bởi các đầu vào khác, đặc biệt

là vốn do-con-người-làm-ra (từ tiết kiệm và đầu tư)

Trang 7

CHƯƠNG 2- ĐẠO ĐỨC, KINH TẾ HỌC, VÀ MÔI TRƯỜNG Mục đích học tập

Trong chương này chúng ta sẽ:

 Chủ nghĩa vị lợi - cơ sở đạo đức cho kinh tế học phúc lợi

 Khác biệt với một số hệ thống đạo đức khác

 Tranh luận về chiết khấu

 Phân tích tăng trưởng - sử dụng tài nguyên thiên nhiên không-tái tạo

1 Triết học đạo đức của nhà tự nhiên học

 Phân biệt căn bản: triết học đạo đức nhân văn và tự nhiên

o Triết học nhân văn: quyền và trách nhiệm đặc biệt phù hợp với con người, ví dụ nhà triết học Kant

o Triết học tự nhiên:

 Đạo đức của người theo chủ nghĩa tự nhiên từ chối tính ưu việt hoặc đặc quyền cho con người

 Quyền có thể được xác định chỉ phù hợp với một hệ thống tự nhiên nào đó

 Một dạng yếu của đạo đức học tự nhiên cho rằng hành vi có những tác động lớn lên những phần của sinh quyển, đáng được bảo vệ, vì độ bất thường hoặc khan hiếm của chúng, và cần phải bị cấm đoán _ đã có một vài tác động lên chính sách công cộng ở nhiều quốc gia

2 Triết học đạo đức của những người tự do

 Chủ nghĩa tự do là triết học đạo đức nhân văn

 Coi tính bất khả xâm phạm quyền con người cá thể là tiên đề trung tâm- không có quyền nào khác hơn quyền của cá nhân con người (quyền cộng đồng hoặc xã hội không có nghĩa)

 Robert Nozick (1974):Bất kỳ nắm giữ nào là nắm giữ công bằng nếu nó có được bằng hợp đồng giữa cá nhân đồng ý tự do với nhau, miễn là người bán được quyền sắp đặt đối tượng của hợp đồng

 Tuy nhiên có vấn đề đặt ra phát sinh từ khái niệm chiếm hữu công bằng là hàng công cộng, tiếp cận mở, ngoại ứng:

a Chính phủ sẽ làm gì với những chiếm giữ không công bằng?

b Các tài nguyên tiếp cận mở cần được xử lý như thế nào?

c Các tác động ngoại ứng và hàng hóa công cộng liên hệ như thế nào với khái niệm chiếm hữu công bằng?

3 Chủ nghĩa vị lợi

 Bắt nguồn từ những bài viết của David Hume (1711-1776) và Jeremy Bentham (1748-1832) và

thể hiện đầy đủ nhất trong tác phẩm Chủ nghĩa vị lợi John Stuart Mill (1863)

 Lợi ích’ (hoặc tiện ích _ ND) - nói về sự vui thích hoặc hạnh phúc của cá nhân

 Thuật ngữ ‘phúc lợi’ - nói đến hàng hóa xã hội, nằm trong chủ nghĩa vị lợi,

 Do vậy kinh tế học phúc lợi là sự tổng hợp các lợi ích cá nhân

 Đối với những người theo chủ nghĩa vị lợi các hành động làm tăng phúc lợi là đúng đắn và các hành động làm giảm phúc lợi là sai trái

 Chủ nghĩa vị lợi là lý thuyết hậu quả của triết học đạo đức- nó chỉ là các hậu quả hoặc kết cục của một hành động xác định giá trị đạo đức

3.1 Chủ nghĩa vị lợi với loài người là trung tâm

Trang 8

 Coi con người là trung tâm

 Hạn chế chỉ vào con người không cần thiết về lôgic

o nhà triết học Peter Singer (1993): Lợi ích là, một đặc tính của tri giác, chứ không phải chỉ của riêng con người – (Lợi ích không –phải- là – con người)

o 2 cách Lợi ích không –phải- là – con người ảnh hưởng đến lợi ích con người:

 sự mất đi các thực thể không-con-người, (động vật)=> con người vị tha cần tính đến

 Con người sử dụng tài nguyên tái tạo _ cây cối và động vật như các đầu vào cho sản xuất, và quản lý tài nguyên khôn ngoan

 thực vật và động vật ‘có giá trị’ cho con người, là những thứ đáng được quan tâm về mặt đạo đức trực tiếp

Chủ nghĩa vị lợi thỏa mãn-ưa thích

 Mọi quyết định bởi hậu quả cá nhân con người (tốt- cải thiện-lợi ích, và xấu -giảm thiểu-lợi ích)

 ‘học thuyết tối thượng người tiêu dùng’ _ nền kinh tế cần được vận hành theo ý muốn của những người tiêu dùng

3.3 Từ lợi ích tới phúc lợi

Trong chủ nghĩa vị lợi, và do vậy kinh tế học phúc lợi, phúc lợi xã hội là sự tổng hợp nào đó của các lợi ích cá nhân Đối với các hành động vị lợi làm tăng phúc lợi là đúng đắn và các hành động làm giảm phúc lợi là sai trái Chúng ta cần xem xét một cách chính xác làm thế nào để nhận được lợi ích cho phúc lợi

3.3.1 Các hàm lợi ích định lượng và thứ tự

 Phúc lợi xã hội là một hàm các lợi ích các cá nhân thích hợp

 Với U là thước đo lợi ích và X1 là các mức tiêu dùng của HH & DV 1, 2, …,

 Phân biệt giữa các thước đo định lượng và thứ tự của lợi ích

o Thước đo định lượng: ví dụ̀ các quan sát về chiều cao, cân nặng và độ dài

o Số liệu thứ tự là các quan sát số để có thể sắp hạng, nhưng các phép tính tiêu chuẩn của số học không áp dụng được

 Trong kinh tế học thực chứng, các nhà kinh tế đã thiết lập trật tự ưa thích bởi hàm lợi ích thứ tự=> Lý thuyết cầu chỉ cần thước đo thứ tự (do không quan sát hành vi cá nhân đúng đắn, chi tiết về lợi ích)

 Hai cách trong thực hành kinh tế học chuẩn tắc- dùng cho cải thiện phúc lợi

o Lựa chọn cơ sở giới hạn hơn để đưa ra lời khuyên - dựa trên hiệu quả chú́ không phải tiêu chuẩn phúc lợi

o Xử lý các hàm lợi ích như là định lượng -các hàm phúc lợi xã hội, được tổng hợp từ các lợi ích để tạo ra các thước đo phúc lợi

3.3.2 Các hàm phúc lợi xã hội và phân phối

 Xét xã hội giả tưởng bao gồm hai cá nhân, A và B, sống tại môt thời điểm cụ thể nào đó Chỉ

có một hàng hóa (X ), và tiêu dùng nó là nguồn lợi ích duy nhất Ký hiệu U là tổng lợi ích A

mà A được hưởng, và U B là tổng lợi ích mà B được hưởng, do vậy chúng ta có

Trang 9

trong đó X và A X là các khối lượng được A và B tiêu dùng một cách tương ứng Chúng ta B

giả sử lợi ích cận biên giảm dần, do vậy

 Phúc lợi xã hội W được xác định bởi một hàm có dạng

 G

 iả sử có một khối lượng hàng hóa cố định, ký hiệu là X (Phân tích trường hợp có hai khối

lượng hàng hóa tiêu dùng sẽ được xem xét trong Chương 5) Tiêu dùng, và bởi vậy, mức lợi ích, cho A và B được chọn sao cho tối đa phúc lợi X và A X được chọn để tối đa hàm B

Khi đã biết U AU B được xác định theo các phương trình (3.1) và tùy thuộc vào ràng buộc

Trong Phụ lục 3.2 (bằng cách sử dụng phương pháp Lagrange được phác họa trong Phụ lục 3.1), người

ta chỉ ra lời giải cho bài toán này là

Đây là điều kiện để các đóng góp cận biên cho phúc lợi xã hội từ tiêu dùng của mỗi cá nhân là bằng nhau Điều này có nghĩa là các mức tiêu dùng cho mỗi cá nhân sẽ thay đổi theo hàm lợi ích cá nhân với bản chất của hàm phúc lợi xã hội 3.2

 Khi WA=WB=1- phúc lợi xã hội là tổng số của các lợi ích của tất cả các cá nhân

(3.3) trở thành

 Nhưng chưa phản ánh hàng hóa cần phải được phân phối?=> xem hàm lợi ích mỗi cá nhân

 Để lợi ích cận biên bằng nhau cho mỗi người, mức tiêu dùng phải bằng nhau cho mỗi người

Trang 10

 Xét bài toán với các trọng số bằng nhau

 W1, W2, W3: đường cong phúc lợi xã hội và khối lượng cố định phân phối giữa 2 cá nhân

 Phúc lợi xã hội cực đại tại Z với mức tiêu dùng XA* = XB*

 Nhận xét: Phân phối công bằng tại mức phúc lợi xã hội cực đại

 Nhưng CN vị lợi không nhất thiết hàm ý phân phối hàng hóa bằng nhau, nó xảy ra khi xuất hiện:

o SWF không có dạng cộng tính như 3.4

o Các trọng số gắn với các lợi ích cá nhân không bằng nhau

o Các hàm lợi ích khác nhau giữa các cá nhân

3.4 Phê phán chủ nghĩa vị lợi

3.4.1 Rawls: lý thuyết công bằng

 Lý thuyết Công bằng (1971) đã ảnh hưởng tới mối quan tâm của các nhà kinh tế tới các vấn đề đạo đức

 Bàng quan với đóng góp của thỏa mãn giữa các cá nhân chỉ quan tâm tới tổng lợi ích, phân phối tài nguyên được tạo ra bởi tối đa phúc lợi

 thiết lập các nguyên tắc của một xã hội công bằng dựa trên 2 nguyên tắc:

Trang 11

o Mỗi người phải có quyền như nhau với sự tự do tương thích với sự tự do của người khác

o Các bất công xã hội và kinh tế cần phải được dàn xếp sao cho (a) hợp lý có lợi cho mỗi

người, và (b) gắn với các vị thế và cơ quan và mở cho tất cả.=> Nguyên tắc khác biệt (dẫn tới cải thiện Parento)

 Lập luận vị thế của Rawl

o Trường hợp 2 cá nhân, SWF

o Quan điểm: Vì mức lợi ích của người được kém thuận lợi nhất xác định phúc lợi=> tăng lợi ích của người với mức lợi ích thấp nhất sẽ làm tăng phúc lợi

o So sánh b và c (cùng tạo mức phúc lợi như nhau):

 Từ b tái phân bổ lợi ích, bằng cách trừ (b-d) đơn vị lợi ích từ cá nhân B và cộng khối lượng đó vào cá nhân A

 => tạo mức phúc lợi cao hơn

o Hàm phúc lợi xã hội Rawls hàm ý, bất cứ các mức lợi ích nào khác nhau giữa các cá

nhân, sẽ có khả năng làm tăng phúc lợi xã hội bằng cách tái phân phối lợi ích từ các

cá nhân có lợi ích cao hơn sang những cá nhân có lợi ích thấp hơn

o

3.4.2 Phê phán chủ nghĩa vị lợi dựa-vào-ưa thích

o Ý tưởng CN vị lợi là ưa thích cá nhân được sử dụng làm thước đo của phúc lợi xã hội

o Kinh tế học không tìm hiểu những nhân tố xác định ra ưa thích – coi như đã có trước

o Chỉ trích _tối thượng người tiêu dùng_ liệu người tiêu dùng luôn biết điều gì tốt cho họ, và ưa thích của họ phản ánh lợi ích thực sự?

o Liệu có đủ thông tin để đánh giá đúng lợi ích trong các phương án thay thế?

o Liệu có hợp lý trong điều kiện XH hóa và quảng cáo thịnh hành, ưa thích có thực sự phản ánh lợi ích?

3.5 Phân phối giữa các khoảng thời gian

o Thời gian theo nghĩa các thế hệ loài người kế tiếp nhau

Trang 12

o Giả sử kích thước dân số loài người là hằng số theo thời gian

3.5.1 Hàm phúc lợi xã hội giữa các khoảng thời gian theo chủ nghĩa vị lợi

o Trong trường hợp giữa các khoảng thời gian, như trong trường hợp bên trong một khoảng thời gian, hàm ý của chủ nghĩa vị lợi được kiểm tra bằng cách nhìn vào bài toán tối đa hóa, tùy thuộc vào các ràng buộc thích hợp, hàm liên hệ các lợi ích với phúc lợi Do vậy, chúng ta bắt đầu với định dạng hàm phúc lợi xã hội qua các khoảng thời gian

o Xét hai thế hệ 0 là thế hệ hiện thời và 1 là thế hệ kế tiếp Khi đó U và 0 U1 ký hiệu lợi ích được hưởng bởi (cá nhân đại diện từ) các thế hệ 0 và 1 một cách tương ứng W bây giờ ký hiệu phúc lợi

xã hội giữa các khoảng thời gian (hoặc, một cách thay thế, phúc lợi xã hội giữa các thế hệ) Trong

các thuật ngữ chung một hàm phúc lợi xã hội giữa các khoảng thời gian khi đó có thể được viết là Dạng hàm đặc biệt thường được sử dụng bởi những người theo chủ nghĩa vị lợi là

Với  và 0 1 là các trọng số được sử dụng trong tổng lợi ích qua các thế hệ để đạt tới một thước đo phúc lợi xã hội Tiếp cận vị lợi tới các vấn đề giữa các khoảng thời gian điển hình được phát triển chuyên sâu hơn bằng cách gán các dạng đặc biệt cho trọng số trong phương trình (3.10) Thông thường

1

1 , trong đó  là tỷ lệ chiết khấu lợi ích Phương trình 3.10 khi đó trở thành

Với  0

o Trường hợp tổng quát: txrường hợp T+1 giai đoạn (0- hiện tại và T tương lai) Khi đó (3.11) thành:

o Trường hợp thời gian vô hạn:

=>

3.5.1.1.Tại sao chiết khấu lợi ích tương lai

o Các cá nhân trong vai trò người tiêu dùng thường bộc lộ ưa thích thời gian lớn hơn 0 vì họ cần có khuyến khích, dưới dạng thanh toán lãi suất, để trì hoãn tiêu dùng, và do vậy trì hoãn lợi ích, bằng tiết kiệm

o Hay như Pigou (1920) đã lý luận các cá nhân bị ảnh hưởng từ ‘khả năng nhìn xa không hoàn hảo’, đưa ra các quyết định hiện tại trên cơ sở đánh giá thấp lợi ích tiêu dùng tương lai……

Trang 13

3.5.1.2Số học của chiết khấu

o Khi đã biết phân phối giữa các thế hệ được xác định bởi tối đa hóa W , việc chiết khấu lợi ích có thể được mô tả như một phân biệt đối xử với các thế hệ tương lai, bằng cách gán các mức lợi ích

có trọng số nhỏ hơn trong khi tối ưu hóa

3.5.1.3.Các tỷ lệ chiết khấu lợi ích và tiêu dùng

o Giả thiết lợi ích của cá nhân đại diện chỉ phụ thuộc vào tiêu dùng tổng hợp C:

o Ta có W là hàm của C

phương trình 3.16 có nghĩa là W là một hàm của C tại các ngày khác nhau, như trong

Bây giờ, nếu phương trình 3.16 liên quan tới chiết khấu và có dạng mà chúng ta đã sử dụng ở đây, tức

điều quan trọng là nhận xét: bất kể việc sử dụng ký hiệu này, tỷ lệ chiết khấu tiêu dùng, không như tỷ

lệ chiết khấu lợi ích, không là hằng số Trong Chương 11 sẽ được chỉ ra là

Trang 14

trong đó  là độ co giãn của lợi ích cận biên của tiêu dùng và g là tỷ lệ tăng trưởng tương ứng của

tiêu dùng, tức là

Đối với  cố định, r thay đổi cùng với C và tỷ lệ tăng trưởng của nó Lưu ý đối với lợi ích cận biên

giảm dần, như được giả thiết, 2U/C20, sao cho  là dương

o (3.18) chỉ ra có hai lý do để chiết khấu tiêu dùng tương lai:

+ lợi ích tương lai được xử lý có giá trị ít hơn lợi ích hiện tại (Tp 1)

+ tin tiêu dùng sẽ cao hơn trong tương lai (Tp 2)

3.5.2 Tăng trưởng tối ưu

o Xuất phát:

- Chủ nghĩa vị lợi thỏa mãn-ưa thích, nguyên nhân chiết khấu là các cá nhân ưa thích tiêu dùng bây giờ hơn trong tương lai (sự không kiên nhẫn)

- Vấn đề sản xuất: lợi ích theo thời gian bằng việc tích lũy và sử dụng vốn => sinh lợi

o Nghiên cứu về tăng trưởng tối ưu là nghiên cứu về tương tác giữa sự thiếu kiên nhẫn và khả

năng sinh lợi

3.5.2.1 Mô hình cơ bản

o Áp dụng đơn giản nhất trong mô hình hóa tăng trưởng tối ưu là tìm đường tiêu dùng theo thời gian làm cho

đạt được giá trị cực đại khả thi khi đã biết ràng buộc là

Phương trình 3.19 chỉ là hàm phúc lợi xã hội vị lợi mà chúng ta đã bỏ ra thời gian để xem xét, và nó thể hiện tính thiếu kiên nhẫn Trong ràng buộc 3.20, K là vốn và K. là đạo hàm của K theo thời gian,

Trang 15

tức là tỷ lệ đầu tư Trong mô hình đơn giản này, sản lượng được sản xuất ra bằng cách chỉ sử dụng vốn phù hợp với Q(K t) Năng suất cận biên (hay sản phẩm cận biên _ ND) của vốn là dương nhưng giảm dần, tức là

o Điều kiện mô tả đường tối ưu Ct

VT: tỷ lệ thay đổi tương ứng của lợi ích cận biên

 Tỷ lệ CK lợi ích (cố định)

QK: NSCB vốn(giảm khi khi kho vốn tăng)

o Khi kho vốn nhỏ, Q K  => VP<0 và VT <0 => tăng tiêu dùng (do vốn được tích lũy, tăng đầu ra) và ngược lại

o Khi Q K : tăng trưởng và tích lũy vốn dừng lại

 Kế hoạch tiêu dùng/tiết kiệm giữa các khoảng thời gian được rút ra từ mô hình này:

o thế hệ trước sẽ tiết kiệm vì lợi ích của các thế hệ sau, mặc dù tỷ lệ chiết khấu lợi ích là dương

o Nếu , tiết kiệm tại mỗi thời điểm sẽ cao hơn, và tích lũy vốn sẽ tiếp tục cho tới khi năng suất cận biên của vốn (QK) giảm xuống 0=> thế hệ ban đầu nghèo khổ để cho thế hệ sau giàu có

o Nếu tương đối cao: các thế hệ ban đầu sẽ tiết kiệm và tích lũy tương đối ít, và xã hội có thể vẫn nghèo khổ về sau có trở nên giàu

=>Minh họa các hậu quả của vị thế đạo đức – ‘chiết khấu lợi ích tương lai là sai trái’

3.5.2.2 Tăng trưởng tối ưu với các tài nguyên không-tái tạo được sử dụng trong sản xuất

Bây giờ hãy xét việc áp dụng mô hình hóa tăng trưởng tối ưu chỉ khác với áp dụng ở trên ở một khía cạnh _ sản xuất sử dụng các đầu vào tài nguyên thiên nhiên không-tái tạo và vốn Đường tiêu dùng, và

do vậy là đường tiết kiệm và tích lũy vốn, được xác định như đường làm tối ưu

Trang 16

tùy thuộc các ràng buộc

Ràng buộc thứ nhất, như trước đây, nói rằng đầu ra Q hoặc có thể được sử dụng cho tiêu dùng C hoặc

cho đầu tư K Nó khác với phương trình 3.20 ở chỗ sản lượng đầu ra bây giờ bao gồm hai đầu vào,

vốn K và một tài nguyên nào đó R Giả thiết chuẩn là năng suất cận biên của đầu vào tài nguyên là

dương và giảm dần Trong phương trình 3.23b, S là kho, và ràng buộc này nói rằng tài nguyên thiên

nhiên được sử dụng là không-tái tạo ở chỗ kích thước kho giảm bởi khối lượng được sử dụng S là kho hữu hạn ban đầu của tài nguyên, và phương trình 3.23c nói rằng tổng sử dụng tích lũy của tài nguyên không thể vượt quá kho ban đầu

3.5.3 Tính bền vững

 Từ đồ thị 3.6b: với tài nguyên không-tái tạo là đầu vào thiết yếu cho sản xuất, thì chủ nghĩ vị lợi có chiết khấu làm cho các thế hệ trong tương lai gần trở nên tốt hơn so hiện nay, nhưng làm cho nhiều thế hệ trong tương lai xa hơn xấu đi

 Bền vững là tiêu dùng là cố định, và các thế hệ tương lai được hưởng cùng một mức tiêu dùng như thế hệ hiện thời

-Tiếp cận Rawls: hàm phúc lợi xã hội giữa các khoảng thời gian

- Quy tắc Hartwick: tại mỗi thời điểm khối lượng được tiết kiệm và được thêm vào kho vốn sẽ bằng với lợi nhuận (rent) phát sinh trong việc khoan hút tài nguyên => tiêu dùng cố định vĩnh cửu là khả thi

Trang 17

CHƯƠNG 3: CÁC KHÁI NIỆM BỀN VỮNG

Mục đích học tập

Trong chương này chúng ta sẽ:

 được giới thiệu về các khái niệm bền vững

 học về tầm quan trọng của các khả năng thay thế trong việc xem xét liệu đáp lại tiêu dùng cố định

có khả thi hay không

 giải thích sự khác biệt giữa tính bền vững ‘yếu’ và ‘mạnh’

 xác định xem quy tắc Hartwick làm việc khi nào và như thế nào

 học về những động cơ khuyến khích và thông tin trong mối quan hệ với bền vững

3.1 Các khái niệm và ràng buộc

Thậm chí nếu chúng ta giới hạn sự chú ý vào tài liệu nghiên cứu kinh tế học thì cũng không có một định nghĩa đồng thuận về bền vững Ngược lại, trong những tài liệu nghiên cứu đó, có thể tìm thấy vô

số định nghĩa, nhiều ý nghĩa và lời giải thích Trong bài báo gần đây, Jack Pezzey đã viết: ‘Do vậy tôi thấy ít có ý nghĩa trong việc mở rộng bộ sưu tập năm mươi định nghĩa bền vững mà tôi đã có vào năm

1989, tới năm nghìn định nghĩa mà ai đó có thể dễ tìm thấy ngày hôm nay’ (Pezzey, 1997, tr 448) Một thực hành có ích hơn việc cung cấp một danh sách toàn diện các định nghĩa xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu kinh tế học là chỉ đưa ra ba định nghĩa rọi sáng những khó khăn trong việc tiến tới một định nghĩa đơn bao quát-tất cả Điều này sẽ giúp cho việc hiểu vô số các tiếp cận tới bền vững có thể được đưa ra và trong việc chỉ rõ những vấn đề chính được đề cập

Pezzey (1997) phân biệt giữa phát triển ‘bền vững’, phát triển được ‘duy trì’, và phát triển ‘để tồn tại’ Chúng được định nghĩa trong Hộp 4.1, là nội dung bạn cần đọc bây giờ

Hộp 4.1 Phát triển bền vững, phát triển được duy trì, và phát triển để tồn tại

Ký hiệu sau sẽ được sử dụng:

U = mức lợi ích tối thiểu phù hợp để tồn tại với dân số đã cho

Phát triển là bền vững nếu luôn có U  t U t MAX

Phát triển là được duy trì nếu luôn có U t 0

Phát triển là để tồn tại nếu luôn có U  t U SURV

Nếu lợi ích là một hàm chỉ của tiêu dùng, giả thiết thông thường trong phân tích kinh tế giữa các khoảng thời gian (xem chương trước), thì có khả năng thay thế từ ‘lợi ích’ bởi từ ‘tiêu dùng’ trong mỗi tiêu chuẩn này (và thay đổi các ký hiệu từ U thành C một cách tương đương) và do vậy định nghĩa chúng theo tiêu dùng thay vì lợi ích Làm điều này, chúng ta có được:

Phát triển là bền vững nếu luôn có C  t C t MAX

Phát triển là được duy trì nếu luôn có C10

Phát triển là để tồn tại được nếu luôn có C  t C SURV

Trang 18

Lưu ý mức lợi ích (hoặc tiêu dùng) tương ứng với khả năng để tồn tại được lấy là cố định theo thời gian (do vậy,

SURV

C không có chỉ số thời gian) Nhưng C t MAX thay đổi (và phải thay đổi) theo thời gian, và có chứa chỉ số thời gian Mức cao nhất của tiêu dùng cố định có thể giữ vững mà một nền kinh tế có thể đạt được từ bất kỳ thời điểm nào đó trở đi phụ thuộc vào thời điểm nào mà chúng ta xét Ví dụ, tại cuối một cuộc chiến tranh lớn và kéo dài, trong đó dự trữ tài nguyên lớn đã tiêu dùng hoặc bị hủy hoại không phục hồi được, mức cực đại khả thi của tiêu dùng có thể giữ vững dường như nhỏ hơn mức trước chiến tranh đã bị phá vỡ.

-

3.1.1 Các đường thời gian tiêu dùng

Chúng ta sẽ sử dụng đường thời gian tiêu dùng giả tưởng để minh họa một số khái niệm bền vững Như

đã được nhận xét trong Hộp 4.1, và được suy luận từ chương trước, điều được coi là tiêu chuẩn cho các nhà kinh tế khi suy nghĩ về những vấn đề phân phối giữa các khoảng thời gian như là bền vững là làm việc với các hàm lợi ích với biến tiêu dùng, và lợi ích tăng theo tiêu dùng Trong trường hợp đó chúng

ta có thể nhìn nhận mọi thứ hoặc theo lợi ích hoặc tiêu dùng Các đường thời gian tiêu dùng mà chúng

ta muốn xem xét được chỉ ra trên Hình 4.1 Trục tung đo lường mức tiêu dùng tại bất kỳ thời điểm nào Dịch chuyển thời gian từ thời điểm hiện thời (t0) trở đi tương ứng với dịch chuyển từ trái sang phải dọc theo trục hoành Sáu đường thời gian tiêu dùng thay thế lẫn nhau được chỉ ra có nhãn là từ C(1)

tới C(6) Thêm nữa, đường đậm nét nằm ngang được ký hiệu là C MIN đại diện cho mức tiêu dùng là tối thiểu mà xã hội cho là chấp nhận được về mặt xã hội hoặc đạo đức, trong khi đường rời nét C SURV

đại diện cho mức tiêu dùng tối thiểu về mặt sinh lý

Chúng tôi cho rằng bây giờ bạn sẽ cố gắng sắp hạng sáu đường thời gian thay thế lẫn nhau Hãy đặt bạn vào vị thế của nhà quy hoạch xã hội với mục tiêu làm tốt nhất cho xã hội qua nhiều thế hệ Khi đó bạn sẽ sắp hạng các phương án thay thế nhau như thế nào?

So sánh các đường thời gian của tiêu dùng

Hãy xét ý tưởng bền vững là tiêu dùng không-giảm sút, là khái niệm bền vững được sử dụng rộng rãi nhất trong phân tích kinh tế Trong Hình 4.1, bốn đường _ C(1),C(3),C(5) và C(6) _ thỏa mãn các tiêu chuẩn tiêu dùng không-giảm sút Chúng ta có thể sắp hạng chúng không? Chúng ta chỉ có thể làm được điều này nếu chúng ta chấp nhận kiểu hàm phúc lợi xã hội nào đó Chúng ta đã thấy trong chương

Trang 19

trước chúng ta có thể kết hợp các suy xét bền vững vào bài toán tối đa phúc lợi giữa các khoảng thời gian bằng cách chấp nhận chúng như những ràng buộc Kiểu tiếp cận này sẽ chỉ ra một trong những đường C(1),C(2),C(3) hoặc C(4) là ‘tốt nhất’ Khi đã biết dọc theo C(3), tiêu dùng tại mỗi thời điểm cao hơn so với bất kỳ đường nào trong ba đường còn lại, và không lúc nào giảm xuống, kiểu tiếp cận với hàm phúc lợi xã hội vị lợi đã được xét trong chương trước sẽ chỉ ra C(3) là đường tốt nhất Mặc

C(4) có tiêu dùng cao hơn tại mỗi thời điểm, nó vẫn bị loại bỏ bởi ràng buộc tiêu dùng không-giảm sút

Chúng ta đã thấy trong chương trước rằng nguyên tắc đạo đức lạnh mạnh rõ ràng có thể trong một

số tình huống dẫn tới các kết cục không rõ ràng nhạy cảm Chính quan điểm đó có thể, và nhất thiết, phải được thực hiện ở đây Hãy xét đường C(2) trong Hình 4.1 Rõ ràng không có thuộc tính tiêu dùng không-giảm sút Giả sử cần phải có một lựa chọn giữa C(2) và C(6) Sự gắn bó chặt chẽ với tiêu chuẩn tiêu dùng không-giảm sút như một ràng buộc cho lựa chọn, đối với bất kỳ hàm phúc lợi xã hội nào, sẽ có nghĩa là lựa chọn C(6) chứ không phải C(2) bất kể sự kiện tại mỗi thời điểm tiêu dùng trên đường C(2)là cao hơn so với trên đường C(6)

Một phản đối nghiêm trọng đối với tiêu chuẩn tiêu dùng không-giảm sút là nó không đặt ra bất kỳ yêu cầu nào tới mức không-giảm sút của tiêu dùng cần phải là bao nhiêu Theo tiêu chuẩn này, một nền kinh tế là bền vững thậm chí nếu các tiêu chuẩn sống thấp cùng cực và vẫn thấp như vậy, miễn là chúng không hạ thấp xuống hơn nữa Ai đó có thể hình dung một nền kinh tế nghèo nàn có thể trở nên ít nghèo hơn đáng kể trong tương lai trung hạn bằng cách hy sinh một phần tiêu dùng trong tương lai gần Việc quy hoạch cho nền kinh tế như vậy với tiêu chuẩn tiêu dùng không-giảm sút như một ràng buộc sẽ loại

bỏ đường phát triển như vậy

Do vậy, việc chấp nhận ràng buộc đơn giản như tiêu dùng không-giảm sút không phải là vấn đề Thế còn các ràng buộc thay thế có thể được đặt lên bài toán tối đa hàm phúc lợi xã hội giá trị thông thường sao cho nắm bắt được tinh thần của mối quan tâm đạo đức đối với các thế hệ tương lai thì như thế nào? Như đã nhận xét ở trên, Pezzey (1997) đã giới thiệu ý tưởng phát triển để tồn tại Trong Hình 4.1, đường rời nét có nhãn là C SURV cho thấy mức tiêu dùng tối thiểu nào đó phù hợp với các yêu cầu sinh tồn sinh lý Ai đó có thể tối đa tùy thuộc vào ràng buộc tiêu dùng không hạ xuống dưới một mức như thế Điều đó sẽ tránh được các vấn đề với ràng buộc tiêu dùng không-giảm sút được lưu ý ở trên Ví dụ, nó sẽ loại bỏ C(2) và C(4)

không-có-Nhưng ai đó có thể cảm thấy ràng buộc như vậy không thực sự là ‘tốt’ cho các thế hệ tương lai Trong các thảo luận về nghèo đói, bây giờ mọi người đã đồng thuận rộng rãi là đường đói nghèo cần được xác định về mặt văn hóa chứ không phải về mặt sinh học Theo tinh thần này, chúng ta có thể lý luận tiêu dùng không nên giảm xuống dưới mức tối thiểu, được xác định về mặt văn hóa qua thời gian Chúng ta hãy giả sử một mức như vậy có thể xác định được, và giả sử tương ứng với đường nằm ngang

có nhãn là C MIN trên Hình 4.1 Chúng ta có thể sử dụng thuật ngữ ‘điều kiện tối thiểu’ để mô tả ràng buộc lên lựa chọn đường tiêu dùng tối ưu mà tiêu dùng không bao giờ được hạ xuống dưới C MIN Ràng buộc như vậy sẽ loại bỏ C(2) chứ không phải C(4)

Bảng 4.1 tóm tắt sáu đường tiêu dùng của Hình 4.1 phù hợp như thế nào vào ba ràng buộc được xét

ở đây Tất cả sáu đường tiêu dùng thỏa mãn tiêu chuẩn phát triển tồn tại (mặc dù chúng ta đã nhận xét điều này là một yêu cầu tương đối không được ưa thích) Ba trong số chúng _ các đường C ( C1), (3) và

)

4

(

C _ cũng thỏa mãn điều kiện tối thiểu Những đường nào thỏa mãn tất cả ba tiêu chuẩn mà chúng

ta đã kiểm tra? Chỉ có hai đường, C(1) và C(3) Rõ ràng, khi đã biết cả hai đường này thỏa mãn tất cả các ràng buộc được xét, việc tối đa hàm phúc lợi xã hội giữa các khoảng thời gian vị lợi thông thường

Trang 20

sẽ có nghĩa là lựa chọn C(3) hơn C(1) bất kể ràng buộc bền vững nào được chọn C(4) sẽ là đường được chọn hoặc với ràng buộc tồn tại hoặc ràng buộc điều kiện tối thiểu, nhưng sẽ bị loại bỏ nếu ràng buộc tiêu dùng không-giảm sút được chấp nhận

3.1.2 Các khái niệm bền vững

Mối quan tâm bền vững được rút ra từ mối quan tâm đạo đức cho các thế hệ tương lai cùng với sự đánh giá cao những sự kiện hàm ý rằng mối quan tâm như vậy cần được tổng hợp thành việc ra quyết định hiện thời, ví dụ, cho sử dụng các tài nguyên không-tái tạo trong sản xuất Nếu chúng ta không quan tâm về các thế hệ tương lai, thì việc sử dụng tài nguyên không-tái tạo trong sản xuất sẽ không yêu cầu bất kỳ sự chú ý đặc biệt nào tới việc ra làm quyết định hiện thời Một cách tương đương, nếu những điều chúng ta làm hiện thời không có hàm ý gì cho các thế hệ tương lai, thì bất kể mối quan tâm đạo đức nào cho các thế hệ tương lai, sẽ không cần thiết phải nghĩ về các thế hệ đó trong việc quy hoạch

và làm quyết định hiện thời

Điều mà chúng ta đã chứng kiến nhiều ở đây là thậm chí nếu chúng ta giới hạn sự chú ý vào tiêu dùng, ‘mối quan tâm cho các thế hệ tương lai’ có thể có vô số biểu hiện, và không chuyển thành ràng buộc đơn giản đơn lên quy hoạch hiện thời Cũng cần phải nhận xét rằng trong việc giải thích này bằng cách sử dụng Hình 4.1 chúng ta đã giả định ẩn ý vô số các đường tiêu dùng thay thế nhau là khả thi, có thể thực sự được theo đuổi nếu được chọn Điều này, tất nhiên, trên thực thế không nhất thiết là đúng

Ví dụ, khi xét việc sử dụng các tài nguyên không-tái tạo trong sản xuất, một số người sẽ lý luận tiêu dùng cố định vĩnh viễn, tại bất kỳ tỷ lệ nào khác không, là không khả thi Chúng ta sẽ xét điều này và những vấn đề có liên quan dưới đây

Trước khi thực hiện điều đó chúng ta cần nhận xét tiêu dùng (hoặc lợi ích) cố định không là quan niệm duy nhất có thể cho bền vững Bảng 4.2 liệt kê sáu khái niệm được sử dụng và thảo luận một cách rộng rãi trong tài liệu nghiên cứu về bền vững

Bảng 4.2 Sáu khái niệm bền vững

1 Trạng thái bền vững là trạng thái trong đó lợi ích (hoặc tiêu dùng) không-giảm sút theo thời gian

2 Trạng thái bền vững là trạng thái trong đó tài nguyên được quản lý sao cho duy trì được các cơ hội sản xuất cho tương lai

3 Trạng thái bền vững là trạng thái trong đó kho vốn thiên nhiên không-giảm sút theo thời gian

4 Trạng thái bền vững là trạng thái trong đó các tài nguyên được quản lý sao cho duy trì năng suất bền vững của các dịch vụ tài nguyên

5 Trạng thái bền vững là trạng thái thỏa mãn các điều kiện tối thiểu cho sự phục hồi hệ sinh thái theo thời gian

6 Phát triển bền vững là xây dựng-đồng thuận và phát triển thể chế

Trang 21

Chúng ta sẽ thảo luận mỗi một trong những khái niệm được liệt kê trong Bảng 4.2 chi tiết trong phần còn lại của chương này Các khái niệm 1, 2, và 3 là kinh tế cơ bản về bản chất, và sẽ được thảo luận trong mục tiếp theo về ‘Các nhà kinh tế nói về bền vững’ Các khái niệm 4 và 5 được bắt nguồn

từ các nhà sinh thái học, và được trình bày trong Mục 4.3 dưới đây có tên là ‘Các nhà sinh thái nói về bền vững’ Lưu ý các khái niệm này không cần được coi là là loại trừ lẫn nhau Ví dụ, khái niệm thứ nhất phần lớn đòi hỏi khái niệm thứ hai, vì nếu lợi ích hoặc tiêu dùng không giảm, các tài nguyên phải được quản lý sao cho các cơ hội sản xuất được duy trì cho các thế hệ kế tiếp theo Khái niệm thứ tư là trường hợp đặc biệt của khái niệm thứ hai Một lần nữa, khái niệm thứ nhất dường như yêu cầu khái niệm thứ năm nếu chúng ta sử dụng quan điểm sản xuất và tiêu dùng không thể được duy trì theo thời gian với sự sụp đổ của hệ sinh thái

Không có khái niệm nào chỉ ra một cách tường minh thời hạn mà bền vững được vận hành Ngầm hiểu ai đó phải có trong đầu các khoảng thời gian dài cho ý tưởng bền vững để có được bản chất Nhưng điều này chỉ đi chệch hướng của cái được hiểu là dài hạn về thời gian Một số tác giả lựa chọn suy nghĩ

về những khoảng thời gian dài-vô hạn: trạng thái là bền vững nếu nó có khả năng được tái tạo vĩnh viễn Những tác giả khác nhận thức thiên niên kỷ hoặc tương tự: những khoảng thời gian trong đó tổng thể dân cư là xấp xỉ cố định về mặt di truyền học Tuy nhiên, không nhất thiết phải quyết định về khoảng thời gian đặc biệt bất kỳ nào: chúng ta có thể định nghĩa trạng thái bền vững như trạng thái trong đó một độ lớn thích hợp nào đó được truyền lại cho giai đoạn sau ít nhất trong trạng thái cũng tốt bằng giai đoạn khởi đầu Khi không có khoảng thời gian hữu hạn nào được đặt ra, điều này hàm ý ai

đó đang nghĩ về những khoảng thời gian vô hạn

3.2 Các nhà kinh tế nói về tính bền vững

Trong mục này chúng ta đưa ra cái nhìn tổng quan và xem trước cách thức mà các nhà kinh tế tiếp cận phân tích những vấn đề bền vững Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng và nghiêm ngặt hơn về nhiều vấn đề được xét sau này trong cuốn sách, và đặc biệt trong Phần IV

3.2.1 Các khái niệm kinh tế về bền vững

Trong mục trước của chương này chúng ta đã lưu ý hai khái niệm kinh tế về bền vững:

1 Trạng thái bền vững là trạng thái trong đó lợi ích/tiêu dùng không-giảm sút theo thời gian

2 Trạng thái bền vững là trạng thái trong đó các tài nguyên được quản lý sao cho duy trì được các cơ hội sản xuất cho tương lai

Một ví dụ của định nghĩa liên quan tới khái niệm thứ nhất là

Bền vững được định nghĩa như … lợi ích không-giảm sút của thành viên đại diện của xã hội cho hàng thiên niên kỷ trong tương lai

(Pezzey, 1992, tr 323)

Lưu ý rằng theo nghĩa của thuật ngữ trong Hộp 4.1 (được lấy từ Pezzey (1997)) điều này liên hệ tới

“được duy trì’ chứ không phải phát triển ‘bền vững’ Trên thực tế, trong bài báo Land Economics của

ông vào năm 1997, Pezzey phát biểu coi phát triển ‘bền vững’ chứ không phải ‘được duy trì’ như tiêu chuẩn thích hợp của bền vững Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế sẽ vẫn chọn lựa cái mà Pezzey 1997 gọi là ‘được duy trì’ là định nghĩa của bền vững, là khái niệm tập trung vào hành vi của lợi ích/tiêu dùng theo thời gian

Trong khi các khái niệm dựa-vào-lợi ích/tiêu dùng và dựa-vào-cơ hội bắt đầu từ những vị trí khác nhau, mà chúng kết thúc theo nghĩa phân tích hình thức đa số giống hệt nhau Điều này là vì đối với các nhà kinh tế các cơ hội có ý nghĩa là cơ hội tiêu dùng, do vậy nói rằng A có cũng những cơ hội như

Trang 22

B nhưng tiêu dùng khác nhau là nói rằng A có ưa thích khác B Tuy nhiên, trong hoàn cảnh các mô hình người tiêu dùng-đại diện hàng hóa-đơn, là những mô hình hay được sử dụng nhất cho phân tích những vấn đề phân phối giữa các khoảng thời gian, và do vậy là vấn đề bền vững, người ta giả thiết một cách tường minh rằng hàm lợi ích là giống hệt nhau qua các thế hệ Trong kiểu mô hình đơn giản như vậy, như chúng ta sẽ thấy khi thảo luận quy tắc Hartwick sau này trong mục này (và trong Chương 19), hóa ra tiêu dùng cố định và các cơ hội bằng nhau được liên kết với nhau ,không thể tách rời 3.2.2 Bền vững có khả thi hay không? Các khả năng thay thế

Chúng ta đã lưu ý rằng sắp đặt rõ ràng nhất cho phân tích bài toán bền vững là mô hình tài nguyên không-tái tạo, nhất thiết phải tồn tại khối lượng hữu hạn, được sử dụng trong sản xuất Với sự đặc trưng hóa bài toán như vậy, nhà kinh tế được nhận giải thưởng Nobel là Robert Solow đã phê phán những nhà môi trường chúng ta cần bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai Điều này

là một cách thức hẹp gây hại để đặt ra vấn đề Chúng ta không có trách nhiệm đối với những người hậu duệ của chúng ta để thừa hưởng một phần của tài nguyên này hay tài nguyên kia Trách nhiệm của chúng ta là năng lực sản xuất tổng quát hoặc, thậm chí rộng hơn, các tiêu chuẩn xác định khả năng có thể của tiêu dùng/sống theo thời gian

(Solow, 1986)

Trên thực tế Solow nói, cái mà những hậu duệ của chúng ta sẽ quan tâm, không là khối lượng ‘dầu’ trong lòng đất mà họ kế thừa từ chúng ta, mà đúng hơn là liệu họ có kế thừa công suất làm ra những thứ mà chúng ta đang làm bây giờ khi sử dụng ‘dầu’ Họ sẽ quan tâm tới các cơ hội tiêu dùng mà họ

kế thừa, chứ không phải các kho tài nguyên mà họ kế thừa

Để tạo ra sự phân biệt mà Solow làm, cần phải tin rằng chúng ta có thể để lại cho các hậu duệ của chúng ta cái gì đó thay thế cho các tài nguyên không-tái tạo Nếu chúng ta không thể truyền lại một hàng hóa thay thế, thì để thể hiện sự kính trọng với cam kết đạo đức của chúng ta mà Solow đã chấp nhận, phải để lại cho họ cùng những cơ hội tiêu dùng như của chính chúng ta, chúng ta có một trách nhiệm ‘truyền lại một phần của tài nguyên này hay tài nguyên nọ’

Những vấn đề cơ bản có thể được khám phá bên trong khung của mô hình tăng trưởng tối ưu đơn giản, trong đó sản xuất sử dụng một tài nguyên không-tái tạo, là điều được giới thiệu trong chương trước Hàm phúc lợi của mô hình này là

cần được tối đa tùy thuộc vào các ràng buộc

Khi thảo luận đường tiêu dùng tối ưu phát sinh trong chương trước, chúng ta đã nhận xét ‘hàm sản xuất

Trang 23

_ trong những điều kiện nào tiêu dùng cố định vĩnh viễn là có thể xảy ra, bất kể sản xuất sử dụng các đầu vào của tài nguyên không-tái tạo chỉ sẵn có với khối lượng có hạn?

Hình 4.2 cho biết các đường đẳng lượng cho ba định dạng hàm sản xuất Q  t Q(K t,R t), chỉ ra các khả năng có thể Đồ thị a tương ứng với:

Trong trường hợp này, tài nguyên là không-thiết yếu trong sản xuất Đối với R t  ,0 Q t K t, và bất

kỳ mức đầu ra nào có thể được sản xuất nếu có đủ vốn Sử dụng tài nguyên không-tái tạo trong sản xuất, trong trường hợp này, không có nghĩa là bền vững như tiêu dùng cố định là không khả thi Vốn

là một thay thế hoàn hảo cho tài nguyên không-tái tạo

Đồ thị c trên Hình 4.2 tương ứng với

Trong trường hợp này, Q bằng với bất cứ gì nhỏ hơn K , và R t Trong đồ thị c, khi đã biết, ví dụ, đầu vào tài nguyên R1, Q1 là đầu ra tối đa khả thi, tuy nhiên nhiều đầu vào vốn đã được sử dụng Trong trường hợp này, tài nguyên là thiết yếu trong sản xuất, và các khả năng thay thế là không-tồn tại Nếu

Trang 24

không có đầu vào tài nguyên, không có đầu ra Khi đã biết hàm sản xuất 4.6, kho tài nguyên khởi đầu đặt ra giới hạn trên cho khối lượng có thể được sử dụng và tiêu dùng _ tổng sản lượng theo toàn bộ thời gian không thể vượt quá S Bài toán phân phối giữa các khoảng thời gian bây giờ là chia sẻ sử dụng tài nguyên theo thời gian

Điều này thường được gọi là bài toán ‘ăn-chiếc bánh’ Nếu hàm sản xuất là 4.6, thì rõ ràng trong

mô hình đó các khả năng sản xuất được cho bởi các phương trình từ 4.2 tới 4.4, kích thước của S đặt

ra một giới hạn cho tổng khối lượng có thể được sử dụng theo toàn bộ thời gian Trong mô hình này không có các khả năng thay thế, và không có tiến bộ kỹ thuật _ khi tài nguyên được sử dụng hết, sản xuất, và do vậy tiêu dùng, hạ xuống không Về cơ bản, bài toán giữa các khoảng thời gian làm giảm việc chia phần tối ưu kho tài nguyên như giữa những người đang sống tại các thời điểm khác nhau Bài

toán với lời giải ‘tốt đẹp’ rõ ràng của các phần chia bằng nhau là S là hữu hạn, sao cho phạm vi quy

hoạch vô hạn được hiện thân trong phương trình 4.1 sẽ có nghĩa là các phần chia bằng nhau có kích thước là không _ một cái bánh hữu hạn không thể được chia thành vô hạn mảnh Nếu có một tài nguyên luôn là đầu vào thiết yếu cho sản xuất, và nếu không có khả năng thay thế cho tài nguyên đó, thì bài toán giữa các khoảng thời gian giản ước thành việc làm cho tài nguyên kéo càng dài càng tốt bởi tiêu thụ, tại mỗi thời điểm, và càng ít càng tốt phù hợp với sự sống còn

Với phương trình 4.5 như hàm sản xuất, trường hợp được chỉ ra trên đồ thị a của Hình 4.2, bài toán giữa các khoảng thời gian được đặt ra bởi sự sử dụng của tài nguyên không-tái tạo trong sản xuất là tầm thường _ tiêu dùng cố định vĩnh viễn không yêu cầu một sự chú ý đặc biệt tới tỷ lệ mà tài nguyên được sử dụng Với phương trình 4.6 như hàm sản xuất, trường hợp được chỉ ra trên đồ thị c của Hình 4.2, bài toán là không thể giải _ không có mẫu hình nào của sử dụng tài nguyên theo thời gian có thể làm cho tiêu dùng cố định vĩnh cửu thành khả thi Sự lưu ý của Solow được trích dẫn ở trên không áp cho tình huống này hay tình huống kia trong những tình huống này ) trong trường hợp trước bảo tồn là không cần thiết, trong trường hợp sau các thế hệ tương lai sẽ quan tâm tới việc chúng ta để lại bao nhiêu kho tài nguyên cho họ để sử dụng Trong khi đưa ra sự lưu ý này, Solow, giống như đa số các nhà kinh tế, giả thiết do vậy bài toán phân phối giữa các khoảng thời gian là không tầm thường nhưng

có lời giải Ông giả thiết trong khi các đầu ra khác-không yêu cầu đầu vào tài nguyên khác-không, vốn

có thể thay thế cho tài nguyên trong sản xuất

Đồ thị b trên Hình 4.2 cho biết các đường đẳng lượng cho một hàm sản xuất như vậy Chúng được lấy là

là hàm sản xuất Cobb-Douglas với giao hoàn không đổi theo quy mô Đối với hàm sản xuất này, có thể chỉ ra được là nếu   thì tiêu dùng cố định vĩnh viễn là khả thi Rõ ràng, nếu trong phương trình 

4.7, R được đặt bằng 0, thì t Q là 0 _ tài nguyên là thực chất trong sản xuất Tuy nhiên, khi đã cho đủ t

K , và   , mỗi mức đầu ra cao có thể được sản xuất với các mức đầu vào tài nguyên rất nhỏ, và 

tồn tại một chương trình tích lũy vốn sao cho R1 không khi nào thực sự trở thành 0 (nó tiệm cận tới không) và tiêu dùng có thể được duy trì cố định vĩnh viễn

Bản chất của chương trình tích lũy vốn này, là điều có được từ quy tắc Hartwick, sẽ được thảo luận trong mục con tiếp theo Điểm quan trọng từ mục con đó là quy tắc Hartwick là cần nhưng không là đủ cho bền vững như tiêu dùng cố định trong đó sản xuất thực sự sử dụng đầu vào tài nguyên không-tái tạo Ví dụ, nếu hàm sản xuất là vai trò 4.6, việc suy ra từ quy tắc Hartwick sẽ không tạo ra tiêu dùng

cố định vĩnh cửu Nó cũng sẽ không thế nếu hàm sản xuất là phương trình 4.7 với  Đa số các 

nhà kinh tế theo Solow trong việc chấp nhận quan điểm rằng, trên thực tế, các khả năng thay thế là sao

Trang 25

cho bền vững như tiêu dùng cố định vĩnh viễn (hoặc ít nhất cho khoảng thời gian rất dài) là , do vậy quy tắc Hartwick là thích hợp ở mức cao với chi phí thực tế

3.2.3 Quy tắc Hartwick

John Hartwick (1977, 1978) đã tìm kiếm để chỉ ra các điều kiện trong đó tiêu dùng cố định có thể được duy trì vĩnh viễn, khi đã cho sử dụng thiết yếu trong sản xuất của đầu vào từ một kho dự trữ hữu hạn của một tài nguyên không-tái tạo Ông đã giả thiết các điều kiện sản xuất là như trong các phương trình

từ 4.2 tới 4.4 ở đây, với hàm sản xuất có dạng của phương trình 4.7 với   Trong những điều kiện như vậy, ông đã chỉ ra rằng tiêu dùng cố định sẽ là kết cục nếu một quy tắc tiết kiệm/đầu tư đặc biệt, bây giờ được biết dưới cái tên ‘quy tắc Hartwick’, được theo đuổi trong một nền kinh tế trong đó sự cạn kiệt tài nguyên thỏa mãn các điều kiện cho hiệu quả giữa các khoảng thời gian Từ đó đã được chỉ

ra là ‘quy tắc Hartwick’ ‘làm việc’, tức là dẫn tới tiêu dùng cố định, trong những, trong đó, ví dụ, một vài kiểu tài nguyên không-tái tạo được sử dụng trong sản xuất, miễn là tất cả được cạn kiệt một cách hiệu quả Cần thiết phải nhấn mạnh là trong tất cả các trường hợp quy tắc Hartwick là nhưng không phải là đủ _ suy ra nó sẽ thực hiện tiêu dùng cố định chỉ nếu như các điều kiện hiệu quả giữa các khoảng thời gian được thỏa mãn, và nếu tính bền vững như tiêu dùng cố định là khả thi, tức là nếu các khả năng thay thế như giữa vốn và tài nguyên là đủ lớn

Ở đây chúng ta thảo luận quy tắc Hartwick cho trường hợp trong đó chỉ có một tài nguyên tái tạo được sử dụng trong sản xuất Chúng ta giả thiết các điều kiện hiệu quả giữa các khoảng thời gian được thỏa mãn Bản chất tổng quát của những điều kiện này được giới thiệu và giải thích trong Chương

không-11, và Phần IV làm việc nhiều với cách thức chúng được áp dụng cho khai thác các tài nguyên thiên nhiên Còn bây giờ chúng ta có thể nói rằng việc giả thiết chúng được thỏa mãn trong mối quan hệ tới sắp đặt của chúng ta _ sử dụng tài nguyên không-tái tạo đơn trong sản xuất _ là tương đương với giả thiết tài nguyên được khoan hút bởi các công ty cạnh tranh hoàn hảo với dự báo hoàn hảo, và nền kinh

tế như một tổng thể cũng cạnh tranh một cách hoàn hảo

Quy tắc Hartwick là tại mỗi thời điểm tổng tô kinh tế phát sinh trong công nghiệp khoan hút tài nguyên phải được tiết kiệm và đầu tư vào vốn có thể tái sản xuất Theo nghĩa mô hình, là các phương

trình từ 4.2 tới 4.4, quy tắc này là K phải bằng tổng tô kinh tế phát sinh trong công nghiệp khoan hút

tài nguyên Tô kinh tế đơn vị là khác biệt giữa giá tại đó một đơn vị tài nguyên được khoan hút bán ra

và chi phí cận biên của khoan hút Về thực chất, đó là giá trị khan hiếm của tài nguyên, là vấn đề sẽ được xem xét kỹ lưỡng trong Phần IV, tăng lên khi tài nguyên bị cạn kiệt phù hợp với một chương trình hiệu quả Tổng tô kinh tế đơn giản là tô kinh tế đơn vị nhân với số đơn vị được khoan hút Như

sẽ được thảo luận trong Chương 19, hóa ra là theo đuổi quy tắc Hartwick có nghĩa là tổng giá trị của kho dự trữ vốn tái sản xuất của nền kinh tế cùng chỗ với dự trữ tài nguyên không-tái tạo của nó được giữ cố định theo thời gian _ vì giá trị của dự trữ tài nguyên còn lại giảm xuống, do vậy giá trị của kho

dự trữ vốn tái sản xuất tăng lên với một khối lượng đủ bù đắp Mức tiêu dùng cố định có được từ việc theo đuổi quy tắc Hartwick có thể được nghĩ là giống với lãi suất của kho tổng số tài sản cố định 3.2.4 Bền vững yếu và mạnh

Trong một số đóng góp cho tài liệu nghiên cứu bền vững có sự phân biệt giữa ‘bền vững yếu’ và

‘bền vững mạnh’ Trên thực tế, điểm cần chú ý liên quan tới các quan điểm khác nhau về các điều kiện cần đáp ứng để hiện thực hóa bền vững như là tiêu dùng (hoặc lợi ích) cố định chứ không phải khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau của bền vững Các đề xuất bền vững yếu lẫn mạnh đều coi tiêu dùng (hoặc lợi ích) cố định là điều mà bền vững phải là Chúng khác nhau ở điều cần thiết để hiện thực hóa bền vững, và sự khác biệt thực tế là các khả năng thay thế Theo nghĩa các hàm sản xuất vừa được xem xét, ‘bền vững yếu’ biện minh rằng trạng thái của thế giới được nắm bắt hiệu quả bởi phương trình 4.7

Trang 26

với   (hoặc thậm chí phương trình 4.5), trong khi ‘bền vững mạnh’ coi phương trình 4.6 là thích hợp hơn

Như đã được phát triển trong tài liệu nghiên cứu, tranh luận bền vững yếu đối chọi với mạnh sử dụng rộng rãi khái niệm ‘vốn tự nhiên’, là khái niệm mà chúng ta bây giờ sẽ giải thích Tiềm năng sản xuất tại bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào kho tài sản sản xuất sẵn có cho sử dụng Kho này có thể được phân loại thành lao động con người và tất cả các tài nguyên sản xuất khác Bây giờ chúng ta hãy định nghĩa thuật ngữ ‘vốn’ theo nghĩa rộng bao hàm bất kỳ kho hữu ích nào về mặt kinh tế, khác với sức mạnh lao động thô Theo nghĩa rộng này, vốn bao gồm:

(a) Vốn tự nhiên: bất kỳ kho được cung cấp một cách tự nhiên như lớp nước ngầm, các hệ thống nước, đất màu mỡ, dầu thô và khí đốt, rừng, đàn cá, và các kho sinh khối khác, vât liệu gen, và bản thân bầu khí quyển của trái đất Chúng ta đã thảo trong Chương 2, các dịch vụ mà môi trường tự nhiên cung cấp cho nền kinh tế Nói về ‘vốn tự nhiên’ là một cách thức để nói tới sự thu thập các tài sản môi trường từ đó tất các các dịch vụ như vậy có được

(b) Vốn vật chất: nhà máy, trang thiết bị, nhà xưởng và các cơ sở hạ tầng khác, được tích lũy bởi việc dành một phần sản xuất hiện thời cho đầu tư vốn

(c) Vốn con người: các kho kỹ năng học được, hiện thân trong các cá nhân cụ thể, là cải thiện tiềm năng sản xuất của những người đó

(d) Vốn trí tuệ: các kỹ năng và kiến thức được tách rời Vốn này bao gồm kho kiến thức hữu ích, chúng

ta có thể gọi khác đi là trạng thái công nghệ Những kỹ năng này được tách rời ở chỗ chúng không

cư trú trong các cá nhân cụ thể, mà là một phần của văn hóa xã hội Chúng thể hiện trong các cuốn sách và các công trình văn hóa khác, được chuyển đổi và phát triển thông qua thời gian bởi các quá trình học tập xã hội

Nếu vốn được con-người-làm-ra được định nghĩa là tổng số vốn vật chất, con người và trí tuệ, thì tổng kho dự trữ của kho vốn có thể được nhìn nhận như bao gồm hai phần: vốn tự nhiên và vốn do-người-làm-ra Vốn do-người-làm-ra đôi khi được coi là vốn có thể tái-sản xuất

Cách phân loại các đầu vào sản xuất này dẫn tới việc viết hàm sản xuất của nền kinh tế trong dạng đại diện tóm tắt sau:

trong đó L đại diện cho lao động, K vốn tự nhiên và N K H vốn do-con-người-làm-ra Lưu ý rằng chúng ta đã định nghĩa công nghệ như bộ phận của K H sao cho việc xây dựng công thức không cho phép bản thân hàm này thay đổi với thay đổi công nghệ Bên trong khung này, khác biệt giữa các nhà bền vững yếu và mạnh quay sang việc họ suy xét cái gì là phạm vi của các khả năng thay thế giữa K N

K H

Khác biệt vận hành là các đề xuất của bền vững mạnh cho rằng bền vững yêu cầu mức K không- N

giảm sút, trong khi các đề xuất bền vững yếu lập luận rằng nó yêu cầu tổng K và N K H phải là giảm sút Rõ ràng, quay ngược trở lại mục trước đây, Solow và Hartwick là các nhà bền vững yếu Đa

không-số, nhưng không phải tất cả, các nhà kinh tế là nhà bền vững yếu Bền vững như K không-giảm sút N

là khái niệm thứ ba được phân biệt trong Bảng 4.2 Khi mà lý luận của họ còn có thể được tung ra trong khung này, đa số, nhưng không phải tất cả, các nhà sinh thái là nhà bền vững mạnh _ trên thực tế, họ cho rằng các khả năng để thay thế K H cho K là khá hạn chế N

Trang 27

Các nhà kinh tế có xu hướng nghĩ về các mối đe dọa bền vững như là tiêu dùng cố định chủ yếu theo nghĩa các đầu vào tài nguyên tự nhiên cho sản xuất và sự làm kiệt quệ dự trữ tài nguyên thiên nhiên có thể xảy ra Trong hoàn cảnh xét đoán của họ cho rằng K H có thể được thay thế cho K phải N

được hiểu biết Kinh nghiệm lịch sử có xu hướng hỗ trợ ý tưởng tích lũy vốn vật chất, con người và trí tuệ có thể đền bù cho bất kỳ vấn đề nào phát sinh như các kho tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Một điều cũng đúng là có nhiều cơ hội cho thay thế như giữa các sự kiện của lớp tài nguyên tự nhiên tổng quát _ ví dụ, bauxite cho đồng đỏ

Đối với việc hỗ trợ-cuộc-sống và dịch vụ tiện nghi mà vốn tự nhiên cung cấp, như được thảo luận trong Chương 2, dường như có cơ sở cho sự lạc quan về phạm vi mà vốn do-con-người-làm-ra có thể thay thế cho vốn tự nhiên Như con tàu không gian đã thể hiện, có thể sử dụng K H để cung cấp các dịch vụ hỗ-trợ-cuộc-sống cần thiết như kiểm soát nhiệt độ, không khí để thở, vân vân nhưng chỉ trong một phạm vi nhỏ Cũng đã biểu diễn được, hoặc thâm chí lý luận một cách nghiêm ngặt, rằng vốn do-con-người-làm-ra có thể thay thế vốn tự nhiên trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ-cuộc sống cho vài tỷ người Đối với dịch vụ tiện nghi, một số chấp nhận quan điểm rằng sự thiếu thốn tiếp xúc với môi trường tự nhiên làm mất tính người, và sẽ lý luận rằng trong hoàn cảnh này chúng ta, như vấn đề đạo đức, cần coi các khả năng thay thế K H cho K bị hạn chế N

Rõ ràng, vấn đề bền vững yếu đối chọi với mạnh có nhiều-mặt, và không cho phép các câu trả lời chính xác chắc chắn, ngoài trừ trong các hoàn cảnh đặc biệt Không có câu trả lời cho câu hỏi tổng quát: K H thay thế cho K được bao xa? Và trong một số sự kiện, câu trả lời mang cả tính chất của N

vấn đề thị hiếu và/hoặc đạo đức cũng như vấn đề của khoa học và công nghệ

3.3 Các nhà sinh thái nói về tính bền vững

Bảng 4.2 đã chỉ ra, bởi các con số 4 và 5, hai khái niệm bền vững được bắt nguồn từ các nhà sinh thái Trong mục này chúng ta sẽ xem xét hai khái niệm đó, và ý tưởng có liên quan về nền kinh tế trạng thái-

ổn định Chúng ta cũng sẽ thực hiện một số quan sát về tiếp cận tổng quát tới chính sách thường được biện hộ bởi các nhà sinh thái

3.3.1 Năng suất bền vững

Như đã được thảo luận trong Chương 2, các tài nguyên có thể tái tạo là các tổng thể sinh học _ động vật và thực vật _ trong đó kho tồn tại tại một thời điểm có tiềm năng tăng trưởng bởi các phương tiện tái sản xuất Nếu trong bất kỳ giai đoạn nào thu hoạch tài nguyên mang lại cho nền kinh tế nhỏ hơn tăng trưởng tự nhiên, kích thước kho tăng trưởng Nếu thu hoạch lớn hơn tăng trưởng tự nhiên, kích thước kho giảm xuống Nếu tăng trưởng được giữ lớn hơn tăng trưởng tự nhiên trong các giai đoạn kế tiếp nhau, kích thước kho sẽ liên tục giảm xuống và nó có thể được thu hoạch tới mức tiệt chủng _ các tài nguyên có thể tái tạo bị ‘kiệt quệ’ Nếu thu hoạch có cùng kích thước như tăng trưởng tự nhiên, kích thước kho là cố định và nếu thu hoạch luôn như tăng trưởng tự nhiên, tài nguyên có thể được sử dụng

vô hạn tại một tỷ lệ cố định Tỷ lệ thu hoạch như vậy thường được coi là ‘năng suất bền vững’, vì, khi thiếu vắng các cú sốc ngoại sinh, nó có thể được duy trì, hoặc được giữ vững một cách vô hạn

Đối với phần nhiều người đến với quản lý tài nguyên thiên nhiên từ nền tảng sinh thái, rõ ràng rằng tỷ

lệ thu hoạch đúng đắn là một năng suất bền vững Nói chung điều đó được hiểu là, khi mọi thứ khác giữ nguyên như cũ, tăng trưởng tự nhiên thay đổi với kích thước kho Ý tưởng cơ bản, sẽ được giải thích chi tiết hơn trong Chương 17, như sau Khi dân số nhỏ nó khai thác dưới mức môi trường của nó

và có thể tăng trưởng nhanh Khi dân số gia tăng, do vậy làm giảm tốc độ tăng trưởng tỷ lệ tăng trưởng,

và tiến tới không khi dân số hoàn toàn khai thác môi trường Khối lượng tăng trưởng tuyệt đối _ số cá nhân, hoặc quần chúng nhân dân _ đầu tiên tăng lên, chững lại, và sau đó hạ xuống không Điều này

Trang 28

được chỉ ra trên Hình 4.3, trong đó kích thước kho S được đo dọc theo trục hoành và tăng trưởng tuyệt

đối G (S) được đo lường theo trục tung Đường cong G (S) là đồ thị cả tăng trưởng tuyệt đối lẫn thu hoạch bền vững Do vậy, ví dụ, khi đã cho kích thước kho S , t H là năng suất bền vững tương ứng, t

trong khi H2 lớn hơn năng suất đó và sẽ làm giảm kích thước kho

Khối lượng tăng trưởng tối đa G(S*) xảy ra khi kích thước kho là S*, và thu hoạch vừa đạt khối lượng tăng trưởng tối đa H , được biết dưới tên gọi ‘năng suất bền vững tối đa’ * H là thu hoạch lớn *nhất phù hợp với kích thước kho không-giảm sút và, do vậy, có thể được duy trì vĩnh viễn Đối với nhiều nhà sinh thái, điều hiển nhiên là tỷ lệ thu hoạch lý tưởng cho tài nguyên có thể tái tạo sẽ là năng suất bền vững tối đa Như chúng ta sẽ thấy trong Chương 17, điều này không nhất thiết là kết luận mà phân tích kinh tế dẫn tới, và, trên thực tế, thu hoạch năng-suất-bền-vững-tối-đa là hiệu quả về mặt kinh

tế chỉ trong những tình huống rất đặc biệt Trong một số tình huống, thậm chí không đáng mong muốn, theo tiêu chuẩn kinh tế, để thu hoạch trên cơ sở năng suất-bền vững

Một số nhà sinh thái giữ quan điểm bền vững cần phải được định nghĩa như một tình trạng trong

đó tất cả các kho tài nguyên khai thác bởi nền kinh tế được thu hoạch một cách bền vững Lưu ý rằng nếu điều này thực hiện, các kích thước của mỗi kho tài nguyên sẽ cố định theo thời gian, và trong ngôn ngữ được giới thiệu ở chương trước, vốn tự nhiên sẽ được duy trì không động tới Lưu ý tiếp theo rằng trong những tình huống như vậy, sử dụng nó sẽ được duy trì không động chạm tới sẽ là không mơ hồ

vì mỗi kho sẽ tự thân là cố định về kích thước _ sẽ không có nhu cầu sử dụng các trọng số để tổng hợp qua các kho giảm xuống và tăng lên

Nơi mà nền kinh tế khai thác các tài nguyên tự nhiên không-tái tạo, như tất cả các nền kinh tế đang làm, quan niệm bền vững này sẽ gặp phải khó khăn lớn Đối với các tài nguyên không-tái tạo, tăng trưởng tự nhiên là không, do vậy chỉ có tỷ lệ thu hoạch bền vững duy nhất cho tài nguyên không-tái tạo là không Một cách để tránh khó khăn này đã được đề xuất là yêu cầu khi kho tài nguyên không-tái tạo giảm xuống, một phần tiền phát sinh được sử dụng để tạo ra công suất cung cấp những hàng thay thế cho tài nguyên này Do vậy, ví dụ, lý lẽ sẽ là khi kho dự trữ dầu bị cạn kiệt, một phần tô kinh tế phát sinh sẽ được chi cho nghiên cứu và phát triển để làm năng lượng mặt trời trở nên sẵn có với chi phí thấp Nếu tất cả tài nguyên tái tạo được khai thác trên cơ sở năng suất-bền vững, và nếu công suất phân phát luồng dịch vụ cố định dựa trên khai thác không-tái tạo được duy trì, thì, theo quan điểm này, chúng ta có thể nói chúng ta ở trong trạng thái bền vững Lưu ý những điều tương tự ở đây với quan niệm kinh tế đôi khi có tên gọi ‘bền vững yếu’ _ tính khả thi yêu cầu tính thay thế đủ, và việc hiện thực hóa yêu cầu hành vi tiết kiệm và đầu tư thích hợp

3.3.2 Khả năng phục hồi

Trang 29

Khoa học sinh thái xem xét vấn đề đối tượng của nó bên trong viễn cảnh hệ thống Toàn bộ hệ thống _ sinh quyển _ bao gồm tập các hệ con sinh thái hoặc các hệ sinh thái cài lẫn vào nhau Các nhà phân tích hệ thống quan tâm tới các đặc tính và cấu trúc tổ chức, và với động học hệ thống _ các quá trình tiến hóa và thay đổi

Các nhà sinh thái nhìn nhận bền vững từ quan điểm của hệ thống sinh thái trong đó con người chỉ

là một bộ phận Bền vững được đánh giá theo nghĩa phạm vi trong đó cấu trúc và các thuộc tính thịnh hành của hệ sinh thái có thể được duy trì Các lợi ích con người không được coi là tối cao; đúng hơn

là, chúng được nhận biết với việc tiếp tục sự tồn tại và hành động của sinh quyển dưới một dạng ít hay nhiều tương tự với điều đang tồn tại tại hiện tại Do vậy:

3.3.3 Nền kinh tế trạng thái-ổn định

Khi viết vào buổi đầu của những năm 1970, trước khi xuất hiện các khái niệm ‘bền vững’ và ‘phát triển bền vững’, Herman Daly đã lý luận cho ý tưởng ‘nền kinh tế trạng thái-ổn định’ (ví dụ, xem Daly,

1973, 1974) Các lý lẽ của Daly được dựa trên các định luật nhiệt động học, và nền kinh tế trạng

thái-ổn định của ông có nhiều điểm chung với ‘Trái đất con tàu không gian’ của Boulding, được xem xét trong Hộp 1.1, Chương 1

Nhớ lại rằng trong nền kinh tế con tàu không gian của Boulding, tái sản xuất vĩnh viễn của hệ thống kinh tế-vật lý (con tàu không gian) yêu cầu phải đạt được trạng thái ổn định trong đó các luồng chất thải từ sản xuất và tiêu dùng phải bằng với công suất tái chế của hệ thống Tái sản xuất của con tàu không gian như một hệ thống hành động theo thời gian hàm ý các luồng chất thải không thể được loại

bỏ vào không gian bên ngoài thông qua khóa không khí, vì điều đó sẽ dẫn tới cạn kiệt dần dần cơ sở tài nguyên vật chất mà con tàu không gian dựa vào Vì công suất tái chế cực đại của hệ thống được xác định bởi luông (cố định) của năng lượng tới là năng lượng được khai thác từ các nguồn đặc quyền (extraterritorial sources), do vậy trong trạng thái ổn định này phải có một tỷ lệ sử dụng vật chất bền vững tối đa trong nền kinh tế

Nền kinh tế trạng thái-ổn định của Daly, được mô tả trong Hộp 4.2, tương tự, và ông đôi khi coi nó như ‘con tàu không gian’ Mặc dù được đưa vào trong mục này như nhà sinh thái, Daly được đào tạo _ cũng như Boulding _ như một nhà kinh tế Daly đã bị ảnh hưởng lớn bởi Georgescu-Roegen (xem Chương 2), là người đã bắt đầu có sự nghiệp hàn lâm như nhà vật lý trước khi trở thành nhà kinh tế và giới thiệu những người đồng nghiệp mới của ông các định luật nhiệt động học và các hàm ý kinh tế của chúng Boulding, Georgescu-Roegen và Daly tất cả đã có thể được coi như những nhà kinh tế sinh thái,

ở chỗ, mối quan tâm chính của họ với các hàm ý cho kinh tế học về sự kiện nền kinh tế và môi trường

là các hệ thống phụ thuộc lẫn nhau, hành vi chung của chúng là tùy thuộc vào các định luật tự nhiên Điều này xác định các khái niệm bền vững phát sinh từ công trình của họ Lưu ý rằng, như được chỉ ra trong Hộp 4.2, Daly đề cập một cách tường minh tới vấn đề thay thế Giống như đa số những người đã tiếp cận tới khả năng thay thế từ một viễn cảnh sinh thái, và tương phản với đa số các nhà kinh tế, Daly nhìn nhận các viễn cạnh hạn chế cho thay thế vốn con người với vốn tự nhiên Do vậy lý lẽ cho giữ gìn vốn tự nhiên Tiếp cận sinh thái tới bền vững về cơ bản là loại bền vững ‘mạnh’

Trang 30

CHƯƠNG 4: KINH TẾ PHÚC LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG

PHẦN 1 HIỆU QUẢ VÀ TỐI ƯU

Trong phần này, và tiếp theo của chương này chúng ta, sử dụng kết quả của các tài liệu nghiên cứu kinh tế học phúc lợi, coi ‘tài nguyên’ một cách tổng quát như các đầu vào cho sản xuất chứ không chuyên về khoan hút từ môi trường tự nhiên cho sử dụng sản xuất

Trên thực tế, trong những phần này của chương, khi chúng ta nói về tài nguyên, hoặc ‘tài nguyên sản xuất’ chúng ta sẽ có tư tưởng thường làm điều đó một cách tường minh, các đầu vào vốn và lao động cho sản xuất

Tại bất kỳ thời điểm nào, nền kinh tế sẽ tiếp cận các khối lượng cụ thể của tài nguyên sản xuất Cá nhân có ưa thích các loại hàng hóa khác nhau khả thi để sản xuất khi sử dụng các tài nguyên sẵn có Một ‘phân bổ tài nguyên’, hoặc chỉ là ‘phân bổ’, mô tả những hàng hóa nào được sản xuất và chúng được sản xuất với khối lượng bao nhiêu, các tổ hợp đầu vào tài nguyên nào được sử dụng trong sản xuất những hàng hóa đó, và đầu ra của những hàng hóa đó được phân phối như thế nào giữa mọi người Trong mục này, và mục tiếp theo, chúng ta đưa ra hai giả thiết, sẽ được nới lỏng trong phần ba của chương này Thứ nhất, không tồn tại các ngoại ứng trong tiêu dùng hoặc sản xuất; nói đại khái điều này

có nghĩa là các hoạt động tiêu dùng và sản xuất không có tác động chủ ý và không được đền bù lên những người khác Thứ hai, tất cả các hàng hóa được sản xuất và dịch vụ là hàng hóa tư dụng (chứ không phải hàng hóa công cộng); nói đại khái điều này nghĩa là tất cả đầu ra có các đặc tính cho phép tiêu dùng cá nhân có loại trừ trong phần của chủ sở hữu

Vì mục đích đơn giản hóa, nhưng không mất tính tổng quát, chúng ta đơn giản hóa bài toán tới bản

chất tối thiểu nhất của nó Nền kinh tế của chúng ta bao gồm hai cá nhân (A và B); hai hàng hóa (X và

Y) được sản xuất; và mỗi hàng hóa sử dụng hai đầu vào (K cho vốn và L cho lao động) với một khối

lượng cố định sẵn có

Ký hiệu U là tổng lợi ích cá nhân, là đại lượng chỉ phụ thuộc vào khối lượng hai hàng hóa mà anh

ta hoặc chị ta tiêu dùng Khi đó có thể viết các hàm lợi ích cho A và B dưới dạng phương trình 5.1:

Tổng lợi ích cá nhân A hưởng thụ được ký hiệu là U A, phụ thuộc vào các khối lượng X và A Y A

mà anh ta hoặc chị ta tiêu dùng Một phát biểu tương đương có thể cho lợi ích của B Tiếp theo, chúng

ta giả sử khối lượng được sản xuất ra của X chỉ phụ thuộc vào các khối lượng đầu vào K và L dùng

để sản xuất X , và khối lượng sản xuất ra của hàng hóa Y chỉ phụ thuộc vào khối lượng đầu vào K và

L ùng để sản xuất Y Do vậy, chúng ta có thể viết hai hàm sản xuất dưới dạng 5.2:

Mỗi hàm sản xuất chỉ ra các mức đầu ra thay đổi như thế nào khi khối lượng của hai đầu vào thay đổi Khi làm điều đó, hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất được giả thiết đã cho Hàm sản xuất mô tả đầu ra phụ thuộc như thế nào vào các tổ hợp đầu vào, khi đã biết các đầu vào đơn giản không bị lãng phí Hãy xét một tổ hợp đầu vào cụ thể K1XL1X với X1 được cho bởi hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật có nghĩa

là để sản xuất nhiều X hơn cần thiết phải sử dụng nhiều K và/hoặc X L hơn X

Trang 31

Lợi ích cận biên mà A lấy được từ tiêu dùng hàng hóa X được ký hiệu là A

X

U ; tức là

A A

MP  / Ký hiệu tương đương được áp dụng cho ba sản phẩm cận biên khác

Tỷ lệ thay thế lợi ích cận biên cho A là tỷ lệ tại đó X có thể được thay thế cho Y tại mức cận biên,

hoặc ngược lại, trong khi giữ cho mức lợi ích của A là cố định Nó thay đổi với các mức tiêu dùng của

X và Y và được cho bởi độ dốc của đường bàng quan Chúng ta ký hiệu tỷ lệ thay thế cận biên của A

MRUS , và tương tự cho B A

Tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên giữa K và L trong sản xuất X là tỷ lệ tại đó K có thể được thay

thế cho L tại mức cận biên, hoặc ngược lại, trong khi giữ cho mức đầu ra của X là cố định Nó thay

đổi với các mức đầu vào cho K và L và được cho trước bởi độ dốc của đường đẳng lượng Chúng ta

ký hiệu tỷ lệ thay thế cận biên trong sản xuất X là MRTS X, và tương tự cho Y

Tỷ lể biến đổi cận biên cho các hàng hóa X và Y là tỷ lệ tại đó đầu ra của một hàng hóa có thể

được biến đổi thành hàng hóa kia bởi dịch chuyển cận biên vốn hoặc lao động từ một dây truyền sản xuất sang dây chuyền sản xuất khác Bởi vậy, MRT L là gia tăng trong đầu ra Y có được bằng cách dịch

chuyển một lượng nhỏ, một cách chặt chẽ là vô cùng nhỏ, của lao động từ sử dụng cho sản xuất X

sang sử dụng trong sản xuất Y , hoặc ngược lại Tương tự, MRT K là gia tăng đầu ra Y có được bởi

dịch chuyển một lượng nhỏ, chính xác là vô cùng nhỏ, của vốn từ sử dụng trong sản xuất X sang sử

dụng trong sản xuất Y , hoặc ngược lại

Với ký hiệu này chúng ta bây giờ có thể phát biểu, và cung cấp những lời giải thích trực giác các điều kiện đặc trưng cho các phân bổ hiệu quả và tối ưu Phụ lục 5.1 sử dụng lời giải tối ưu có ràng buộc (là điều đã được nghiên cứu trong Phụ lục 3.1) để rút ra những điều kiện này một cách hình thức 4.1 Hiệu quả kinh tế

Một phân bổ tài nguyên được nói là là hiệu quả nếu không thể làm cho một hoặc nhiều người tốt hơn hẳn mà không làm cho ít nhất một người nào khác bị xấu đi hẳn Ngược lại, phân bổ là không hiệu quả nếu có khả năng cải thiện vị thế của ai đó mà không làm xấu vị thế của bất kỳ người nào khác Lợi ích thu được bởi một hoặc nhiều người mà không ai phải bị thiệt được biết là cải thiện Pareto Khi tất cả những lợi ích thu được như vậy được thực hiện, phân bổ tạo thành đôi khi được coi là tối ưu Pareto, hay hiệu quả Pareto Một trạng thái trong đó không có khả năng cải thiện Pareto đôi khi được coi là hiệu quả về mặt phân bổ, chứ không chỉ là hiệu quả, để phân biệt vấn đề hiệu quả trong phân bổ với vấn đề hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất

Hiệu quả trong phân bổ yêu cầu ba điều kiện hiệu quả phải được hoàn thành _ hiệu quả trong tiêu dùng, hiệu quả trong sản xuất, và hiệu quả sản phẩm-hỗn hợp

4.1.1 Hiệu quả tiêu dùng

Hiệu quả tiêu dùng yêu cầu tỷ lệ thay thế lợi ích cận biên cho hai cá nhân phải bằng nhau:

trên bên phải, có nhãn là A , là vị thể trong đó A không nhận được gì của biến 0 X hoặc Y , và B nhận

được tất cả khối lượng của hai hàng hóa Góc dưới bên trái B là vị thế khi B không nhận được gì và 0

Trang 32

A nhận được mọi thứ Bắt đầu từ A dịch chuyển theo chiều ngang về phía trái sẽ đo lường tiêu dùng 0

X của A và dịch chuyển theo chiều thẳng đứng xuống phía dưới sẽ đo lường tiêu dùng Y của A Khi

tiêu dùng một hàng hóa của A tăng lên, việc tiêu dùng hàng hóa đó của B phải giảm xuống Bắt đầu từ 0

B dịch chuyển theo chiều ngang sang bên phải sẽ đo lường tiêu dùng X của B, và dịch chuyển theo

chiều thẳng đứng lên trên sẽ đo lường tiêu dùng Y của B Bất kỳ phân bổ nào của X và Y giữa A và

B được chỉ ra cách duy nhất bởi một điểm trong hộp SA0TB0 Tại điểm a, ví dụ, A đang tiêu dùng

Xa

A

A0 đơn vị hàng hóa X và A0A Ya đơn vị hàng hóa Y , và B đang tiêu dùng B0B Xa đơn vị hàng hóa

X và B0B Ya đơn vị hàng hóa Y

Điểm a này được chỉ ra đang nằm trên I A I A, là đường bàng quan cho cá nhân A I A I A có thể trông

lạ mắt đối với đường bàng quan, nhưng nó được dựa trên tham chiếu tới gốc tọa độ cho A, là điểm A0

Hai đường bàng quan cho B, I B 0 B I 0 và I B 1 B I 1 cũng được chỉ ra Hãy xét tái phân bổ giữa A và B, bắt đầu từ điểm và dịch chuyển dọc theo I A I A, sao cho A từ bỏ X và nhận Y , trong khi B nhận X và từ

bỏ Y Khởi đầu, điều này có nghĩa là lợi ích gia tăng cho B, dịch chuyển tới đường bàng quan cao hơn,

và lợi ích không đổi cho A Tuy nhiên, ngoài điểm b bất kỳ các tái phân bổ tiếp theo như vậy sẽ liên quan tới lợi ích giảm sút cho B Điểm b chỉ ra tình huống trong đó không có khả năng làm cho cá nhân

B tốt hơn hẳn trong khi duy trì lợi ích của A cố định _ nó đại diện cho một phân bổ hiệu quả của các khối lượng đã cho của X và Y giữa A và B Tại b, các độ dốc của I A I AI B 1 B I 1 là bằng nhau _ A và

B có những tỷ lệ thay thế lợi ích cận biên bằng nhau

4.1.2 Hiệu quả sản xuất

Bây giờ quay sang sản xuất của nền kinh tế, nhớ lại rằng chúng ta đang xem xét nền kinh tế với hai đầu vào L và K , có thể được sử dụng (thông qua các hàm sản xuất dưới dạng các phương trình 5.2) để sản

xuất các hàng hóa X và Y Hiệu quả sản xuất yêu cầu tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên phải giống hệt

nhau trong sản xuất cả hai loại hàng hóa Tức là,

Nếu điều kiện này không được thỏa mãn, sẽ có khả năng tái phân bổ các đầu vào của sản xuất sao cho sản xuất ra nhiều hơn một loại hàng hóa mà không sản xuất ít hơn những hàng hóa khác Điều này được xây dựng theo cách thức tương tự như Hình 5.1, nhưng các điểm trong hộp ứng với các phân bổ của vốn và lao động cho sản xuất hai loại hàng hóa chứ không phải phân bổ các hàng hóa giữa các cá nhân Tại X không có vốn và lao động nào được dành cho sản xuất hàng hóa 0 X _ tất cả cả hai tài nguyên

Trang 33

được sử dụng cho sản xuất Y Dịch chuyển theo chiều ngang từ X sang trái đo lường sử dụng gia 0

tăng lao động cho sản xuất X , dịch chuyển theo chiều thẳng đứng xuống phía dưới từ X đo lường sử 0

dụng gia tăng của vốn cho sản xuất X Các biến thiên tương ứng trong sử dụng các đầu vào cho sản

xuất Y _ bất kỳ gia tăng/giảm sút trong sử dụng cho sản xuất X phải liên quan tới giảm sút/gia tăng

trong sử dụng cho sản xuất Y _ được đo lường theo các hướng ngược nhau bắt đầu từ gốc tọa độ Y 0

X

X I

I là đường đẳng lượng cho sản xuất hàng hóa X Hãy xét các dịch chuyển dọc theo nó theo

hướng ‘đông-nam’ từ điểm a, sao cho trong sản xuất X vốn được thay thế cho lao động, giữ cho đầu

ra cố định Một cách tương ứng, khi đã cho tình trạng sử dụng đầy đủ các tài nguyên sẵn có cho nền kinh tế, lao động được thay thế cho vốn trong sản xuất Y , I Y 0 Y I 0 và I Y 1 Y I 1 là các đường đẳng lượng cho sản xuất Y Dịch chuyển dọc theo I X I X từ a về hướng b có nghĩa là được tới một đường đẳng lượng cao hơn đối với Y _ nhiều Y hơn được sản xuất với sản lượng của X là cố định Dịch chuyển

dọc theo I X I X ngoài điểm b sẽ có nghĩa là dịch chuyển ngược lại một đường đẳng lượng thấp hơn đối với Y Điểm b chỉ ra mức sản lượng cao nhất cửa Y có thể đạt được, khi đã biết sản lượng của X

được giữ tại mức tương ứng với I X I X và có những khối lượng cố định của vốn và lao động cần được phân bổ giữa sản xuất của hai hàng hóa Tại điểm b các độ dốc của đường đẳng lượng trong mỗi dây chuyền sản xuất là bằng nhau _ các tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên là bằng nhau Nếu những tỷ lệ này không bằng nhau, thì rõ ràng sẽ có khả năng tái phân phối đầu vào giữa hai dây chuyền sản xuất sao cho sản xuất nhiều một hàng hóa mà không sản xuất ít đi bất cứ hàng hóa khác nào

4.1.3 Hiệu quả hỗn hợp-sản phẩm

Điều kiện cần cuối cùng cho hiệu quả kinh tế là hiệu quả hỗn hợp-sản phẩm Điều này yêu cầu

Trang 34

Điều kiện này có thể được hiểu bằng cách sử dụng Hình 5.3 Khi đã biết phương trình 5.3 được bảo đảm, do vậy hai cá nhân có các tỷ lệ thay thế lợi ích cận biên bằng nhau và MRUS AMRUS , chúng B

ta có thể tiến hành, dường như chúng có cùng các hàm lợi ích như nhau, trong đó II trong Hình 5.1 là một đường bàng quan với độ dốc là MRUS Các cá nhân, tất nhiên, không thực sự có cùng các hàm lợi ích như nhau Nhưng, khi đã cho các MRUS bằng nhau, các đường bàng quan của họ có cùng độ dốc tại phân bổ thỏa mãn điều kiện hiệu quả tiêu dùng, do vậy chúng ta có thể đơn giản hóa, mà không

có bất kỳ mất mát thực sự nào, bằng cách giả thiết cùng các hàm lợi ích như nhau và vẽ một đường bàng quan đơn thể hiện cho tất cả những người tiêu dùng Khi đã biết Phương trình 5.4 được bảo đảm, khi chúng ta nghĩ về tỷ lệ tại đó nền kinh tế có thể đánh đổi sản lượng của X cho Y và ngược lại, sẽ

không thành vấn đề về việc kết cấu tiêu dùng đã được thay đổi có được hiện thực hóa bởi việc chuyển lao động hoặc vốn giữa hai dây chuyền sản xuất hay không Kết quả là, trên Hình 5.3, chúng ta chỉ ra một đường khả năng sản xuất đơn Y M X M cho biết các tổ hợp đầu ra mà nền kinh tế có thể sản xuất ra khi sử dụng tất cả các tài nguyên sẵn có của nó Độ dốc của Y M X MMRT

Trên Hình 5.3 điểm a phải nằm trên một đường bàng quan thấp hơn so với II Dịch chuyển dọc theo

M

M X

Y từ điểm a tới b phải có nghĩa là dịch chuyển tới một điểm trên một đường bàng quan cao hơn Điều đó cũng đúng cho dịch chuyển dọc theo Y M X M từ c tới b Mặt khác, dịch chuyển khỏi b, theo hướng hoặc tới a hoặc tới c, phải có nghĩa là dịch chuyển tới một điểm trên một đường bàng quan thấp hơn Chúng ta kết luận rằng một điểm giống như b, tại đó các độ dốc của đường bàng quan và đường khả năng sản xuất là như nhau, tương ứng với hỗn hợp sản phẩm _ các mức đầu ra cho X và Y _ sao

cho lợi ích cảu cá nhân đại diện là cực đại, khi đã biết các tài nguyên sẵn có cho nền kinh tế và các thành phần trong đó chúng có thể được sử dụng để sản xuất hàng hóa Chúng ta kết luận rằng đẳng thức giữa MRUSMRT là cần thiết cho hiệu quả phân bổ Tại một tổ hợp của X và Y tại đó điều kiện

này không được bảo đảm, một điều chỉnh nào đó trong các mức X và Y có thể và điều đó sẽ làm cho

cá nhân đại diện được tốt hơn hẳn

Một nền kinh tế đạt tới phân bổ tĩnh hiệu quả đầy đủ của các tài nguyên nếu các điều kiện cho bởi các phương trình 5.3, 5.4 và 5.5 được thỏa mãn một cách đồng thời Hơn nữa, sẽ không thành vấn đề về việc chúng ta làm việc với nền kinh tế chỉ với hai người và hai hàng hóa Các kết quả sẵn sàng được tổng quát hóa cho nền kinh tế với nhiều đầu vào, nhiều hàng hóa và nhiều cá nhân Chỉ có một khác

Trang 35

biệt là ba điều kiện hiệu quả sẽ phải bảo đảm cho mỗi so sánh từng cặp có thể có để ai đó có thể thực hiện, và do vậy sẽ khó khăn hơn nhiều để có thể viết ra

4.2 Phân bổ hiệu quả tài nguyên không phải là duy nhất

Đối với nền kinh tế với khối lượng tài nguyên sẵn có, các hàm sản xuất và hàm lợi ích đã cho, sẽ có nhiều phân bổ tài nguyên hiệu quả Tiêu chuẩn hiệu quả trong phân bổ không phục vụ cho việc chỉ ra một phân bổ cụ thể

Để thấy được điều này, đầu tiên giả sử các khối lượng của X và Y cần được sản xuất bằng cách

nào đó đã được cho trước và là cố định Khi đó chúng ta quan tâm tới việc những khối lượng đã cho của X và Y được phân bổ như thế nào giữa A và B, và tiêu chuẩn hiệu quả phân bổ nói rằng điều này

cần phải sao cho A/B không thể được làm tốt hơn ngoài trừ làm cho B/A xấu đi hẳn Đây đã là điều được xét trong Hình 5.1 để rút ra phương trình 5.3, là điều kiện nói phân bổ hiệu quả của các khối lượng cố định của X và Y sẽ phải sao cho các độ dốc của các đường bàng quan cho A và B sẽ phải

bằng nhau Trong Hình 5.1 chúng ta chỉ ra một đường bàng quan cho A và hai đường bàng quan cho

B Nhưng đó chỉ là một tập con nhỏ các đường bàng quan cho mỗi cá nhân lấp đầy hộp SA0TB0 Trên Hình 5.4 chúng ta chỉ ra một tập con lớn hơn cho mỗi cá nhân Rõ ràng, sẽ có cả họ các điểm, giống như b trên Hình 5.1, tại đó các độ dốc của các đường bàng quan cho A và B là bằng nhau, tại đó chúng

có các tỷ lệ thay thế lợi ích cận biên bằng nhau Tại bất kỳ điểm nào dọc theo đường CC trên Hình 5.4, điều kiện hiệu quả tiêu dùng được thỏa mãn Trên thực tế, đối với những khối lượng sẵn có của X và

Y có vô số phân bổ giữa A và B thỏa mãn MRUS  A MRUS B

Bây giờ hãy xét hiệu quả trong điều kiện sản xuất, và Hình 5.2 Ở đây chúng ta đang xem xét các biến thiên trong khối lượng của X và Y được sản xuất ra Rõ ràng, theo cùng một cách như các Hình

5.1 và 5.4, chúng ta có thể giới thiệu các tập lớn hơn của tất cả các đường đẳng lượng có thể cho sản xuất của X và Y để chỉ ra nhiều tổ hợp của X và Y thỏa mãn phương trình 5.4, các tổ hợp đại diện

cho sử dụng vốn và lao động trong mỗi dây chuyền sản xuất sao cho độ dốc của các đường đẳng lượng bằng nhau, MRTS XMRTS Y

Do vậy, có nhiều tổ hợp của X và Y phù hợp với hiệu quả phân bổ, và đối với bất kỳ tổ hợp cụ

thể nào có nhiều phân bổ giữa A và B phù hợp với hiệu quả phân bổ Hai xem xét này có thể đưa vào trên một biểu đồ đơn, như trong Hình 5.5, trong đó trục tung đo lường lợi ích của A và trục hoành đo lường lợi ích của B Hãy xét phân bổ vốn và lao động cụ thể giữa sản xuất X và Y , hàm ý các mức

đầu ra cụ thể cho X và Y , và lấy phân bổ cụ thể của những mức đầu ra này giữa A và B _ tương ứng

với một mức lợi ích cụ thể cho A và B, được thể hiện như điểm R trong không gian U / A U B, trong Hình 5.5 Khi đã cho khối lượng cố định vốn và lao động, không phải tất cả các điểm trong không gian

Trang 36

tế không thể phân phối các tổ hợp của U và A U nằm bên ngoài đường đó Hình dáng của đường khả B

năng lợi ích phụ thuộc vào dạng cụ thể của các hàm lợi ích và sản xuất, do vậy cách thức theo đó nó được thể hiện trên Hình 5.5 chỉ là một khả năng Tuy nhiên, đối với các giả thiết thông thường về các hàm lợi ích và sản xuất, nói chung đó sẽ là cong ra bên ngoài như được chỉ ra trên Hình 5.5

Đường khả năng lợi ích là quỹ tích của tất cả các tổ hợp có thể của U và A U tương ứng với hiệu B

quả phân bổ Hãy xét điểm R trong Hình 5.5, là điểm nằm trong miền trong của đường khả năng lợi

ích Tại một điểm như thế, có những tái phân bổ có thể có khả năng nâng cao lợi ích cho cả A lẫn B Bằng cách bảo đảm hiệu quả phân bổ, nền kinh tế có thể, ví dụ, dịch chuyển tới một điểm trên đường này, như điểm Z chẳng hạn Nhưng, khi đã cho trước các dự trữ ban đầu về vốn và lao động, và các

hàm sản xuất và lợi ích nó có thể không tiếp tục đi về phía đông bắc ra bên ngoài đường này Chỉ có tổ hợp U / A U B nằm dọc theo đường này là khả thi Việc dịch chuyển từ R tới Z sẽ là một cải thiện

Pareto Và dịch chuyển từ R tới T , hoặc tới S, hoặc tới bất kỳ điểm nào dọc theo đường này giữa T

cá nhân khác tốt hơn hẳn Các tiêu chuẩn hiệu quả không kiểm soát những lựa chọn như vậy

4.3 Hàm phúc lợi xã hội và tối ưu

Trang 37

Để xem xét những lựa chọn như vậy, chúng ta cần khái niệm hàm phúc lợi xã hội SWF, là hàm đã được giới thiệu trong Chương 3 Một hàm SWF có thể được sử dụng để sắp hạng các phân bổ thay thế lẫn nhau Đối với nền kinh tế hai-người mà chúng ta đang kiểm tra, một hàm SWF sẽ có dạng tổng quát là:

Giả thiết duy nhất mà chúng ta đưa ra ở đây về dạng của SWF là phúc lợi không giảm theo U và A U B

Tức là, đối với bất kỳ mức đã cho nào của U phúc lợi không thể giảm nếu A U tăng và đối với bất B

kỳ mức đã cho nào của U phúc lợi không thể giảm nếu B U tăng Nói bằng cách khác, chúng ta giả A

U Cũng như chúng ta có thể mô tả hàm lợi ích theo các đường bàng quan, hàm B SWF theo các đường bàng quan phúc lợi xã hội Hình 5.6 cho biết đường bàng quan phúc lợi xã hội WW có cùng độ dốc như đường khả năng lợi ích tại b, là điểm nhận biết tổ hợp U và A U làm tối đa B SWF

Bây giờ lập luận thiết lập b tương ứng với cực đại phúc lợi xã hội có được là quen thuộc _ các điểm bên trái hoặc bên phải điểm c, phải nằm trên đường bàng quan phúc lợi xã hội thấp hơn, và các điểm nằm bên ngoài đường khả năng sản xuất không thể đạt tới được Sự kiện điểm tối ưu nằm trên đường khả năng lợi ích có nghĩa tất cả các điều kiện cần thiết cho hiệu quả phải được bảo đảm tại điểm tối ưu Các điều kiện 5.3, 5.4 và 5.5 phải được thỏa mãn cho tối đa hóa phúc lợi Cũng vậy, điều kiện bổ sung, đẳng thức của các độ dốc của đường bàng quan xã hội và đường khả năng lợi ích, phải được thỏa mãn Điều kiện này có thể được phát biểu, như được thiết lập trong Phụ lục 5.1, là

Vế trái ở đây là độ dốc của đường bàng quan phúc lợi xã hội Hai thành phần khác là các biểu thức thay thế nhau cho độ dốc của đường khả năng lợi ích Tại cực đại phúc lợi xã hội, các độ dốc của đường bàng quan và đường khả năng lợi ích phải bằng nhau, do vậy không có khả năng làm tăng phúc lợi xã hội bằng cách chuyển đổi hàng hóa và lợi ích giữa những người khác nhau

Trang 38

Trong khi hiệu quả phân bổ là điều kiện cần cho tối ưu, nói chung sẽ không đúng dịch chuyển từ một phân bổ không hiệu quả sang phân bổ hiệu quả phải thể hiện cải thiện phúc lợi Một dịch chuyển như vậy có thể tạo ra mức phúc lợi xã hội thấp hơn Khả năng này được minh họa trong Hình 5.7 Tại điểm C, phân bổ là không hiệu quả, tại D là hiệu quả Tuy nhiên, phân bổ tại C mang lại mức phúc lợi

xã hội cao hơn so với tại điểm D Khi đã đưa ra điểm này, cũng sẽ được nói rằng bất cứ khi nào có phân bổ không hiệu quả, luôn có một phân bổ khác vừa là hiệu quả vừa là tốt hơn theo nghĩa phúc lợi

Ví dụ, so sánh các điểm C và E Điểm E là hiệu quả phân bổ trong khi C thì không, và E nằm trên đường bàng quan phúc lợi xã hội cao hơn Dịch chuyển từ C tới E là cải thiện Pareto, khi mà cả A lẫn

B thu được lợi ích, và do vậy liên quan tới phúc lợi xã hội cao hơn Mặt khác, việc đi từ C tới D thay thế phân bổ không hiệu quả với một phân bổ hiệu quả, nhưng thay đổi không là chương trình Pareto _

B thu lợi, nhưng A thì chịu thiệt _ và liên quan tới một sự giảm sút trong phúc lợi xã hội Rõ ràng, bất

kỳ thay đổi nào là cải thiện Pareto phaqri làm tăng phúc lợi xã hội như được định nghĩa ở đây Khi đã biết SWF là không giảm theo U và A U , việc làm tăng B U / A U B mà không làm giảm U / B U A phải làm tăng phúc lợi xã hội Đối với kiểu SWF được sử dụng ở đây, cải thiện Pareto là một điều tốt không

mơ hồ (đối tượng của sự phản đối có thể tới chủ nghĩa vị lợi dựa-vào-ưa thích được nhận xét trong Chương 3, tất nhiên) Cũng rõ ràng là hiệu quả phân bổ là điều tốt (đối tượng của cùng đánh giá) nếu

nó liên quan tới một phân bổ các hàng hóa giữa các cá nhân có thể được coi là công bằng Các xét đoán

về công bằng, hoặc bình đẳng, được thể hiện trong SWF trong phân tích ở đây Nếu những xét đoán này chấp nhận được, thì tối ưu là một thứ tốt không mơ hồ Trong phần 2 của chương này, chúng ta xem xét cách thức các thị trường phân bổ tài nguyên và hàng hóa Để dự báo, chúng ta sẽ xem cái mà

có thể được tuyên bố cho các thị trường là, khi đã cho các sắp đặt thể chế lý tưởng và các kiểu hành vi xác định, chúng sẽ đạt được hiệu quả phân bổ Sẽ không thể tuyên bố được rằng, chỉ một mình thị trường, thậm chí khi đã cho trước các sắp đặt thể chế lý tưởng, sẽ đạt được cái có thể nói chung hoặc một cách hợp lý coi là các phân bổ công bằng Trước khi xem xét cách thức các thị trường phân bổ tài nguyên, chúng ta sẽ xem xét nỗ lực của các nhà kinh tế để thiết kế ra các tiêu chuẩn để đánh giá phân

bổ thay thế nhau không liên quan với tham khảo tường minh tới một hàm phúc lợi xã hội

4.4 Các kiểm định đền bù

Nếu có một hàm SWF được đồng thuận chung, về mặt nguyên tắc sẽ không có vấn đề, trong việc sắp hạng các phân bổ thay thế nhau Có thể đơn giản tính giá trị SWF cho các phân bổ cần quan tâm, và

Trang 39

sắp hạng theo các giá trị tính được Một phân bổ với giá trị SWF cao hơn sẽ được sắp hạng trên một phân bổ với giá trị thấp hơn Tuy nhiên, không có một hàm SWF đồng thuận Các trọng số tương đối cần được gán cho các lợi ích của những cá nhân khác nhau là vấn đề đạo đức Các nhà kinh tế ưa thích lảng tránh việc chỉ ra SWF nếu họ có thể Viện dẫn chính xác tiêu chuẩn cải thiện Pareto _ một tái phân bổ là mong muốn nếu nó làm tăng lợi ích của ai đó mà không làm giảm lợi ích của bất kỳ ai khác _ tiêu chuẩn này lảng tránh nhu cầu xem xét SWF để quyết định về việc có khuyến cáo tái phân bổ hay không Tuy nhiên, có hai vấn đề, ở mức nguyên tắc, với tiêu chuẩn này Thứ nhất, như chúng ta đã thấy, khuyến cáo tất cả các tái phân bổ thỏa mãn điều kiện này phải được thực hiện không cố định một phân bổ duy nhất Thứ hai, trong việc xem xét những vấn đề chính sách sẽ có rất ít tái phân bổ được đề nghị mà không liên quan tới một số cá nhân thu lợi và bị thiệt hại Chỉ hiếm hoi khi nhà kinh tế phúc lợi được yêu cầu khuyến cáo về một tái phân bổ chương trình mất mát của một ai đó và không làm thiệt hại người nào khác Đa số các tái phân bổ yêu cầu phân tích liên quan tới những người thắng và thua,

do vậy, là ngoài phạm vi của tiêu chuẩn cải thiện Pareto

Khi đã biết điều này, các nhà kinh tế phúc lợi đã cố gắng thiết kế cách thức, không yêu cầu sử dụng

SWF, để so sánh các phân bổ ở những nơi có người thắng kẻ thua Chúng là các kiểm định đền bù Ý tưởng cơ bản đơn giản Giả sử có hai phân bổ, ký hiệu là 1 và 2, cần được so sánh Như trước đây, ý tưởng thực chất được nắm bắt nếu chúng ta xem xét thế giới hai-người, hai-hàng hóa Dịch chuyển từ phân bổ 1 tới phân bổ 2 liên quan tới cá nhân thu lợi và cá nhân khác thiệt hại Kiểm định đền bù Kaldor, mang tên người đề xuất ra là Nicholas Kaldor, nói rằng phân bổ 2 tốt hơn phân bổ 1 nếu người thắng có thể đề bù cho người thua mà vẫn tốt hơn hẳn Bảng 5.1 đưa ra minh họa số của tình huống khi kiểm định Kaldor có 2 tốt hơn 1 Trong ví dụ này, cả hai cá nhân có các hàm lợi ích là U  XY, và A

là người thắng cho dịch chuyển từ 1 tới 2, trong khi B là người thua từ một dịch chuyển như vậy Theo kiểm định Kaldor, 2 là tốt hơn vì tại 2, A có thể khôi phục cho B tới mức lợi ích mà anh ta được hưởng tại 1 mà vẫn được tốt hơn hẳn so với 1 Bắt đầu từ phân bổ 2, giả sử 5 đơn vị của X được dịch chuyển

từ A tới B Điều này sẽ làm tăng lợi ích của B tới 100(10  10), và làm giảm lợi ích của A xuống 75(15

 5) _ B sẽ vẫn tốt như ở 1 Do vậy, lý lẽ là: phân bổ 2 phải tốt hơn 1, vì nếu tái phân bổ như vậy được thực hiện thì các lợi ích như được đánh giá bởi người thắng sẽ vượt quá những thiệt hại được người thua đánh giá Lưu ý rằng kiểm định này không yêu cầu thực tế người thắng phải đền bù cho người thua Nó chỉ yêu cầu người thắng có thể đền bù cho người thua, mà vẫn tốt hơn hẳn Vì lý do này, kiểm định Kaldor, và những kiểm định khác sẽ được thảo luận dưới đây, đôi khi được coi là ‘các kiểm định đền bù tiềm năng’ Nếu người thua thực tế được đền bù đầy đủ bởi người thắng, và người thắng vẫn luôn được tốt hơn hẳn, thì chúng ta sẽ đang xem xét tình huống trong đó có cải thiện Pareto

Các con số trong Bảng 5.1 đã được xây dựng sao cho minh họa vấn đề với kiểm định Kaldor Điều này có thể thừa nhận một dịch chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác, nhưng cũng có thể thừa nhận một dịch chuyển từ phân bổ mới ngược trở lại phân bổ ban đầu Nói cách khác, vấn đề là nếu chính sách sử dụng kiểm định Kaldor để hỏi liệu 2 có tốt hơn 1 hay không, chúng ta có thể nhận được ‘có’, và chúng ta cũng có thể nhận được ‘có’ nếu chúng ta hỏi xem 1 có tốt hơn 2 hay không Bắt đầu từ 2 và xem xét một dịch chuyển về 1, B là người thắng và A là người thua Xem xét 1 theo cách này, chúng ta thấy nếu 5 đơn vị của Y được chuyển đổi từ B tới A, B sẽ có U bằng với 75, cao hơn so với ở 2, và A sẽ có U bằng 100, hệt như ở 2 Do vậy, theo kiểm định Kaldor được thực hiện theo cách này, 1 là tốt hơn 2

Trang 40

Vấn đề này với kiểm định Kaldor đã được J.R Hicks nhận xét , người thực tế đã đặt vấn đề theo khác đi đôi chút Ông đã đề xuất kiểm định đền bù khác (tiềm năng) cho xem xét liệu dịch chuyển từ 1 tới 2 có được thừa nhận hay không Câu hỏi trong kiểm định Hicks là: người thua có thể đền bù cho người thắng để từ bỏ dịch chuyển và anh ta không bị xấu đi hẳn so với khi nếu dịch chuyển được tiến hành Nếu câu trả lời là ‘có’, tái phân bổ không được thừa nhận, nếu không nó qua được kiểm định này Trong Bảng 5.1, giả sử tại phân bổ 1, 5 đơn vị của Y được chuyển đổi khỏi B, là người thua từ dịch

chuyển tới 2, tới A Bây giờ lợi ích của A khi đó sẽ tăng lên tới 100 (10  10), bằng với lợi ích tại phân

bổ 2, trong khi lợi ích của B sẽ giảm xuống 75 (5  15), cao hơn lợi ích tại phân bổ 2 Người thua trong tái phân bổ từ 1 tới 2 có thể đền bù cho cá nhân, người sẽ hưởng lợi từ một dịch chuyển như thế để cho điều đó thực tế không xảy ra, và vẫn còn tốt hơn so với nếu như dịch chuyển xảy ra Trong kiểm định này, phân bổ 1 là tốt hơn phân bổ 2

Trong ví dụ Bảng 5.1, các kiểm định đền bù (tiềm năng) Kaldor và Hicks cho biết những câu trả lời khác nhau về sắp đặt hai phân bổ đang xem xét Điều này sẽ không đúng cho tất cả các tái phân bổ

có thể được xét Bảng 5.2 là ví dụ được xây dựng trong đó cả hai kiểm định cho cùng một câu trả lời Đối với kiểm định Kaldor, xem xét tại 2, người thắng A có thể cho người thua B 5 đơn vị X mà vẫn

được tốt hơn hẳn so với tại 1 (U150), trong khi B khi đó sẽ được đền bù một cách đầy đủ cho mất mát liên quan trong việc đi từ 1 tới 2 (U1010100) Trên kiểm định này, 2 tốt hơn 1 Đối với kiểm định Hicks, xét tại 1, khoản tiền lớn nhất mà người thua B có thể chuyển cho người thắng A sao cho không bị xấu đi hẳn trong phân bổ 2 là 10 đơn vị hàng Y Nhưng, với 10 đơn vị X và 15 đơn vị

Y , A sẽ có U 150, là khoản lợi ích nhỏ hơn lợi ích của A tại 2, cụ thể là 200 Người thua không thể đền bù cho người thắng để từ bỏ dịch chuyển và sẽ bị xấu hẳn đi so với nếu dịch chuyển xảy ra, do vậy một lần nữa 2 là tốt hơn 1

Đối với một kết quả không mơ hồ từ kiểm định đền bù (tiềm năng), cần phải sử dụng cả các tiêu chuẩn Kaldor lẫn Hicks Kiểm định Kaldor-Hicks-Scitovsky _ được gọi như vậy vì Tibor Scitovsky đã chỉ ra cả hai tiêu chuẩn cần được yêu cầu _ nói rằng một tái phân bổ là mong muốn nếu:

(i) những người thắng có thể đền bù cho những người thua và vẫn được tốt hơn hẳn

(ii) những người thua không thể đền bù cho những người thắng để cho tái phân bổ không xảy ra mà vẫn được tốt hơn hẳn như họ có thể được hưởng nếu điều đó xảy ra

PHẦN 2 PHÂN BỔ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

4.5 Hiệu quả khi đã biết các điều kiện lý tưởng

Rất nhiều sắp đặt thể chế có thể được sử dụng để phân bổ tài nguyên, như độc tài, kế hoạch hóa tập trung, và các thị trường tự do Bất kỳ sắp đặt nào trong những thể chế này, về nguyên tắc, có thể đạt được một phân bổ hiệu quả các tài nguyên Ở đây chúng ta đặc biệt quan tâm tới hậu quả của các quyết định phân bổ tài nguyên thị trường-tự do Điều này là do ba nguyên nhân có liên quan với nhau Thứ nhất, để cho độc tài hoặc kế hoạch hóa tập trung đạt được hiệu quả phân bổ điều cần thiết là nhà độc tài hoặc người lập kế hoạch tập trung biết tất cả các hàm sản xuất và lợi ích của nền kinh tế Điều này

rõ ràng là không khả thi, và một trong những nguyên nhân nỗ lực vận hành nền kinh tế theo cách này

Ngày đăng: 21/03/2021, 18:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w