1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế lâm nghiệp (đại học thủy lợi)

73 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông là người đầu tiên tranh luận rằng tại bất kỳ thời điểm nào trong vòng quay, tuổi quay vòng tối ưu nên được xác định bằng việc so sánh lợi ích biên của việc tiếp tục quay vòn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

BỘ MÔN KINH TẾ

BÀI GIẢNG KINH TẾ LÂM NGHIỆP

Trang 2

BỘ MÔN KINH TẾ- KHOA KINH TẾ& QUẢN LÝ

BÀI GIẢNG

KINH TẾ LÂM NGHIỆP

GIẢNG VIÊN: BÙI THỊ THU HÒA

HÀ NỘI- 2018

Trang 3

1

MỤC LỤC

Chương 1: TƯ TƯỞNG KINH TẾ LÂM NGHIỆP 3

1.1 TIỀN SỬ PHÂN TÍCH KINH TẾ CỦA GIAI ĐOẠN LUÂN CHUYỂN TỐI ƯU 4

1.2 SỰ RA ĐỜI CỦA KHUNG VÒNG LUÂN CHYỂN TỐI ƯU 5

1.3 SỰ TRỞ LẠI CỦA FAUSSTMANN 7

1.4 SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC MÔ HÌNH THEO TUỔI ĐỜI 7

Chương 2: TÀI NGUYÊN RỪNG 9

2.1 TRẠNG THÁI HIỆN TẠI CỦA TÀI NGUYÊN RỪNG TOÀN CẦU 9

2.2 CÁC ĐẶC TÍNH CỦA TÀI NGUYÊN RỪNG 13

2.3 RỪNG TRỒNG THƯƠNG MẠI 14

2.3.1 Mô hình rừng quay vòng-đơn 14

2.3.2 Các mô hình rừng quay-vòng vô hạn 16

2.4.Rừng đa dụng 22

2.5 Rừng tự nhiên và nạn phá rừng 25

2.6.Chính phủ và tài nguyên rừng 27

Chương 3 – MÔ HÌNH VÒNG QUAY CỦA FAUSTMANN 29

3.1 Công nghệ tăng trưởng rừng 29

3.1.1 Các thuộc tính 29

3.1.2 Ưa thích chủ đất và các giả thiết 30

3.2 Tính toán chu kỳ quay vòng tối ưu 31

3.2.1 Phát triển công thức Faustmann 31

3.2.2 So sánh các giải pháp thay thế 34

3.2.3 So sánh tĩnh học 36

3.2.4 Từ chu kỳ quay vòng tối ưu đến cung cấp gỗ 37

3.3 Đánh thuế rừng trong mô hình Faustmann 38

3.3.1 Thuế thu hoạch 39

3.3.2 Thuế tài sản 39

CHƯƠNG 4 – MÔ HÌNH SẢN XUẤT GỖ VÀ TIỆN ÍCH HARTMAN 42

Trang 4

2

4.1 CÁC DỊCH VỤ TIỆN ÍCH 42

4.2 ƯA THÍCH CỦA CHỦ ĐẤT VỚI NHỮNG DỊCH VỤ TIỆN NGHI 42

4.3 XÁC ĐỊNH CHU KỲ 43

4.3.1 Chu kỳ quay vòng tối ưu Hartman 43

4.3.2 So sánh tĩnh học mô hình Hartman 44

4.3 CUNG GỖ TRONG MÔ HÌNH HARTMAN 46

4.4 TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ LÂM NGHIỆP 47

4.4.1 Thuế thu hoạch 48

4.4.2 Thuế tài sản 48

Chương 5 – CÁC MÔ HÌNH CHU KỲ SỐNG HAI GIAI ĐOẠN 51

5.1 MÔ HÌNH SẢN XUẤT GỖ HAI GIAI ĐOẠN 51

5.1.1 Khả năng thu hoạch 51

5.1.2 Ưa thích và tiêu dùng của chủ đất 52

5.1.4 Thuế lâm nghiệp (rừng) và cung gỗ 55

5.2 MÔ HÌNH SẢN XUẤT TIỆN NGHI HAI GIAI ĐOẠN 56

5.2.1 Kết hợp sản xuất gỗ và dịch vụ tiện nghi 57

5.2.2 Ưa thích của chủ đất 57

5.2.3 Thu hoạch và sản xuất tiện nghi 58

Chương 6 –QUẢN LÝ LÂM NGHIỆP Ở VIỆT NAM 61

6.1 CHÍNH SÁCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 61

6.2 CÁC HÌNH THỨC QUẢN LÝ RỪNG Ở VIỆT NAM 62

6.3 QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM 66

6.3.1 Khung pháp lý: 66

6.3.2 Một số vấn đề trong quản lý rừng cộng đồng 68

Trang 5

3

Chương 1: TƯ TƯỞNG KINH TẾ LÂM NGHIỆP

Mục đích học tập

Sau khi đọc xong chương này độc giả sẽ có khả năng

 Tổng quan các quan điểm và mô hình sử dụng trong kinh tế lâm nghiệp

 Sử dụng quay vòng thời gian tối ưu để quản lý rừng với nhiều tiếp cận khác nhau trong lịch sử

 Ý tưởng và những tranh luận, phê phán ban đầu mô hình Fausstmann trong quản lý lâm nghiệp

Trước khi nghiên cứu lý thuyết kinh tế lâm nghiệp, người đọc cần tìm hiểu tổng quan

tư tưởng lịch sử kinh tế lâm nghiệp trước đây Trên cơ sở đó, người đọc sẽ hiểu bối cảnh hình thành các mô hình trong cuốn sách này

Nghiên cứu lâu đời nhất về kinh tế tài nguyên thiên nhiên là phân tích về vòng quay rừng, hoặc thời gian chủ rừng sẽ thu hoạch Nếu ta mô tả “lịch sử” kinh tế lâm nghiệp,thì lời giải là vòng quay tối ưu dưới nhiều giả thiết, trong đó phải kể đến từ phía

cầu Phân tích tính quay vòng tập trung vào thời gian tối ưu để thu hoạch rừng (đồng nhất) Với diện tích rừng gồm nhiều loại rừng, phân tích vòng quay sẽ mở rộng hơn và

tìm kiếm nhằm xác định làm thế nào với diện tích đất đã cho nên phân bổ để trồng rừng theo từng độ tuổi khác nhau và cho từng khu rừng đồng nhất, nhằm tối đa tuổi đời quay vòng Chúng ta đề cập đến vấn đề này sau, trong cuốn sách này với tiếp cận

truyền thống để quản lý rừng với nhiều tuổi đời cây khác nhau, đó là kiểu rừng thông

thường (normal forest) Ý tưởng về rừng thông thường khá đơn giản Nếu chú thích T*

là độ tuổi cây luân chuyển ở trạng thái ổn định tức được lặp lại theo thời gian, thì rừng thông thường có 1/T* loại tuổi rừng, mỗi loại gồm những loại cây có cùng độ tuổi Tại mỗi khoảng thời gian, chúng ta cần quan tâm đến rừng lấy gỗ già nhất được thu hoạch và rừng mới trồng là rừng có vòng đời nhỏ Điều này là lý do một số suy nghĩ về rừng thông thường như với rừng đang thu hoạch “even – flow”

Cách tiếp cận cổ điển về rừng thu hoạch nhằm rốt cục nhằm đạt được tính chuẩn tắc được gọi là “quy định rừng” Điều này hiếm khi các nhà kinh tế theo đuổi, bởi vấn đề tối ưu của các khu rừng luôn đặt ra những câu hỏi Như chúng ta sẽ thấy ở phần sau của cuốn sách, chỉ có các nhà kinh tế gần đây mới phát triển các điều kiện mà một khu rừng thông thường có thể đạt được lời giải tối ưu và hiệu quả ở trạng thái ổn định Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp mà cấu trúc rừng thông thường không được quan tâm

Trang 6

4

1.1 TIỀN SỬ PHÂN TÍCH KINH TẾ CỦA GIAI ĐOẠN LUÂN CHUYỂN TỐI

ƯU

Vấn đề quản lý rừng và quyết định luân chuyển tối ưu ngay đã có từ thời Trung Cổ1.Có

lẽ thảo luận đầu tiên về câu hỏi luân chuyển rừng bắt đầu ở thế kỷ 17, trong khi mô hình rừng đa chủng loại và đa độ tuổi được nghiên cứu nghiêm túc trong thế kỷ 18 Điều này khá thú vị, bởi các nhà kiểm lâm và nhà kinh tế luôn tham gia vào các cuộc thảo luận này và thường sử dụng phương pháp tiếp cận khác nhau, và đưa ra các câu trả lời hoàn toàn khác nhau để mô tả thời gian luân chuyển “tối ưu” Sự bất đồng không thể tránh khỏi giữa hai nhóm nghiên cứu Với suy nghĩ này, nghiên cứu ghi lại một số giải pháp mang tính lịch sử quan trọng ban đầu về luân chuyển vòng đời

Chúng ta cũng có thể quay lại thế kỷ 17 để tìm bằng chứng về mối quan hệ kinh tế của loài người và lâm nghiệp Thảo luận đầu tiên về thu hoạch mang hình thức kinh tế hóa xảy ra các tu viện của Mauermunster, Đức, trong những năm 1100 Những năm 1300 ở Đức và những năm 1500 ở Ý và Phá, các khu rừng đều mang tính pháp lý Đầu những năm 1700, thuật ngữ quay vòng tuổi đời trở thành từ thông thường để mô tả tuổi đời thu hoạch cho những khu rừng nhất định Nghiên cứu đầu tiên về quản lý rừng được viết trong bài ‘Sylvicultura Oeconomica” do Hans Carl von Carlowitz viết vào năm

1713

Trong những năm 1600s và 1700s, khái niệm luân chuyển vòng đời của rừng thông thường và rừng thu hoạch bền vững trở thành những nguyên lý chỉ dẫn cho quản lý rừng Những điều này được coi là cơ sở đưa ra luật rừng của Thủ tướng Colbert, Pháp, và được coi như một chuẩn mực để các nước về sau xây dựng luật Ở Prussia, Nhà vua Fredrick the Great quy định lâm nghiệp nên được thực hiện bằng việc ứng dụng nguyên lý để đạt được rừng thông thường, với tuổi đời quay vòng 70 năm cho mỗi khu rừng Động cơ đằng sau điều lệ này nhằm ngăn chặn nạn phá rừng và bảo đảm cung cấp gỗ cho tàu thuyền ổn định

Nhìn chung, xã hội vẫn nghi ngờ luận cứ kinh tế liên quan đến điều lệ rừng trong thời gian này Hành vi hướng theo kinh tế bị lên án làm gia tăng phá rừng ở các khu rừng lớn ở miền trung Châu Âu2 Trong những năm 1700, tính toán kinh tế ban đầu về chu

kỳ quay vòng tối ưu và phân tích về cường độ tối ưu của các khu rừng thưa trong một

1 Phần 1.1 được Viitala (2002,2006) phát hiện

2 Điều này thú vị rằng những động cơ kinh tế sẽ sớm được dùng để giải thích nạn phá rừng xảy ra ngày càng nhiều ở Bắc Mỹ trong những năm 1800 Ngày nay những động cơ kinh tế tương tự như vậy vẫn được coi được

Trang 7

5

vòng quay được thực hiện thành công Fernow (1911) tranh luận rằng hiểu biết đầu tiên

về tính thưa thớt là từ các nhà lâm nghiệp của Đức von Berlepsch, von Zanthier, và Oettelt

Đan Mạch và Anh là những quốc gia có phát triển đáng kể về tư tưởng kinh tế lâm nghiệp trong những năm 1700s Dane, Count Reventlow đưa ra những nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng cây rừng, thậm chí phân tích quản lý rừng tối ưu nhằm hồi quy tài chính (Helles and Linddahl 1997) Ở Anh, William Marshall đã tính tuổi đời quay vòng kinh tế tối ưu cho cây sồi Ông là người đầu tiên tranh luận rằng tại bất kỳ thời điểm nào trong vòng quay, tuổi quay vòng tối ưu nên được xác định bằng việc so sánh lợi ích biên của việc tiếp tục quay vòng, được giải thích bởi giá trị tăng trưởng gia tăng của cây ở thời kỳ tiếp theo, với chi phí cơ hội của việc hoãn thu hoạch (Scorgie và Kennedy 2000) Chi phí cơ hội của trì hoãn thu hoạch được ông thể hiện một cách chính xác, thứ nhất là thu nhập lợi tức mất đi từ việc không thu hoạch và đầu tư vào quá trình của chu kỳ tiếp theo và thứ hai là chi phí bao phủ rừng và do đó không phải bắt đầu ở luân chuyển tiếp theo Chi phí thứ hai quan trọng mà các nhà kinh tế được biết đến như là chi phí cơ hội của đất hoặc tô đất

1.2 SỰ RA ĐỜI CỦA KHUNG VÒNG LUÂN CHYỂN TỐI ƯU

Mặc dù có bước tiến đầu tiên của Marshall, phần lớn các công việc phân tích nghiên cứu về tuổi đời vòng quay tối ưu do các giảng viên tại Trường Lâm nghiệp Đức vào đầu những năm 1800 Điều này không có gì ngạc nhiên khi tạp chí đầu tiên trên thế

giới về khoa học rừng, die Allgemeine Forst – und Jagt Zeitung được xuất bản ở Đức

năm 1824 Đến năm 1850 tạp chí này đã trở thành một diễn đàn chính về phát triển các

lý thuyết và ứng dụng kinh tế lâm nghiệp Công trình đáng chú ý là công bố của Cotta và Hartig, nhà lâm nghiệp trẻ người Đức Gottlieb KoNig, Johan Hundeshagen, và Friedrich Pfeil Tất cả đều có định hướng mạnh về phân tích kinh tế.Trong cuốn sách

Die Forstmatematik, Ko Nig đã cố gắng phát triển lý thuyết kinh tế về các giải pháp

tuổi vòng quay Mặc dù ông đã không xác định chính xác chi phí cơ hội của đất trong tính toán nhưng ông đã làm rõ bản chất của rừng như vốn tài sản dài hạn Ông cũng đề xuất phương pháp để phân tích lợi nhuận lâm nghiệp thông qua sử dụng khái niệm giá trị tăng trưởng Nghiên cứu của Hundeshagen cũng bổ sung và phát triển cơ sở cho việc tính toán đầu tư về rừng trồng; trước đây ông đã dành phần lớn cuộc đời mình để

Trang 8

6

phát triển thống kê lâm nghiệp Nhìn chung, Pfeil được coi là nhà khoa học đầu tiên lập luận rằng quản lý rừng nên dựa trên cơ sở các thuộc tính sinh thái và vị trí của nó Vào năm 1849,Edmund von Gehren đã đưa ra việc xác định giá trị đất và tầm quan

trọng của lựa chọn tuổi vòng quay một cách nghiêm túc với bài báo trong tuyển tập die

Allgemeine Forst- und Jagt Zeitung Von Gehren cũng đặt câu hỏi rằng chủ đất được

đền bù bao nhiêu nếu đất của anh ta bị chuyển sang nông nghiệp Von Gehren cũng dùng tỷ lệ chiết khấu trung bình cấp số nhân và đề xuất thuật ngữ giá trị hiện tại của rừng (không được chiết khấu), hơn là thuật ngữ chính xác giá trị hiện tại Chỉ hai tháng sau khi xuất bản, nhà lâm nghiệpngười Đức khác Martin Faustmann đã xuất bản một nhận xét trong bài viết cùng tập san Điểm chính của Faustmann là phê phán điểm yếu của cách tiếp cận Gehren, cho rằng việc dùng tỷ lệ chiết khấu trung bình cấp số nhân (geometric average interest rate) sẽ dẫn đến giá trị đất quá cao Ông cũng đưa ra phương pháp mới để xác định giá trị của đất (trống), dựa trên nguyên lý chiết khấu Ông xác định giá trị của đất là giá trị hiện tại được vốn hóa vòng quay từ những vòng quay vô hạn, được thực hiện theo một chuỗi dao động của trồng trọt và thu hoạch Sử dụng phân tích kiểu bảng tính, Faustmann đã chỉ ra rằng tuổi vòng quay tối ưu của bất

kỳ khu rừng nào nên được xác định nhằm tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của đất Các nhà khoa học đã phê phán mạnh mẽ Faustman như Gehren and Oezel, nhưng đến năm

1850 tiếp cận của ông được Max Pressler chứng minh là đúng Pressler là người đầu tiên giải quyết vấn đề vòng quay bằng toán học, được xuất bản mô hình lý thuyết trong

die Allgemeine Forst- und Jagt Zeitung

Trong quá khứ, Faustmann đã trình bày rõ vấn đề vòng quay và tất cả chi phí cơ hội được tính đến do trì hoãn thu hoạch ở bất kỳ giai đoạn nào Tuy nhiên, ông chỉ đưa ra

ví dụ mà không phân tích toán học chung cho vấn đề này Đó là khung toán học của Pressler, giới thiệu định tính ban đầu về tuổi đời vòng quay và tô đất trong các vấn đề lâm nghiệp Theo công trình của Pressler, quan điểm của Fausmann là một suy nghĩ đúng William Marshall cũng đã đề cập đến giải pháp vòng đời tuổi mang tính lý thuyết Sau đó, độc lập với Pressler, một nhà kinh tế Thụy điển, Bertil Ohlin cũng đã

mô tả toán học về vấn đề tuổi vòng quay vào năm 1921 Faustmann, Presler, và Ohlin cũng được nghĩ như là người nền tảng cho suy nghĩ kinh tế lâm nghiệp một cách nghiêm khắc3 Sau những bài viết này được đăng, các nhà kinh tế bắt đầu gọi việc xác

3 The seminal articles by Faustmann (1849), Pressler (1850), Ohlin (1921), and the influential article

Trang 9

1.3 SỰ TRỞ LẠI CỦA FAUSSTMANN

Kể từ khi công bố hội thảo của Paul Samuelson và bài báo mang tính phê phán về lĩnh vực kinh tế lâm nghiệp, có rất nhiều bài viết của Faustmann về vòng quay Newman (2002) dẫn chứng bằng hàng trăm bài viết về chủ đề này chỉ trong vòng 30 năm Trong làn sóng ưa thích về kinh tế tài nguyên và môi trường, bài viết của Samuelson đưa ra cách tiếp cận kinh tế về vấn đề lâm nghiệp thông thường Trong cùng tập san của bài viết Samuelson, Richard Hartman (1976) đã xuất bản về mở rộng phân tích vòng quay quan trọng về các hàng hóa công cộng có được từ rừng Hartman đã công thức hóa ý tưởng rừng có thể cung cấp giá trị ở đúng chỗ, ví dụ kho rừng Ông cũng chỉ ra rằng giá trị này có hàm ý quan trọng đến xác định tuổi vòng quay tối ưu Công trình của ông là cơ sở quan trọng cho những quyết định chính sách rừng và thậm chí là một trong những bài báo được trích dẫn nhiều nhất trong kinh tế lâm nghiệp Mô hình Hartman là chủ đề của chương 3

Cả hai đóng góp của Samuelson và Hartman dẫn đến nghiên cứu trong những năm

1980 liên quan đến các vấn đề giải pháp của Faustmann Những câu hỏi thông thường

đề cập đến những tác động mất mát thảm khốc của rừng (ví dụ như cháy rừng), tính bất định của giá và tăng trưởng tương lai, tác động của hàng loạt công cụ chính sách đến tuổi đời vòng quay tối ưu Người đọc muốn biết thêm có thể đọc các trích dẫn được đưa ra trong chương này, tất cả đều được viết sau Samuelson (1976) Một số công trình như Newman (1984, 2000), S Chang (1984), Reed (1986), Wear and Parks (1994), Hyde and Newman (1991), and Montgomery and Adams (1996) Những tổng quan liên quan đến khía cạnh cung cấp gỗ gồm Adams and Haynes (1980), Binkley (1987b, 1993), and Wear and Parks (1994)

1.4 SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC MÔ HÌNH THEO TUỔI ĐỜI

Các mô hình của Faustmann và các đạo hàm của nó có thể được ứng dụng chỉ cho những vấn đề ở rừng trồng có tuổi đời đơn nhất (single even-aged stand of trees) Một

Trang 10

8

vấn đề chung được các nhà lâm nghiệp nghiên cứu trong phần cơ sở lý luận ban đầu dưới dạng chương trình thu hoạch tối ưu của diện tích rừng với nhiều độ tuổi khác nhau

Cách tiếp cận lâu đời nhất để giải quyết vấn đề này được trình bày một cách trực giác và không có bất kỳ h phân tích nào Quy tắc thu hoạch đơn giản được bắt nguồn với yêu cầu kho tài nguyên rừng mang tính dài hạn được đặc trưng bởi thu hoạch gỗ theo thời gian, ví dụ rừng thông thường (Davis et al 2001) Khái niệm rừng thông thường (normal forest) đề cập đến kiểu phân phối theo kiểu độ tuổi, và diện tích rừng thậm chí phân bổ đồng đều cho tất cả các độ tuổi Lớp tuổi lâu đời nhất được thu hoạch theo mỗi giai đoạn và được trồng thay thế Vòng quay thu hoạch – trồng này được tiếp tục mãi mãi bởi thu hoạch và trồng trong từng thời kỳ

Trang 11

9

Chương 2: TÀI NGUYÊN RỪNG

2.1 TRẠNG THÁI HIỆN TẠI CỦA TÀI NGUYÊN RỪNG TOÀN CẦU

Đánh giá toàn diện gần đây nhất về trạng thái tài nguyên rừng thế giới được bao hàm

trong Đánh giá Tài nguyên có tên gọi là ‘FRA 2000’, được tiến hành bởi Tổ chức Nông

Lương của Liên hợp quốc

Bảng 1 Diện tích rừng và diện tích trồng cây được phân chia theo các lục địa và

2000 000ha

D.tíc

h rừng năm

2000 như

tỷ lệ%

của tổng diện tích

Tỉ lệ thay đổi bao phủ rừng hàng năm 1990- 2000

%

Diện tích đất rừng Đất trồng cây khác Tổng

d.tích trồng cây

2000

000ha

Tỷ lệ trồng cây hàng năm

2000 000ha

Trang 12

Nguồn: được lấy từ thông tin của Đánh giá Tài Nguyên Rừng 2000( FAO, 2001)

Bảng 2-1 Diện tích rừng và diện tích trồng cây được phân chia theo các lục địa và

tiểu-lục địa

Trang 13

11

Thông tin trong báo cáo đó có thể được được tóm tắt trong hai bảng Bảng 2.1 cho thấy các diện tích rừng và diện tích trồng cây được phân chia theo các lục địa và tiểu-lục địa; Bảng 2.2 cho thấy những thay đổi trong diện tích rừng bởi các kiểu rừng _ là rừng nhiệt đới và phi-nhiệt đới Rõ ràng theo khảo sát các bảng này, diện tích rừng là một trạng thái thay đổi liên tục, với các phần diện tích trồng thêm rừng và mất rừng và các diện tích trồng cây khác Tuy nhiên, tác động toàn cục là sụt giảm tổng diện tích rừng, với 9,4 triệu hectares bị mất theo nghĩa ròng trong thập kỷ trước 2000

Như bảng đã chỉ ra, trong năm 2000 rừng _ được định nghĩa là diện tích với ít nhất 10% được tán lá bao phủ _ chiếm gần 3,9 tỷ hectares, trong số đó 95% là rừng tự nhiên và 5% là rừng trồng Rừng tự nhiên một cách điển hình không được quản lý hoàn toàn (và nơi nào được quản lý, thì mục tiêu hàng đầu không phải là lấy gỗ), trong khi rừng trồng là các tài nguyên được vận hành vì mục đích thương mại, được quản lý chủ yếu

vì doanh thu gỗ Trong khi tỷ phần của các khu rừng trồng trên tổng số đất rừng là tương đối nhỏ, nhưng rừng trồng tăng trưởng nhanh, với tốc độ trung bình 3,1 triệu hectares một năm trong những năm 1990 Trong số đó, 1,5 triệu hectares được chuyển đổi từ rừng tự nhiên và 1,6 triệu trên những vùng đất trước đó được sử dụng cho các mục đích phi-rừng

Mặc dù tổng diện tích của các khu rừng trồng là tương đối nhỏ (5% của toàn bộ diện tích rừng), tầm quan trọng của chúng trong việc cung cấp gỗ thực sự là lớn hơn (35% của toàn bộ lượng gỗ thô (roundwood) _ toàn bộ các loại gỗ dưới dạng thô, cho cả các mục đích nội trợ lẫn công nghiệp _ được lấy từ rừng trồng) Hơn nữa mở rộng rừng trồng có các tác động quan trọng lên khả năng sẵn có gỗ nhiên liệu, làm giảm áp lực rừng tự nhiên trong việc cung cấp tài nguyên này

Trong tổng số diện tích rừng, 47% được thấy trong vùng nhiệt đới, 9% trong các vùng cận-nhiệt đới, 11% trong vùng ôn đới và 33% trong ở vùng phương-bắc Các khu rừng tự nhiên tiếp tục bị biến mất hoặc biến thành những sử dụng khác với tốc độ cao Giữa 1990 và 2000, 4,2% tổng số diện tích rừng tự nhiên (16,1 triệu ha) đã bị mất, với phần lớn nằm trong các vùng nhiệt đới (15,2 triệu ha) Cuối cùng, bức tranh được mô

tả trong các Bảng 18.1 và 18.2 cho thấy

 mất mát ròng của diện tích rừng toàn cầu trong những năm 1990 là 2,4%;

 mất mát lớn trong rừng nhiệt đới so với với lợi ích nhỏ hơn nhiều trong diện tích rừng phi-nhiệt đới;

Trang 14

đã chậm hơn trong những năm 1990 so với những năm 1980 Điều này dường như là

do sự mở rộng nhanh hơn các khu rừng tự nhiên thứ cấp trong giai đoạn sau, với rừng quay trở lại vùng đất trên đó nông nghiệp đã không được tiếp tục Liệu các dịch vụ hiện thời bị mất từ sự biến mất của các khu rừng nguyên sinh có được thay thế bởi các dịch vụ của các khu rừng tự nhiên thứ cấp khi đã trưởng thành hay không là một điểm cần thảo luận, nhưng có tầm quan trọng lớn

Bảng 2-2 Những thay đổi diện tích rừng 1990-2000 trong các vùng nhiệt đới và phi nhiệt đới

Bảng Những thay đổi diện tích rừng 1990-2000 trong các vùng nhiêt đới và phi- nhiệt đới (triệu ha/năm)

cộng

nhập

Thay đổi ròng

đổi ròng

Thay đổi ròng Phá

Tổng mất mát

Chuyển đổi từ

rừng tự nhiên(

trồng rừng lại)

Trồng rừng mới

Trang 15

13

Nguồn FRA 2000, Bảng 14-1, trang 334

2.2 CÁC ĐẶC TÍNH CỦA TÀI NGUYÊN RỪNG

Chúng ta tóm tắt một số đặc tính then chốt của bài toán tài nguyên rừng với bài toán đàn cá như dưới đây:

 Đa chức năng: gỗ, thực phẩm, hệ sinh thái, (khác với bài toán cá là dịch vụ đơn nhất)

 Đất trồng: sinh lợi vốn có

 Liên quan đến hàm sinh trưởng của cây (lâu hơn so với cá)

 Thu hoạch có chọn lọc => dễ kiểm soát hơn so bài toán đàn cá

 Cây có độ trễ lớn để đạt trưởng thành về sinh học (25- 100 năm) (lâu hơn so với đàn cá)

 Rừng trồng dễ kiểm soát hơn so với đánh cá biển thương mại do không di chuyển như đàn cá => tính động học đơn giản hơn, ít phụ thuộc vào những thay đổi tương đối điều kiện môi trường

Trang 16

14

Bảng 2-3 Giá trị hiện thời của doanh thu, chi phí và lợi ích ròng chưa được chiết khấu và chiết khấu ở mức 3%

Bảng giá trị hiện thời của doanh thu, chi phí và lợi ích ròng chưa được chiết khấu và đã

được chiết khấu ở mức 3%

2.3 RỪNG TRỒNG THƯƠNG MẠI

2.3.1 Mô hình rừng quay vòng-đơn

Giả sử có một khu rừng có kiểu và tuổi đồng nhất Tất cả các cây trong rừng được trồng tại cùng một thời điểm, và sẽ được chặt tại cùng một thời điểm Một khi được

Trang 17

15

đốn, rừng sẽ không được trồng lại Do vậy chúng ta chỉ xem xét chu trình hoặc vòng quay, trồng, tăng trưởng, đốn chặt Để đơn giản, chúng ta giả thiết

 đất không có sử dụng thay thế do vậy chi phí cơ hội của nó bằng không;

 chi phí trồng rừng ( k ), chi phí thu hoạch cận biên ( c ) và giá thô của gỗ được đốn (P) là cố định theo giá trị thực theo thời gian;

 rừng tạo ra giá trị chỉ thông qua gỗ mà nó sản xuất, và sự tồn tại (hoặc đốn chặt) của nó không có các tác động ngoại ứng

Hình 2-2- Các giá trị hiện thời của lợi ích ròng tại i=0.00 và i=0.03(NB2)

Từ quan điểm của chủ sở hữu rừng (để đơn giản chúng ta coi đó là quan điểm chủ sở hữu đất), thời điểm thu hoạch tối ưu khi nào? Câu trả lời có được bằng cách chọn tuổi tại đó giá trị hiện thời của lợi nhuận từ rừng lấy gỗ là cực đại Lợi nhuận thu hoạch cây rừng tại độ tuổi cụ thể của cây được tính bằng giá trị gỗ được thu hoạch trừ đi chi phí trồng cây và thu hoạch Lưu ý vì chúng ta đang giả thiết không có sử dụng đất khác, chi phí cơ hội của đất bằng không Nếu rừng được thu hoạch tại tuổi T, thì giá trị hiện thời của lợi nhuận là (𝑃 − 𝑐)𝑆𝑇𝑒−𝑖𝑇− 𝑘 = 𝑝𝑆𝑇𝑒−𝑖𝑇− 𝑘

(2.2) trong đó S T ký hiệu dung tích gỗ sẵn có cho thu hoạch tại thời điểm T, p (lưu ý p

được ký hiệu bằng chữ nhỏ) là giá ròng của gỗ được thu hoạch, và i là tỷ lệ chiết khấu tiêu dùng tư nhân (là đại lượng mà chúng ta giả sử bằng với chi phí cơ hội của vốn cho công ty lâm nghiệp)

Trang 18

16

Giá trị hiện thời của lợi nhuận được cực đại tại giá trị đó của T mang lại giá trị cao

T e

pS   Để tối đa khối lượng này, chúng ta đạo hàm phương trình 18.1 k

theo T, sử dụng quy tắc nhân, đặt đạo hàm bằng không và giải cho T :

𝑑𝑆 𝑑𝑇

2.3.2 Các mô hình rừng quay-vòng vô hạn

Mô hình rừng mà chúng ta đã khảo sát trong mục trước là thiếu tính thực tế, bởi với một vòng quay đơn mà không có sử dụng thay thế đất đai nào Nếu các điều kiện giá và chi phí biện hộ chu trình thì chắc chắn, sau khi thu hoạch gỗ, liệu chủ sở hữu sẽ xem xét các chu trình trồng cây tiếp theo nếu đất đai không có những sử dụng khác? Do vậy, bước tiếp theo là nghiên cứu mô hình trong đó có nhiều hơn một chu trình hoặc quay vòng có thể xảy ra Thực hành thông thường về kinh tế học lâm nghiệp là phân tích hành vi thu hoạch trong mô hình trong khoảng thời gian vô hạn (vô hạn số quay vòng) Một câu hỏi trọng tâm được khảo sát ở đây là liệu độ dài tối ưu của mỗi vòng quay sẽ là bao nhiêu (tức là, thời gian giữa một lần trồng cây và lần trồng tiếp theo) Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là xây dựng hàm lợi nhuận-giá trị-hiện thời cần phải được cực đại hóa cho mô hình vòng quay vô hạn Chúng ta tiếp tục đưa ra một vài giả thiết đơn giản hóa được sử dụng trong mô hình quay vòng-đơn: cụ thể, tổng chi phí

Trang 19

17

trồng cây k , giá thô của gỗ P , và chi phí thu hoạch của một đơn vị gỗ c là cố định

qua thời gian Khi đã biết điều này, giá ròng của gỗ pPc cũng sẽ cố định

Chúng ta giả thiết rằng vòng quay thứ nhất bắt đầu với việc trồng rừng trên vùng đất

trống tại thời điểm t0 Tiếp theo, chúng ta xác định một chuỗi vô hạn các thời điểm là

kết thúc của các vòng quay kế tiếp t1,t2,t3, Tại mỗi một trong những thời điểm

này,rừng sẽ được đốn sạch và sau đó ngay lập tức được trồng lại cho chu trình tiếp

theo Giá trị hiện thời ròng của lợi nhuận từ vòng quay thứ nhất là

tức là, dung tích của tăng trưởng gỗ giữa lúc đầu và cuỗi của chu trình nhân với giá

ròng chiết khấu của một đơn vị gỗ, trừ đi chi phí trồng rừng Chú ý vì chi phí trồng cây

được yêu cầu chuyển về các thành phần giá trị-hiện thời Nhưng vì gỗ được chặt tại

cuối của vòng quay (t1), doanh thu gỗ phải được chiết khấu ngược lại tương đương giá

trị hiện thời của nó (t0)

Giá trị hiện thời ròng của lợi nhuận trong chuỗi vô hạn này được cho bởi

với tổng của các giá trị hiện thời của lợi nhuận từ mỗi một trong những quay vòng cá

thể Miễn là các điều kiện vẫn còn cố định qua thời gian, độ dài tối ưu của bất kỳ vòng

quay nào sẽ là giống hệt như chiều dài tối ưu của bất kỳ vòng quay nào khác Gọi

khoảng thời gian trong vòng quay tối ưu là T Khi đó chúng ta có thể viết lại hà giá

trị-tới hạn là

Trang 20

18

Tiếp theo, đưa iT

e ra làm thừa số chung cho các số hạng từ số hạng thứ hai bên vế phải của phương trình 18.4, ta nhận được

và từ đó giải cho  chúng ta được

𝜋 = 𝑝𝑆𝑇 𝑒−𝑖𝑇−𝑘

Phương trình 18.7 cho ta giá trị hiện thời của lợi nhuận cho độ dài quay vòng bất kỳ T

khi đã biết các giá trị của p ,,k i và hàm tăng trưởng của gỗ S  S (t) Chủ sở hữu rừng tối đa-của cải lựa chọn giá trị của T làm tối đa giá trị hiện thời của lợi nhuận Đối với

số liệu minh họa trên Bảng 3, chúng ta đã sử dụng một chương trình bảng tính để tính toán giá trị số các khoảng vòng quay tối đa-giá trị-hiện thời cho các giá trị khác nhau của tỷ lệ chiết khấu Các giá trị hiện thời có được bằng cách thay thế các giá trị giả thiết của p, k và i vào phương trình và sử dụng bảng tính để tính giá trị của  cho mỗi

độ dại vòng quay có thể, sử dụng phương trình tăng trưởng gỗ của Clawson Các kết quả của thực hành được trình bày trong Bảng 4 (cùng với các độ dài quay vòng tối ưu cho một khu rừng quay vòng đơn, để so sánh) Tỷ lệ chiết khấu 6% hoặc kết quả cao hơn trong các giá trị hiện thời âm tại bất kỳ vòng quay nào, và các giai đoạn quay vòng

có dấu sao được chỉ ra là những giai đoạn làm tối thiểu các mất mát giá trị-hiện thời Với số liệu minh họa của chúng ta, tại bất kỳ tỷ lệ chiết khấu nào tạo ra giá trị hiện thời ròng dương cho rừng, khoảng quay vòng tối ưu vô hạn là thấp hơn so với tuổi tại đó rừng sẽ được thu hoạch trong mô hình quay vòng đơn Ví dụ, với tỷ lệ chiết khấu 3%, khoảng thời gian quay vòng tối ưu trong một chuỗi vòng quay vô hạn là 40 năm, thực

sự nhỏ hơn tuổi thu hoạch 50 năm trong quay vòng đơn Chúng ta sẽ giải thích tại sao khoảng thời gian này lại ngắn hơn như vậy

Trang 21

19

Giải thích về khoảng quay vòng tối ưu bằng sẽ cho phép chúng ta đạt được một số kết quả tĩnh học so sánh quan trọng Chúng ta hãy tiến hành như đã được thực hiện trong mục về rừng quay vòng-đơn Giá trị tối ưu T sẽ là giá trị làm tối đa giá trị hiện thời của rừng trong chuỗi vô hạn các chu trình trồng cây Để tìm được giá trị tối ưu cho T, chúng ta tính đạo hàm bậc nhất của  theo T, đặt đạo hàm này bằng không, và giải phương trình nhận được cho độ dài quay vòng tối ưu

Bảng 2- 4: Các khoảng quay vòng tối ưu cho các tỷ lệ chiết khấu khác nhau

Bảng: Các khoảng quay vòng tối ưu cho các tỷ lệ chiết khấu khác nhau

𝑖 T(năm) tối ưu trong mô

hình quay vòng-vô hạn

T(năm) tối ưu trong mô hình quay vòng- đơn

Trang 22

Hai phiên bản của quy tắc Faustmann đưa ra những lợi thế khác nhau trong việc giúp chúng ta thấy ý nghĩa của các lựa chọn rừng tối ưu Phương trình 2.16 cho ta trực giác

để lựa chọn giai đoạn quay vòng Vế trái là giá trị ròng gia tăng của gỗ khi tăng trưởng thêm một giai đoạn Vế phải là giá trị của chi phí cơ hội khi lựa chọn này, là đại lượng gồm lãi suất vỗn bị từ bỏ khi trồng cây (thành phần thứ nhất bên vế phải) và lãi suất bị từ bỏ bởi không bán đất tại giá trị vị trí hiện thời (thành phần thứ hai bên vế phải) Một lựa chọn hiệu quả tạo ra đẳng thức giữa các giá trị của những chi phí và lợi ích cận biên

này Chính xác hơn, phương trình 2.16 là dạng của điều kiện hiệu quả động học

Hotelling cho thu hoạch gỗ Phương trình này được thấy rõ hơn bằng cách viết lại dưới dạng:

Trang 23

21

Hình 2-4- Độ dài quay vòng tối ưu T

Chúng ta có thể sử dụng phiên bản khác của quy tắc Faustmann _ phương trình 2.15 _ minh họa bằng đồ thị độ dài quay vòng tối ưu được xác định như thế nào Điều này được chỉ ra trên Hình 4 Các đường cong tương ứng với các mức lãi suất 0%, 1%, 2% và 3% thể hiện vế phải của phương trình 2.15 Đường cong khác, dốc hơn, thể hiện vế trái của phương trình Tại bất kỳ tỷ lệ lãi suất đã cho nào, giao của các hàm số cho ta T

tối ưu Các đường thể hiện vế phải của phương trình 18.8a được tạo ra khi giả thiết các giá trị cụ thể cho P ,,c k và i, và một hàm tăng trưởng tự nhiên cụ thể mô tả dung tích

gỗ S thay đổi theo thời gian như thế nào

2.3.3.Phân tích tĩnh học so sánh

Các kết quả của mục trước đã chỉ ra rằng trong mô hình quay vòng-vô hạn quay vòng tối ưu phụ thuộc vào:

Bảng 5 – Mô hình quay vòng vô hạn: kết quả tĩnh học so sánh

𝐵ả𝑛𝑔 𝑀ô ℎì𝑛ℎ 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑣ò𝑛𝑔 − 𝑣ô ℎạ𝑛: 𝑘ế𝑡 𝑞𝑢ả 𝑡ĩ𝑛ℎ ℎọ𝑐 𝑠𝑜 𝑠á𝑛ℎ

Tác động lên độ dài

vòng quay tối ưu

 quá trình tăng trưởng sinh học của các loại cây trong các điều kiện môi trường thích hợp;

 tỷ lệ lãi suất (hoặc chiết khấu) (i);

 chi phí trồng ban đầu và trồng lại ( k );

 giá ròng của gỗ (p), và do vậy giá thô (P ) và chi phí thu hoạch cận biên ( c )

Trang 24

22

2.4.Rừng đa dụng

Ngoài mục đích lấy gỗ, các khu rừng còn có vô số các lợi ích phi-gỗ khác Những lợi ích này bao gồm kiểm soát thổ nhưỡng và nước, hỗ trợ chỗ ở cho hệ thống đa dạng sinh học của các tổng thể động và thực vật, các tiện nghi giải trí và phong cảnh, các giá trị tồn tại tính hoang dã, và kiểm soát khí hậu Nơi nào các lợi íc phi lấy gỗ nhiều như vậy, chúng được gọi là các khu rừng đa-dụng

Các xem xét hiệu quả hàm ý rằng các lựa chọn việc việc một khu rừng cần được quản

lý như thế nào và chúng được đốn chặt thường xuyên như thế nào (nếu chặt tất cả) sẽ cần phải tính tới sự đa dạng của các sử dụng rừng Nếu chủ sở hữu rừng có khả năng với khoản bù đắp thích hợp cho những lợi ích phi-gỗ như này, những lợi ích đó sẽ được nhân rộng tới các lựa chọn của anh ta hoặc chị ta và rừng cần được quản lý theo một cách thức hồi quy về mặt xã hội Nếu những lợi ích này không do chủ đất chiếm hữu thì nếu không có những điều chỉnh chính phủ, chúng ta sẽ không kỳ vọng có được các quyết định tối ưu của các chủ sở hữu

Chúng ta sẽ giả thiết rằng chủ sở hữu có thể chiếm hữu giá trị từ tất cả các lợi ích của rừng: cả lợi ích gỗ lẫn phi-gỗ Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là làm việc với việc đưa các lợi ích tăng thêm này vào tính toán sẽ thay đổi tuổi quay vòng tối ưu của rừng như thế nào Một lần nữa, chúng ta hãy hình dung bằng cách bắt đầu với một số mảnh đất

trống Hãy ký hiệu NT là giá trị của luồng lợi ích phi-gỗ không chiết khấu t năm sau

khi rừng được thiết lập Giá trị hiện thời của các luồng giá trị phi-gỗ này trong toàn bộ vòng quay thứ nhất có khoảng thời gian là T là

Bây giờ để đơn giản hãy ký hiệu tích phân này là N T, sao cho chúng ta coi giá trị hiện

thời của dòng giá trị phi-gỗ ( N ) trong một vòng quay như là hàm số của khoảng thời

gian vòng quay (T ) Cộng giá trị hiện thời của các lợi ích phi-gỗ vào giá trị hiện thời của các lợi ích gỗ, giá trị hiện thời của tất cả lợi ích của rừng cho vòng quay thứ nhất là

Đối với một vòng quay đơn, tuổi tối ưu tại đó cây lấy gỗ sẽ bị đốn chặt là giá trị của T

làm tối đa PV1 Tuổi của vòng quay sẽ được kéo dài hay cắt ngắn? Trong trường hợp đặc biệt này (chỉ một vòng quay) câu trả lời là không mơ hồ Miễn là các giá trị phi-gỗ là dương, tuổi đốn chặt tối ưu sẽ được tăng lên Điều này là đúng bất kể liệu các giá trị

Trang 25

23

phi-gỗ có là cố định, tăng hay giảm theo thời gian Để thấy được tại sao, hãy lưu ý rằng

nếu các giá trị này luôn là dương, NPV của các lợi ích phi-gỗ sẽ tăng khi vòng quay

dài hơn Điều này phải làm tăng tuổi tại đó sẽ là tối ưu khi đốn chặt rừng.Các vấn đề là phức tạp hơn trong trường hợp vô hạn vòng quay kế tiếp của các khoảng thời gian bằng nhau Khi đó giá trị hiện thời của toàn bộ chuỗi vô hạn được cho bởi

và đây chỉ là một sự tổng quát hóa của phương trình 18.4 bao gồm cả các lợi ích

phi-gỗ Một cách thay thế, chúng ta có thể giải thích phương trình 18.11 như là nói rằng giá trị hiện thời của tất cả các lợi ích từ quay vòng (*) bằng với tổng của giá trị hiện thời của các lợi ích chỉ-của-gỗ từ vòng quay () và giá trị hiện thời của các lợi ích chỉ-của-phi-gỗ từ cuỗi vô hạn các vòng quay

Chủ sở hữu rừng muốn tối đa giá trị hiện thời ròng của các lợi ích gỗ và phi-gỗ sẽ lựa chọn độ dài vòng quay làm tối đa biểu thức này Không đi sâu vào việc tính toán (là điều được tiến hành cùng như các bước như trước đây), tối đa của cải yêu cầu rằng điều kiện bậc-nhất sau đây được thỏa mãn:

𝑝 𝑑𝑆

trong đó dấu * được đưa vào để nhấn mạnh điểm mà khoảng thời gian vòng quay tối

ưu khi tất cả các lợi ích được xem xét (T*) nói chung sẽ khác với khoảng thời gian tối

ưu khi chỉ có lợi ích gỗ được đưa vào trong hàm được làm tối đa (T) Vì cùng một lý

do, giá trị hiện thời tối ưu (và do vậy giá trị vị trí đất đai) nói chung sẽ khác với các đối tác trước đây của chúng, và chúng ta sẽ ký chúng là *

Trang 26

24

Hình 5- Chu kỳ quay vòng của rừng đa dụng

Việc đưa thêm các sử dụng phi-gỗ của các khu rừng tác động nào lên độ dài quay

vòng tối ưu? Khảo sát phương trình 2.22 cho thấy các lợi ích phi-gỗ tác động tới vòng quay tối ưu theo hai cách:

 giá trị hiện thời của các luồng lợi ích phi-gỗ trong bất kỳ một vòng quay nào ( *

T

N ) tham gia vào phương trình 2.22 một cách trực tiếp; khi các thứ khác không đổi, một giá trị dương cho *

Tác động nào trong những tác động trái chiều nhau thống trị còn phụ thuộc vào bản chất của hàm S (t) và N (t) Do vậy, đối với các khu rừng quay vòng-vô hạn không có

khả năng nói trước liệu việc đưa các lợi ích phi-gỗ vào có cắt ngắn hay kéo dài vòng

quay hay không Tuy nhiên, một số kết quả định tính có thể có được từ phương trình 2.16 và để cho tiện phương trình này được đưa ra một lần nữa ở đây:

𝑝𝑑𝑆

Nhớ lại rằng  được gọi là giá trị vị trí của đất, và bằng với giá trị hiện thời tối đa của

vô số cây lấy gỗ có thể được trồng trên mảnh đất này Thành phần thứ hai bên vế phải _ thường được gọi là tô đất đai _ do vậy là lãi suất bị từ bỏ do không bán đất tại giá trị

vị trí hiện tại của nó Thành phần thứ nhất bên vế phải tạo ra lãi suất bị từ bỏ của giá trị

Trang 27

25

của gỗ tăng trưởng Cộng hai chi phí này lại, chúng ta có được chi phí cơ hội đầy đủ của lựa chọn này, chi phí cận biên của việc trì hoãn thu hoạch Vế trái là gia tăng trong giá trị ròng của cây lấy gỗ để lại cho tăng trưởng thêm một giai đoạn, và do vậy là lợi ích cận biên của việc trì hoãn thu hoạch Một lựa chọn hiệu quả tạo ra đẳng thức giữa những giá trị chi phí cận biên và lợi ích cận biên này

Đẳng thức này được thể hiện bằng Hình 5 Việc đưa các giá trị phi-gỗ làm thay đổi một cách tiềm năng vế trái của phương trình 2.16 Nếu các giá trị phi-gỗ là lớn hơn trong các khu rừng cũ so với các khu rừng mới (đang tăng lên cùng với tuổi của cây lấy gỗ) thì các giá trị phi-gỗ có một gia tăng hàng năm dương; cộng những giá trị này vào các giá trị của gỗ sẽ làm tăng độ lớn của thay đổi trong lợi ích toàn cục (gỗ + phi-gỗ), làm dịch chuyển đường lợi ích gia tăng lên phía trên Giao điểm của nó với đường chi phí gia tăng sẽ dịch chuyển sang phải, tạo ra một vòng quay tối ưu dài hơn Tương tự nhưng theo chiều ngược lại, sẽ rút ngắn vòng quay tối ưu

2.5 Rừng tự nhiên và nạn phá rừng

Chuỗi nghiên cứu FAO (1995), FAO (2001), và các biên tập khác nhau của World

Resources (bởi World Resources Institute), đã vẽ một bức tranh sống động về mẫu

hình và phạm vi của thiệt hại và bảo tồn rừng tự nhiên (nạn phá rừng) Phạm vi của tác động con người lên môi trường tự nhiên có thể được ước tính bằng việc lưu ý rằng vào năm 1990 hầu như 40% cảu diện tích đất đai toàn cầu đã được chuyển đổi thành đất canh tác hoặc đồng cỏ vĩnh cửu Hầu hết diện tích này có được với cái giá phải trả là đất đai của những khu rừng và đồng cỏ

Đến tận nửa cuối của thế kỷ 20, nạn phá rừng tác động nhiều tới các vùng ôn đới Trong một vài vùng này, chuyển đổi rừng ôn đới đã được hoàn thành một cách có hiệu lực Bắc Phi và Trung Đông bây giờ có ít hơn 1% diện tích đất được bao phủ bởi rừng

tự nhiên Người ta ước lượng rằng chỉ còn lại 40% của đất rừng nguyên thủy của Châu

Âu, và đa số của phần hiện tại đang tồn tại là rừng hoặc đồn điền thứ cấp được quản lý Hai dải đất khổng lồ còn lại của rừng ôn đới nguyên thủy _ ở Canada và Nga _ bây giờ được được thu hoạch một cách tích cực, mặc dù tỷ lệ chuyển đổi là tương đối chậm Các khu rừng phương bắc (tùng bách) của Nga, bây giờ bị nguy hiểm do hủy hoại chất lượng so với thay đổi khối lượng, và điều đó cũng đúng cho tất cả các dạng rừng ôn đới trong toàn bộ Châu Âu, là những khu rừng đang gánh chịu thảm họa ô nhiễm nghiêm trọng, với khoảng một phần tư cây cối bị rụng lá (defoliation) ở mức trung bình tới

Trang 28

26

nghiêm trọng Tuy nhiên, bức tranh không hoàn toàn ảm đạm Trung quốc ngày nay đã thực hiện chương trình tái trồng rừng khổng lồ, và tổng diện tích rừng của Nga hiện đang tăng lên Đối với các quốc gia đã phát triển, thực hành quản lý trong các khu rừng cấp hai và đồn điền đang trở nên thân thiện với môi trường hơn, một phần như là kết quả của quan điểm công cộng thay đổi và áp lực chính trị

Không có gì đáng ngạc nhiên là phạm vi phá rừng có xu hướng cao hơn trong những

bộ phận của thế giới có độ bao phủ rừng lớn nhất Với ngoại lệ là các khu rừng ôn đới

ở Trung quốc, Nga và Bắc Mỹ, chính những khu rừng nhiệt đới chịu đựng nạn phá rừng rộng rãi nhất Và chính là phá rừng nhiệt đới hiện nay được nhận thức là vấn đề nhức nhối nhất mà tài nguyên rừng phải đối mặt Trong ba mươi năm từ 1960 tới 1990 một phần năm của tất cả bao phủ rừng nhiệt đới tự nhiên đã bị mất, và tỷ lệ phá rừng tăng lên vững chắc trong khoảng thời gian đó Mặc dù vậy, FAO (2001) đề xuất một cách dè dặt rằng, tỷ lệ này có thể chậm đi đôi chút trong thập kỷ cuối của thế kỷ hai mươi Hộp 1 có chứa một tóm tắt về các hậu quả của nạn phá rừng nhiệt đới và một thảo luận về các nguyên nhân khác nhau của nó

Barbier và Burgess (1997) đã phát triển các ý tưởng của Hartwick thêm một chút

Mô hình tối ưu của họ chỉ ra một hàm cầu-và-cung cho chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp Tại bất kỳ thời điểm nào, cung và cầu đối với chuyển đổi đất rừng, tính tới cả các lợi ích gỗ và phi-gỗ, có thể được thể hiện bởi các hàm số có nhãn là *

Trang 29

27

Hình 6 – Tỷ lệ chuyển đổi đất rừng tối ưu tại thời điểm t

Tuy nhiên, nếu các chủ sở hữu rừng không có khả năng chiếm hữu các lợi ích phi-gỗ, đường cong cung cấp sẽ dịch chuyển sang phải tương đối so với đường cong được thấy trên đồ thị (là đường giả thiết cả lợi ích gỗ lẫn phi-gỗ được chiếm hữu bởi các chủ sở hữu rừng) Rõ ràng điều này cũng sẽ làm tăng tỷ lệ phá rừng (bằng cách làm giảm giá của đất rừng)

2.6.Chính phủ và tài nguyên rừng

Khi đã biết tài nguyên rừng được phân bổ một cách không hiệu quả và được khai thác một cách không bền vững, có những nguyên nhân mạnh về việc tại sao chính phủ có thể lựa chọn can thiệp vào lĩnh vực này Đối với ngành trồng rừng sử dụng-đơn, có ít vai trò cho chính phủ khác hơn bảo đảm quyền tài sản tư nhân sao cho các động cơ khuyến khích quản lý gỗ theo các khoảng thời gian được bảo vệ

Ở những nơi mà ngành rừng phục vụ nhiều sử dụng, chính phủ có thể sử dụng các biện pháp tài chính để làm cho các nhà quản lý thay đổi các khoảng thời gian quay vòng Dễ thấy điều này có thể được thực hiện như thế nào Thuế và tài trợ được thiết kế tốt có thể được nghĩ là thay đổi giá ròng của gỗ (bằng việc thay đổi hoặc giá thô P, hoặc chi

phí thu hoạch cận biên c ) Chúng tôi sẽ để lại cho các bạn suy luận ra kiểu thuế và trợ

cấp nào cần có tác động này Về nguyên tắc, bất kỳ độ dài vòng quay mong muốn nào

có thể đạt được bằng việc thao tác thích hợp giá ròng sau-thuế

Ở những nơi mà các giá trị phi-gỗ là lớn và phạm vi ảnh hưởng của chúng là lớn nhất trong các khu rừng trưởng thành, không có việc đốn chặt nào có thể được biện minh Chính phủ phải tìm kiếm kết cục này thông qua các động cơ khuyến khích tài chính,

Trang 30

28

nhưng dường như điều này thường được làm thông qua sở hữu công cộng Vai trò quan trọng nhất của chính phủ, mặc dù vậy, liên quan tới chính sách của nó theo hướng đất

rừng tự nhiên Không có cách thức rõ ràng nào để thấy bản thân quyền sở hữu công

cộng có bất kỳ lợi thế thực sự nào hơn quyền sở hữu tư nhân trong trường hợp này Điều quan trọng ở đây là các tài sản này được quản lý như thế nào, và cá cấu trúc động

cơ khuyến khích nào tồn tại

Trang 31

29

Chương 3 – MÔ HÌNH VÒNG QUAY CỦA FAUSTMANN

3.1 Công nghệ tăng trưởng rừng

 Đối tượng:

 rừng có cùng độ tuổi

 rừng phương bắc và ôn đới

 Tái sinh: thu hoạch toàn bộ tại độ tuổi quay vòng, và sau đó trồng mới

 Rừng không có cùng độ tuổi

 rừng gỗ cứng ôn đới và nhiệt đới

 Quản lý rừng không đồng đều

 Không thu hoạch toàn bộ mà là thu hoạch có chọn lọc tại thời điểm nhất định, tùy thuộc vào mục tiêu quản lý

 Tăng trưởng rừng ở những khu rừng không cùng độ tuổi được

đo lường bằng sự gia tăng về số lượng cây ở mỗi loại đường kính khác nhau

Tính bền vững được xác định bởi tần số và cường độ thu hoạch giữa các loại đường kính và số cây theo thời gian

3.1.1 Các thuộc tính

Trong mô tả mang tính lý thuyết về quản lý rừng tuổi đồng nhất, đều biết rõ loại cây trồng cũng như có cùng độ tuổi Do đó, chúng ta có thể biết đó là hàm tăng trưởng của mỗi loại cây đơn nhất và số cây hoặc diện tích nhất định và thể tích gỗ ở bất kỳ thời điểm nào Các nhà sinh trắc học về rừng đã phát triển các phương pháp ngụy biện để

đo lường và mô tả tăng trưởng của cây Phân tích của họ tập trung vào hàm tăng trưởng của loại cây bất kỳ tại vị trí nhất định với những đặc tính phổ biến; cụ thể là tăng trưởng theo dạng hình xich ma (sigmoid) hoặc S khi khối lượng gỗ ở cây được vẽ theo thời gian Tăng trưởng xich ma có nghĩa là khối lượng đầu tiên tăng tại tăng với tốc độ ngày càng tăng và sau đó tăng giảm đần Tỷ lệ tăng trưởng có thể thậm chí âm bởi rừng bắt đầu bị tàn phá và khi tuổi đời rừng già đi

Một mô tả có thể khả thi về mặt kinh tế và đúng về mặt sinh học của tăng trưởng

xichma có thể như dưới đây: Cho hàm f(t) là khối lượng gỗ tính bằng m3 gỗ tại thời

điểm t.Giữ cho các nhân tố vị trí không đổi, khối lượng gỗ rừng tăng theo tăng trưởng

Sự thay đổi về khối lượng gỗ theo thời gian được cho bởi 𝑓′(𝑡)với 𝑓′(𝑡) là đạo hàm

Trang 32

30

của f(t) theo thời gian Từ đó, tăng trưởng của gỗ là f ’ (t) và có những thuộc tính toán

học dưới đây:

Giả thiết 3.1 Hàm tăng trưởng của rừng

(a) 𝑓′(𝑡) > 0 với 𝑡 > 𝑡 nhưng 𝑓(𝑡) ≤ 0 với 𝑡 > 𝑡, với t’ là tuổi trưởng thành

sinh học của cây

(b) 𝑓"(𝑡) > 0 với 𝑡 < 𝑡̅ và 𝑓"(𝑡) < 0, 𝑡 > 𝑡̅ với 𝑡 là điểm uốn của hàm tăng

trưởng

Giả thiết 3.1 (a) hàm ý trữ lượng rừng tăng dần theo thời gian trước khi đến điểm trưởng thành sinh học và sau đó giảm dần Khi rừng già dần thì trữ lượng gỗ cũng giảm, do rừng bị phân hủy dần Giả thiết 3.1(b) phù hợp với hàm tăng trưởng rừng thu hoạch với đầu tiên có dạng hàm lồi sau đó có dạng hàm lõm theo thời gian, vì tốc độ tăng dần cho đến điểm thời gian mà khối lượng tăng lên với tốc độ giảm dần Trong kinh tế học, hàm f(t) được giải thích đơn giản như là hàm sản xuất cổ iển với thời gian như biến đầu vào và trữ lượng gỗ là đầu ra

Điều này thực tế phổ biến nhằm mô tả các tính chất của hàm tăng trưởng với sự hỗ trợ của 3 thuật ngữ: (1) độ lớn hàng năm hiện tại của cây (CAI- current annual increment), (2) độ lớn hàng năm trung bình (MAI- mean annual increment), và (3) tăng trưởng tương đối của cây (xem ví dụ, Pearse 1967 và Gregry 1972) Tốc độ tăng trưởng tương đối được đôi khi được gọi là '' độ lớn hàng năm định kỳ” PAI- periodic annual increment) Về mặt toán học, CAI chỉ đơn giản là đạo hàm bậc nhất của hàm khối lượng được ước lượng tại thời gian nhất định 𝑓′(𝑡) CAI dễ dàng được giải thích như là sản phẩm mang tính vật lý cận biên của đầu vào ban đầu (thời gian) MAI được xác

định bởi tỷ lệ khối lượng theo thời gian, f(t)/t Do đó, MAI chỉ ra sản phẩm vật lý trung

bình của đầu vào thời gian Cuối cùng, PAI được xác định bằng tỷ lệ của CAI với khối lượng rừng 𝑓′(𝑡)/𝑓(𝑡) Điều này đôi khi gán bằng tỷ lệ tăng trưởng tức thời trong tài liệu

3.1.2 Ưa thích chủ đất và các giả thiết

Một cấu phần quan trọng trong bất kỳ mô hình kinh tế là người ra quyết định Các ưa thích của chủ đất rừng cũng quan trọng như các khả năng sinh học của tăng trưởng cây trong việc xác định tuổi vòng quay tối ưu và những lựa chọn khác

Hãy xét một chủ đất, với quyết định quản lý khu rừng với diện tích nhất định Giả sử tăng trường rừng theo những tính chất được nêu trong phần trước Tiêu chí nào chủ đất

Trang 33

31

nên làm khi quyết định thu hoạch? Câu trả lời trong chương này đơn giản Không phân biệt sở thích và kế hoạch tiêu thụ của mình, chủ đất được giả định là tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của doanh thu thu hoạch được qua một chu kỳ vòng quay vô hạn Một cách đơn giản để xác định giá trị hiện tại ròng sau từ một số giả thiết có thể hạn chế của phân tích vòng quay Những giả định này bảo đảm rằng lựa chọn của chủ đất về tuổi vòng quay có thể tách biệt với quyết định tiêu dùng Tính tách biệt này là một dạng định lý phân tách của ngành cá (Fisherian separation theorem) (xem ví dụ, Hirschleifer 1970, p 63), ở đó xác định các điều kiện như quyết định sản xuất không phụ thuộc vào tiêu dùng của phân tích vòng quay và tại cùng thời điểm gọi là khác thường (heroic) Chúng tôi giới thiệu trong phần giả thiết 1.2

Giả thiết 3.2 Giả thiết đằng sau phân tích vòng quay

1 Giá tính tuổi cây theo mặt ngang của cây và chi phí tái sinh là không đổi và biết rõ

2 Tỷ lệ lãi suất trong tương lai là không đổi và cũng được biết trước

3 Hàm tăng trưởng của cây được biết trước

4 Thị trường đất rừng là hoàn hảo

5 Thị trường vốn tài chính là hoàn hảo

Những hàm ý về tính tất định là rõ ràng Chủ đất có thể dự đoán tất cả các tác động về hoạt động thu hoạch của mình trên doanh thu thuần trong tương lai Các thị trường vốn hoàn hảo hàm ý chủ đất có thể dùng các thị trường này để tài trợ cho tiêu dùng để không bóp méo kế hoạch quản lý rừng của mình Thị trường đất đai hoàn hảo hàm ý rằng anh ta có thể luôn bán đất rừng của mình ở bất kỳ thời gian nào, tại giá trị được vốn hóa trong thị trường đất đai Giá trị vốn hóa này được định nghĩa là giá trị hiện tại ròng của tất cả tô trong tương lai từ việc thiết lập và thu hoạch ở các vòng quay kế tiếp tại tuổi đời vòng quay tối ưu mãi mãi Điều này đảm bảo rằng các chủ đất có động cơ

để theo đuổi quản lý rừng dài hạn hiệu quả

3.2 Tính toán chu kỳ quay vòng tối ưu

3.2.1 Phát triển công thức Faustmann

Xét đại diện của chủ đất, với đất và loại cây trồng với công nghệ trồng đã biết Chủ đất biết trước giá gỗ và tỷ lệ chiết khấu cố định, anh ta lựa chọn tuổi đời quay vòng để tối

đa hóa giá trị hiện tại ròng của doanh thu thu hoạch với vòng quay vô hạn Chú giải, tỷ

lệ chiết khấu thực là r và chi phí tái sinh là c Giá tính tuổi cây theo mặt ngang của cây (stumpage price) có được từ thu hoạch là p (chúng ta sẽ dùng thuật ngữ giá tính tuổi

Trang 34

32

cây theo mặt ngang của cây và giá gỗ có thể thay thế cho nhau) Điều này phản ánh thực hành trong tài liệu giá như là thước đo đúng vị trí của nó Do đó giá mà chủ đất nhận được từ thu hoạch được giả thiết là chi phí chặt cây ròng phải thanh toán từ người đốn gỗ

Cũng giả định rằng quản lý rừng tùy thuộc vào công nghệ sản xuất đầu vào –đầu ra, điều đó có nghĩa công nghệ thiết lập rừng cố định (trồng rừng) và không có đầu vào sản xuất biến đổi khác ngoài thời gian Các nhân tố sản xuất cố định đơn giản là đất rừng với năng suất tự nhiên và đầu vào lao động cố định Thông thường việc thiết lập đầu vào này được nghĩ như là chỉ số nắm giữ toàn bộ các đầu vào cần thiết để bắt đầu cho vòng quay mới

Chúng ta ký hiệu biến quyết định của chủ đất, tuổi đời vòng quay là T Ở đây, tuổi

vòng quay như là thời gian tại đó cây được thu hoạch và chủ đất bắt đầu vòng quay kế tiếp trên mảnh đất trống Dùng giả thiết 3.2, giá trị hiện tại ròng của chủ đất từ thu

hoạch trong vòng quay đầu tiên tại thời điểm T là 𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑡 − 𝑐 với e -rTđược biết như

là nhân tố chiết khấu và là thời gian liên tục, xấp xỉ như 1/(1+r) T Do đó doanh thu thu hoạch tương lai được chiết khấu đến thời điểm thiết lập ban đầu (thời gian bằng 0)4

Sau khi thu hoạch, trên đất trống được trồng lại với chi phí c và vòng quay mới bắt đầu

cho những năm T thứ hai (vòng quay thứ 2) Bởi giả thiết 3.2, quá trình này tiếp tục với cùng tuổi đời vòng quay như nhau Một cách thuận tiện, chúng ta có thể viết giá trị hiện tại ròng của chuỗi vô hạn các vòng quay xác định như dưới đây:

𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑇 − 𝑐 + [𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑇 − 𝑐]𝑒−𝑟𝑇 + [𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑇 − 𝑐]𝑒−2𝑟𝑇 + [𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑇 −𝑐]𝑒−3𝑟𝑇 + ⋯

Phân tích thừa số 𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑡 − 𝑐 thu được dãy các cấp số nhân của phần còn lại bằng (1 + 𝑒−𝑟𝑇 + 𝑒−2𝑟𝑇+ 𝑒−3𝑟𝑇 + ⋯ ) Theo định nghĩa, nó hội tụ đến (1-e -rT ) -1

Giờ chúng ta đến với hàm tiếp theo để mô tả giá trị hiện tại ròng của vòng quay đầu tiên và tất cả các vòng quay tương lai

𝑉 = (1 − 𝑒−𝑟𝑇)−1[𝑝𝑓(𝑇)𝑒−𝑟𝑇 −

𝑐] (3.1)

Tử số trong 3.1 thể hiện giá trị hiện tại của vòng quay đơn, trong khi mẫu số là nhân tố chiết khấu hiệu quả kết hợp với vòng quay vô hạn tương lai Phương trình 3.1 đôi khi gọi là công thức Faustmann, giá trị đất trống (BLV-bare land value), giá trị kỳ vọng

Trang 35

33

của đất (LEV- land expectation value) hay giá trị kỳ vọng của đất (SEV- soil expectation value) Nó đại diện giá trị của đất rừng và được xác định bằng giá trị hiện tại của tất cả các tô ròng trong tương lai, có thể được tạo ra bởi vòng quay vô hạn, giả định việc thu hoạch và thiết nơi thu hoạch và tạo lập rừng mới tiếp tục mãi mãi Khi thị trường đất là hoàn hảo, giá trị này cũng đại diện do giá cân bằng thị trường của đất rừng trống

Vấn đề kinh tế của chủ đất là để chọn T để tối đa (3.1) Nhiệm vụ này có thể dường

như phức tạp nhưng thực tế là những tham số ngoại sinh không đổi theo thời gian và làm đơn giản phân tích đáng kể Nhắc lại tính chất không thay đổi cũng bảo đảm tuổi đời quay vòng tối ưu là xác định tất cả các vòng quay Vi phân (3.1) đối với tuổi đời vòng quay T thu được điều kiện bậc nhất:

𝑉𝑇 = 𝑝𝑓′(𝑇) − 𝑟𝑝𝑓(𝑇) − 𝑟𝑉

= 0 (3.2) Với V được xác định ở (3.1) Điều kiện bậc hai đầy đủ của lời giải tuổi đời vòng quay nhằm tối đa yêu cầu là

𝑉𝑇𝑇 = 𝑝𝑓′′(𝑇) − 𝑟𝑝𝑓′(𝑇)

< 0 (3.3)

Dùng rV T =0đã cho điều kiện bậc 1 Có thể thấy từ (3.3), điều kiện đầy đủ yêu cầu tối

ưu nằm bên trong phần lõm của hàm tăng trưởng, f ’’ (T)<0 Điều này thông thường

nhằm thể hiện điều kiện bậc nhất (3.2) theo hai cách tương đương:

𝑝𝑓′(𝑇) = 𝑟𝑝𝑓(𝑇)

+ 𝑟𝑉 (3.4𝑎) Hay

𝑓′(𝑇)

𝑟𝑉𝑝𝑓(𝑇) (3.4𝑏) Phương trình (3.4a) chỉ ra rằng vòng quay tối ưu được lựa chọn miễn là giá trị của phần

gia tăng hàng năm hiện tại, pf ’ (T), có được bằng cách trì hoãn thu hoạch trong một giai

đoạn (vế trái hoặc LHS) bằng với chi phí cơ hội của việc trì hoãn thu hoạch (vế phải hoặc RHS) Chi phí cơ hội này bằng với tô đất mà chủ đất có thể có được bằng thu

hoạch và đầu tư tiếp tại tỷ lệ chiết khấu r ở một giai đoạn rpf(T), cộng với giá trị hiện

tại của tiền lãi đầu tư mất đi do không thu hoạch bây giờ và bắt đầu vào chu kỳ vòng

quay mới trên mảnh đất đó, cho bởi số hạng rV Số hạng sau, V đơn giản là giá trị đất

Trang 36

34

trống của chuỗi các vòng quay bắt đầu giai đoạn hiện tại được xác định bằng (3.1) Số

hạng này cũng đo lường tô tích lũy dồn từ nhân tố sản xuất cố định (đất) Kết quả là, rV

đôi khi được gọi là “tô vị trí – site rent” hoặc “tô đất – land rent” kết hợp với nghiệm tuổi vòng quay tối ưu Phương trình (3.4) thể hiện cùng điều kiện theo cách hơi khác chút Ở đây tuổi vòng quay tối ưu được xác định bằng đẳng thức giữa tỷ lệ tăng trưởng tức thời (hoặc PAI) đã cho bởi LHS, và thuật ngữ RHS gồm tỷ lệ chiết khấu thực (số hạng thứ nhất) cộng với tô đất được đo bởi giá trị của cây tại thời điểm thu hoạch (số hạng thứ hai)

3.2.2 So sánh các giải pháp thay thế

Chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm đến so sánh mô hình Faustmann với cả hai vấn đề vòng quay đơn của von Thunen and Jevons và giải pháp MSY của các nhà lâm nghiệp được đề cập ở chương 1

Mô hình vòng quay đơn

Cả von Thunen and Jevons giả định rằng quyết định mô hình vòng quay là nơi mà chủ đất lựa chọn tuổi đời quay vòng để tối đa giá trị hiện tại ròng của doanh thu thu hoạch theo vòng quay đơn Giá trị hiện tại ròng của vòng quay đơn được cho bởi

Ngày đăng: 21/03/2021, 18:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm