1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng phương pháp định lượng trong kinh tế quốc tế

173 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần dư từ mô hình ARCH Pozo 1992, Kroner và Lastrapes 1993, Caporale và Doroodian 1994 , McKenzie và Brooks 1997, McKenzie 1998 đã sử dụng phần dư từ mô hình ARCH để đo sự biến động tỷ

Trang 1

BỘ MÔN KINH TẾ

GS.TS Nguyễn Khắc Minh

BÀI GIẢNG

PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG TRONG

KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội tháng 8 năm 2017

Trang 2

PHẦN MỘT: CÁC MÔ HÌNH DAO ĐỘNG TỶ GIÁ, ƯỚC LƯỢNG ĐỘ CO GIÃN,

TÁC ĐỘNG CỦA FDI VÀ MÔ HÌNH LỰC HẤP DẪN 2

CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ LÊN DÕNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 3

I ĐỊNH NGHĨA TỶ GIÁ 3

1.1 Định nghĩa về tỷ giá 3

1.2 Phân loại tỷ giá 3

1.2.1 Tỷ giá mua vào và bán ra 3

1.2.2 Tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn 3

1.2.3 Tỷ giá tiền mặt và tỷ gia chuyển khoản 3

1.2.4 Tỷ giá mở cửa và đóng cửa 4

1.2.5 Tỷ giá chính thức 4

1.2.6 Tỷ giá chợ đen 4

1.2.7 Tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực tế, và tỷ giá hiệu quả 4

1.2.8 Tỷ giá chéo 6

II SỢ RỦI RO VÀ TRUNG TÍNH VỚI RỦI RO 6

III MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNGLÊN TỶ GIÁ 7

IV CÁC THƯỚC ĐO SỰ BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ 8

4.1 Các thước đo sử dụng cho mức độ biến động tỷ giá……… 8

4.1.1.Phần trăm thay đổi tuyệt đối của tỷ giá 8

4.1.2 Mức chênh tuyệt đối bình quân giữa tỷ giá kỳ hạn kỳ trước với tỷ giá giao ngay hiện tại 8

4.1.3 Phương sai của tỷ giá giao ngay xung quanh xu thế 8

4.1.4 Trung bình trượt của độ lệch chuẩn của tỷ giá 8

4.1.6 Độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi hàng năm của tỷ giá song phương 9

4.1.7 Phần dư mô hình ARIMA 9

4.1.8 Các kỹ thuật phi tham số 9

4.1.9 Phần dư từ mô hình ARCH 9

4.2 Thước đo biến động tỷ giá danh nghĩa hay tỷ giá thực 9

V KHÁI QUÁT CÁC MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG CỦA DAO ĐỘNG TỶ GIÁ VÀ CÁC BIẾN ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI 11

5.1 Biến phụ thuộc : Khối lượng thương mại 11

5.2 Các biến giải thích có thể được khái quát hóa trong các danh mục sau: 11

5.3 Những kết luận về nghiên cứu thực nghiệm 12

5.4 Dữ liệu tổng thương mại, thương mại song phương hay thương mại ngành 13

5.4.1 Mô hình dòng thương mại song phương 13

Trang 3

5.5 Dòng thương mại theo ngành 14

5.6 Thời kỳ mẫu dữ liệu 16

5.7 Không dừng và đồng tích hợp 16

5.8 Mô hình thương mại được chỉ định 18

5.9 Kỹ thuật ước lượng được sử dụng 19

5.9.1 Véc-tơ tự hồi quy VAR 20

5.9.2 Ước lượng GARCH 20

VI MỘT SỐ MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG DAO ĐỘNG TỶ GIÁ ĐẾN LUỒNG THƯƠNG MẠI 21

6.1 Mô hình xác định biến động tỷ giá đến luồng thương mại châu Phi (Serenis và cộng sự (2014) 21

6.1.1 Mô hình 21

6.1.2 Biến động tỷ giá hối đoái 22

6.2 Mô hình NATREX 22

6.3 Tác động của dao động tỷ giá lên sự phát triển tài chính 24

6.4 Mô hình Hooper-Kohlhagen 26

6.4.1 Mô hình 26

VII TÓM TẮT 28

VIII, CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT ƯỚC LƯỢNG CUNG -CẦU XUÂT NHẬP KHẨU 32

I LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG CUNG CẦU XUẤT NHẠP KHẨU 32

1.1 Chọn biến 32

1.1.1.Biến phụ thuộc 32

1 1.2.Biến độc lập hoặc biến giải thích 33

1.2 Dạng hàm 35

1.3 Trễ trong mô hình 36

1.3.1 Mô hình cân bằng 36

1.3.2 Mô hình không vân bằng 36

II ẢNH HƯỞNG PHẢN ỨNG GIÁ CỦA CẢ CẦU VÀ CUNG CHO XUẤT KHẨU 37

2.1 Cách tiếp cận đồng thời ( xuất nhập khẩu gộp) 37

2.1.1 Mô hình cân bằng 37

2.1.1.1 Hàm cầu của thế giới cho xuất khẩu của một nước 37

2.1.1.2 Hàm cung cho xuất khẩu của một nước 37

2.1.3 Mô hình không cân bằng 38

2.1.3.1 Chỉ định cơ chế điều chỉnh 38

Trang 4

2 1.4.1 độ co giãn của xuất khẩu theo giá của cầu từ mô hình cân bằng (tổng xuất

khẩu) 40

2.1.4.2 Độ co giãn của xuất khẩu theo giá của cung từ mô hình không cân bằng (tổng xuất khẩu) 41

2.2 Mô hình không gộp ước lượng độ co giãn 41

2 2.1 Mô hình cung cầu cho xuất khẩu 41

2 2.1.1 Hàm cung cho xuất khẩu gạo 41

2 2.1.2 Hàm cầu cho xuất khẩu gạo 41

2 2.3 Một vài kết quả thực nghiệm ước lượng mô hình cho một số nước 43

2 2.3.1 Ước lượng cung xuất khẩu cân bằng 1 43

2.2.3.2 ước lượng cung xuất khẩu ( mất cân bằng) 43

III MÔ HÌNH XUẤT KHẨU VÀ FDI 44

3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại 44

3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và lan tỏa xuất khẩu 45

3.2.1 Các biến cụ thể thuộc về doanh nghiệp 46

3.2.2 Biến ngành 46

3.2.3 Biến lan tỏa FDI 46

3.2.4 Kỹ thuật ước lượng 46

IV TÓM TẮT 47

V CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 47

I TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT VÀ ĐO LƯỜNG ĐỘ CO GIÃN THAY THẾ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 52

I GIỚI THIỆU 52

II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 52

2.1 Độ co giãn thay thế và đường bang quan 52

2.2 Phương trình ước lượng độ co giãn thay thế đơn giản 54

2.3 Độ co giãn thay thế giữa hai đường bang quan 54

2.4 Những vấn đề thực nghiệm căn bản 56

2.5 Ước lượng mô hình độ co giãn thay thế đơn giản và kiểm định giả thiết 57

III ĐO LƯỜNG ĐỘ CO GIÃN THAY THẾ 58

3.1 Đo độ co giãn thay thế 58

3.2 Những vấn đề thực nghiệm 59

IV DIỄN GIẢI VÀ SỬ DỤNG CÁC KẾT QUẢ 59

V CÁC ƯỚC LƯỢNG CHUỖI THỜI GIAN VÀ CHÉO ĐỔ ĐỒNG 63

Trang 5

6.1 Định nghĩa 65

6.2 FDI đi vào nước nhận đầu tư là thay thế hay bổ sung cho đầu vào trong nước 65

6.2.1.Mô hình hàm chi phí 66

6.2.2 Kết quả ước lượng hàm chi phí 66

6.2.3 Kết quả ước lượng độ co giãn thay thế Allen-Uzawa (AES) 67

VII KẾT LUẬN 69

VIII CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 70

IX PHỤ LỤC 70

X TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

CHƯƠNNG 4: MÔ HÌNH LỰC HẤP DẪN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 74

I CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 74

1.1 Cơ sở lý thuyết mô hình lực hấp dẫn 74

1.2 Chỉ định thực nghiệm mô hình 79

1.3 Các mô hình lực hấp dẫn về thương mại nội bộ vùng: Áp dụng ước lượng Hausman-Taylor trong các mảng không thuần nhất với các nhân tố chung chuyên theo thời gian 81

1.3.1 Tổng quan về các mô hình lực hấp dẫn của kinh tế quốc tế 81

1.3.2 Ước lượng Hausman-Taylor trong các mảng không thuần nhất với các nhân tố chuyên theo thời gian 84

3.2 Mô hình lực hấp dẫn cho hoạt động xuất khẩu nông nghiệp 89

3 2.1 Giới thiệu 89

3.2.2 Mô hình lực hấp dẫn cho xuất khẩu 89

3.2 Mô hình lực hấp dẫn cho hoạt động xuất khẩu nông nghiệp theo kinh tế lượng không gian 90

3.2.1 Giới thiệu mô hình 90

3.2.2 Ma trận trọng số không gian 91

3 4 Thực hành 91

V TÓM TẮT 92

VI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

CHƯƠNG 5: CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA FDI 96

I MỞ ĐẦU 96

II MÔ TẢ LAN TỎA TỪ CÔNG TY NƯỚC NGOÀI SANG CÁC CÔNG TY TRONG NƯỚC 97

III TÍNH CÁC KÊNH TRUYỀN TẢI TÁC ĐỘNG CỦA FDI 100

IV CÁC BIẾN KINH TẾ MÀ FDI TÁC ĐỘNG ĐẾN (CÁC BIẾN PHỤ THUỘC CỦA CÁC MÔ HÌNH) 101

Trang 6

4.1.5 Các thước đo nghèo và bất bình đẳng 101

4.1.3 Thước đo chuyển dịch cơ cấu 105

4.2 Đối với các biến đầu ra mà FDI tác động đến theo cấp độ doanh nghiệp 105

4.2.1 Đầu ra của doanh nghiệp VA hoặc doanh thu (R) 105

4.2.2 Đối với các biến đầu ra của doanh nghiệp là năng suất lao động, tiền lương, TFP và hiệu quả 105

4.2.2.1.Biến tiền lương 105

4.2.2.2.Biến năng suất lao động 105

4.2.2.3 Biến TFP 105

4.2.2.3 Biến hiệu quả 108

V CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA FDI 109

5.1 Mô hình với số liệu vĩ mô 109

5.1.1 Mô hình tự hồi quy véc tơ về liên hệ FDI và một số biến vĩ mô 109

5.1.5 Mô hình hệ phương trình 110

5.1.3 Ước lượng quan hệ giữa GDP, FDI và EX (xuất khẩu) qua các hệ phương trình đồng thời 113

5.14 Mô hình đánh giá tác động FDI đến chỉ số nghèo đói 114

5.15 Mô hình đánh giá tác động của FDI đến đầu ra doanh nghiệp 116

5.16 Mô hình đánh giá tác động của FDI đến TFP doanh nghiệp 117

5.17 Mô hình đánh giá tác động của lan tỏa của FDI đến hiệu quả TE 117

VI KẾT LUẬN 118

VII BÀI TẬP 118

IIX TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHẦN 2 ( ĐỌC THÊM) 121

CHƯƠNG 6: ƯỚC LƯỢNG DÕNG CHU CHUYỂN VỐN QUỐC TẾ 122

I GIỚI THIỆU 122

II LÝ THUYẾT VỀ SỰ VẬN ĐỘNG VỐN QUỐC TẾ 123

2.1 Gới thiệu 123

2.2 Mô hình tổng quát về quyết định vốn và mô tả cầu và cung vốn 123

3.3 Bài toán tích trữ-Luồng 125

2.6 Đầu tư danh mục ngắn hạn 126

2.5 Đầu cơ 130

2.6 Tín dụng thương mại và Kiếm Chênh lệch từ Thương mại 131

2.7 Đầu tư danh mục dài hạn 134

2.8 Đầu tư trực tiếp 135

III ĐO LƯỜNG SỰ VẬN ĐỘNG VỐN QUỐC TẾ 136

Trang 7

3.3 Lựa chọn biến thương mại 137

3.4 Hoạt động đầu cơ 139

3.5 Kiếm soát Vốn và Hạn chế Tín 140

3.6 Mức tổng hợp 141

3.7 Cấu trúc trễ 142

3.8 Lựa chọn dạng hàm 143

3.9 Tính đồng thời 143

IV KẾT LUẬN 144

V TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

CHƯƠNG 7: PHÂN TÍCH THỊ PHẦN KHÔNG ĐỔI CỦA TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU 147

I LÝ THUYẾT VÀ PHÉP ĐO 147

1.1 Cầu đối với với xuất khẩu từ hai nguồn cung cạnh tranh 147

II CHỌN “TIÊU CHUẨN” 152

III NHỮNG SUY LUẬN XA THÊM 152

3.1 Các vấn đề 152

3.2 Phần dư cạnh tranh 153

IV KẾT LUẬN 154

V THÍ DỤ BẰNG SỐ 154

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

CHƯƠNG 8: MÔ HÌNH “HAI THIẾU HỤT” 160

I GIỚI THIỆU 160

II MỤC TIÊU MÔ HÌNH 160

III MÔ HÌNH 160

IV KẾT LUẬN 164

V TÀI LIỆU THAM KHẢO 164

Trang 9

Giới thiệu

Theo quyết định của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi (201 ), bộ môn kinh tế thuộc khoa Kinh tế và Quản lý của Đại Học Thủy Lợi được phép mở thêm 2 chuyên ngành” Kinh tế phát triển và kinh tế Quóc tế” Theo quan điểm của bộ môn trong việc thiết kế chương trình học môn kinh tế quốc tế là chương trình phải đảm bảo tính khoa học, hiện đại để sinh viên chuyên ngành này ra trường có thể làm tốt chuyên môn của mình và khả năng hội nhập cao Vì vậy trong chương trình môn học, chúng tôi có thiết kế môn học “Phương pháp định lượng trong kinh tế quốc tế”

Mục tiêu của tập bài giảng này là: giúp cho người học nắm được các phương pháp định lượng trong kinh tế quốc tế bao gồm các mô hình cơ bản về ước lượng cầu xuất nhập khẩu, độ co giãn thay thế trong kinh tế quốc tế, các mô hình tác động FDI đến nền kinh tế doanh nghiệp,đánh giá tác động của biến động tỷ giá đến luồng kinh

tế quốc tế và các mô hình luồng chu chuyển vốn quốc ình lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế cũng như tế…

Nội dung căn bản, chúng tôi dựa trên cuốn : “ Kinh tế quốc tế lượng hóa “ của Leamer và Stern (1970) và những phát triển đây về lý thuyết cũng như về phương pháp định lượng Lúc dầu bài giảng dự kiến gồm 6 chương: (i) Mô hình về tác động của dao động tỷ giá đến luồng thương mại; (ii) Mô hình ước lượng cung, cầu xuất nhập khẩu; (iii) Mô hình lực hấp dẫn phân tích tác động của xuát khẩu và thương mại nội ngành; (iv) Mô hình đánh giá tác động của FDI đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô; (v) mô hình đánh giá tác động của FDI đến TFP,

VA và hiệu quả của các doanh nghiệp nội địa và (vi) Mô hình phân tích tác động của các dự

án ODA

Nhưng khi biên soạn tập bài giảng này, chúng tôi nhận thấy (i) cần phải trình bày khối lượng kiến thức rộng hơn nội dung dự định để cho người đọc có nhiều lựa chọn; (ii) nội dung của chương 4, chương 5 và chương 6 có thể gộp lại

Vì thế tập bài giảng chúng tôi biên soạn gồm các chương sau:

Chương 1: Tác động của sự biến động lên dòng kinh tế quốc tế,

Chương 2: Lý thuyết ước lượng cung cầu xuất nhập khẩu,

Chương 3: Lý thuyết và đo lường độ co giãn trong kinh tế quốc tế,

Chương 4: Mô hình lực hấp dẫn trong kinh tế quốc tế

Chương 5: Các mô hình đánh giá tác động của FDI,

Chương 6: Ước lượng dòng chu chuyển vốn quốc tế,

Chương 7: Phân tích thị phần không đổi của tăng trưởng xuất khẩu

Chương 8: Mô hình hai thiếu hụt

Vì chỉ có 2 đơn vị học trình nên chúng tôi chia tập bài giảng này thành hai phần : phần 1 gồm 5 chương đầu nằm thong nội dung giảng và thực hành trên lớp Phần 2 gồm 3 chương sau dung làm tài liệu tham khảo

Tập bài giảng này được biên soạn lần đầu nên không thể tránh khổi thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự góp ý của các thầy các cô, người đọc và các bạn sinh viên để bài giảng này được tốt hơn

Ngày 10 tháng 8 năm 2017

Trang 10

PHẦN MỘT CÁC MÔ HÌNH DAO ĐỘNG TỶ GIÁ, ƢỚC LƢỢNG ĐỘ CO GIÃN, TÁC ĐỘNG CỦA FDI VÀ MÔ HÌNH LỰC HẤP DẪN

Trang 11

CHƯƠNG 1 TÁC ĐỘNG CỦA SỰ BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ LÊN DÕNG

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

I ĐỊNH NGHĨA TỶ GIÁ

1.1 Định nghĩa về tỷ giá

Tỷ giá hối đoái đơn giản là giá cả của một đồng tiền tính bằng đồng tiền khác Bởi vì tỷ giá giữa hai đồng tiền là giá của một đồng tiền tính theo đồng tiền còn lại nên sẽ có hai cách biểu thị chúng:

1 Số đồng nội tệ đổi lấy một đồng ngoại tệ – thí dụ, coi Việt Nam đồng VNĐ là đồng nội

tệ, vào ngày 6 tháng Hai năm 2017, người ta sẽ cần có khoảng 2200 VNĐ để mua một đô la Mỹ

2 Số ngoại tệ đổi lấy một đồng nội tệ – cũng coi VNĐ là đồng nội tệ, vào ngày 6 tháng Hai năm 1991, người ta sẽ cần khoảng 0,0000625 $ để mua một VNĐ

Lưu ý rằng phương pháp thứ hai chỉ đơn giản là nghịch đảo của phương pháp thứ nhất Việc sử dụng cách niêm yết nào không quan trọng, tuy nhiên chúng ta cần lưu ý khi nói việc tăng giảm của tỷ giá bởi vì ý nghĩa của câu nói này sẽ rất khác nhau khi sử dụng các cách niêm yết khác nhau

1.2 Phân loại tỷ giá

1.2.1 Tỷ giá mua vào và bán ra

Định nghĩa 2 Tỷ giá mua vào là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.Định nghĩa 3 Tỷ giá bán ra là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng

bán ra đồng tiền yết giá

1.2.2 Tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn

Các nhà buôn ngoại hối không chỉ kinh doanh giữa một loạt các đồng tiền khác nhau

mà họ còn sử dụng một loạt các tỷ giá khác nhau đối với mỗi đồng tiền mà chúng ta vẫn gọi là

tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn

Định nghĩa 4: Tỷ giá giao ngay

Tỷ giá giao ngay là tỷ giá niêm yết giữa hai đồng tiền để chuyển giao ngay lập tức

Nói cách khác, tỷ giá giao ngay là tỷ giá hiện hành giữa hai đồng tiền với nhau Trong thực tế, thông thường sẽ có hai ngày trễ giữa hôm đặt lệnh mua hoặc bán giao ngay với hôm thực sự trao đổi tiền cho nhau vì những lý do như là giấy tờ chứng minh, các thủ tục và việc thực hiện thanh toán

1.2.3 Tỷ giá tiền mặt và tỷ gia chuyển khoản

Định nghĩa 6: Tỷ giá tiền mặt: Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền

giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng

Trang 12

Định nghĩa 7: Tỷ giá chuyển khoản: Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch

mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng

1.2.4 Tỷ giá mở cửa và đóng cửa

Định nghĩa 8: Tỷ giá mở cửa: Tỷ giá mở cửa là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch

đầu tiên trong ngày

Định nghĩa 9: Tỷ giá đóng cửa: Tỷ giá đóng cửa là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao

dịch cuối cùng trong ngày

1.2.5 Tỷ giá chính thức

Định nghĩa 10:Tỷ giá chính thức: Tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức

về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ Tỷ giá này được áp dụng làm cơ sở tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động liên quan đến ngoại hối của chính phủ như xác định nợ vay của chính phủ

1.2.6 Tỷ giá chợ đen

Định nghĩa 11: Tỷ giá chợ đen: Tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng

do quan hệ cung cầu trên thị trường này quyết định

1.2.7 Tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực tế, và tỷ giá hiệu quả

Các nhà lập chính sách và các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm tới việc phân tích những tác động của sự thay đổi tỷ giá tới nền kinh tế và cán cân thanh toán Bản thân tỷ giá không chứa đựng nhiều thông tin Để phân tích những tác động và các ngụ ý của việc thay đổi tỷ giá, các nhà kinh tế xây dựng các chỉ số tỷ giá danh nghĩa, thực tế, và hiệu quả Bởi vì hầu hết các nhà quản lý quốc tế và ở mỗi quốc gia đều niêm yết tỷ giá danh nghĩa, thực tế, và hiệu quả tính bằng số ngoại tệ trên một đơn vị nội tệ nên chúng ta sẽ sử dụng cách định nghĩa có tính giả thuyết này để xem xét tỷ giá danh nghĩa, thực tế, và hiệu quả Điều đó có nghĩa là việc tăng chỉ số tỷ giá danh nghĩa, thực tế, và hiệu quả hàm ý rằng đồng nội tệ lên giá

Định nghĩa 12: Tỷ giá danh nghĩa

Tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá thường được niêm yết vào một ngày cụ thể được gọi là tỷ giá danh nghĩa, tức là số đơn vị ngoại tệ đổi lấy một đơn vị nội tệ trên thị trường ngoại hối

(thí dụ 0,0000625$ /1 VNĐ)

Thí dụ, nếu tỷ giá đồng VNĐ/ $ được niêm yết là 16000 VNĐ/1$ thì đó cũng chính là

tỷ giá danh nghĩa Tỷ giá danh nghĩa đơn giản là giá của một đồng tiền tính theo đồng tiền kia

mà không cần quan tâm tới sức mua hàng hóa và dịch vụ của hai đồng tiền đó Tỷ giá danh nghĩa thường được ghi dưới dạng chỉ số, nếu như thời kỳ cơ sở của chỉ số là 16000VNĐ/1$$

và một thời kỳ sau tỷ giá danh nghĩa là 17600 VNĐ/1$ thì chỉ số danh nghĩa của đồng bảng sẽ thay đổi từ kỳ cơ sở là 100 lên thành 110; điều này hàm ý rằng VN đồng đã lên giá 10% so với đồng đô la Việc mất giá hay lên giá của tỷ giá danh nghĩa không nhất thiết hàm ý rằng nước này đang trở nên cạnh tranh hơn hoặc kém cạnh tranh đi trên thị trường quốc tế, đối với vấn đề này thì chúng ta cần sử dụng tỷ giá thực tế

(1.1)

Trang 13

trong đó er là chỉ số tỷ giá thực tế; e là tỷ giá danh nghĩa (số ngoại tệ tính trên một đơn vị nội tệ) dưới dạng chỉ số, P là chỉ số giá trong nước, và Pf là chỉ số giá nước ngoài

Tỷ giá thực tế được xây dựng dựa trên công thức nêu trên

Định nghĩa 15: Tỷ giá hiệu quả: Tỷ giá hiệu quả là một thước đo phản ánh việc lên

giá hay mất giá của một đồng tiền với một giỏ đồng tiền khác có tính tới trọng số

Bởi vì hầu hết các quốc gia trên thế giới không thực hiện quan hệ thương mại bằng duy nhất một đồng ngoại tệ nên các nhà lập chính sách không quá quan tâm tới những gì xảy

ra trong tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một loại ngoại tệ khác, mà họ quan tâm tới tỷ giá trao đổi giữa đồng nội tệ với một giỏ ngoại tệ khác mà có quan hệ thương mại với nước này Để làm sáng tỏ việc xây dựng tỷ giá hiệu quả, chúng ta sẽ xem xét một tình huống giả định của nước Việt Nam, nó có quan hệ ngoại thương với Mỹ và Nhật, trong đó Mỹ chiếm 30% giá trị ngoại thương còn Nhật chiếm 70% giá trị ngoại thương Điều này có nghĩa

là trọng số 0.3 sẽ được gắn với chỉ số tỷ giá song phương với Mỹ còn Nhật sẽ gắn với trọng

tỷ giá hiệu quả sẽ tăng lên, tuy nhiên sẽ ít hơn so với mức tăng của Việt Nam đồng với đồng

đô la Trong thời kỳ 4, Việt Nam đồng giảm giá so với cả đồng đô la và đồng Yên nên tỷ giá hiệu quả sẽ bị giảm đi Cuối cùng, trong thời kỳ 5, Việt Nam đồng giảm giá so với đồng đô la

và tăng giá so với đồng Yên nhưng ở mức độ nhỏ hơn, tuy nhiên tỷ giá hiệu quả sẽ chỉ giảm một chút ít bởi vì trọng số gắn với đồng Yên lớn hơn so với trọng số gắn với đồng đô la

Tỷ giá hiệu quả rất dễ theo dõi hàng ngày và thường cung cấp cho ta một chỉ số thích hợp về những thay đổi trong vị trí cạnh tranh của quốc gia này trong thời kỳ khoảng vài tháng, tuy nhiên nó không tính đến những tác động của sự thay đổi trong mức giá Để có được một chỉ

số tốt hơn về những thay đổi trong vị trí cạnh tranh của một quốc gia, chúng ta cần phải kết hợp thành chỉ số tỷ giá hiệu quả thực tế Để làm được điều này, chúng ta trước tiên phải xây dựng tất cả các tỷ giá thực tế với các đồng tiền của các quốc gia có quan hệ thương mại dưới dạng chỉ số, sau đó chúng ta sẽ làm giống như khi xây dựng tỷ giá hiệu quả danh nghĩa

Bảng 1.1 Xây dựng chỉ số tỷ giá hiệu quả danh nghĩa

Thời kỳ Chỉ số tỷ giá danh

nghĩa

Chỉ số tỷ giá danh nghĩa

Chỉ số tỷ giá hiệu quả

Trang 14

1.2.8 Tỷ giá chéo

Định nghĩa 16: Tỷ giá chéo: Tỷ giá chéo là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy từ đồng

tiền thứ ba

II SỢ RỦI RO VÀ TRUNG TÍNH VỚI RỦI RO

Các nghiên cứu ngay từ đầu đã ủng hộ cho giả thuyết cho rằng sự biến động của tỷ giá làm giảm dòng thương mại Luận điểm này cho rằng những thay đổi bất chợt của tỷ giá sẽ tác động lên những quyết định của các nhà buôn sợ rủi ro (xem Artus (1983), Brodsky (1984)),

do vậy sản lượng và khối lượng thương mại sẽ giảm xuống Quan điểm này đã được nêu ra trong nghiên cứu của Ethier (1973) được công bố ngay sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton-Woods Ethier đã mô hình hóa những quyết định mà một doanh nghiệp sợ rủi ro đưa ra liên quan tới khối lượng hàng hóa dược nhập khẩu và số lượng ngoại tệ được mua kỳ hạn trong một môi trường có sự bất định của tỷ giá, và sự bất định của tỷ giá được đo bằng độ lệch chuẩn của tỷ giá giao ngay Giả sử giá hàng nhập khẩu được niêm yết bằng ngoại tệ, và doanh nghiệp biết trước được mức lợi nhuận của mình tại mỗi mức tỷ giá, sự bất định của tỷ giá không ảnh hưởng tới khối lượng thương mại nhưng nó sẽ quyết định tới số ngoại tệ giao dịch

kỳ hạn Ít có khả năng là doanh nghiệp sẽ sở hữu những thông tin này, và do vậy Ethier đã phát triển mô hình để đưa thêm yếu tố bất định gắn với trạng thái của doanh nghiệp vào Trong kịch bản này, khối lượng thương mại có quan hệ trái chiều với mức độ bất định của tỷ giá, dù rằng mức độ phản ứng sẽ giảm dần thì doanh nghiệp có khuynh hướng thích đầu cơ cao hơn Ethier lưu ý rằng những kết quả này tương đối vững trước những thay đổi liên quan tới giả định về việc đồng tiền được niêm yết trong hợp đồng xuất khẩu Clark (1973) đã xây dựng một mô hình tương tự cho một doanh nghiệp sợ rủi ro và cho kết quả tương tự

Demers (1991) đã chỉ ra tại sao giả định về sợ rủi ro là không bắt buộc khi xây dựng một mô hình mà ủng hộ cho giả thuyết nêu trên Trong bài viết này, chúng ta sẽ giả định trung tính với rủi ro của một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, doanh nghiệp này không chắc chắn

về tình trạng nhu cầu do những bất định của giá xuất phát từ rủi ro tỷ giá Nghiên cứu đã chỉ

ra tại sao trong một thế giới bất định, việc không thể đảo ngược các quyết định đầu tư vào máy móc sẽ dẫn tới giảm mức sản lượng và khối lượng thương mại theo thời gian

Franke (1991) cũng đã phân tích chiến lược xuất khẩu của một doanh nghiệp trung tính với rủi ro và đã đưa ra những bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết tích cực đối nghịch với giả thuyết nêu trên Doanh nghiệp được giả định hoạt động trong một môi trường cạnh tranh độc quyền, và tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của các dòng tiền dự kiến từ xuất khẩu, xuất khẩu ở đây là một hàm tăng dần theo tỷ giá thực Chiến lược xuất khẩu được quyết định bởi chi phí giao dịch phát sinh, trong đó doanh nghiệp sẽ gán trọng số chi phí gia nhập (rút lui) thị trường ngoại hối với lợi nhuận (thua lỗ) gắn với xuất khẩu Khi hàm dòng tiền là hàm lồi theo

tỷ giá, giá trị hiện tại của dòng tiền sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với giá trị hiện tại của chi phí gia nhập và rút lui, và doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc tỷ giá dao động mạnh hơn Trong kịch bản này, mô hình dự đoán rằng doanh nghiệp sẽ gia nhập thị trường sớm hơn và rút lui muộn hơn khi mức độ biến động tỷ giá tăng lên và số lượng các doanh nghiệp thương mại cũng sẽ tăng

De Grauwe (1988) đã chỉ ra những quan điểm trái chiều trong cuộc tranh luận này bằng cách mô hình hóa một doanh nghiệp sản xuất cạnh tranh đang phải ra quyết định giữa việc bán hàng tại thị trường nội địa hay thị trường nước ngoài Giá của cả thị trường trong và

Trang 15

ngoài nước đều được cố định, và do vậy nguồn gốc của rủi ro đối với doanh nghiệp này chỉ đến từ giá hàng xuất khẩu tính theo nội tệ Với những giả định này, phản ứng của nhà sản xuất trước việc gia tăng rủi ro tỷ giá (được biểu thị bằng việc phương sai tỷ giá tăng lên) phụ thuộc duy nhất vào việc liệu lợi ích cận biên kỳ vọng của thu nhập từ xuất khẩu là một hàm lồi hay lõm theo tỷ giá Nếu doanh nghiệp sản xuất này có mức độ sợ rủi ro tương đối thấp thì doanh nghiệp này sẽ sản xuất để xuất khẩu ít hơn bởi rủi ro tỷ giá lớn hơn sẽ làm giảm lợi ích cận biên kỳ vọng của doanh thu từ xuất khẩu Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất rất sợ rủi ro thì họ sẽ lo lắng đến những kết cục xấu nhất có thể xảy ra Điều này có nghĩa là tăng rủi ro tỷ giá sẽ làm tăng lợi ích cận biên kỳ vọng của doanh thu từ xuất khẩu bởi doanh nghiệp sản xuất sẽ muốn xuất khẩu nhiều hơn nhằm tránh việc giảm mạnh dòng doanh thu của mình Mô hình dùng làm cơ sở rút ra kết luận này sẽ không cho phép đa dạng hóa rủi ro

De Grauwe thừa nhận rằng việc đưa thêm thị trường vốn vào sẽ làm phân tích trở nên phong phú hơn, tuy nhiên nó vẫn không loại bỏ đi được vấn đề mập mờ mà chúng ta đã nêu

Dellas và Zilberfarb (1993) đưa ra những bằng chứng mới đối với đặc điểm bất định của những tác động do sự bất định của tỷ giá bằng cách sử dụng một mô hình danh mục tài sản chuẩn Tuy nhiên, không giống như hầu hết các nghiên cứu tập trung sử dụng phương sai của tỷ giá là thước đo mức độ bất định của tỷ giá, các tác giả này đã chỉ ra những dao động bất chợt của tỷ giá là yếu tố cấu thành rủi ro Tài sản trong mô hình của họ là một hợp đồng thương mại chưa được bảo hiểm, nó có chứa đựng yếu tố rủi ro trước những biến động của tỷ giá (phân phối xác suất của những biến động này đã biết) Phân tích của họ xem xét một cá nhân tiêu dùng cũng như nhập khẩu và xuất khẩu những hàng hóa hiện có (mô hình không tính đến phía sản xuất) Các kết quả của mô hình cho thấy rằng tăng mức độ rủi ro của lợi tức các tài sản này (tức là tăng rủi ro tỷ giá) có thể làm tăng hoặc làm giảm đầu tư (tức là thương mại) tùy thuộc vào đặc điểm của tham số sợ rủi ro mà chúng ta giả định Nếu chúng ta giả định có một hàm lồi thì tăng rủi ro sẽ làm tăng khối lượng xuất khẩu Điều ngược lại xảy ra khi chúng ta giả định hàm lõm Kết quả này được chỉ ra là khá vững khi chúng ta phân tích cho một thị trường kỳ hạn có chi phí giao dịch khác không cũng như khi chúng ta tính đến cả phía sản xuất

III MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN TỶ GIÁ

Trong khi các nhà kinh tế lý thuyết cố gắng mô hình hóa phản ứng lý thuyết của doanh nghiệp trước biến động tỷ giá thì các nhà nghiên cứu thực nghiệm cố gắng xem xét dữ liệu thương mại thực tế để cố gắng thiết lập mối quan hệ mang tính hệ thống Trong khi các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề tranh cãi này vẫn tiếp tục phát triển, một số vấn đề trọng tâm đã được xác định Những vấn đề này rất quan trọng bởi vì chúng có thể ảnh hưởng tới kết quả của việc nghiên cứu đặc điểm mối quan hệ giữa mức độ biến động tỷ giá với dòng thương mại Nổi bật trong số những vấn đề này liên quan tới kỹ thuật phù hợp được sử dụng để chúng

ta có thể tạo ra những ước lượng về mức độ biến động tỷ giá Vấn đề này bắt nguồn từ thực tế

là trong khi các nhà kinh tế nói chung đều đồng ý rằng chính sự bất định của tỷ giá sẽ định hình nên sự biến động tỷ giá, tuy nhiên không có một kỹ thuật nào dùng để đo lường rủi ro này được mọi người thống nhất sử dụng Chúng ta nhớ lại rằng lý thuyết kinh tế quốc tế cho rằng tỷ giá được quyết định bởi những yếu tố nền tảng gắn với tỷ giá và mối quan hệ này có thể được biểu diễn như sau:

Trang 16

Trong đó et là tỷ giá giao ngay, Xt là biến giải thích đại diện cho các yếu tố nền tảng quyết định tới tỷ giá, t là phần nhiễu ngẫu nhiên và  là hệ số vô hướng (chặn) và  là véc-tơ các hệ số biến giải thích Mức độ biến động tỷ giá được xác định theo một số cách bao gồm phương sai có/không có điều kiện (hoặc độ lệch chuẩn) của et, t và t - t-1 hay những thay đổi bất chợt của tỷ giá Một loạt các thước đo đã được sử dụng trong nghiên cứu, bao hàm cả những trường hợp nêu trên Bảng 1 tóm tắt một số dạng thước đo biến động tỷ giá mà đã được

sử dụng cũng như các bài báo đã sử dụng chúng Ngoài thước đo biến động tỷ giá thì chúng ta cũng có thể xác định một số vấn đề khác mà các nghiên cứu đã chỉ ra là có thể quan trọng trong việc xác định tác động của sự biến động tỷ giá lên thương mại Cụ thể, các nhà nghiên cứu trước tiên phải xem xét là biến động tỷ giá thực hay danh nghĩa sẽ phù hợp hơn trong việc

ra quyết định của những nhà buôn Thứ hai, đặc điểm nào của dòng thương mại cần được nghiên cứu Thứ ba, lựa chọn thời kỳ mẫu nào cho nghiên cứu Thứ tư, dữ liệu có thỏa mãn giả định sử dụng trong phân tích không Thứ năm, biến giải thích nào sẽ được đưa vào trong phương trình thương mại Thứ hai, sử dụng kỹ thuật ước lượng nào Thứ bảy, trọng tâm của các thước đo biến động tỷ giá sẽ là ngắn hay dài hạn Cuối cùng, đưa những nước nào vào trong nghiên cứu Mỗi vấn đề nêu trên đã được xác định trong các nghiên cứu là những yếu tố

có liên quan khi xem xét tác động thực nghiệm của biến động tỷ giá và chúng sẽ được nghiên cứu chi tiết trong phần sau

IV CÁC THƯỚC ĐO SỰ BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ

4.1 Các thước đo sử dụng cho mức độ biến động tỷ giá

Phần này trình bày tóm tắt một số thước đo sử dụng cho mức độ biến động tỷ giá

4.1.1.Phần trăm thay đổi tuyệt đối của tỷ giá

Để làm thước đo sử dụng cho mức độ biến động tỷ giá Thursby và Thursby (1985) Bailey, Tavlas và Ulan (1986) đã sử dụng phần trăm thay đổi tuyệt đối của tỷ giá, tức là

Vt = |(et – et-1)|/et-1 (1.3)

Trong đó Trong đó et là tỷ giá giao ngay còn t là thời kỳ

4.1.2 Mức chênh tuyệt đối bình quân giữa tỷ giá kỳ hạn kỳ trước với tỷ giá giao ngay hiện tại

Để làm thước đo sử dụng cho mức độ biến động tỷ giá Hooper và Kohlhagen (1978)

đã sử dụng Mức chênh tuyệt đối bình quân giữa tỷ giá kỳ hạn kỳ trước với tỷ giá giao ngay hiện tại làm thước đo, nghĩa là:

Vt = 11

/

n

t t i

4.1.3 Phương sai của tỷ giá giao ngay xung quanh xu thế

Thursby và Thursby (1985) đã sử dụng phương sai của tỷ giá giao ngay xung quanh

xu thế của nó là thước đo dao động tỷ giá

Xu thế này được xác định bằng mô hình:

ln et = 0 + 1t + 2t2 + t (1.5)

4.1.4 Trung bình trượt của độ lệch chuẩn của tỷ giá

Cushman (1983, 1986, và 1988), Akhtar và Spence-Hilton (1984), Gotur (1985), Kenen và Rodrik (1986)

Trang 17

Bailey, Tavlas và Ulan (1986), Klein (1990) đã sử dụng trung bình trượt của độ lệch chuẩn của tỷ giá làm thước đo dao động của tỷ giá bình trượt của độ lệch chuẩn của tỷ giá Ví dụ, Koray và Lastrapes (1989) đã sử dụng

11/

4.1.5 Đo sự bất định của tỷ giá dài hạn

Peree và Steinherr (1989) đo sự bất định của tỷ giá dài hạn bằng công thức sau:

De Grauwe và Bellefroid (1986), De Grauwe (1986, 1987) đã sử dụng độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi hàng năm của tỷ giá song phương xung quanh giá trị bình quân trong mỗi thời

kỳ quan sát làm thước đo dao động tỷ giá

4.1.7 Phần dư mô hình ARIMA

Asseery và Peel (1991), McIvoi (1995) đã sử dụng phần dư mô hình ARIMA là thương đo dao động tỷ giá

4.1.8 Các kỹ thuật phi tham số

Belanger và cộng sự (1992) đã sử dụng các kỹ thuật phi tham số để đo dao động tỷ giá

4.1.9 Phần dư từ mô hình ARCH

Pozo (1992), Kroner và Lastrapes (1993), Caporale và Doroodian (1994) , McKenzie và Brooks (1997), McKenzie (1998) đã sử dụng phần dư từ mô hình ARCH để đo sự biến động

tỷ giá

4.2 Thước đo biến động tỷ giá danh nghĩa hay tỷ giá thực

Một câu hỏi nêu lên trong cuộc tranh luận về tác động của biến động tỷ giá là chúng ta nên đưa biến động tỷ giá tỷ giá danh nghĩa hay thực vào trong hàm ra quyết định của nhà thương mại Nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết trong lĩnh vực này tập trung vào biến động tỷ giá danh nghĩa (Ethier (1973), Clark (1973), Baron (1976), và Hooper và Kohlhagen (1978)) Bini-Smaghi (1991) ủng hộ quan điểm này khi cho rằng “… rủi ro nên được xem xét

là rủi ro tỷ giá danh nghĩa thay vì tỷ giá thực tế… (bởi vì rủi ro tỷ giá thực) phụ thuộc vào không chỉ phương sai tỷ giá danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào phương sai của giá tương đối” Tương tự, Akhtar và Spence-Hilton (1984) nói rằng “một thước đo biến động tỷ giá mà phản ánh một phần biến động giá sẽ không giúp phân tách được rủi ro xuất phát từ biến động tỷ giá độc lập với biến động giá và rủi ro với tất cả các nhân tố khác mà có thể tác động tới lạm trong và ngoài nước.” Mặc dù Akhtar và Spence-Hilton đã không mô hình hóa một cách chính thức tác động về mặt lý thuyết của sự biến động tỷ giá lên dòng thương mại, nhưng họ

đã giả thuyết hóa mối quan hệ trái chiều dựa trên cái mà họ gọi là những hiệu ứng “trực tiếp” (bất định của lợi nhuận làm giảm khối lượng giao dịch) và hiệu ứng “gián tiếp” (các quyết

Trang 18

định của doanh nghiệp bị chệch về phía nền kinh tế nội địa) của sự bất định của tỷ giá Để kiểm chứng lý thuyết này, các tác giả đã xem xét dòng thương mại song phương giữa Mỹ và Đức với tần suất dữ liệu theo quý trong thời kỳ 1974-1981, trong đó khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu được chỉ định là một hàm phụ thuộc thu nhập, giá tương đối, mức độ sử dụng nguồn lực, và tỷ giá và biến động tỷ giá Phương trình giá được ước lượng từ xuất khẩu và nhập khẩu bằng cách sử dụng các biến giống như trên ngoại trừ biến thu nhập Biến đại diện cho mức độ rủi ro tỷ giá là độ lệch chuẩn của chỉ số tỷ giá danh nghĩa bình quân trong mỗi quý Trong thủ tục ước lượng này, các tác giả đã sử dụng tới tám thời kỳ trễ cho cả tỷ giá thực

và biến đại diện rủi ro Các kết quả cho thấy sự biến động tỷ giá đã thực sự làm giảm thương mại song phương của Đức nói chung và xuất khẩu của Mỹ Các thước đo biến động tỷ giá khác cũng được sử dụng và kết quả thu được không thay đổi nhiều

Các kết quả của Akhtar và Spence-Hilton (1984) là khá hứa hẹn bởi họ đã cố gắng tìm

ra những bằng chứng thuyết phục để ủng hộ cho giả thuyết quan hệ trái chiều (mặc dù chỉ là thương mại Đức-Mỹ), một thành công vượt xa so với nhiều nghiên cứu thời kỳ đó Tuy nhiên, các kết quả của họ bị chỉ trích ngay lập tức trong nghiên cứu của Gotur (1985), ông đã chỉ trích việc sử dụng thước đo biến động tỷ giá danh nghĩa của Akhtar và Spence-Hilton Gotur nói rằng trong trục thời gian trung hạn mà các nhà thương mại sử dụng thì “… tỷ giá thực là thước đo phù hợp hơn bởi các tác động của sự bất định lên doanh thu và chi phí của một doanh nghiệp bắt nguồn từ những dao động của tỷ giá danh nghĩa nhiều khả năng sẽ được bù đắp phần lớn nhờ vào những thay đổi trong chi phí và mức giá” Koray và Lastrapes (1989) cũng ủng hộ cho tỷ giá thực mặc dù họ không chứng minh được lý do tại sao

Gotur đã áp dụng mô hình Akhtar và Spence-Hilton để mở rộng tập dữ liệu và đưa vào không chỉ dữ liệu của Đức và Mỹ mà còn có cả Pháp, Nhật và Anh Các kết quả rút ra từ nghiên cứu của Gotur đưa ra quan điểm trái ngược khi “các biến phản ánh sự biến động tỷ giá trong các phương trình khối lượng thương mại hoặc có dấu “sai” hoặc không có ý nghĩa” Gotur cũng kiểm định tính vững của các kết quả của Akhtar và Spence-Hilton theo thời kỳ mẫu, thước đo biến động tỷ giá và kỹ thuật ước lượng Một mô hình điều chỉnh lại đã được xây dựng với mục tiêu nhằm xử lý những hạn chế trong mô hình gốc và áp dụng vào dữ liệu Theo cách nói của Gotur, “(i) sẽ rất khó để giải thích (những kết quả mới này) là ủng hộ giả thuyết biến động tỷ giá làm giảm khối lượng thương mại một cách có hệ thống Sáu trong mười hệ số biến động tỷ giá có dấu sai và bốn trong số đó có ý nghĩa (ngược lại, chỉ có một

hệ số mang dấu âm là có ý nghĩa)

Cushman (1983) đã chỉ trích đặc điểm danh nghĩa của các phương trình khối lượng thương mại và giá mà Hopper và Kohlgagen (1978) đã đưa ra Cushman kiểm định lại dạng thực cho các phương trình này, sử dụng cùng các nước, sử dụng dữ liệu bổ sung thêm hai năm, và độ lệch chuẩn bốn quý của những thay đổi trong thước đo biến động tỷ giá thực Các kết quả thực nghiệm cho sáu hệ số âm và có ý nghĩa trong số mười sáu phương trình được kiểm định Mặc dù các kết quả này có tiến bộ hơn so với các kết quả gốc của Hooper và Kohlhagen nhưng Cushman thừa nhận rằng những kết quả này vẫn chỉ ủng hộ một cách rất hạn chế cho giả thuyết về quan hệ trái chiều IMF (1984) và Chan và Wong (1985) đều sử dụng phương pháp giống như của Cushman (1983) và không ai tìm thấy những bằng chứng ủng hộ cho việc sự biến động tỷ giá sẽ làm giảm khối lượng thương mại một cách ý nghĩa về mặt thống kê

Trang 19

V KHÁI QUÁT CÁC MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG CỦA DAO ĐỘNG TỶ GIÁ VÀ CÁC BIẾN ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI

5.1 Biến phụ thuộc : Khối lượng thương mại

5.2 Các biến giải thích có thể được khái quát hóa trong các danh mục sau:

(1) thu nhập;( 2) giá;(3) mức độ sử dụng nguồn lực;(4) tỷ giá; (5) biến động tỷ giá;(6) thu nhập từ xuất khẩu của các nước sản xuất dầu ; (7) chi phí sản xuất; (8) biến hội nhập thương mại;(9) cung tiền; (10) lãi suất;(11) tiền công;(12) mức thuế quan;(13) chi phí vận tải;(14) biến phòng vệ của nhà nhập khẩu; (15) sở thích người tiêu dung

Bảng sau đây cho tóm tắt các mô hình

Bảng 1 2: Tóm tắt các kỹ thuật ước lượng và kết quả của nghiên cứu về biến động tỷ giá và khối lượng thương mại

Hilton (1991)

Spence-Asseery

và Peel (1991)

Bailey, Tavlas và Ulan (1986)

Bailey, Tavlas và Ulan (1987)

Belanger

và cộng

sự (1992)

Smaghi (1991)

Bini-Caballero

và Corbo (1989)

Tỷ giá song phương hoặc

bình quân sử dụng để

ước lượng thước đo biến

động tỷ giá

Bình quân

Bình quân

quân

Song phương

Bình quân

nghĩa

Danh nghĩa

Thực

Các biến giải thích có

trong mô hình

Khối lượng thương mại

hay giá trị thương mại

Khối lượng

Khối lượng

Xuất khẩu hay nhập khẩu

Xuất khẩu

Xuất khẩu

thương mại song phương

hay thương mại ngành

DC Canada)

(Mỹ-DC (nội vùng EMS)

Trang 20

năm được ngoại suy

về quý

Có tính đến vấn đề

không dừng hay tự tương

quan của dữ liệu không?

Được điều chỉnh cho

tự tương quan bậc nhất

Thực hiện kiểm định ADF

chỉnh tự tương quan chuỗi

Đã hiệu chỉnh tự tương quan chuỗi

nghiệm đơn vị

5.3 Những kết luận về nghiên cứu thực nghiệm

OLS là thủ tục hồi quy bình phương bé nhất thông thường; VAR và véc-tơ tự hồi quy; SURE là phương trình hồi quy có vẻ không liên quan

Qian và Varangis (1994) đưa ra bằng chứng cho thấy tỷ giá danh nghĩa và thực tế vận động khá sát nhau trong thời kỳ thả nổi Do vậy, các tác giả cho rằng việc phân biệt giữa biến động

tỷ giá thực và danh nghĩa sẽ không làm kết quả khác đi bao nhiêu Một số tác giả cố gắng kiểm định quan điểm này bằng cách kiểm định lại các phương trình của mình và sử dụng các thước đo biến động tỷ giá khác nhau Thursby và Thursby (1987) thấy rằng kết quả của họ trong trường hợp sử dụng biến động tỷ giá danh nghĩa không khác mấy so với khi sử dụng biến động tỷ giá thực

McKenzie và Brooks (1997) sử dụng mô hình ARCH để định lượng những biến động của tỷ giá theo tháng trong nghiên cứu của mình về thương mại song phương Mỹ-Đức trong thời kỳ 1973-93 Sử dụng dữ liệu Mỹ-Đức khiến cho bài viết này có mối quan tâm giống như các nghiên cứu trước đó đã xem xét quan hệ thương mại giữa hai sau thời kỳ Bretton Woods

và không tìm ra được những kết quả rõ ràng Sử dụng một mô hình trong đó thương mại phụ thuộc vào thu nhập, giá, tỷ giá và biến động tỷ giá, các kết quả thu được cho thấy tồn tại mối quan hệ thuận chiều có ý nghĩa giữa biến động tỷ giá và dòng thương mại Các tác giả so sánh

mô hình ARCH hồi quy theo tỷ giá thực với mô hình theo tỷ giá danh nghĩa và thấy rằng các tham số không khác nhau nhiều Do vậy, các tác giả kết luận rằng điểm khác biệt giữa biến động tỷ giá thực và danh nghĩa là không liên quan tới mô hình được kiểm định

Bailey, Tavlas và Ulan (1987) đã kiểm định phần trăm thay đổi tuyệt đối và loga của

độ lệch chuẩn của biến động tỷ giá theo cả dạng danh nghĩa và thực tế Sử dụng dữ liệu quý trong thời kỳ 1962 đến 1985 cho bảy nước lớn của OECD và bốn quốc gia khác, các tác giả chia dữ liệu thành hai chuỗi trước và sau thả nổi và kiểm định tác động của sự biến động tỷ giá Nói chung, các kết quả đã không đưa ra được những chứng cớ rõ ràng về tác động làm

Trang 21

xói mòn lượng xuất khẩu thực khi biến động tỷ giá tăng lên Trong số 7 phương trình được kiểm định cho thời kỳ trước 1973, có 6 phương trình cho hệ số của biến phản ánh sự bất ổn của tỷ giá mang dấu dương (một nửa số đó có ý nghĩa) Trong thời kỳ thả nổi, 35 phương trình được kiểm định và chỉ có 3 phương trình ủng hộ cho giả thuyết quan hệ ngược chiều Mỗi trường hợp có kết quả mang dấu âm và có ý nghĩa đều dựa trên các thước đo biến động

tỷ giá thực và không có hệ số nào đo lường theo tỷ giá danh nghĩa có ý nghĩa cả Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mối quan hệ thuận chiều có ý nghĩa cũng đã tìm thấy được trong thời kỳ thả nổi và áp dụng cho cả thước đo biến động tỷ giá thực và danh nghĩa

Nói chung, trong khi sự khác biệt giữa mức độ biến động tỷ giá thực và danh nghĩa đã gây ra nhiều tranh cãi trong nghiên cứu thì các kết quả thực nghiệm lại cho thấy rằng sự khác biệt này không ảnh hưởng đáng kể tới kết quả thu được

5.4 Dữ liệu tổng thương mại, thương mại song phương hay thương mại ngành

Nhìn vào bảng 2, chúng ta có thể thấy rằng nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã thực hiện kiểm định cho dữ liệu tổng thương mại Nhưng việc sử dụng dữ liệu dạng này có thể gây ra một số kết quả xung đột nhau Đó là do khi sử dụng dữ liệu thương mại quốc gia, chúng ta đang ngầm giả định rằng tác động của sự biến động tỷ giá là thống nhất giữa các nước và các hàng hóa theo cả chiều hướng và quy mô Nếu giả định này không đúng thì việc nghiên cứu dữ liệu tổng thương mại có nhiều khả năng làm chúng ta không nhận ra được mối quan hệ thật sự của chúng, và làm giảm khả năng tìm ra được những kết quả có ý nghĩa Thừa nhận khả năng này nên nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các mô hình thương mại mà sử dụng

dữ liệu thương mại phân rã thành song phương hoặc theo từng ngành

5.4.1 Mô hình dòng thương mại song phương

Hooper và Kohlhagen (1978) đã có một đóng góp thực nghiệm từ khá sớm trong hướng đi này, trong đó tác giả sử dụng mô hình thị trường cân bằng cho hàng hóa thương mại của Ethier (1973) và mở rộng nó thêm bằng cách bỏ đi giả định về hệ số co giãn của hàm cung xuất khẩu bằng vô cùng Xấp xỉ tuyến tính của mô hình Ethier cho các phương trình hồi quy sau:

P*=c0+c1UC*- c2UC+c3PD+ c4Y – c5CU – c6EH* - c7EH + c8s1/R1 – c9sR1

(1.8)

q* =d0 - d1UC*- d2UC+d3PD+d4Y– d5CU+ d6EH*- d7EH+ d8s1/R1 – d9sR1

(1.9) Trong đó P*

là giá hàng xuất khẩu được tính theo giá của nhà xuất khẩu, q* là hàm cung xuất khẩu, UC* là chi phí trên một đơn vị sản lượng tính theo nội tệ của nhà xuất khẩu,

UC là chi phí trên một đơn vị nhập khẩu, PD là giá hàng hóa khác trong nền kinh tế bản địa,

Y là thu nhập bằng tiền của nền kinh tế bản địa, CU là mức độ sử dụng nguồn lực, EH là giá trị kỳ vọng của giá trị bình quân có trọng số của chi phí ngoại hối đối với nhà nhập khẩu, và

sR1(s1/R1) là rủi ro tỷ giá đối với nhà nhập khẩu (xuất khẩu) được đo bằng mức chênh tuyệt đối bình quân giữa tỷ giá giao ngay kỳ hiện tại và tỷ giá kỳ hạn từ kỳ trước Mặc dù các thước

đo rủi ro khác cũng đã được kiểm định (phương sai của tỷ giá kỳ hạn hiện tại và phương sai của tỷ giá danh nghĩa), nhưng Hooper và Kohlhagen cho rằng thước đo đầu tiên là chỉ báo rủi

ro tốt nhất ứng với chế độ neo có thể điều chỉnh được sử dụng trong phần lớn thời kỳ mẫu Hooper và Kohlhagen đã kiểm định tác động của sự biến động tỷ giá lên dòng thương mại và giá cả sử dụng dữ liệu dòng thương mại đa phương và song phương theo quý đối với Đức,

Trang 22

Nhật, Canada, Pháp, Mỹ và Anh trong kinh tế 1965-1975 Khi chúng ta sử dụng dữ liệu thương mại tổng hợp cho mô hình thì chúng ta không tìm thấy tác động nào của sự biến động

tỷ giá lên khối lượng thương mại hay mức giá Đối với các dòng thương mại song phương, các tác giả cho thấy có những bằng chứng tương đối hạn về mối quan hệ với giá, mặc dù chiều hướng quan hệ vẫn còn xung đột nhau mà các tác giả cho rằng có nguyên nhân từ việc ghi đồng tiền nào cho các hợp đồng giao dịch

Cushman (1988) cố gắng tìm hiểu xem liệu phân tích dòng thương mại song phương được thực hiện trong thời kỳ thả nổi tỷ giá và sử dụng một loạt các thước đo mức độ biến động tỷ giá khác nhau liệu có thể chứng minh được những tác động xung đột nhau nhưng có ý nghĩa mà các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra không Để thực hiện điều này, mô hình dữ liệu thương mại song phương của Mỹ đã được trình bày trong bài viết của các tác giả năm 1983 được áp dụng cho dữ liệu mở rộng (1974-83) Một số thước đo biến động tỷ giá khác nhau đã được sử dụng để kiểm định tác động lên dòng thương mại với mô hình tối ưu được lựa chọn dựa trên “chất lượng của các biến phi rủi ro”, trong đó tác giả đã chỉ ra chúng có ý nghĩa thống kê

5.4.2 Các thước đo biến động tỷ giá đã sử dụng trong mô hình dòng thương mại song phương

Các thước đo biến động tỷ giá được kiểm định bao gồm độ lệch chuẩn trượt bốn quý

và độ lệch chuẩn trượt mười hai tháng của những thay đổi tỷ giá theo tháng mà các tác giả trong các nghiên cứu trước đã sử dụng Cushman cũng đưa vào ba thước đo biến động tỷ giá khác trong bài viết này mà trước đó chưa được sử dụng, chúng dựa trên thông tin về kỳ vọng

tỷ giá được phản chiếu trong tỷ giá kỳ hạn Cụ thể, Cushman định nghĩa mức thay đổi tỷ giá thực 3 tháng tới được kỳ vọng là:

Trong đó E là toán tử kỳ vọng, r là mức thay đổi tỷ giá thực trong ba tháng tới, p và p*

là tỷ lệ lạm phát ba tháng của nước nhập khẩu và xuất khẩu và x là phần trăm thay đổi tỷ giá giao ngay trong ba tháng tới Thước đo biến động tỷ giá được xác định là độ lệch chuẩn trượt mười hai tháng dựa trên độ lệch của (4) so với thực tế (được tính bình quân theo tần suất quý) Các kết quả mà Cushman thu được cho thấy tác động trái chiều và có ý nghĩa của rủi ro tỷ giá lên cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu Tuy nhiên, một số hệ số của biến động tỷ giá mang dấu dương và có ý nghĩa, và tác giả gọi đây là những trường hợp “thách thức” Trong những nghiên cứu sau này, các kết quả dương như vậy sẽ có ý nghĩa lớn hơn khi những tác động thuận chiều trở nên phổ biến hơn Trên hết, Cushman kết luận rằng các kết quả của bài viết này khi nghiên cứu thương mại song phương là khá nhất quán với các kết quả được công bố trước đó khi phân tích cho tổng thương mại

5.5 Dòng thương mại theo ngành

Việc sử dụng dữ liệu dòng thương mại song phương dường như không cải thiện đáng

kể kết quả so với phân tích cho tổng thương mại Có thể chúng ta cần phân rã hơn nữa như ở đây và sau đó xem xét dữ liệu thương mại của những hàng hóa cụ thể Bini-Smaghi (1991) ủng hộ cho việc kiểm định tác động của sự biến động tỷ giá lên nhóm hàng hóa thương mại thay cho tổng khối lượng thương mại (dù là song phương hay đa phương) sẽ mang lại lợi ích lớn Đó là do việc sử dụng dữ liệu tổng thương mại giả định hệ số co giãn rủi ro theo tỷ giá, thu nhập, giá cả là như nhau trong mọi khu vực Với đặc điểm thị trường giao dịch khác nhau (ví dụ như hàng hóa sơ chế và hàng hóa chế biến) nhiều khả năng là sự biến động tỷ giá sẽ tác

Trang 23

động lên các ngành là khác nhau và việc tổng hợp giữa các ngành lại sẽ bỏ đi những thông tin quan trọng Để kiểm định giả thuyết này, Bini-Smaghi sử dụng mô hình xuất khẩu Hooper và Kohlhagen trong trường hợp có và không có sức mạnh thị trường (giá và lượng được quyết định đồng thời trong trường hợp sau) để kiểm định tác động của rủi ro tỷ giá lên thương mại hàng hóa công nghiệp giữa các nước Khối Tiền tệ châu Âu (EMS) trong thời kỳ 1976-84 Thước đo mức độ biến động tỷ giá được Bini-Smaghi sử dụng là thước đo dạng Kenen và Rodrik, được tính bằng độ lệch chuẩn của tỷ lệ thay đổi tỷ giá bình quân theo tuần trong nội vùng EMS cho quý đang xem xét Bini-Smaghi không sử dụng bình quân trượt để làm trơn chuỗi giống như vẫn làm trước đây, bởi ông cho rằng nó sẽ bóp méo thước đo biến động tỷ giá Các kết quả của Bini-Smaghi ủng hộ cho giả thuyết chuẩn là biến động tỷ giá làm giảm thương mại, bao gồm cả giá và sản lượng

Klein (1990) và McKenzie (1998) cũng sử dụng cách phân tích cho ngành đối với mối quan hệ biến động tỷ giá và dòng thương mại Klein phân rã xuất khẩu song phương của Mỹ tới bảy quốc gia công nghiệp chính trong thời kỳ 1978-1986 thành chín nhóm hàng thương mại Các phương trình hồi quy sau đó được chỉ định, chúng sẽ sử dụng độ lệch chuẩn của mức độ thay đổi tỷ giá song phương thực làm thước đo biến động tỷ giá Các kết quả thu được ủng hộ cho cách tiếp cận ngành khi mà trong số chín nhóm ngành hàng xuất khẩu được kiểm định thì sáu nhóm cho mối quan hệ có ý nghĩa giữa hệ số biến động tỷ giá và thương mại và năm trường hợp có ý nghĩa nhất cho mối quan hệ dương Ước lượng kết quả dương và có ý nghĩa là một cột mốc quan trọng trong mảng nghiên cứu về biến động tỷ giá bởi rất ít có bài báo nào khác có thể ủng hộ giả thuyết về mối quan hệ thuận chiều một cách mạnh mẽ như vậy

McKenzie (1998) phân tích tác động của sự biến động tỷ giá lên cả dữ liệu thương mại tổng hợp và thương mại theo ngành cho nền kinh tế Úc trong thời kỳ 1988-1995 Các mô hình ARCH được sử dụng để tạo ra một thước đo phản ánh biến động tỷ giá, sau đó thước đo này được kiểm định trong một mô hình chuẩn, trong đó chỉ định xuất khẩu và nhập khẩu là hàm theo giá, thu nhập, tỷ giá và mức độ biến động tỷ giá Trong khi dữ liệu thương mại tổng hợp cho những bằng chứng xung đột và rất hạn chế về mối quan hệ này thì dữ liệu dược phân ra thành các nhóm ngành khác nhau lại cho mối quan hệ có ý nghĩa Cụ thể, bằng chứng cho thấy chiều và quy mô tác động của sự biến động tỷ giá có thể khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm thị trường mà hàng hóa đó được giao dịch

Một ví dụ cuối cùng về cách tiếp cận theo ngành là của Belanger, Gutierrez, Racette

và Raynauld (1992), họ đã nghiên cứu tác động của sự biến động tỷ giá danh nghĩa lên dòng thương mại Mỹ-Canada trong năm ngành (sản phẩm lương thực, dụng cụ công nghiệp, hàng

tư bản, phương tiện đi lại, và hàng tiêu dùng) Belanger và cộng sự sử dụng hai thước đo rủi

ro tỷ giá Thước đo thứ nhất được dựa trên sai số dự báo ba tháng trên thị trường kỳ hạn, còn thước đo thứ hai là cách tiếp cận phi tham số do Pagan và Ullah (1988) xây dựng, nó tách phần thưởng rủi ro trong sai số dự báo ra Cách tiếp cận các biến công cụ được sử dụng để ước lượng các mô hình phương trình đơn và mô hình đa phương trình trong thời kỳ 1976-87 Xuất khẩu của Mỹ sang Canada được chỉ định là một hàm theo mức độ sử dụng nguồn lực, sản lượng, giá tương đối và rủi ro tỷ giá Các kết quả của thủ tục này cho thấy biến động tỷ giá có ảnh hưởng trái chiều và có ý nghĩa lên các nhóm ngành dụng cụ công nghiệp và ô tô, còn nhóm hàng lương thực và hàng tiêu dùng thì quan hệ là thuận chiều

Trang 24

Các kết quả này cho thấy rằng việc sử dụng dữ liệu thương mại theo ngành để ước lượng tác động của biến động tỷ giá lên dòng thương mại mang lại những lợi ích rõ rệt Trong khi dòng thương mại song phương không cho chúng ta những cái nhìn sâu sắc hơn thì nghiên cứu mà

sử dụng cách tiếp cận phân rã theo ngành đã tìm thấy bằng chứng chỉ ra rằng biến động tỷ giá thực sự không giống nhau cả về quy mô và chiều hướng giữa các ngành

5.6 Thời kỳ mẫu dữ liệu

Một vấn đề mà bất kỳ nghiên cứu nào về biến động tỷ giá và dòng thương mại gặp phải là việc thu thập một quy mô mẫu quan sát đủ lớn trong thời kỳ thả nổi tỷ giá hoàn toàn Vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với những nghiên cứu thời kỳ đầu Clark và Haulk (1972)

đã xem xét trường hợp của Canada trong thời kỳ 1952-70, khi đó chế độ tỷ giá thả nổi chỉ tồn tại trước 1962 Trong trường hợp này, biến động tỷ giá danh nghĩa (được đo bằng độ lệch chuẩn của tỷ giá hàng ngày xung quanh giá trị bình quân mỗi quý) mặc dù khác nhau giữa hai thời kỳ nhưng lại không cho thấy tác động có ý nghĩa Makin (1976) chỉ có dữ liệu tới cuối

1973 và cũng không thể tìm ra được mối quan hệ nào

Pozo (1992) đã xem xét khối lượng xuất khẩu song phương từ Anh sang Mỹ và sử dụng dữ liệu hàng năm thu được trong thời kỳ 1900-1940 Một khiếm khuyết của nghiên cứu của Pozo là trục thời gian hơi ngắn cho hai thời kỳ thả nổi tỷ giá (1920-25 và 1932-40), chúng được kết hợp với các thời kỳ tỷ giá cố định để xây dựng một mẫu không thuần nhất Trong nghiên cứu này, biến động tỷ giá được đo bằng cách sử dụng phương sai có điều kiện của tỷ giá thực, nó được mô hình hóa theo chuỗi GARCH và bình quân trượt của độ lệch chuẩn của

tỷ giá thực Các kết quả thu được trong nghiên cứu này cho thấy tác động trái chiều và có ý nghĩa thống kê của biến động tỷ giá len khối lượng thương mại, bất kể việc lựa chọn hệ số biến động tỷ giá là gì

Akhtar và Spence-Hilton (1984) cho rằng một phần kết quả thu được mang dấu âm và

có ý nghĩa thống kê là do việc lựa chọn thời kỳ mẫu đã không đưa các quan sát từ thời kỳ tỷ giá cố định vào Kenen và Rodrik (1986) cho rằng việc loại bỏ thời kỳ neo tỷ giá đã ngăn ngừa khả năng sai lầm chỉ định do những thay đổi trong chế độ tỷ giá” Kenen và Rodrik đã xem xét tổng lượng nhập khẩu của 11 nước phát triển để biết chắc liệu biến động tỷ giá thực bình quân có ảnh hưởng trái chiều không Biến động tỷ giá được định nghĩa theo ba cách: thước đo thứ nhất là độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi tỷ giá thực theo tháng (12 và 24 tháng) Thước đo thứ hai là độ lệch chuẩn của tỷ giá thực được rút ra từ phương trình xu thế loga-tuyến tính (một dạng biến thể được tính bằng sai số chuẩn) Thứ ba, độ lệch chuẩn của tỷ giá thực rút ra từ phương trình AR(1) (một dạng biến thể được tính bằng sai số chuẩn) Sử dụng phương trình OLS giản đơn để hồi quy nhập khẩu theo thu nhập, tỷ giá thực, một trong các thước đo biến động tỷ giá và một thành phần xu thế, Kenen và Rodrik đã tìm thấy bốn trường hợp mà sự biến động tỷ giá có ảnh hưởng trái chiều và có ý nghĩa Dựa trên kết quả này, họ kết luận rằng “sự biến động tỷ giá thực dường như đã làm giảm khối lượng kinh tế quốc tế”

5.7 Không dừng và đồng tích hợp

Lý thuyết kinh tế lượng cho chúng ta biết rằng một nhóm các chuỗi thời gian không dừng sẽ đồng tích hợp với nhau nếu có một sự kết hợp tuyến tính nào giữa chúng mà không biểu thị xu thế ngẫu nhiên Trong trường hợp này, một mối quan hệ dài hạn tồn tại giữa các biến này Nó có những hàm ý quan trọng đối với các nghiên cứu về dòng thương mại bởi các

Trang 25

biến thương mại (cả khối lượng và mức giá) nhiều khả năng là không dừng Nếu các thước đo mức độ biến động tỷ giá là dừng thì khi đó nó sẽ không thể là một biến quyết định tới thương mại trong dài hạn Những đặc điểm này cho thấy tính dừng của các chuỗi mức độ biến động

tỷ giá là hết sức quan trọng trong việc quyết định khả năng xây dựng được mối quan hệ mang tính hệ thống trong dài hạn giữa mức độ biến động tỷ giá và dòng thương mại Do vậy chúng

ta sẽ cần thực hiện thêm kiểm định về tính dừng đối với tất cả các biến bao gồm cả các chuỗi phản ánh mức độ biến động tỷ giá, và chúng ta sẽ sử dụng tất cả các kiểm định (ADF, Phillips Perron, Kwiatkowski Phillips Schmidt và Shin) Bảng 2 tóm tắt các thông tin đã có trong các nghiên cứu về vấn đề này và cho thấy chỉ có một số ít các bài báo đã quan tâm một cách chính thức tới vấn đề không dừng của dữ liệu Ngoài ra, có rất ít bài báo xem xét vấn đề đồng tích hợp

Asseery và Peel (1991) nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này và cho rằng việc thiếu các kết quả chắc chắn trong nhiều nghiên cứu trước đây là do họ đã không xem xét những đặc điểm của dữ liệu được sử dụng Do vậy, khi kiểm định dữ liệu đã được điều chỉnh theo mùa đối với Úc, Nhật, Đức, Mỹ và Anh trong thời kỳ 1972-87, Asseery và Peel đã sử dụng kiểm định ADF để kiểm tra tính dừng của dữ liệu và hiệu chỉnh lại dữ liệu cho phù hợp Một mô hình chuẩn được áp dụng trong bài viết này, nó sẽ giải thích xuất khẩu theo thu nhập, giá tương đối, tỷ giá và biến động tỷ giá, trong đó biến động tỷ giá được đo bằng phần dư từ

mô hình ARIMA được áp dụng cho loga của tỷ giá thực Asseery và Peel thấy rằng khi được ước lượng trong khung hiệu chỉnh sai số Engle-Granger hai giai đoạn, biến động tỷ giá có ảnh hưởng thuận chiều và có ý nghĩa lên xuất khẩu

Chowdhury (1993) đã xem xét vấn đề biến động tỷ giá khi lấy mẫu dữ liệu cho nhóm G7 OECD trong giai đoạn 1973-90 Tác giả đã sử dụng một mô hình hiệu chỉnh sai số đa biến

để thiết lập mối quan hệ giữa khối lượng xuất khẩu và biến động tỷ giá được đo bằng độ lệch chuẩn mẫu của tốc độ tăng tỷ giá thực trượt tám thời kỳ Phân tích hồi quy đã được hiệu chỉnh sai số cho kết quả là hệ số tác động trái chiều và có ý nghĩa, và như vậy nó ủng hộ cho giả thuyết chuẩn Kiểm định Chow được thực hiện trên dữ liệu cũng cho thấy sự ổn định của tham số trong mô hình ước lượng

McIvor (1995) cũng đã nhấn mạnh tính không dừng của dữ liệu được kiểm định trong nghiên cứu về tác động của sự biến động tỷ giá lên dữ liệu xuất khẩu của Úc trong thời kỳ 1978-82 Một nhóm các hồi quy đồng tích hợp được chỉ định, nó cho phép xây dựng một mô hình động tổng quát, trong đó có đưa vào cơ chế hiệu chỉnh sai số Biến động tỷ giá thực trong mô hình này được định nghĩa theo một số thước đo khác nhau; độ lệch chuẩn của tỷ giá trượt bốn quý và tám quý và bình phương phần dư từ mô hình ARIMA áp dụng cho tỷ giá Các kết quả của nghiên cứu này cho thấy thước đo sự biến động tỷ giá là một nhân tố quyết định quan trọng tới những kết quả thu được Cụ thể, các thước đo mà mô hình hóa sự biến động tỷ giá trong một trục thời gian dài hơn, ví dụ như trung bình trượt, có nhiều khả năng mang lại những kết quả có ý nghĩa hơn Đối với tác động của sự biến động tỷ giá thực lên mức xuất khẩu thực, McIvor ủng hộ cho giả thuyết gốc với mối quan hệ trái chiều

Như phần tóm tắt ở trên đã chỉ ra, những vấn đề liên quan tới tính dừng và đồng tích hợp đã được nói tới trong các nghiên cứu về biến động tỷ giá và dòng thương mại, và các kết quả cho thấy rằng đây là một vấn đề quan trọng với nhiều khía cạnh có thể đề cập tới Tuy nhiên, chúng ta cần phải cố gắng nhiều hơn để có thể khai thác hết tiềm năng của mảng nội

Trang 26

dùng này, nó sẽ cần mở rộng hơn nữa, ngoài vấn đề đồng tích hợp, chúng ta cũng cần xem xét những vấn đề khác như nghiên cứu về tích hợp từng phần mới phát triển gần đây (xem Baillie (1996))

5.8 Mô hình thương mại được chỉ định

Như đã chỉ ra trong bảng 2, rất nhiều bài viết đã chỉ định mô hình trong đó thương mại

là một hàm theo biến đại diện cho thu nhập, mức giá tương đối, tỷ giá và biến động tỷ giá Một số nghiên cứu đã lựa chọn mở rộng phạm vi của mô hình kinh tế quốc tế nhằm cố gắng cải thiện phân tích của mình Thursby và Thursby (1987) đã xem xét lại bài viết (1985) của họ

để xây dựng một mô hình dòng thương mại song phương, trong đó tập trung vào mô hình lực hấp dẫn và giả thuyết Linder Mô hình lực hấp dẫn chỉ định giá trị thương mại giữa hai nước

là một hàm có quan hệ thuận chiều với thu nhập quốc dân và quan hệ trái chiều với khoảng cách địa lý giữa chúng Giả thuyết của Linder phát biểu rằng thương mại hàng hóa công nghiệp giữa hai nước có quan hệ trái chiều với mức chênh thu nhập đầu người của hai nước Như chúng ta thấy trong bảng 2, dạng thực nghiệm của mô hình đã phát triển tập biến giải thích gốc, và đưa thêm vào mức thuế quan, chi phí vận tải, thị hiếu người tiêu dùng, và biến phòng vệ của nhà nhập khẩu Mô hình này được kiểm định cho 17 nước trong thời kỳ 1974-

82 và sử dụng phương sai tỷ giá giao ngay xung quanh giá trị xu thế dự báo được tính bình quân hàng năm (với độ trễ 12 tháng) là thước đo biến động tỷ giá Các kết quả ước lượng thực nghiệm của Thursby và Thursby chỉ ra rằng có 15 nước được kiểm định tìm thấy mối quan hệ trái chiều giữa thước đo biến động tỷ giá và giá trị thương mại song phương Ngoài ra, 10 nước trong số đó thì tác động này có ý nghĩa thống kê Một thước đo thực của biến động tỷ giá cũng được kiểm định, nó không làm thay đổi kết quả, và do vậy nó ủng hộ cho rằng rủi ro bắt nguồn từ tỷ giá chứ không phải từ giá tương đối

Bailey, Tavlas và Ulan (1986) cũng xây dựng một mô hình, trong đó nó đưa mức thu nhập thực từ xuất khẩu của các nước sản xuất dầu vào làm biến phụ thuộc Các tác giả giải thích cho việc đưa biến này vào như sau “kể từ 1973, cả thu nhập từ xuất khẩu của các nước sản xuất dầu và tầm quan trọng của các nước này trong vai trò là thị trường xuất khẩu của các nước công nghiệp đã tăng lên rất nhiều” Bailey và cộng sử dụng sử dụng phần trăm thay đổi dạng tuyệt đối của tỷ giá bình quân danh nghĩa làm thước đo biến động tỷ giá (trong cả thời

kỳ hiện tại và lấy trễ) trong nghiên cứu của mình cho G7 của OECD trong thời kỳ 1973-84 Trong số 28 phương trình được kiểm định, không có phương trình nào cho thấy bằng chứng

có ý nghĩa về mặt thống kê của tác động làm giảm thương mại do biến động tỷ giá Aschheim, Bailey và Tavlas (1987) đã lặp lại nghiên cứu này nhưng sử dụng một thước đo khác cho mức giá xuất khẩu tương đối nhưng cũng vẫn rút ra những kết quả tương tự

Cushman (1986, 1988) đã phát triển nghiên cứu Cushman (1983) lên bằng cách đưa thêm khả năng tác động lên nước thứ ba vào mô hình Những nghiên cứu này xem xét khả năng tăng rủi ro tỷ giá của một đồng tiền, và làm chệch các quyết định của doanh nghiệp xuất khẩu theo hướng có lợi cho một nước khác mà có mức độ biến động tỷ giá thấp hơn Cushman lấy phương trình lượng hàng xuất khẩu mà tác giả đã sử dụng trong nghiên cứu năm

1983 của mình và điều chỉnh lại nó để kiểm định cho hiệu ứng nước thứ ba này Sử dụng thước đo biến động tỷ giá dựa trên độ lệch chuẩn giống lúc trước, các dòng thương mại xuất khẩu song phương giữa Mỹ và sáu đối tác thương mại lớn nhất đã được kiểm định Các kết

Trang 27

quả thu được cho thấy rằng biến động tỷ giá đã làm suy giảm dòng thương mại, dù rằng hiệu ứng nước thứ ba có ảnh hưởng tới quy mô của tác động này

Kumar và Dhawan (1991) đã kiểm định của mô hình 1983 của Cushman cũng như mô hình có tính đến tác động nước thứ ba vào năm 1986 cho dữ liệu xuất khẩu của Pakistan và sử dụng dữ liệu quý được rút ra cho thời kỳ 1974-85 Thay vì giới hạn trong việc lựa chọn thước

đo biến động tỷ giá, các tác giả đã kiểm định cho 15 thước đo danh nghĩa và thực tế khác nhau và sau đó lựa chọn phương trình “tốt nhất” dựa trên trên mức độ phù hợp và các ước lượng tham số phù hợp với lý thuyết Các thước đo của biến động tỷ giá bao gồm (i) độ lệch chuẩn trong kỳ của tỷ giá danh nghĩa, (ii) trung bình trượt của độ lệch chuẩn của tỷ giá danh nghĩa, (iii) hệ số biến thiên của tỷ giá danh nghĩa, (iv) 3 trường hợp trên nhưng tính cho tỷ giá thực, (v) bốn trường hợp trên nhưng tính trên mức thay đổi của tỷ giá, (vi) độ chênh bình quân GINI của các chỉ tiêu thực và danh nghĩa Các tác giả cũng sử dụng “các thước đo biến động tỷ giá khác nhau có quan hệ với hiệu ứng nước thứ ba” Chúng bao gồm độ lệch chuẩn

và hệ số biến thiên của tỷ giá cho các đối tác thương mại mà chúng ta không xem xét trực tiếp, và hiệp phương sai theo từng cặp và đồng thời toàn bộ của những biến động tỷ giá song phương mà các đối tác thương mại gặp phải Các kết quả cho mô hình chuẩn (không có hiệu ứng nước thứ ba) cho thấy rằng biến động tỷ giá thực không có ảnh hưởng tới xuất khẩu của Pakistan trong khi biến động tỷ giá danh nghĩa có ảnh hưởng trái chiều và có ý nghĩa tới xuất khẩu Việc đưa thêm hiệu ứng nước thứ ba vào trong mô hình đã giúp tăng khả năng giải thích của mô hình, mặc dù chiều tác động của sự biến động tỷ giá lúc này trở nên kém ổn định hơn

Trên hết, mặc dù những mô hình thương mại này đã đưa thêm các biến mới vào là khá thú vị nhưng kết quả thu được cũng không khác bao nhiêu so với các mô hình đã được dùng trước đó Như vậy, có vẻ như mô hình chuẩn với việc chỉ định thương mại là hàm theo thu nhập, giá, tỷ giá và biến động tỷ giá đã là mô hình tương đối hoàn chỉnh trong bối cảnh hiện tại

5.9 Kỹ thuật ước lượng được sử dụng

Khi xem xét vấn đề biến động tỷ giá và dòng thương mại, có một loạt kỹ thuật thực nghiệm khác nhau có thể sử dụng phù hợp cho nghiên cứu vấn đề này Một khả năng là sử dụng cách tiếp cận chéo và so sánh mức hoặc tốc độ tăng trưởng thương mại giữa các nước tại một thời điểm cho trước Những nghiên cứu chéo dạng này đã được Kenen (1979), Abrams (1980) và Thursby và Thursby (1987) áp dụng Ngoài ra, De Grauwe và Bellefroid (1986) và

De Grauwe (1987, 1988) đã sử dụng phương pháp ước lượng SURE Peree và Steinherr (1989) cho rằng mặc dù phân tích chéo có lợi thế (ví dụ như đưa vào mô hình những khác biệt

về mặt cấu trúc) nhưng nó cũng có những hạn chế của riêng mình Ví dụ, rủi ro được tính xấp

xỉ bằng độ lệch chuẩn cho một thời kỳ mười năm là một thước đo cho sự việc đã xảy ra rồi, và

nó không thể là một thước đo phù hợp cho người ra quyết định Tất nhiên, việc sử dụng thước

đo biến động tỷ giá cho dựa trên tương lai sẽ tránh được chỉ trích này

Thay vì so sánh các nước tại một thời điểm cụ thể, một cách tiếp cận thứ hai là xem xét dữ liệu đã thu thập được qua thời gian Cho tới giờ, kỹ thuật thông dụng nhất là phân tích hồi quy OLS Số khác có thể lựa chọn các dạng khác khau trong phân tích chuỗi thời gian Một số dạng kỹ thuật khác chỉ xuất hiện hy hữu trong một vài bài viết, ví dụ như cách tiếp cận sử dụng biến công cụ do Caballero và Corbo (1989) và Bellanger (1992) thực hiện Tuy nhiên,

Trang 28

mô hình véc-tơ tự hồi quy VAR và GARCH theo giá trị bình quân cũng được sử dụng với tần suất ngày càng nhiều

5.9.1 Véc-tơ tự hồi quy VAR

VAR được cho là có hai lợi thế lớn so với các dạng khác của phân tích chuỗi thời gian Thứ nhất, phương pháp VAR có thể định hình được mối quan hệ động tổng quát giữa các biến Điều này theo Bini-Smaghi (1991) là khá quan trọng, ông cho rằng việc không chỉ định động trong các mô hình là một nguyên nhân dẫn tới những kết quả không có ý nghĩa Thứ hai, VAR không có những ràng buộc về mặt lý thuyết một cách chính thức đối với các biến được chỉ định trong mô hình Tuy nhiên, một hạn chế của kỹ thuật VAR là nó là một mô hình dạng rút gọn, do vậy nó không thể phân biệt giữa các giả thuyết cấu trúc nói chung Lastrapes và Korray (1990), Chowdhury (1993) và Koray và Lastrapes (1989) đã sử dụng cách tiếp cận VAR Ví dụ, Koray và Lastrapes (1989) đã kiểm định dòng thương mại song phương Mỹ với năm nước công nghiệp trong thời kỳ 1959-85 và sử dụng độ lệch chuẩn trượt

để làm biến đại diện cho biến động tỷ giá Koray và Lastrapes đã rút ra kết quả, nó cho thấy

có mối quan hệ tương đối yếu giữa thương mại và biến động tỷ giá Lastrapes và Koray (1990) một lần nữa sử dụng phương pháp VAR, dữ liệu Mỹ và độ lệch chuẩn trượt làm thước

đo biến động tỷ giá Dòng thương mại đa phương của Mỹ là đối tượng nghiên cứu lần hai này,

và thời kỳ tỷ giá cố định được loại ra khỏi phân tích (tức là từ 1959-72) Các kết quả đưa ra những bằng chứng về mối quan hệ có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên các tác giả lưu ý rằng những tác động này, khi tồn tại, nhiều khả năng là tương đối bé so với các biến khác trong mô hình

5.9.2 Ước lượng GARCH

Kể từ sau bài nghiên cứu của Engle (1982), các mô hình phương sai thay đổi có điều kiện tự hồi quy (ARCH) và những dạng tổng quát sau này của chúng đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc cách thức các nhà nghiên cứu mô hình hóa dữ liệu chuỗi thời gian tài chính Một số nghiên cứu đã sử dụng mô hình ARCH để tạo ra những ước lượng biến động tỷ giá như Pozo (1992), McKenzie và Brooks (1997), McKenzie (1998), các ước lượng này đã được kiểm định trong mô hình chuẩn về kinh tế quốc tế Asseery và Peel (1991) đã ca ngại những điểm ưu việt của thước đo biến động tỷ giá dựa trên ARCH, từ một góc nhìn rất lạc quan, các tác giả cho rằng việc sử dụng mô-men bậc hai có điều kiện để làm đại diện cho biến động tỷ giá là một cách làm “hợp lý về mặt kinh tế”

Một bước phát triển gần đây trong ARCH là việc phát triển mô hình ARCH tính trên giá trị bình quân dạng tổng quát và áp dụng cho khung mô hình đa biến (M-GARCH tính trên giá trị bình quân) Một ứng dụng của lớp mô hình ARCH mới này là việc xác định dạng rút gọn của mô hình phản ánh tác động của biến động tỷ giá lên kinh tế quốc tế Ví dụ, Kroner và Lastrapes (1993) nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và khối lượng và giá trị xuất khẩu đa phương của Đức, Nhật, Pháp, Mỹ và Anh trong thời kỳ 1973-1990 và sử dụng dữ liệu tháng Mô hình áp dụng trong phân tích này được chỉ định là một hệ ba phương trình, chúng giải thích những thay đổi của lượng xuất khẩu, giá xuất khẩu và tỷ giá giao ngay Hai phương trình bình quân đầu tiên giải thích cho khối lượng và giá xuất khẩu được chỉ định có dạng GARCH tính theo giá trị bình quân, còn phương trình tỷ giá sau thì không, và một cấu trúc GARCH được áp lên ma trận hiệp phương sai có điều kiện của phần dư Một thủ tục ước lượng đồng thời đã được sử dụng để xây dựng phương trình cho dữ liệu trên Các kết quả của

Trang 29

thủ tục này chỉ ra rằng tác động của biến động tỷ giá lên giá hàng xuất khẩu bị hạn chế hơn rất nhiều so với tác động lên khối lượng thương mại Ngoài ra, hướng tác động cũng thay đổi theo các nước

Qian và Varangis (1994) đã sử dụng mô hình ARCH tính theo giá trị bình quân để xem xét dữ liệu tháng của Canada, Úc, Nhật, Anh, Thụy Điển và Hà Lan trong thời kỳ 1973-

1990 Họ lựa chọn các nước này bởi các nước này đã áp dụng rất nhiều dạng điều hành tỷ giá: bốn nước đầu là thả nổi độc lập, nước thứ năm áp dụng các điều khoản hợp tác về tỷ giá, và nước cuối cùng là tỷ giá neo Mô hình được Qian và Varangis kiểm định là một dạng đơn giản hóa của mô hình ARCH-M mà Koray và Lastrapes (1993) đã dùng, trong đó mô hình đã chỉ định các phương trình phương sai có điều kiện là những mô hình GARCH (1, 1) đơn biến, trong khi chỉ có những mô hình ARCH bậc cao hơn được sử dụng ở đây Ngoài ra, Qian và Varangis không chỉ định thành phần biểu thị hiệu ứng ARCH đối với giá trị trung bình hay phương sai trong cả hai phương trình cho giá và lượng xuất khẩu Các kết quả ước lượng được cho các nước đã được kiểm định cung cấp bằng chứng cho thấy có cả tác động thuận và nghịch chiều của biến động tỷ giá lên hoạt động thương mại Từ những kết quả này, Qian và Varangis kết luận rằng khi mà hợp đồng xuất khẩu được ghi theo tiền của nước xuất khẩu thì biến động tỷ giá có ảnh hưởng thuận chiều và điều ngược lại sẽ xảy ra khi hợp đồng ghi theo ngoại tệ

Caporale và Doroodian (1994) sử dụng dạng nhị biến của mô hình M-GARCH tính theo giá trị bình quân để kiểm định xem liệu sự bất định của tỷ giá thực có ảnh hưởng lên giá trị nhập khẩu của Mỹ từ Canada trong thời kỳ thả nổi (1974-92) hay không Các tác giả đo biến động tỷ giá bằng cách sử dụng chỉ định phương sai có điều kiện GARCH (1, 1) đối với tỷ giá thực Các kết quả thu được cho thấy sự bất định của tỷ giá có ảnh hưởng trái chiều và có ý nghĩa đối với dòng thương mại

Tiếp tục phát triển các kỹ thuật phân tích kinh tế lượng, một số thủ tục mới như thủ tục GARCH đa biến tính theo giá trị bình quân cũng mang lại thêm những đóng góp nhất định Hiện tại, chỉ có một số ít bài viết là sử dụng các kỹ thuật mô hình hóa hiện đại này và phải đợi sau một khoảng thời gian, chúng ta mới biết được giá trị thực sự của chúng

VI MỘT SỐ MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG DAO ĐỘNG TỶ GIÁ ĐẾN LUỒNG THƯƠNG MẠI

6.1 Mô hình xác định biến động tỷ giá đến luồng thương mại châu Phi (Serenis và cộng

Log (X)=λ0+λ1log (PX/Pw)+λ2 log(GDP)+λ4(V) +λ D1+ λ6D3 +λ7D4+λ8T+ ω (1.11)

Ở đây: X là lượng xuất khẩu, PX / Pw giá tương đối, GDP thực tế thế giới,

Sự biến động V (được định nghĩa là độ lệch chuẩn của vận tốc trung bình của logarithm của

tỷ giá hối đoái thực), cũng như biến giả nắm bắt giá trị đỉnh cao và thấp của tỷ giá hiệu quả thực

Biến giả mùa D1, D3, D4; T là Xu hướng thời gian ; ω nhiễu

Trang 30

Giá trị xuất khẩu thực được tạo ra bằng cách sử dụng phương pháp giá trị đơn vị Biến giải thích đầu tiên là giá tương đối và được xây dựng bằng việc phân chia giá xuất khẩu của từng ngành qua một chỉ số bao gồm giá xuất khẩu thế giới cho từng ngành tương ứng Biến thứ hai bên phải là GDP thực trong nước phục vụ như một thước đo sức cạnh tranh Biến thứ

ba là dao động được đo bằng hai cách Thứ nhất, như là một thước đo thời gian thay đổi tỷ giá biến động, sử dụng độ lệch chuẩn của trung bình trượt của logarithm của tỷ giá hiệu quả thực Thứ hai, như một thước đo sự biến động cao và thấp trên các giá trị trung bình của sự biến động Ước lượng mỗi phương trình rút gọn i từ phương trình xuất khẩu cho mỗi quốc gia theo phương pháp hiệu chỉnh sai số vector (VECM) và sẽ áp đặt hạn chế ba biến nội sinh và năm ngoại sinh

6.1.2 Biến động tỷ giá hối đoái

Một trong những vấn đề cơ bản nhất của chủ đề đang được đề cập là tính bất định Biến động tỷ giá là một biện pháp không thể trực tiếp quan sát; Không có sai số rõ ràng, đúng hay sai, về độ biến động Tác giả sử dụng độ lệch tiêu chuẩn của mức trung bình trượt

logarithm của tỷ giá hối đoái

2 / 1

1

2 2

Naseem,N.A.M., Tan,H.B., and Hamizah,M.S (2009) đã xem xét tỷ giá cân bằng thực

tế được tính dựa trên Về khuôn khổ lý thuyết, được gọi là mô hình cân bằng tỷ giá hối đoái tự nhiên (NATREX) của Stein (1994, 1996) Mô hình NATREX cho phép tạo ra một tiêu chuẩn cân bằng, bằng cách sử dụng các nguyên tắc cơ bản về kinh tế thực tế hiện hành để xác định sai lệch tỷ giá hối đoái Thật vậy, cách tiếp cận NATREX khác với mô hình PPP, nơi mà NATREX sẽ thay đổi theo thời gian đáp ứng với những thay đổi trong các nguyên tắc cơ bản (Stein và Lim, 2002) Thêm vào đó, cách tiếp cận NATREX không yêu cầu REER được quan sát và tỷ giá cân bằng thực sự là không đổi (Edwards và Savastano, 1999) 3 Hình thức chung của mô hình NATREX phụ thuộc vào một vector của tỷ giá cân bằng thực sự có thể được minh hoạ bằng cách sử dụng mô hình kinh tế lượng đơn sau đây:

)( t

f

(1.13)

t r

i

t i

r i

t i r

0

1 4

0

1 2

lệ tiêu dùng của chính phủ đối với GDP giảm phát, RIRD Chênh lệch lãi suất thực giữa thị trường nội địa (imas) và thế giới (i *) lãi suất thực , TOT là điều kiện thương mại (tỷ lệ của chỉ số giá xuất khẩu và chỉ số giá nhập khẩu) và PROD là chỉ số năng suất

Dao động tỷ giá : mô hình GARCH

Mô hình GARCH được phát triển bởi Bollerslev (1986) được xây dựng để tham số hóa sự biến thiên có điều kiện của tỷ giá hối đoái Điều này do khả năng của mô hình- để nắm bắt sự biến động bất ngờ và sự phương sai có điều kiện thay đổi theo thời gian như một

Trang 31

tham số được tạo ra từ một mô hình chuỗi thời gian của trung bình có điều kiện và phương sai của tỷ giá hối đoái Bollerslev (1986) đã mở rộng mô hình ARCH bằng cách bao gồm một giá trị trễ của phương sai có điều kiện và chỉ định phương sai có điều kiện là tổ hợp tuyến tính p trễ của phầ dư bình phương từ phương trình trung bình có điều kiện và q trễ của phương sai

có điều kiện Nếu quá trình sai số làtv t h t , trong đó 2

v=1 Thì chuỗi phần dư được mô hình hóa như là GARCH(p,q) mà được cho như sau:

),0(

i

i t i

h

1 1

có điều kiện có trung bình bằng không và phương sai, h Do đó, mô hình này cho phép

phương sai có điều kiện của εt là một quá trình ARMA

Mô hình cầu nhập khẩu: Mô hình được sử dụng ở đây dựa vào phương trình nhập khẩu tiêu chuẩn có bổ sung bằng cách thêm số hạng " ảnh hưởng dao động", đó là sự không chắc chắn của tỷ giá hối đoái Mô hình này tương tự như mô hình được sử dụng bởi Mckenzie và

Brooks (1997), Mckenzie (1998), Arize (1998) và Siregar and Rajan (2004) Thêm vào đó,

mô hình cầu nhập khẩu được mở rộng hơn nữa bằng cách kết hợp 'hiệu ứng sai lệch', đó là độ lệch tỷ giá từ cân bằng dài hạn của nó Trong số những người đo lường tác động của sai lệch

tỷ giá đối với dòng nhập khẩu có Ghura và Grennes (1993) và Bouoiyour và Rey (2005) Tức

là, mô hình cầu nhập khẩu là một hàm của thu nhập, giá, biến động và sai lệch và có thể được rút ra như sau:

(1.17)

(1.18)

Trong đó IMt là hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu thực (tổng nhập khẩu tính bằng bằng đồng nội tệ giảm phát), DIt là thu nhập nội địa thực ( xấp xỉ bằng chỉ số sản xuất công nghiệp Malaysia, IPI), PIMt là giá nhập khẩu (tỷ lệ Giá nhập khẩu nước chủ nhà với giá nhập khẩu của thế giới), MISt là sự lệch tỷ giá hối đoái, VOLt là biến động của tỷ giá hối đoái thực, εt là nhiễu ngẫu nhiên và t là thời gian Tất cả các biến có trong logarithm tự nhiên ngoại trừ MISt

và VOLt

Vấn đề kinh tế lượng

Mô hình trễ phân bố tự hồi quy mới (ARDL) được đề xuất bởi Pesaran và cộng sự (2001) được sử dụng để ước lượng mô hình cầu nhập khẩu Một trong những ưu điểm của việc sử dụng ARDL là nó có thể áp dụng bất kể các tính chất dừng hoặc không bất kể các biến hồi quy là thuần túy I(0) hay I(1), hay kết hợp lẫn nhau Điều này đề xuất một cách tiếp cận hữu ích mà vượt qua sự cần thiết phải kiểm định trước bậc đồng tích hợp của các biến mà xu hướng tiềm ẩn chệch liên quan đến kiểm định nghiệm đơn vị có thể tránh được Hơn nữa, cách tiếp kiểm định bao là mạnh đối với phân tích đồng tích hợp với mẫu nhỏ (Pesaran và cộng sự, 2001) Khoảng thời gian mẫu đã cho được chia thành hai mẫu nhỏ, cỡ mẫu có giới hạn và được coi là mẫu nhỏ với tổng số 21 quan sát trước khủng hoảng (1992: Q2 - 1997: Q2)

Trang 32

và 26 quan sát cho giai đoạn khủng hoảng (1997: Q3 - 2003: Q4), mà thực hiện các kiểm định bao có vẻ là thích hợp Mah (2000) cho biết kích cỡ mẫu nhỏ, các cuộc kiểm định đồng hợp theo Engle và Granger (1987) hoặc Johansen và Juselius (1990) dường như không đáng tin cậy Theo thủ tục kiểm định bao, cần thiết mô hình phương trình (6) dưới dạng một ARDL có điều kiện như sau

(1.19) Trong đó  là toán tử sai phân bậc nhất và εt là nhiễu trắng Mối quan hệ dài hạn giữa các biến liên quan có thể được thực hiện dựa trên kiểm định Wald (thống kê F) bằng cách áp đặt các ràng buộc đối với hệ số dài hạn ước lượng trễ một giai đoạn 0, đó là Ho: δ1 = : δ2 = δ3

= δ4 = δ5 = 0 Sau đó, thống kê F được tính toán được so sánh với giá trị tới hạn ở Pesaran et

Al (2001) và Narayan (2005) Các cận dưới giả định rằng các biến giải thích xt được tích hợp với bậc không, hoặc I(0), trong khi các trên giả định rằng xt được tích hợp bậc một, hoặc I(1) Do đó, nếu tính F-thống kê rơi xuống dưới giá trị ràng buộc thấp hơn, I(0), không thể bác

bỏ giả thuyết không về đồng tích hợp Ngược lại nếu thống kê F tính toán vượt quá giá trị ràng buộc trên, I(1) thì kết luận rằng nhập khẩu và các yếu tố quyết định của nó đang cùng nhau chuyển sang trạng thái cân bằng dài hạn Ngoài ra, nếu thống kê F thống kê rơi vào trong miền ràng buộc thì không thể kết luận

Một khi mối quan hệ tích hợp đã được xác định chắc chắn, các tham số dài hạn và ngắn hạn của phương trình đồng tích hợp sẽ được ước lượng Quan hệ hợp đồng tích hợp dài hạn được ước lượng bằng cách sử dụng các chỉ định sau:

(1.20) Tuy nhiên, do tốc độ điều chỉnh trở lại trạng thái cân bằng có thể không thể ngay lập tức, cầu nhập khẩu có nhiều khả năng thay đổi so với mức nhập khẩu thực tế Điều này có thể

là do quá trình điều chỉnh và chậm trễ trong việc nhận thức được những thay đổi trong bất kỳ yếu tố quyết định nào của hàng nhập khẩu Do đó, tốc độ điều chỉnh mô hình cầu nhập khẩu

có thể được nắm bắt thông qua việc ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số như dưới đây:

(1.21) Trong đó εt-1 là số hạng hiệu chỉnh sai số của trễ một thời kỳ ước lượng được từ phương trình (9) trong khi hệ số (β6) đo tốc độ điều chỉnh sự hội tụ của mô hình sang trạng thái cân bằng

6.3 Tác động của dao động tỷ giá lên sự phát triển tài chính

Kurihara,T (2013) ước lượng tác động của sự không chắc chắn về tỷ giá đối với sự phát triển tài chính đối trong kinh tế quốc tế, dữ liệu mảng được sử dụng để thực hiện mô hình mảng mảng động Phương trình mô hình mảng động trong nghiên cứu này có một trễ

Trang 33

biến phụ thuộc để cho phép mô hình hoá cơ chế điều chỉnh bộ phận Phương trình ước lượng được trình bày trong (1) và (2) dưới đây

TRADEij,t = a + bTRADEij,t-1 + cVOLATILITY + dMARKET + ε (1.22)

Trong đó TRADE biểu thị sự chênh lệch của xuất khẩu thực trên đầu người từ nước i đến j vào thời điểm t VOLATILITY nghĩa là thay đổi theo tỷ giá hối đoái thực tế hàng tháng so với đô la Mỹ trong một năm MARKET nghĩa là phát triển tài chính Con số này là

từ các dịch vụ ngân hàng và tài chính IMD Điểm số từ 0 (thấp) đến 10 (cao)

Phương pháp để phân tích thực nghiệm là OLS và ước lượng mạnh Ước mạnh thực hiện hồi quy OLS trước, tính toán khoảng cách Cook, loại bỏ quan sát ngoại lai mà khoảng cách Cook vượt quá 1, và sau đó thực hiện các tương tác dựa trên trọng số Huber Giai đoạn lấy mẫu từ năm 2009 đến năm 2011 Số liệu trung bình hàng năm được sử dụng để ước lượng

Kết quả cho phương trình (1.22) được chỉ ra trong Bảng 1

Bảng 1.3 Ảnh hưởng của biến động tỷ giá và phát triển tài chính đối với kinh tế quốc

(0.006)

0.035 (0.006)

Chú thích Các con số trong dấu ngoặc là các giá trị xác suất

Kết quả không thuyết phục Biến động tỷ giá không ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng kinh tế quốc tế Mặt khác, phát triển thị trường tài chính thúc đẩy kinh tế quốc tế Các thị trường tài chính và dịch vụ trưởng thành là cần thiết để thúc đẩy kinh tế quốc tế

Các kết ước lượng phương trình (1.23) được trình bày trong Bảng 2 Các ước lượng thực nghiệm được chia thành các nước phát triển và đang phát triển

Trang 34

Bảng 1.4 Ảnh hưởng của biến động tỷ giá đối với kinh tế quốc tế

35.627 (0.105)

-0.840 (0.000)

-0.017 (0.000)

Chú thích Các con số trong dấu ngoặc là các giá trị xác suất

Điều thú vị là rằng sự biến động về tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế quốc tế ở các nước đang phát triển Khi tỷ giá hối đoái biến động tăng, nó làm giảm kinh tế quốc tế

Kết quả thực nghiệm cho phương trình (1.22) và (1.23) cho thấy sự phát triển tài chính rất quan trọng và có thể hữu ích để thúc đẩy kinh tế quốc tế Ở các nước đang phát triển, biến động tỷ giá làm giảm kinh tế quốc tế Để tránh mối quan hệ này, phát triển tài chính có thể có hiệu quả Biến động tỷ giá không thể dễ dàng tránh được ở nhiều nước đang phát triển Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể đạt được một hệ thống tài chính ổn định và vững chắc trong một số trường hợp mà không cần xem xét đến các nước khác Phát triển tài chính có thể là một trong những cách hiệu quả để làm tăng kinh tế quốc tế Phát triển tài chính cũng có thể góp phần tăng trưởng kinh tế

Mặt khác, sự biến động tỷ giá không làm giảm đáng kể kinh tế quốc tế (hệ số âm như mong đợi) Lý do là khi phát triển thị trường tài chính, nhiều công cụ phòng ngừa rủi ro đã được phát triển để chống lại sự biến động tỷ giá Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ảnh hưởng xấu đến nhiều nước phát triển Phát triển tài chính trong nhiều lĩnh vực rất quan trọng không chỉ đối với các nước đang phát triển mà còn ở các nước phát triển

6.4 Mô hình Hooper-Kohlhagen

6.4.1 Mô hình

Cushman (1983) để làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu thực nghiệm đã chỉnh sửa của mô hình cung và cầu Hooper-Kohlhagen Trong mô hình hai giai đoạn của họ, đơn đặt hàng được đặt trong giai đoạn đầu tiên và thanh toán trả tiền trong giai đoạn thứ hai Chỉ với tỷ giá hối đoái giao ngay trong tương lai không chắc chắn khi đặt hàng, nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu phải đối mặt với lợi nhuận không chắc chắn chỉ với tỷ lệ (hằng số giả định) của một hợp đồng bằng ngoại tệ và không phải hợp đồng kỳ hạn toàn bộ

Các công ty tối đa hoá một hàm lợi ích tuyến tính thay đổi trực tiếp với giá trị kỳ vọng của lợi nhuận danh nghĩa và ngược với độ lệch tiêu chuẩn của chúng Cầu nhập khẩu và cung

Trang 35

xuất khẩu tương tác để có được các phương trình dạng rút gọn dưới đây cho lượng và giá cân bằng

(1.24)

(1.25) Trong đó

Q= Số lượng xuất khẩu, P*n= Giá xuất khẩu danh nghĩa theo đơn vị tiền tệ của nhà xuất khẩu,

Y= Thu nhập bằng tiền ở nước nhập khẩu, CU= Tỷ lệ phi giá cả của người nhập khẩu (công suất được sử dụng làm xấp xỉ trong mô hình Hooper-Kohlhagen), UC, UC * = chi phí đơn vị của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, tương ứng, PD = mức giá nội địa của nhà nhập khẩu,

EH, EH * = chi phí kỳ vọng của ngoại hối cho nhà nhập khẩu và xuất khẩu, tương ứng, 1

R

 = Độ lệch tiêu chuẩn của tỷ lệ giao ngay trong tương lai

6.4.2 Ước lượng thực nghiệm

Đối với ước lượng thực nghiệm, các dạng rút gọn được tuyến tính hóa và bao gồm biến giả

D, trong phương trình số lượng, và biến xấp xỉ thay thế các biến M cho E và S thay cho

 Giả thiết định kỳ vọng ổn định mà kết quả trong hệ số của biến xấp xỉ M có dấu hiệu ngược lại với của E) Phương trình lượng xuất khẩu là:

(1.26) Trong đó chúng ta mong đợi al , a5, và a8 dương, a2, a3, a4, a6 và a1 là âm, và a0 là không xác định Đối với giá xuất khẩu ta có:

(1.27) Trong đó ta mong đợi b1 và b4 dương, b2 và b3 là âm, và b0, b5, b6 và b7 là không xác định Định nghĩa các biến số và dữ liệu được sử dụng

Y = GNP thực ở nước nhập khẩu

C = chỉ số phi giá cả của người nhập khẩu, đo bằng công suất sử dụng ở nước nhập khẩu, xác định là 100 nhân với số dư của hồi quy IP = ln A + rt,trong đó IP = sản xuất công nghiệp, A = hằng số, và t = thời gian ( quý)

UC = chi phí đơn vị thực ở nước nhập khẩu; UC * = chi phí đơn vị thực ở nước xuất khẩu;

R = tỷ giá hối đoái thực, E = Giá trị kỳ vọng của theta,  = độ lệch tiêu chuẩn của theta ,

D = biến giả cho Mỹ trong phương trình số lượng của Hoa Kỳ, Q = lượng hàng xuất khẩu

Qi = lượng thương mại trong trường hợp i, được định nghĩa là:

Qi= V; / P*i Xi), trong đó V = giá trị xuất khẩu bằng đô la, P*

i= Giá xuất khẩu danh nghĩa tính theo đơn vị tiền tệ của nhà xuất khẩu (được tạo ra như trong Hooper Kohlhagen}, và

Xi = giá đô la của đồng tiền của nhà xuất khẩu

PX = giá xuất khẩu thực, trong đó:

(1.28)

Trang 36

Trong đó Xi = giá của đồng tiền của nhà nhập khẩu theo tiền tệ của người xuất khẩu Giá trị β được sử dụng như sau Vối với tất cả hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ,

β = 0,85 Đối với hàng nhập khẩu của Mỹ từ Nhật Bản, β = 0,4 Đối với tất cả các hàng nhập khẩu khác của Hoa Kỳ, {3 = 0,65 Đối với tất cả các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu khác của Đức, β = 0,7

VII TÓM TẮT

Chương này đã trình bày sự biến động của tỷ giá lên dòng kinh tế quốc tế Chúng tôi bắt đầu từ định nghĩa tỷ giá, kế tiếp là vấn đề rủi ro và trung tính đối với rủi ro mà cho biết thái độ của người ta đối với dao động tỷ giá như thế nào Mục tiếp theo trình bày mô hình các nhân tố tác động lên tỷ giá để thấy được sự dao động của tỷ giá được xác định như thế nào Chúng tôi trình bày các thước đo về biến động của tỷ giá mà đã được các học giả sử dụng Chúng tôi trình bày khái quát các mô hình đánh giá tác động của dao động tỷ giá và các biến đối với thương mại Cuối cùng, chúng tôi dành riêng một mục để trình bày một vài mô hình điển hình về tác động của dao động tỷ giá

VIII, CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

4.1 Cho định nghĩa về tỷ giá và thí dụ,

4.2 Trình bày cách phân loại tỷ giá

4.3 Hãy phân biệt tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực tế và tỷ giá hiệu quả

4.4 Bạn hãy bình luận luận điểm cho rằng: sự biến động của tỷ giá làm giảm dòng thương mại,

4.5 Hãy lấy số liệu tỷ giá, số liệu về xuất nhập khẩu, phần chia thương mại theo tháng từ năm 2012-2016 để tính tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực và tỷ giá hiệu quả

4.6 Sử dụng số liệu tìm được tính các thước đo dao động tỷ giá,

4.7 Phối hợp dao động tỷ giá vào mô hình xuất nhập khẩu mà Serenis (2014) đã mở rộng, 4.8 Phối hợp dao động tỷ giá vào mô hình NATREX

4.9 Xem xét vai trò của phát triển tài chính trong mô hình “ Tác động của dao động tỷ giá lên

sự phát triển tài chính”

4.10 Trình bày mô hình Hooper-Kohlhagen đã được Cushman (1983) chỉnh sửa

Trang 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Abrams, R K (1980) International Trade Flows Under Flexible Exchange

Rates.Economic Review, Federal Reserve Bank of Kansas City, pp 3 - 10

2.Akhtar, M A and Spence-Hilton, R (1984) Effects of Exchange Rate Uncertainty

on German and U.S Trade Quarterly Review, (New York: Federal Reserve Bank of New

5.Bailey, M J., Tavlas, G S and Ulan, M (1986) Exchange Rate Variability and

Trade Performance: Evidence for the big seven industrial countries

Weltwirtschaftliches Archiv, 122, pp 466 - 77

6.Bailey, M J., Tavlas, G S and Ulan, M (1987) The Impact of Exchange Rate Volatility

on Export Growth: Some theoretical considerations and empirical results Journal

of Policy Modeling, 9, 1, pp 225 - 43

7 Baillie, R T (1996) Long Memory Processes and Fractional Integration in

Econometrics Journal of Econometrics, 73, pp 5 - 59

8 Baron, D P (1976) Fluctuating Exchange Rates and the Pricing of Exports

Economic Enquiry, 14, pp 425 - 38

9 Belanger, D., Gutierrez, S., Racette, D and Raynauld, J (1992) The Impact of

Exchange Rate Variability on Trade Flows: Further results on sectoral U.S

imports from Canada North American Journal of Economics and Finance, 3, pp 888 -

92

10.Bini-Smaghi, L (1991) Exchange Rate Variability and Trade: Why is it so Difficult to

find any Relationship Applied Economics, 23, pp 927 - 36

11.Brodsky, D A (1984) Fixed Versus Flexible Exchange Rates and the

Measurement of Exchange Rate Instability Journal of International Economics, 16, pp

295 - 306

12.Broll, U (1994) Foreign Production and Forward Markets Australian Economic

Papers, 62, pp 1 - 6

13.Caballero, R J and Corbo, V (1989) The Effect of Real Exchange Rate

Uncertainty on Exports: Empirical Evidence The World Bank Economic Review, 3, pp

263 - 278

14 Caporale, T and Doroodian, K (1994) Exchange Rate Variability and the

Flow of International Trade Economics Letters, 46, pp 49 - 54

15 Chan, P K L and Wong, J H Y (1985) The Effect of Exchange Rate

Variability on Hong Kong's Exports, Hong Kong Economic Papers, pp 27 - 39

16 Chowdhury, A R (1993) Does Exchange Rate Volatility Depress Trade Flows?

Evidence from error-correction models The Review of Economics and Statistics, 75, 4, pp

700 - 6

17 Clark, P B (1973) Uncertainty, Exchange Risk, and the Level of International

Trade.Western Economic Journal, 11, pp 302 - 13

Trang 38

18 Clark, P B and Haulk, C J (1972) Flexible Exchange Rates and the Level of

Trade: A preliminary analysis of the Canadian experience Federal Reserve Board,

Unpublished Manuscript.Exchange Rate Rules: The theory, performance and

prospects for the crawling peg (pp 113 - 136) New York, St Martins Press

19 Cushman, D O (1983) The Effects of Real Exchange Rate Risk on International

Trade Journal of International Economics, 15, pp 45 - 63

20 Cushman, D O (1986) Has Exchange Risk Depressed International Trade: The

impact of third country exchange risk Journal of International Money and

Finance, 5, pp 361 - 79

21 Cushman, D O (1988a) U.S Bilateral Trade Flows and Exchange Risk During

the Floating Period Journal of International Economics, 24, pp 317 - 30

22 Cushman, D O (1988b) The Impact of Third-Country Exchange Risk: A

correction Journal of International Money and Finance, 7, pp 359 - 60

23 De Grauwe, P (1987) International Trade and Economic Growth in the

European Monetary System European Economic Review, 31, pp 389 - 98

24 De Grauwe, P (1988) Exchange Rate Variability and the Slowdown in the

Growth of International Trade, IMF Staff Papers No 35 pp 63 - 84

25 De Grauwe, P and De Bellefroid (1986) Long Run Exchange Rate Variability and International Trade Ch 8 In S Arndt and J D Richardson (eds), Real

Financial Linkages Among Open Economies England, The MIT Press

26 Dellas, H and Zilberfarb, B-Z (1993) Real Exchange Rate Volatility and

International Trade: A reexamination of the theory Southern Economic Journal, 59, pp

641 - 647

27.Demers, M (1991) Investment Under Uncertainty, Irreversibility and the

Arrival of Information Over Time Review of Economic Studies, 58, pp 333 - 50

28 Engle, R F (1982) Autoregressive Conditional Heteroscedasticity with Estimates

of the Variance of United Kingdom Inflation Econometrica, 50, 4, pp 987 - 1007

29 Ethier, W (1973) International Trade and the Forward Exchange Market

American Economic Review, 63, 3, pp 494 - 503

30 Franke, G (1991) Exchange Rate Volatility and International Trading Strategy

Journal of International Money and Finance, 10, pp 292 - 307

31 Gotur, P (1985) Effects of Exchange Rate Volatility on Trade: Some Further Evidence.IMF Staff Papers

32 Hooper, P and Kohlhagen, S (1978) The Effect of Exchange Rate Uncertainty on

the Price and Volume of International Trade Journal of International Economics,

8, pp 483 - 511

33 Kenen, P and Rodrik, D (1986) Measuring and Analysing the Effects of

Short-Term Volatility on Real Exchange Rates Review of Economics and Statistics

(Notes), pp 311 - 15

34 Klein, M W (1990) Sectoral Effects of Exchange Rate Volatility on United States

Exports.Journal of International Money and Finance, 9, pp 299 - 308

35 Koray, F and Lastrapes, W D (1989) Real Exchange Rate Volatility and U.S Bilateral Trade: A VAR Approach The Review of Economics and Statistics, 71, pp 708

Trang 39

- 12 Kroner, K F and Lastrapes, W D (1993) The Impact of Exchange Rate

Volatility on International Trade: Reduced form estimates using the

GARCH-in-mean model Journal of International Money and Finance, 12, pp 298 - 318

36 Kumar, V (1992) Real Effects of Exchange Risk on International Trade Working

paper 92 - 5 Federal Reserve Bank of Atlanta

37.Kumar, R and Dhawan, R (1991) Exchange Rate Volatility and Pakistans Exports to

the Developed World, 1974 - 1985 World Development, 19, pp 1225 - 40

Lastrapes, W.D and Koray, F (1990) Exchange Rate Volatility and U.S

Multilateral Trade Flows Journal of Macroeconomics, 12, 3, pp 341 - 362

38 Kurihara, Y (2013) “Effects of Exchange Rate Fluctuations and Financial Development

on International Trade: Recent Experience “ International Journal of Business and

management 4(5), 2013,793-801

39 McIvor, R (1995) Exchange Rate Variability and Australia's Export Performance

Paper presented to the 24th Conference of Economists The University of Adelaide

40 McKenzie, C R and McAleer, M (1997) Generated Variables in Finance:

Specification, Estimation and Inference Paper presented to MODSIM '97:

International Congress on Modeling and Simulation, Hobart, Tasmania

41 McKenzie, M D (1998) The Impact of Exchange Rate Volatility on Australian

Trade Flows' Journal of International Financial Markets, Institutions and

Money, 8, pp 21 - 38

42 McKenzie, M and Brooks, R (1997) The Impact of Exchange Rate Volatility on

German 7, pp 73 - 87

43 Makin, J (1976) Eurocurrencies and the Evolution of the International Monetary

System In C Stem, J Makin and D Logue (eds), Eurocurrencies and the

International Monetary System Washington: American Enterprise Institute for

Public Policy Research

44 Naseem,N.A.M., Tan,H.B., and Hamizah,M.S (2009)” “ Exchange rate misalignment,

volatility and import flows in Malaysia” Int.Journal of Economics and Managenment

3(1):130-150

45 Peree, E and Steinherr, A (1989) Exchange Rate Uncertainty and Foreign

Trade.European Economic Review, 33, pp 1241 - 64

46 Pozo, S (1992) Conditional Exchange Rate Volatility and the Volume of

International Trade: Evidence from the early 1900's The Review of Economics and

Statistics, pp 325 - 329

47 Qian, Y and Varangis, P (1994) Does Exchange Rate Volatility Hinder Export

Growth: Additional Evidence Empirical Economics, pp 371 - 96

Serenis, D., Tsounis,N (2014) “Does exchange rate variation effect African trade flow?

Procedia Economics and Finance 14 (2014), 565-574

48 Thursby, M C and Thursby, J G (1985) The Uncertainty Effects of Floating

Exchange Rates: Empirical evidence on international trade flows In Arndt et al., Exchange

Rates, Trade and the U.S Economy Cambridge, Ballinger Publishing Co pp 153 - 66

49 Thursby, M C and Thursby, J G (1987) Bilateral Trade Flows, the Linder

Hypothesis and Exchange Risk The Review of Economics and Statistics, 69, pp 488 - 95

Trang 40

CHƯƠNG 2

LÝ THUYẾT ƯỚC LƯỢNG CUNG -CẦU XUÂT NHẬP KHẨU

Chương này sẽ thảo luận việc áp dụng kinh tế lượng và lý thuyết cầu đã được xem xét, vào việc phân tích chuỗi thời gian xuất nhập khẩu Mục đích của chương này là giải quyết những vấn đề liên quan đến việc thực hành Cơ sở của nghiên cứu thống kê được thảo luận ở đây là mối liên hệ hành vi được giả định về phía cầu và cung giữa mức nhập hoặc xuất khẩu hang hoá và dịch vụ và một số biến giải thích Mối liên hệ này được giả định là đúng không qua thời kỳ nghiên cứu Khi dự đoán đươc thực hiện thì mối liên hệ được mở rộng cho thời kỳ tương lai

I LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG CUNG CẦU XUẤT NHẠP KHẨU

Vấn đề trung tâm của lý thuyết về ước lượng cầu xuất nhập khẩu là việc chỉ định mối liên hệ cầu xuất khẩu và nhập khẩu dưới dạng thích hợp Vấn đề lựa chọn các biến phụ thuộc và biến độc lập thích hợp, lựa chọn dạng hàm, phương pháp điều khiển các phản ứng trễ và những vấn đề đặc biệt của ước lượng mà liên quan đến lớp các hàng hoá sẽ được thảo luận ở đây

1.1 Chọn biến

1.1.1.Biến phụ thuộc

Hầu hết số liệu có thể có về nhập khẩu và xuất khẩu ở dạng giá trị hơn là ở dạng lượng Tuy nhiên lý thuyết cầu đề nghi rằng lượng là biến phụ thuộc thích hợp mà chúng ta sẽ phải rút ra bằng cách chia các thành phần của chuỗi thời gian về giá trị của xuất hoặc nhập khẩu cho giá tương ứng để thu được biến phụ thuộc tính theo lượng, nghĩa là :

M=VM/PM (2.1)

X=VX /PX (2.2)

Trong đó: M là lượng nhập khẩu của một hoặc một số hàng hoá;

PM là giá của hàng hoá nhập khẩu hoặc chỉ số giá của một số mặt hàng nhập khẩu;

VM là giá trị nhập khẩu;

PX là giá trị của hàng hoá xuất khẩu hoặc chỉ số giá của một số mặt hàng xuất khẩu;

VX là giá trị hàng hoá xuất khẩu

Rõ ràng rằngđối với những hàng hoá thuần nhất về mặt lượng thì M và X sẽ cho thước

đo chính xác của lượng nhập khẩu và xuất khẩu tương ứng Nhưng hàng hoá khác về mặt lượng và khi lớp các hàng hoá lại được kết hợp dưới dạng gộp, thì M và X có thể không liên

hệ với lượng thực Trong trường hợp như vậy biến giá là số chỉ số và biến lượng là giá trị tính theo tiền không đổi

Định nghĩa công thức (2.1) có thể biểu diễn dưới dạng như sau:

Ngày đăng: 21/03/2021, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm