1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng môn học quản lý hệ thống thuỷ lợi (đại học thủy lợi)

26 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 221,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu Hệ số sử dụng nước của một hệ thống tưới phụ thuộc vào lượng nước tổn thất trên hệ thống.. Trong nhiều hệ thống tưới sử dụng kênh đất, lượng nước tổn thất có thể lên tới trên 50%

Trang 1

chương 3

biện pháp nâng cao hệ số sử dụng nước

cho các hệ thống thuỷ nông

3.1 Mở đầu

Hệ số sử dụng nước của một hệ thống tưới phụ thuộc vào lượng nước tổn thất trên hệ

thống Lượng nước tổn thất càng lớn thì hệ số sử dụng nước càng nhỏ và ngược lại

Lượng nước tổn thất trên hệ thống thuỷ nông gồm có:

- Lượng nước tổn thất do bốc hơi

- Lượng nước tổn thất do rò rỉ qua công trình thuỷ công (cửa van)

- Lượng nước phải tháo đi do lấy nước vào ruộng quá yêu cầu

- Lượng nước tổn thất do ngấm trên hệ thống kênh tưới

- Lượng nước tổn thất do ngấm ngang và rò rỉ từ ruộng vào kênh tiêu qua bờ kênh

- Lượng nước tổn thất do ngấm ngang và rò rỉ từ ruộng cao xuống ruộng thấp qua bờ

ruộng

Trong nhiều hệ thống tưới sử dụng kênh đất, lượng nước tổn thất có thể lên tới trên

50% lượng nước lấy vào công trình đầu mối

Nếu tổ chức tưới tốt, các công trình thuỷ công làm việc tốt thì thành phần chủ yếu của

lượng nước tổn thất trên hệ thống là lượng nước tổn thất do ngấm ở lòng kênh Lượng nước

tổn thất do ngấm đứng ở mặt ruộng và bốc hơi trên mặt kênh là lượng tổn thất rất khó khống

chế

Theo một số tài liệu của Liên Xô cũ thì lượng tổn thất ngấm trên kênh tưới ở các kênh

cấp dưới chiếm phần chủ yếu, bởi vì chiều dài của các kênh này rất lớn và chế độ làm việc

của các kênh này thường bị gián đoạn nhiều hơn so với kênh chính

Tổn thất nước trên hệ thống kênh mương tưới có nhiều tác hại như sau :

- Tổn thất nước có thể làm giảm nhỏ diện tích tưới

- Tổn thất nước lớn có thể làm tăng khối lượng kênh mương

- Tổn thất lớn sẽ làm cho chi phí quản lý tăng, giảm nhỏ hiệu ích công trình Đặc biệt

là đối với trường hợp hệ thống tưới bằng động lực

- Tổn thất nước lớn sẽ làm tăng mức nước ngầm trên khu tưới và trong một số trường

hợp sẽ làm xấu trạng thái đất tưới; làm cho đất bị thoái hoá

Trang 2

Bởi vậy, chống tổn thất nước trên hệ thống tưới, nâng cao hệ số sử dụng nước là nhiệm

vụ hàng đầu trong công tác quản lý khai thác các hệ thống tưới

Qua phân tích các loại tổn thất nước trong hệ thống tưới thấy rằng: để hạn chế tổn thất nước, nâng cao hệ số sử dụng nước của hệ thống có thể sử dụng những biện pháp sau đây:

1 Biện pháp quản lý:

Biện pháp quản lý là biện pháp hàng đầu trong nhiệm vụ chống tổn thất, nâng cao hệ số

sử dụng nước trên hệ thống thuỷ nông Nội dung chủ yếu của biện pháp quản lý bao gồm:

- Thực hiện dùng nước có kế hoạch, nâng cao độ chính xác của việc lập và thực hiện kế hoạch dùng nước

- Hoàn chỉnh, tu bổ và quản lý tốt các công trình lấy nước, công trình đo nước, công trình chống tổn thất, tiến lên hiện đại hoá trong vấn đề phân phối nước và đo nước

- Tiến hành tổ chức tưới luân phiên một cách hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy nước và giảm tổn thất nước

- Cải tiến kỹ thuật tưới, dùng các phương pháp tưới hiện đại để hạn chế tổn thất nước

- Sử dụng công thức tưới hợp lý để hạn chế tổn thất

2 Biện pháp công trình:

Có nhiều biện pháp công trình để hạn chế tổn thất nước:

- Biện pháp phòng thấm trên đường kênh

- Biện pháp chống rò rỉ và ngấm ngang từ ruộng vào kênh tiêu hay từ ruộng cao xuống ruộng thấp

- Biện pháp chống thấm đứng ở mặt ruộng, đặc biệt là ở ruộng lúa

3.2 Thực hiện tưới luân phiên để nâng cao hệ số sử dụng nước

3.2.1 Lý do dẫn đến tưới luân phiên và các nội dung cần giải quyết khi tính toán tưới luân phiên

Trong hệ thống tưới thường thực hiện tưới luân phiên bởi những lý do sau:

1 Do lưu lượng cung cấp quá nhỏ nên cần tưới luân phiên để nâng cao mực nước trong kênh tưới, tạo điều kiện thuận lợi để lấy nước vào ruộng

2 Tưới luân phiên để giảm nhỏ tổn thất, giảm nhỏ sự thiếu hụt nước tưới đối với cây trồng, tăng diện tích tưới

3 Tưới luân phiên để phối hợp tốt việc tưới nước với công tác đồng áng

3.2.2 Các nội dung chủ yếu cần giải quyết khi tính toán tưới luân phiên

1 Chia tổ luân phiên hợp lý:

Khi chia tổ luân phiên phải xem xét khả năng chuyển nước của kênh và công tác đồng ruộng

Trang 3

2 Xác định thời gian tưới cho mỗi tổ:

Với điều kiện tỷ số phân phối lượng nước vào mặt ruộng của các tổ trong trường hợp

tưới đồng thời và trong trường hợp tưới luân phiên bằng nhau sẽ tìm được thời gian tưới cho

các tổ Giả sử có n tổ luân phiên, sẽ có n phương trình bậc nhất:

L NETn

n Ln BRL L

2 NET

2 2 L BRL L

1 NET

1 1 L BRL

t.Q

t Qt

.Q

t.Qt

.Q

t

tL = t1 + t2 + + tn-1 + tn

Trong đó:

QBRL làlưu lượng đầu tổ tưới luân phiên (ở mặt cắt P)

QNET1, QNET2 , , QNETn là lưu lượng NET của tổ 1, 2, , n nếu tưới đồng thời

t1, t2 , , tn là thời gian tưới của tổ 1; 2, , n

tL là tổng thời gian tưới cho các tổ

Giải hệ n phương trình bậc nhất sẽ tìm được thời gian tưới cho các tổ như sau:

1 Ln 3 L 2 L 1 L NETN Ln

3 L 2 L 1 NET

L Ln 3 L 2 L 1 NET 1

Q

Q

t

Qt

ưηηηη+

+ηηη

ηηη

=

1 Ln 3 L 2 L 1 L NETN Ln

3 L 2 L 1 NET

L Ln 3 L 1 L 2 NET 2

Q

Q

t

Qt

ưηηηη+

+ηηη

ηηη

=

1 Ln 3 L 2 L 1 L NETN Ln

3 L 2 L 1 NET

L 1 Ln 3 L 2 L 1 L NETn n

Q

Q

t

Qt

ư

ư

ηηηη+

+ηηη

ηηηη

tL = t1 + t2 + t3 + + tn-1 + tn

Để xác định thời gian tưới cho mỗi tổ một cách chính xác cần phải xác định đúng hệ số

sử dụng nước khi tưới luân phiên một cách chính xác Trước đây thường sử dụng công thức sau để tính hệ số sử dụng nước khi tưới luân phiên:

m

m 1 m m 1 i Li

n

Kn

η Li : hệ số sử dụng nước của tổ luân phiên (i)

η i : hệ số sử dụng nước của tổ luân phiên (i) nếu tưới đồng thời (trường hợp chuẩn)

K : số tổ luân phiên

m : hệ số đặc trưng cho tính ngấm của đất

Trang 4

β : tỷ số giữa chiều dài đường kênh công tác khi tưới luân phiên và tưới đồng thời Khi chia hai tổ luân phiên thì chọn β = 0,6 Khi chia ba tổ thì chọn β = 0,4 ữ 0,5

n : tỷ số lưu lượng ở điểm phân phối nước cho các tổ giữa trường hợp tưới luân phiên và trường hợp chuẩn (có hệ số sử dụng nước là η)

BR

' BRQ

Q

Sử dụng công thức (3 - 1) thường cho kết quả kém chính xác, bởi vì khi xây dựng công thức này đã sử dụng một số giả thiết không sát với thực tế, mặt khác công thức (3 - 1) chỉ có thể sử dụng cho sơ đồ luân phiên tập trung (mà thực tế lại có nhiều sơ đồ luân phiên), chất

đất trong các tổ có tính ngấm như nhau Để khắc phục các nhược điểm đó ta có thể sử dụng một trong hai phương pháp sau đây để tính toán tưới luân phiên

a) Phương pháp sử dụng công thức ηα cho từng tổ:

1

m Li

ưα+η

b) Phương pháp sử dụng công thức (3 - 4):

M

M i Li

n

1

=

Công thức (3.3) đã được giới thiệu ở chương 2 trong giáo trình Thuỷ nông - ĐHTL (xuất bản 1972) Công thức (3 - 4) có dạng tương tự công thức ốp-phe-gen -den, nhưng trị

số m đã được thay bởi M để đạt được kết quả tính toán chính xác hơn Trị số M được xác

định bằng thực nghiệm thông qua việc xác định M và a trong biểu thức sau:

)63()

kms/(aQ

10S

)53(Q

a

M BR

M BR

σ : phần trăm tổn thất tính theo QBR trên 1 km chiều dài kênh

M và a : hệ số đặc trưng cho tính ngấm của đất

S : tổn thất do ngấm trên 1 km chiều dài kênh (l/s - km)

QBR : là lưu lượng đầu đoạn kênh ( m3/s) Cách thí nghiệm để xác định a và M tương tự cách xác định A và m

QBR

Trang 5

Cũng có thể lập công thức tính M và a khi biết A và m:

M = 1 - {log(s1:s2)/log(QBR1:QBR2)} (a)

M 1 1 BR

1Q10

1 NET

2 NET

Trong các biểu thức (a), (b), (c), (d), (e), (f), (g) và (h) trị số A, m đã biết, do đó giả

định QNET1 và QNET 2 thì có thể tìm được a và M từ các hệ thức trên Như vậy, sau khi hiệu chỉnh các trị số A và m trong Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 4118 - 85), các trị số a và M

được xác định như ở bảng 3 - 1

Sử dụng công thức (3 - 3) hoặc công thức (3 - 4) có thể xác định được quan hệ giữa hệ

số sử dụng nước và lưu lượng cho mỗi tổ, do đó ứng với lưu lượng bất kỳ của tổ luân phiên

sẽ xác định được hệ số sử dụng nước của tổ luân phiên Sau khi xác định được hệ số sử dụng nước cho các tổ thì xác định thời gian tưới cho các tổ theo tỉ lệ lưu lượng của các tổ

Bảng 3 - 1: Các trị số a và M ứng với các loại đất khác nhau

Trang 7

Trong đó :

Qsi là lưu lượng đầu kênh (i)

qsi là hệ số tưới khi tưới luân phiên

wsi là diện tích tưới của kênh (i)

ηsi là hệ số sử dụng nước của kênh (i) khi tưới luân phiên, được xác định theo công thức tổng quát ηα nghĩa là sử dụng công thức có dạng như công thức (3 - 3) nhưng ở đây là

áp dụng cho kênh (i)

4 Xác định lượng nước tiết kiệm được do tưới luân phiên:

Lượng nước tiết kiệm do tưới luân phiên xác định theo công thức sau:

Δw = QBRL(ηL1 t1+ηL2t2+ +ηLn-1tn-1 +ηLntn) - (t1+ t2 + + tn-1 +tn)QBRL.ηh.đ.t

hay Δw = QBRL(ηL1 t1+ηL2t2+ +ηLn-1tn-1 +ηLntn) - ( tL )QBRL.ηh.đ.t

với tL = t1 + t2 + + tn-1 + tn

Trong đó :

Δw: lượng nước tiết kiệm do tưới luân phiên

QBRL: lưu lượng đầu tổ luân phiên

ηL1, ηL2, , ηL n : hệ số sử dụng nước của tổ luân phiên 1, 2, , n

t1, t2, , tn : thời gian tưới cho tổ luân phiên 1, 2, , n

Trang 8

ηh.đ.t : hệ số sử dụng nước của hệ thống (bao gồm các tổ luân phiên) nếu tưới đồng thời với lưu lượng Q BRL

QBRL

Trong hình trên: kênh nhánh vẽ nét đứt thuộc tổ luân phiên 1, kênh nhánh vẽ nét liền thuộc tổ luân phiên 2

5 Xác định lưu lượng phân phối cho từng kênh trong tổ :

Có thể phân phối lưu lượng cho từng kênh trong tổ theo tỷ lệ như tỷ lệ lưu lượng của các kênh này trong trường hợp tưới đồng thời

3.3 Hạn chế tổn thất nước tại mặt ruộng bằng biện pháp công trình

3.3.1 Công trình chống thấm ngang và rò rỉ

Thấm ngang và rò rỉ có thể là:

- Thấm ngang và rò rỉ từ ruộng lúa qua bờ kênh tiêu

- Thấm ngang và rò rỉ từ ruộng cao xuống ruộng thấp Đối với các ruộng cạnh nhau có

độ chênh cao độ lớn thì lượng tổn thất này khá lớn

Qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như kết quả quan trắc ở Việt Nam cho thấy: trên thực tế tổn thất do ngấm ngang và rò rỉ là rất lớn Chính vì vậy ở Nhật Bản người ta đã có sự can thiệp rất mạnh mẽ để hạn chế lượng tổn thất này - trong đó có giải pháp làm bờ ruộng, bờ kênh bằng bê tông hay có lõi chống thấm bằng bê tông hoặc các vật liệu khác ở Việt nam, từ xa xưa nông dân cũng đã có các giải pháp công trình và quản lý tốt để hạn chế lượng tổn thất này Tuy vậy, có thể nói rằng khi mà hầu hết các thửa ruộng của nông dân được công trình tưới cung cấp nước thì nhiều lúc, nhiều nơi nông dân đã xem nhẹ các giải pháp truyền thống này

Trang 9

Hình 3 - 1: kết cấu công trình phủ bờ

(3): Bờ ruộng hoặc bờ kênh (4): Ruộng thấp hoặc kênh

Mái dốc bờ phủ phải thích hợp, nếu góc nghiêng quá lớn thì bờ phủ sẽ kém tác dụng

Đặc biệt, các loài động vật ít khi đục lỗ ở bờ có mái xoải Khi làm đất cần tránh làm hỏng

bờ phủ Bờ phủ chỉ có tác dụng khi mực nước hai bên bờ có sự chênh lệch đáng kể

- Phủ bờ sau khi đổ ải:

Sau khi đổ ải, ruộng đã no nước Dùng các công cụ thông thường để cào đất bùn vào chân bờ, làm thành bờ phủ

Nói chung, việc phủ bờ trước lúc đổ ải sẽ tránh được lượng nước tổn thất lớn lúc đổ ải, song đầu tư cho nhân công để phủ bờ khá lớn Trên thực tế nếu bờ đã được phủ đất vụn trước lúc đổ ải thì trong lúc đổ ải cũng cần đầu tư thêm một số nhân lực để củng cố bờ phủ Qua quan trắc một số nơi ở Việt Nam thấy rằng lượng tổn thất do ngấm ngang và rò rỉ trong thời gian đổ ải là rất lớn

b) Giải pháp làm bờ quai kiểu bậc

thang:

Lượng nước tổn thất do rò rỉ từ

ruộng vào kênh tiêu hay từ ruộng cao

xuống ruộng thấp do hai nguyên nhân

chính là:

- Bờ ruộng bị nứt

- Hang động vật xuyên qua bờ

Nguyên nhân thứ hai là rất quan

trọng bởi vì nếu bờ ruộng bị nứt thì

chỉ sau một thời gian cho nước vào

ruộng các khe nứt này tự động thu hẹp do sự trương nở của đất

Để giảm bớt lượng tổn thất này người ta thường làm bờ quai bậc thang Bờ quai thường

có tiết diện hình thang, chiều cao bờ quai khoảng 100mm Chiều rộng bậc thang thường chọn a = 0,5 ữ 1 m, chiều dài mỗi bậc thường chọn L = 2 ữ 3m Bờ quai bậc thang là một

Trang 10

giải pháp truyền thống, tuy vậy giờ đây do việc dễ dàng lấy nước tưới nên nhiều nơi nông dân đã quên mất rằng từ xưa chúng ta đã có giải pháp kỹ thuật này

2 Giải pháp hiện đại:

a) Làm bờ ruộng, bờ kênh bằng vật liệu chống thấm tốt :

Thông thường, bờ ruộng hay bờ kênh có kết hợp giao thông vì vậy nếu toàn bộ bờ ruộng làm bằng vật liệu chống thấm tốt sẽ rất tốn kém Vì vậy, chỉ khi bờ ruộng hay bờ kênh có nhiệm vụ đơn thuần là ngăn nước thì mới dùng giải pháp này

b) Sử dụng vật liệu chống thấm tốt:

Đặt vật liệu chống thấm tốt vào bề mặt hoặc bên trong bờ kênh để tăng cường khả năng chống thấm và rò rỉ

Lát mái thượng lưu Lát mái hạ lưu Cừ chống thấm

3.3.2 Các giải pháp hạn chế thấm đứng ở mặt ruộng

Nói chung, trong thực tế ít khi người ta sử dụng các giải pháp để hạn chế thấm đứng Tuy vậy người ta cũng đã sử dụng một vài giải pháp để hạn chế lượng tổn thất này Điển hình là các giải pháp hạn chế thấm đứng ở ruộng lúa của Nhật Bản ở đây người ta sử dụng hai giải pháp sau:

1 Giải pháp đầm nện:

Nội dung của giải pháp này là tiến hành đầm nện lớp đất ở tầng sâu để hạn chế thấm

đứng Trước lúc đầm nện cần phải bóc lớp đất canh tác ở phía trên, sau khi đầm nện phải rải

đều lớp đất canh tác lên lớp đất đã được đầm nện

2 Giải pháp sử dụng màng ngăn:

Nội dung của giải pháp này là đặt một màng ngăn bằng vật liệu chống thấm ở tầng sâu (phía dưới tầng đất canh tác) Giống như giải pháp đầm nện, trước khi đặt màng ngăn cần bóc lớp đất phía trên, việc thi công màng ngăn không được làm ảnh hưởng xấu đến lớp đất canh tác Thông thường, khi thực hiện giải pháp đầm nện hay giải pháp chống thấm bằng màng ngăn người ta kết hợp với việc san bằng mặt ruộng

Trên thực tế đối với ruộng lúa việc san bằng và tăng diện tích của các ô ruộng có cùng cao độ có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế tổn thất do ngấm ngang và rò rỉ, tạo điều kiện tốt cho việc thực hiện kĩ thuật tiêu nước mặt ở ruộng lúa

3.4 Bọc lót kênh để tăng hệ số sử dụng nước

Có ba cách bọc lót kênh, đó là:

- Bọc lót bằng vật liệu rắn trên bề mặt của lòng kênh

Hình 3 - 3 Hình 3 - 4 Hình 3 - 5

Trang 11

3.4.2 Gây bồi lắng lòng kênh

Đối với kênh nằm trên các loại đất rời như cát, cát pha có thể cho bồi lắng lòng kênh bằng phù sa hay hạt sét để tăng tính chống thấm cho đất, giảm lượng tổn thất ngấm Với biện pháp này, theo kinh nghiệm của một số nước nếu cho bồi lắng phù sa có thể giảm tổn thất 1,5 ữ 2 lần, nếu dùng hạt sét có thể giảm tổn thất được 2 ữ 5 lần Biện pháp bồi lắng bằng phù sa là biện pháp mang tính tự nhiên vì phù sa tồn tại tự nhiên trong nước tưới Còn biện pháp dùng hạt sét là biện pháp nhân tạo

Để bồi lắng 1 m2 lòng kênh cần tới 1 ữ 10 kg đất sét Khi sử dụng phù sa thì độ đục của nước phù sa phải đảm bảo vào khoảng 3 ữ 5 (g/lít )

Đối với kênh đi trên các vùng đất dính (đất thịt, đất thịt pha) cũng có thể sử dụng biện pháp bồi lắng lòng kênh để giảm tổn thất thấm nhưng trước khi gây bồi lắng nên xới mặt kênh với chiều sâu là 20 ữ 25 cm và sau khi gây bồi lắng phải đầm nện mặt kênh

Trang 12

Trong phức hệ hấp phụ của đất các gốc trao đổi chủ yếu là Ca , Mg , Na , H, trong

đó chiếm phần lớn là Ca++

Ion Ca++ đi vào phức hệ hấp phụ vì khả năng phân ly yếu và được giữ chặt ở mặt ngoài của các hạt keo đất Do đó tính chất phân tán của đất kém, đất có cấu tượng viên và tính thấm của đất lớn khi trong phức hệ hấp phụ chứa nhiều Ion Ca++

Ngược lại, nếu trong phức hệ hấp phụ của đất chứa nhiều Ion Na++ thì tính phân tán của

đất lại lớn, đất mất cấu tượng và tính thấm nước kém

Nguyên lý chủ yếu của việc muối hoá lòng kênh là tìm cách thay thế Ion Ca++ trong phức hệ hấp phụ bằng Ion Na+ Muốn vậy cần cho vào đất các hợp chất Na nhất định, ví dụ NaCl, NaOH

Lượng muối Na được đưa vào trong đất có thể xác định theo công thức sau:

a : chiều dày của tầng đất cần muối hoá (m)

T : đương lượng trao đổi của đất (li đương lượng / 100 kg đất)

1724 là hệ số đổi đơn vị từ li đương lượng ra 1kg NaCl

Phương pháp thi công như sau:

- Phương pháp hở: xới xáo mặt đất lòng kênh khoảng 5 ữ 6 cm chiều sâu, sau đó tưới nước muối hoặc cho muối khô vào và đầm nện Nhược điểm của phương pháp hở là lớp đất

được muối hoá dễ bị rửa trôi

- Phương pháp kín: theo phương pháp này thì trên tầng đất được muối hoá cần có lớp bảo vệ Lớp đất được muối hoá có thể nằm song song với đáy kênh và mái kênh Trên tầng

được muối hoá có tầng bảo vệ dày 15 ữ 20cm Nhược điểm của phương pháp kín là tầng bảo

vệ dễ bị sụt lở Để tránh sụt lở có thể chỉ muối hoá ở phần đáy kênh, đương nhiên nếu ở mái kênh không được muối hoá thì việc phòng thấm ở phần mái kênh chưa thực hiện được Muối hoá lòng kênh có thể giảm tổn thất trong kênh xuống 2 ữ 3 lần nhưng kênh lại hay bị xói và sụt

Trang 13

- Cần chọn độ ẩm thích hợp để đạt độ chặt cao

3.4.5 Lát lòng kênh bằng bitum hoặc bê tông atfal

- Hỗn hợp bê tông atfan gồm bitum + đá + cát, có 6 ữ 9%là bitum Lớp bitum dày 2 ữ

8cm trên lớp đá

- Với màng bitum thì chiều dày là 5 ữ 6cm trên có phủ lớp đất dày 30cm

3.4.6 Lát mặt kênh bằng đá xây hay gạch xây

Với loại kênh này vừa có tác dụng chống thấm tốt vừa có khả năng chống sạt lở và xói

Tốc độ cho phép trong kênh khá lớn vì thế có thể tiết kiệm diện tích chiếm đất của kênh

Khi thiết kế loại kênh này cũng cần dựa vào quy phạm để việc thiết kế kênh thoả mãn các

tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật như tính ổn định, giá thành và hiệu ích công trình

3.4.7 Lát lòng kênh bằng tấm chất dẻo

Dùng tấm chất dẻo dày 0,1 ữ 0,2mm, phía trên có phủ lớp đất dày 20 ữ 30cm

3.4.8 Bọc lót kênh tưới bằng bê tông hay bê tông cốt thép

Bọc lót kênh bằng bê tông hay bê tông cốt thép có rất nhiều ưu điểm vì vậy trên thế

giới cũng như ở Việt Nam việc sử dụng bê tông hay bê tông cốt thép để lót kênh đã và đang

phát triển một cách mạnh mẽ

1 Dạng mặt cắt ngang của kênh có bọc lót bằng bê tông hay bê tông cốt thép:

Do khả năng chịu lực và một số đặc điểm khác nên mặt cắt ngang kênh bê tông có

thể được thiết kế theo nhiều dạng khác nhau Sau đây là một số dạng thông thường:

a) Dạng mặt cắt hình chữ nhật không có thanh chống ngang (xem hình 3 - 7):

Với dạng mặt cắt này thường chỉ sử dụng cho kênh nhỏ, có trị số độ sâu kênh dưới 1m

Khi thiết kế mặt cắt ngang cần hết sức chú ý kiểm tra khả năng chịu lực của kết cấu bê tông

Cần đặc biệt chú ý đến lực đẩy ngang từ phía bờ kênh vào lòng kênh

Hình 3 - 7: Mặt cắt hình chữ nhật Hình 3 - 8: Mặt cắt hỗn hợp b) Mặt cắt hỗn hợp (xem hình 3 - 8): Phần đáy dưới mặt cắt hỗn hợp có dạng hình cung, mái bên có góc nghiêng bằng góc nghỉ của đất lòng kênh

MNTK

θ θ

Ngày đăng: 21/03/2021, 18:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm