1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI – NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

108 43 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: ―Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm‖. Hiến pháp đã đặt ra trách nhiệm bảo vệ nhân phẩm, sức khỏe, danh dự của công dân là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và tất cả các tổ chức xã hội, do nhiều ngành luật điều chỉnh. Tại khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: ―Trẻ em được nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác xâm phạm quyền trẻ em‖. Có thể thấy, trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, là người kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đảng và Nhà nước ta luôn dành sựquan tâm đặc biệt đến trẻ em, coi việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu. Tuy nhiên, trẻ em là đối tượng chưa phát triển đầy đủ vềthể chất, non nớt về nhận thức, kinh nghiệm và kỹ năng sống, chưa có khả năng nhận thức một cách đầy đủ và tự bảo vệ mình nên ở độ tuổi này, trẻ em rất dễ bị xâm hại.Ngày nay, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc quan tâm bảo vệ các quyền của trẻ em luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới ký kết và phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (20021990). Để bảo vệ các quyền trẻ em theo nội dung của Công ước, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý khác nhau, trong đó có các quy định của PLHS quy định về các tội phạm XPTDTE. Việc quy định tội phạm XPTDTE trong BLHS của nước ta đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý loại tội phạm này, góp phần to lớn vào công cuộc phòng, chống tội phạm XPTD, giữ vững trật tự an toàn xã hội và bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, các hành vi xâm hại trẻ em có chiều hướng ngày càng gia tăng, chủ yếu tập trung vào nhóm tội XPTD như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệtình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi,… Đặc biệt, tình hình tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi đang là vấn đề đáng báo động. Hiện nay, tội phạm dâm ô đối với trẻ em ngày càng nhiều, hành vi xâm hại ngày càng tinh vi, diễn biến phức tạp. Hậu quả của tội phạm dâm ô đối với trẻ em không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm mà còn tác động lâu dài, để lại hậu quả nặng nề về tâm sinh lý đối với sự phát triển của trẻ em. PLHS Việt Nam hiện hành quy định về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi tại Điều 2146 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 062019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 01 tháng 10 năm 2019 là văn bản hướng dẫn. Hai văn bản này là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết Tội dâm ô người dưới 16 tuổi trên thực tế. Đặc biệt, Nghị quyết 062019NQHĐTP ra đời đã giải quyết một số vướng mắc trong BLHS năm 2015 như: giải thích thế nào là hành vi ―dâm ô‖, nội hàm hành vi ―dâm ô‖ đối với trẻ em, giải thích một số tình tiết định khung tăng nặng,... Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng và thi hành, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như: quy định hình phạt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi chưa phù hợp, các hình phạt bổ sung còn chưa đầy đủ, thiếu quy định xử lý hành vi dâm ô của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, vấn đề nhận thức chủ quan của người phạm tội về độ tuổi của nạn nhân, độ tuổi của người phạm tội,... Vì vậy, việc tham khảo, nghiên cứu pháp luật nước ngoài để hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, góp phần đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Do vậy, nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tội dâm ô đối với ngƣời dƣới 16 tuổi Nghiên cứu, so sánh pháp luật nƣớc ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm mình.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

2 Phạm Đinh Hiền Nhi MSSV: 1753801015172 Năm thứ: 3

3 Đặng Thị Như Quỳnh MSSV: 1753801015198 Năm thứ: 3

Trưởng nhóm: Đặng Thị Như Quỳnh

Lớp: QT42B1 Khoá: 42 Khoa: Luật Quốc tế

Mã số công trình :………

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

- -

CÔNG TRÌNH DỰ THI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG

2 Phạm Đinh Hiền Nhi MSSV: 1753801015172 Năm thứ: 3

3 Đặng Thị Như Quỳnh MSSV: 1753801015198 Năm thứ: 3

Trưởng nhóm: Đặng Thị Như Quỳnh

Lớp: QT42B1 Khoá: 42 Khoa: Luật Quốc tế

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8

1.1 Khái niệm chung về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 8

1.1.1 Khái niệm người dưới 16 tuổi 8

1.1.2 Khái niệm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 10

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 14

1.2.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015 14

1.2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 25

1.3 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với một số tội xâm phạm tình dục khác mà nạn nhân là người dưới 16 tuổi 34

1.3.1 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015) 34

1.3.2 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 BLHS năm 2015) 36

1.3.3 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS năm 2015) 38

1.3.4 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội mua dâm người dưới 18 tuổi - trong trường hợp nạn nhân là người từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 329 BLHS năm 2015) 39

1.3.5 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147 BLHS năm 2015) 40

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 45

2.1 Quy định của pháp luật hình sự Philippines 45

2.1.1 Đối tượng tác động 45

2.1.2 Chủ thể 47

2.1.3 Dấu hiệu hành vi 48

2.1.4 Tình tiết định khung tăng nặng 52

2.1.5 Hình phạt 53

Trang 5

2.2 Quy định của pháp luật hình sự Vương quốc Anh 55

2.2.1 Tên gọi 56

2.2.2 Đối tượng tác động 57

2.2.3 Dấu hiệu về chủ thể 58

2.2.4 Mặt chủ quan 58

2.2.5 Dấu hiệu hành vi 60

2.2.6 Hình phạt 62

2.3 Quy định của pháp luật hình sự Thụy Điển 64

2.3.1 Tên gọi 66

2.3.2 Đối tượng tác động 67

2.3.3 Chủ thể 68

2.3.4 Dấu hiệu về hành vi 70

2.2.5 Mặt chủ quan 71

2.3.6 Hình phạt 72

CHƯƠNG III KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 76

3.1 Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi ở Việt Nam 76

3.2 Kinh nghiệm của pháp luật các nước trong việc quy định Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 80

3.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 84

3.3.1 Kiến nghị về chủ thể Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 84

3.3.2 Kiến nghị về vấn đề nhận thức chủ quan của người phạm tội về độ tuổi của nạn nhân 85

3.3.3 Kiến nghị về đối tượng tác động của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 87 3.3.4 Kiến nghị về hình phạt của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 88

3.3.5 Kiến nghị bổ sung Tội quấy rối tình dục 91

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

người kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến trẻ em, coi việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu Tuy nhiên, trẻ em là đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất, non nớt về nhận thức, kinh nghiệm và kỹ năng sống, chưa có khả năng nhận thức một cách đầy đủ và tự bảo vệ mình nên ở độ tuổi này, trẻ em rất dễ bị xâm hại

Ngày nay, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc quan tâm bảo vệ các quyền của trẻ em luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới ký kết và phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (20/02/1990) Để bảo vệ các quyền trẻ em theo nội dung của Công ước, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp

lý khác nhau, trong đó có các quy định của PLHS quy định về các tội phạm XPTDTE Việc quy định tội phạm XPTDTE trong BLHS của nước ta đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý loại tội phạm này, góp phần to lớn vào công cuộc phòng, chống tội phạm XPTD, giữ vững trật tự an toàn xã hội và bảo vệ trẻ em

Tuy nhiên, các hành vi xâm hại trẻ em có chiều hướng ngày càng gia tăng, chủ yếu tập trung vào nhóm tội XPTD như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi,… Đặc biệt, tình hình tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi đang là vấn đề đáng báo động Hiện nay, tội phạm dâm ô đối với trẻ em ngày càng nhiều, hành

vi xâm hại ngày càng tinh vi, diễn biến phức tạp Hậu quả của tội phạm dâm ô đối với trẻ em không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm mà còn tác động lâu dài, để lại hậu quả nặng nề về tâm sinh lý đối với sự phát triển của trẻ em PLHS Việt Nam hiện hành quy định về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi tại Điều

Trang 7

146 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày

01 tháng 10 năm 2019 là văn bản hướng dẫn Hai văn bản này là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết Tội dâm ô người dưới 16 tuổi trên thực tế Đặc biệt, Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ra đời đã giải quyết một số vướng mắc trong BLHS năm 2015 như:

giải thích thế nào là hành vi ―dâm ô‖, nội hàm hành vi ―dâm ô‖ đối với trẻ em, giải

thích một số tình tiết định khung tăng nặng, Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng và thi hành, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như: quy định hình phạt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi chưa phù hợp, các hình phạt bổ sung còn chưa đầy đủ, thiếu quy định xử lý hành vi dâm ô của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, vấn đề nhận thức chủ quan của người phạm tội về độ tuổi của nạn nhân, độ tuổi của người phạm tội,

Vì vậy, việc tham khảo, nghiên cứu pháp luật nước ngoài để hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, góp phần đấu tranh phòng chống loại tội phạm này Do vậy, nhóm tác giả lựa chọn nghiên

cứu đề tài: “Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - Nghiên cứu, so sánh pháp luật

nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học của

nhóm mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các tội phạm XPTDTE nói chung và Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nói riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học Cụ thể:

Các Giáo trình, tài liệu giảng dạy ở các cơ sở đào tạo Luật học có liên quan đến tội phạm này:

- Giáo trình Luật Hình sự, phần các Tội phạm (Quyển 1 và 2) của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;1

- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm của Khoa Luật - Trường Đại học quốc gia Hà Nội;2

- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - tập 2 của Trường Đại học Luật Hà Nội.3Trong nội dung các giáo trình này đã nêu rõ dấu hiệu pháp lý của các tội XPTDTE nói chung và Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nói riêng Các Giáo trình đã phân tích được định nghĩa cũng như dấu hiệu pháp lý của tội như: khách thể, chủ thể, mặt

1 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm (Quyển 1

và 2), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

2 Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, Nxb Đại

học quốc gia Hà Nội

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - tập 2, Nxb Công an nhân dân

Trang 8

chủ quan, mặt khách quan; phân tích các tình tiết định khung tăng nặng cũng như hình phạt của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Các Sách chuyên khảo có:

- Các tội tham nhũng, ma túy và các tội phạm về tình dục đối với người chưa thành

niên của Bộ Tư pháp.4

Nội dung của sách này một phần chủ yếu là giới thiệu BLHS năm 1985 sửa đổi có liên quan đến tội xâm phạm tình dục người chưa thành niên, nêu ra yêu cầu đấu tranh, phòng chống nhóm tội phạm này và trích một phần quy định BLHS năm 1985 có sửa đổi Như vậy có thể thấy rằng nội dung của sách chủ yếu là cung cấp cho người đọc những thay đổi của BLHS năm 1985 được sửa đổi lần thứ tư chứ không tập trung phân tích dấu hiệu pháp lý của nhóm tội XPTD cũng như Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi hay phân tích các bất cập, hạn chế để đưa ra phương hướng hoàn thiện về tội phạm này

- Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật Hình sự năm 1999 (Tập I), các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của tác giả Đinh Văn Quế, NXB Tư pháp năm 2006.5 Trong cuốn sách này, Tác giả Đinh Văn Quế chủ yếu bình luận, phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội XPTD cụ thể, nêu ra các quan điểm cá nhân về các dấu hiệu pháp lý còn tranh luận chứ không chú trọng phân tích lịch sử quy định, bất cập trong áp dụng pháp luật hay phương hướng hoàn thiện về các tội XPTD

- Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự hiện hành, sửa đổi, bổ sung năm 2017 của

TS Nguyễn Đức Mai, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật 2018

Trong nội dung sách bình luận này chủ yếu phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội XPTD cụ thể, trong đó có Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Các Luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật:

- Các tội xâm phạm tình dục trẻ em dưới góc độ pháp lý hình sự - Những vấn đề lý

luận và thực tiễn của tác giả Lê Đức Trịnh.6

Trong khóa luận này, tác giả Lê Đức Trịnh đã nghiên cứu được các vấn đề lý luận chung về các tội XPTDTE như đưa ra khái niệm trẻ em, khái niệm XPTDTE, phân tích lịch sử hình thành và phát triển các quy định về các tội XPTDTE trong các giai

4 Bộ Tư pháp (1997), Các tội tham nhũng, ma túy và các tội phạm về tình dục đối với người chưa thành niên,

Hà Nội

5

Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm (tập I - Các tội xâm phạm

tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người), Nxb thành phố Hồ Chí Minh

6 Lê Đức Trịnh (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em dưới góc độ pháp lý hình sự - Những vấn đề lý luận

và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM

Trang 9

đoạn khác nhau, phân tích quy định về các tội XPTD trong pháp luật quốc tế và một số nước như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Phần Lan Ngoài ra, khóa luận còn tập trung phân tích quy định cụ thể về các tội XPTD trong BLHS hiện hành, từ đó nêu ra những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật và đưa ra định hướng hoàn thiện

- Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam - Lý luận và

thực tiễn của tác giả Cao Thị Mỹ Hằng.7

Trong khóa luận này, tác giả đã đưa ra được một số khái niệm cơ bản như là trẻ

em, XPTDTE, tác giả tập trung phân tích dấu hiệu pháp lý chung của nhóm các tội XPTDTE và phân tích các dấu hiệu pháp lý cụ thể của các tội danh Đồng thời tác giả cũng phân tích một cách khái quát lịch sử quy định các tội XPTDTE trong các giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 1999 Từ những phân tích pháp luật, tác giả đã phân tích thực tế áp dụng các quy định của BLHS về các tội XPTDTE và định hướng hoàn thiện

Ngoài ra còn một số khóa luận và đề tài nghiên cứu khoa học tiêu biểu về các tội XPTD nhưng chỉ giới hạn phạm vi, nội dung nghiên cứu nạn nhân là trẻ em như:

- Các tội xâm phạm tình dục người chưa thành niên dưới góc độ pháp lý hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Thị Lành;

- Chính sách hình sự về tội xâm hại tình dục trẻ em, công trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Lê Quốc Hoàng năm 2004;

- Các tội xâm phạm tình dục trẻ em, công trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh lần IX năm 2005 của tác giả Đoàn Thị Thu Nga và Trần Thị Mỹ Dung năm 2005

Nội dung phân tích trong các công trình nghiên cứu này là các vấn đề lý luận về các tội XPTDTE, quy định về các tội XPTDTE qua các thời kỳ và trong BLHS hiện hành, phân tích được một cách khái quát quy định của một số nước về tội XPTDTE, cũng như đưa ra những kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên cũng giống như hai đề tài của tác giả Lê Đức Trịnh và Cao Thị Mỹ Hằng, nghiên cứu mới chỉ dừng ở việc chỉ ra các dấu hiệu pháp lý của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong mối liên hệ với các tội phạm tình dục khác trong BLHS mà chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể các dấu hiệu pháp lý của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Ngoài ra thời gian nghiên cứu cách đây cũng

đã lâu nên đến nay đã có nhiều nội dung mới cần tìm hiểu cũng như một số vấn đề đã thay đổi so với trước kia

7 Cao Thị Mỹ Hằng (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam - Lý luận và

thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM

Trang 10

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Tội dâm ô đối với trẻ em ―Tội dâm ô đối với trẻ

em trong pháp luật hình sự Việt Nam‖ của tác giả Nguyễn Thành Long Luận văn đã

trình bày khái quát các vấn đề lý luận chung, phân tích quy định Tội dâm ô đối với trẻ

em trong BLHS năm 1999 về dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng và hình phạt Từ đó so sánh và rút ra những điểm sửa đổi quy định của Tội trong BLHS 2015, nêu ra một số vấn đề cần chú ý khi triển khai áp dụng quy định của BLHS 2015 và đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu phân tích theo tiến trình lịch sử của quy định Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, nghiên cứu pháp luật nước ngoài

để tìm ra điểm tương đồng, khác biệt và rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

Các nghiên cứu trên đã chỉ ra cơ sở lý luận về cấu thành tội phạm của Tội dâm ô

đối với người dưới 16 tuổi; nêu rõ các vấn đề pháp lý liên quan như khái niệm ―trẻ em‖ trong cấu thành cơ bản của Điều luật; làm rõ khách thể bị xâm hại; các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, có thể thấy rằng: vẫn còn rất nhiều nội dung còn thiếu vắng chưa được chỉ ra, nhiều nội dung xung đột hoặc chưa đồng nhất trong các luật chuyên ngành, các văn bản dưới luật; nhất là chưa có một công trình nào so sánh với pháp luật nước ngoài để nghiên cứu, tổng hợp và rút ra kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam Đề tài của nhóm tác giả trình bày về các dấu hiệu pháp lý của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; nêu ra quy định về hình phạt, tình tiết định khung tăng nặng của Tội; phân tích Tội này trong tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam để từ đó thấy những sửa đổi, bổ sung qua từng giai đoạn Đặc biệt đề tài nghiên cứu, so sánh với pháp luật hình sự của Philippines, Vương quốc Anh và Thụy Điển để học hỏi kinh nghiệm Đây chính là những điểm mới mà tác giả muốn nghiên cứu làm rõ trong Đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của PLHS Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS năm 2015) trên cơ sở nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ:

- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như khái niệm trẻ em, khái niệm XPTDTE, các tội XPTDTE, định nghĩa tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Phân tích lịch sử quy định của Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015 để thấy được quá trình kế thừa, phát

Trang 11

triển của các quy định hiện hành về tội phạm này Phân tích quy định của BLHS năm

2015 và các văn bản hướng dẫn về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Phân tích quy định của PLHS Philippines, Vương quốc Anh và Thụy Điển về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Trên cơ sở đó, so sánh với pháp luật Việt Nam và tìm ra điểm tương đồng, khác biệt

- Đánh giá thực trạng áp dụng, nêu ra những kinh nghiệm cần học hỏi từ quy định của pháp luật Philippines, Vương quốc Anh và Thụy Điển

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của PLHS Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; quy định của PLHS Việt Nam; quy định của pháp luật hình sự Philippines, Vương quốc Anh, Thụy Điển về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Về phạm vi nghiên cứu, đề tài xác định giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

- Về quy định của PLHS Việt Nam: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, tình tiết định khung tăng nặng và hình phạt qua các giai đoạn phát triển từ trước năm 1945 đến BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn

- Về quy định của pháp luật của một số nước trên thế giới: Đề tài chỉ nghiên cứu quy định của pháp luật Philippines, Vương quốc Anh và Thụy Điển các quy định về Tội dâm ô hoặc tương tự Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Lựa chọn nghiên cứu những nước này là do khả năng tham khảo, tìm hiểu tài liệu của nhóm tác giả và hơn nữa là do BLHS của các nước này có những điểm tương đồng và khác biệt rõ ràng, những kinh nghiệm lập pháp hình sự để tham khảo trong quá trình hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Về thực trạng áp dụng pháp luật: Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong phạm vi tại thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 31/07/2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:

Trang 12

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những điểm giống và khác nhau trong BLHS hiện hành với các giai đoạn trước đó cũng như tìm hiểu được điểm giống

và khác nhau trong các quy định về các tội XPTD giữa PLHS Việt Nam và pháp luật của một số nước khác để từ đó rút ra được những ưu điểm và nhược điểm trong quy định về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Phương pháp phân tích và tổng hợp để phân tích các nội dung cần nghiên cứu và nhận thức một cách khái quát các nội dung, các vấn đề được nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài được thực hiện với mong muốn tác giả sẽ đóng góp một công trình nghiên cứu về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong pháp luật hình sự Việt Nam Các vấn đề tác giả đưa ra trong đề tài nhằm đưa đến cách nhận thức đúng đắn về bản chất của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trên cơ sở phân tích những quy định BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn Đề tài góp phần hoàn thiện lý luận về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong khoa học luật hình sự Việt Nam

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai có nhu cầu tìm hiểu thêm về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nói chung và cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt khi xét xử nói riêng Bên cạnh đó, những giải pháp hoàn thiện pháp luật sẽ là những gợi ý góp phần cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này

Tác giả hi vọng đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo cho cho việc đào tạo và nghiên cứu cũng như cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn

Chương 3: Kinh nghiệm của pháp luật các nước và kiến nghị hoàn thiện quy định của

pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Trang 13

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm chung về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

1.1.1 Khái niệm người dưới 16 tuổi

Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được quy định cụ thể và thống nhất là người dưới 18 tuổi Cụ thể, tại Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm

1989 có hiệu lực thi hành từ ngày 02/9/1990 (Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và

là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước này ngày 20/02/1990) thì trẻ em được quy định như sau: ―Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn‖ Như vậy có thể hiểu rằng mọi người ở độ tuổi từ khi mới

sinh ra cho đến dưới 18 tuổi thì đều được coi là trẻ em Tuy nhiên, quy định về độ tuổi

của ―trẻ em‖ theo công ước này là quy định mở, theo đó tùy thuộc vào tình hình mỗi nước, mỗi quốc gia mà độ tuổi được coi là ―trẻ em‖ có thể sớm hơn theo quy định của

pháp luật nước đó

Ở Việt Nam vấn đề độ tuổi để được coi là ―trẻ em‖ được quy định rất sớm, tùy

từng giai đoạn phát triển của xã hội và sự phát triển về tâm sinh lý của trẻ em mà pháp luật quy định độ tuổi được coi là trẻ em có sự khác nhau Văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm này là Pháp lệnh Bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 1989, theo đó Điều 1

của Pháp lệnh này quy định ―Trẻ em trong Pháp lệnh này bao gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi‖, như vậy người trên 15 tuổi thì không được coi là trẻ em Đến năm 1991,

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành đã nâng độ tuổi trẻ em lên

đến dưới 16 tuổi ―Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi‖ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, được sửa đổi bổ sung năm 2004

và nay được đổi tên là Luật trẻ em năm 2016 – có hiệu lực thi hành từ ngày

01/06/2017, quy định tại Điều 1 ―Trẻ em là người dưới 16 tuổi‖

Như vậy, trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em là những người dưới 16 tuổi Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ước quốc tế, nhưng quy định của pháp luật Việt Nam vẫn được coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ước

Trong PLHS Việt Nam không đưa ra khái niệm thế nào là trẻ em Khái niệm này

được thể hiện thông qua các thuật ngữ như ―trẻ em‖, ―người dưới 16 tuổi‖ hoặc cũng được thể hiện trong thuật ngữ có liên quan đến trẻ em là thuật ngữ ―người chưa thành

Trang 14

niên‖ Vì vậy, việc làm rõ khái niệm và nhận thức đúng đắn về khái niệm trẻ em trong

từng trường hợp cụ thể và khái niệm người chưa thành niên là rất cần thiết

Một là, về khái niệm trẻ em trong pháp luật hình sự Việt Nam:

PLHS Việt Nam không quy định cụ thể về khái niệm ―trẻ em‖ Khái niệm trẻ em

được hiểu như quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016, theo đó, trẻ em là người dưới 16 tuổi

Cần lưu ý rằng, trước khi BLHS năm 2015 ra đời ―người dưới 16 tuổi‖ được gọi

là ―trẻ em‖ Từ BLHS năm 2015 trở đi, BLHS năm 2015 không sử dụng thuật ngữ

―trẻ em‖ nữa mà quy định là ―người dưới 16 tuổi‖ Việc sử dụng thuật ngữ ―trẻ em‖ hay ―người dưới 16 tuổi‖ chỉ khác nhau về cách gọi, về thuật ngữ nhưng bản chất là

giống nhau, tức là đều dùng để chỉ người dưới 16 tuổi Có thể thấy, cách gọi như vậy

dễ hiểu, cụ thể hóa độ tuổi trẻ em trong từng điều luật Đồng thời, đảm bảo tính rõ ràng, cụ thể trong kỹ thuật lập pháp và tính ổn định của BLHS trong trường hợp thuật

ngữ ―trẻ em‖ có sự thay đổi trong pháp luật chuyên ngành

Hai là, về khái niệm người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Việt Nam:

Trong PLHS Việt Nam bên cạnh khái niệm trẻ em, nhà làm luật còn sử dụng khái

niệm ―người chưa thành niên‖ Thuật ngữ ―người chưa thành niên‖ trong Luật Hình

sự thường được đề cập dưới 2 khía cạnh:

- Người chưa thành niên là chủ thể của tội phạm, tức là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi

Về nguyên tắc, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, khái niệm

―người chưa thành niên‖ phạm tội trong PLHS Việt Nam chỉ bao gồm những người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm.8

- Người chưa thành niên là đối tượng tác động của tội phạm, hay nói cách khác là nạn nhân của hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi

Trong trường hợp đối tượng tác động của tội phạm – là nạn nhân của hành vi phạm tội là người dưới 16 tuổi sẽ được coi là trẻ em Còn khi đối tượng tác động - nạn nhân của hành vi phạm tội là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ không phải là trẻ

em Như vậy, ―trẻ em‖ (người dưới 16 tuổi) và ―người chưa thành niên‖ (người dưới

18 tuổi) là hai khái niệm riêng biệt nhưng có mối liên hệ với nhau

Có thể thấy, việc PLHS Việt Nam có những quy định riêng đối với đối tượng là

―người dưới 16 tuổi‖ là hoàn toàn phù hợp với quy định của Công ước Liên hợp quốc

về quyền trẻ em năm 1989 Bên cạnh đó, nghiên cứu các đặc điểm tâm, sinh lý của

8 Xem Điều 12, Điều 91 BLHS năm 2015

Trang 15

―người dưới 16 tuổi‖ cho thấy đây là đối tượng hạn chế về mặt thể chất cũng như tâm

sinh lý nên cần được bảo vệ và quan tâm đặc biệt Tóm lại, xuất phát từ những đặc thù nêu trên, cùng với việc tuân thủ nguyên tắc nhân đạo trong PLHS Việt Nam , BLHS

năm 2015 đã quy định về việc bảo vệ đối tượng ―người dưới 16 tuổi‖ đối với các tội

XPTDTE

1.1.2 Khái niệm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là một trong các tội XPTDTE được quy định trong BLHS Việt Nam Vì vậy, trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, nhóm tác giả đi vào tìm hiểu khái niệm các tội XPTDTE Xét về

ngữ nghĩa, ―Xâm phạm là động chạm đến quyền lợi của người khác‖ 9 còn ―Tình dục

dục xuất phát từ nhu cầu mang tính bản năng của con người thông qua việc quan hệ tính giao (gồm hành vi giao cấu và hành vi tình dục nhưng không phải là giao cấu) giữa các đối tượng khác nhau (các đối tượng này có thể đồng giới hoặc khác giới) Như vậy, về ngữ nghĩa XPTDTE được hiểu là hành vi động chạm đến quyền tự do, quyền phát triển tự nhiên của trẻ em về quan hệ tính giao Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm XPTDTE Mỗi quốc gia khác nhau lại tiếp cận về

XPTD dưới một góc độ khác nhau Theo trang Hesperian HealthWiki ―xâm phạm tình

tượng phạm tội mong muốn thực hiện các quan hệ tính giao với nạn nhân là trẻ em thông qua các hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô,

Đối với pháp luật Việt Nam thì khái niệm XPTDTE trước kia được hiểu là:

― việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô

Hiện nay, Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC đã quy định cụ thể hơn về khái niệm XPTD người dưới 16 tuổi tại khoản 1

Điều 2 như sau: ―Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình

9 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 11

10 Từ điển Tiếng Việt, tlđd (9), tr 996

11 Một số vấn đề xâm hại tình dục trẻ em, xem 13.8.2020,

<https://vi.hesperian.org/hhg/Helping_Children_Who_Are_Deaf:M%E1%BB%99t_s%E1%BB%91_v%E1%BA

%A5n_%C4%91%E1%BB%81_v%E1%BB%81_x%C3%A2m_h%E1%BA%A1i_t%C3%ACnh_d%E1%BB% A5c_tr%E1%BA%BB_em>

12 Khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016

Trang 16

thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới

13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ ).‖

Trẻ em là đối tượng đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện bản thân về mặt tâm, sinh lý cho nên việc tiếp xúc với tình dục quá sớm sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng cho trẻ em mà ngay cả bản thân họ vẫn chưa nhận thức được Hậu quả của việc thực hiện các hoạt động tình dục đối với trẻ không chỉ gây tổn thương cơ thể

và những hậu quả nhất thời mà còn có thể ảnh hưởng rất lâu dài về sau như rối loạn về sức khỏe sinh sản, khả năng học tập, khả năng hòa nhập gia đình và xã hội cũng như sức khỏe tâm thần của trẻ em Do vậy mà bất kì hành vi ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia các hoạt động tình dục dưới mọi hình thức đều là XPTDTE, kể cả các trong trường hợp trẻ em đồng tình

Khách thể của nhóm tội phạm XPTDTE là quyền bất khả xâm phạm về nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em, tức là những người dưới 16 tuổi

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện

Chủ thể của các tội XPTDTE chia làm 02 nhóm: chủ thể thường và chủ thể đặc biệt Chủ thể thường là bất kỳ người nào có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi theo quy định của pháp luật, bao gồm chủ thể của Điều 142 và Điều 144 BLHS năm 2015 Chủ thể đặc biệt là ngoài các dấu hiệu về tuổi và năng lực TNHS thì phải là người đã thành niên (tức là phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên), bao gồm chủ thể của Điều 145, 146,

16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147), Tội mua dâm người dưới 18 tuổi - trong

Trang 17

trường hợp nạn nhân là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 329) Như vậy, Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) là một trong các tội XPTDTE

Có thể thấy, PLHS Việt Nam đã đưa ra định nghĩa thế nào là các tội XPTDTE nhưng đến nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Do vậy, để xây dựng được khái niệm về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cần dựa

trên khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015: ―Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh

tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự‖

Có thể nói, khái niệm tội phạm này là khái niệm nền tảng đã thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm Khái niệm này không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể

Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là một trong các dạng hành vi XPTDTE và được quy định là tội phạm từ rất sớm Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và các tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày ngày 11 tháng 5 năm

1967 là văn bản đầu tiên hệ thống các tội phạm XPTD nói chung và XPTDTE nói

riêng quy định: ―Dâm ô tức là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thỏa mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục người đó‖ Như vậy theo hướng dẫn của Bản tổng kết 329-HS2 thì hành

vi dâm ô là các hành vi nhằm thỏa mãn tình dục của người phạm tội hoặc khêu gợi bản

năng tình dục của người khác mà không phải là hành vi ―giao cấu‖ Bản tổng kết cũng

ví dụ một số hành vi cụ thể được coi là dâm ô như ―dùng tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, tác động dương vật vào những chỗ khác trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong, ấn dương vật vào sau quần, cho xuất tinh vào sau quần, bắt nạn nhân sờ

mó bộ phận sinh dục của mình‖

Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ nội vụ hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS

nêu định nghĩa hành vi dâm ô đối với trẻ em tại Mục III.1.d như sau: ―Hành vi dâm ô

Trang 18

đối với trẻ em quy định tại Điều 202b là hành vi của người phạm tội, như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác nhưng không có việc giao cấu với trẻ em.‖

Hiện nay theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi, trong đó

có hướng dẫn về hành vi dâm ô như sau:

―Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 của Bộ luật Hình sự là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát ) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi ) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm ) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

c) Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát ) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

d) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm ) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác;

đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy của người dưới 16 tuổi).‖

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được quy định từ Bản tổng kết 329-HS2, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và đến BLHS năm 2015 Bên cạnh đó, khái niệm hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi còn được hướng dẫn ở các văn bản cụ thể Hiện nay, quy định của Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP là văn bản hướng dẫn mới nhất và cụ thể nhất về các hành vi được xác định là phạm tội dâm ô đối với người dưới

Trang 19

quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách

cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và sự phát triển lành mạnh, bình thường về thể chất và tinh thần của người dưới 16 tuổi

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

1.2.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015

* Giai đoạn trước năm 1945

Trong giai đoạn trước năm 1945, có hai bộ luật điển hình cho sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp nói chung và quy định về các tội XPTD nói riêng đó là Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt Luật Lệ (Bộ luật Gia Long)

Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật)

Bộ luật Hồng Đức là bộ luật tiêu biểu cho hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, được ban hành năm 1428 dưới triều vua Lê Thái Tổ khi vừa thiết lập triều đại Sau đó, Bộ luật này được tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh ở các đời sau (1428-1788), đặc biệt là thời vua Lê Thánh Tông Bộ luật bao gồm 6 quyển với 13 chương và 722 điều Trong đó các tội XPTD được quy định tại Chương Thông gian bao gồm 03 điều (Điều

403, Điều 404, Điều 409), trong đó, tội XPTDTE chỉ được quy định tại Điều 404

Điều 404 Bộ Luật Hồng Đức quy định: ―Gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở

tại Điều 403 như sau: ―Hiếp dâm thì xử tội lưu hay tội chết và phải nộp tiền tạ hơn tiền tạ về tội gian dâm thường một bậc; nếu làm người đàn bà bị thương thì bị xử tội nặng hơn tội đánh người bị thương một bậc Nếu làm người đàn bà bị chết thì điền sản

nặng, người phạm tội có thể phải bị xử chết Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự tiến bộ của thời kỳ này khi đã phân hóa TNHS bằng việc quy định thêm các trường hợp nạn nhân bị thương hay chết thì ngoài việc người phạm tội bị xử lưu hay chết thì còn bị phạt kèm theo các hình phạt khác nữa Như vậy, việc gian dâm với bé gái nhỏ 12 tuổi trở xuống dù bé gái này có đồng ý thì vẫn xử tội và theo quy định thì mức hình phạt cũng giống như Tội hiếp dâm quy định tại Điều 403 Sở dĩ, Bộ luật Hồng Đức quy định như vậy là vì tâm sinh lý của đối tượng là trẻ em 12 tuổi trở xuống chưa phát triển đầy đủ, hoàn thiện Do đó, việc bé gái này có đồng ý thì vẫn xử tội và áp dụng

13 Nguyễn Quang Thắng (phiên âm, dịch nghĩa) - Nguyễn Văn Tài (hiệu đính), Lê Triều hình luật, Nxb Văn

hóa-thông tin, tr 219

14 Nguyễn Quang Thắng, tlđd (13), tr 219

Trang 20

mức hình phạt nghiêm khắc như Điều 403 Đây là quy định bảo vệ trẻ em vô cùng tiến

bộ của Bộ luật Hồng Đức mà những BLHS sau này vẫn tiếp tục tiếp thu và kế thừa Hành vi hiếp dâm và hành vi gian dâm phân biệt ở sự thuận tình của người phụ nữ Hay nói cách khác, sự thuận tình của phụ nữ là yếu tố quyết định hành vi đó là hiếp dâm hay gian dâm Tuy nhiên, hành vi gian dâm đối với bé gái dưới 12 tuổi không phụ thuộc vào việc bé có thuận tình hay không thuận tình

Thông qua quy định trên nhận thấy, điều luật quy định về các tội XPTDTE trong

Bộ luật Hồng Đức không mô tả các dấu hiệu phạm tội cụ thể mà chỉ nêu tên hành vi, quy định về các hành vi phạm tội còn ít Tuy nhiên điểm tiến bộ là hình phạt đối với loại tội này khá nghiêm khắc, gồm hai loại hình phạt nặng nhất trong chế độ ngũ hình của pháp luật phong kiến là: lưu và hình Mặc dù, xã hội phong kiến mang nặng tư

tưởng ―trọng nam khinh nữ‖ nhưng Bộ luật đã có nhưng tư tưởng tiến bộ nhằm bảo vệ

trẻ em, phụ nữ Có thể nói, đây là một bước phát triển rất lớn của PLHS thời kỳ này Như vậy, Bộ luật Hồng Đức không có quy định về Tội dâm ô đối với người dưới

16 tuổi, chỉ quy định về 01 tội XPTDTE là Tội gian dâm với với bé 12 tuổi trở xuống Điểm tương đồng của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và Tội gian dâm với bé 12 tuổi trở xuống là đều thuộc tội XPTDTE, tuy nhiên gian dâm tức là có hành vi giao cấu, còn Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi người phạm tội thực hiện hành vi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác

Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long)

Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) ban hành năm 1815 dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945), đời vua Gia Long Bộ luật này gồm 398 điều, chia thành 22 quyển và

được xem là ―hoàn chỉnh và đầy đủ nhất của thư tịch luật pháp Việt Nam‖.15

Trong Bộ luật Gia Long, các tội XPTD quy định tại chương Phạm gian thuộc quyển 18, từ Điều 332 đến Điều 340 Mặc dù được quy định thành một nhóm tội riêng với 09 điều luật nhưng thực chất các tội XPTD trong Bộ luật Gia Long chỉ có 08 loại hành vi phạm tội Cụ thể là những loại hành vi sau: thông gian (ngoại tình), gian dâm (thuận tình giao cấu), cưỡng gian (hiếp dâm), cưỡng dâm, thân thuộc tương gian (loạn luân), dung túng thê thiếp phạm gian, vu chấp gian ông (vu cáo thân thích cao niên phạm gian), quan lại túc xướng (quan lại ở đêm với con hát) Cách quy định như vậy phần nào đã phản ánh tư tưởng phân biệt giai cấp, sang hèn và sự bất bình trong xã hội lúc bấy giờ

15 Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu, Hoàng Việt luật lệ - Quyển V, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,

1994

Trang 21

Như vậy đây là các hành vi liên quan đến tình dục, tuy nhiên chỉ có hành vi cưỡng gian và cưỡng dâm mới là hành vi XPTD

Trong Bộ luật Gia Long, ―hành vi cưỡng gian được hiểu là người đàn ông dùng

, ―trường hợp cưỡng gian chưa

gian (hiếp dâm) là người đàn ông dùng sức mạnh, vũ lực khiến người phụ nữ không thể chống trả, chạy thoát và bị giao cấu không theo ý muốn của họ; hình phạt người phạm tội phải chịu là treo cổ (Điều 332).18 Trong trường hợp việc hiếp dâm chưa

thành thì hình phạt áp dụng sẽ nhẹ hơn - ―phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm‖.19

Không chỉ quy định về Tội hiếp dâm nói chung, Bộ luật Gia Long còn quy định cả

hiếp dâm trẻ em Trong đó, đoạn 3 Điều 332 quy định ―Cưỡng gian bé gái dưới 12 tuổi, nhân đó đưa đến chết và dụ dỗ bé gái dưới 10 tuổi rồi cưỡng hành dâm ô thì chiếu lệ quang côn chém ngay, còn cưỡng gian bé gái 12 tuổi trở xuống, 10 tuổi trở lên thì chém (giam chờ), hòa gian thì vẫn chiếu hòa đồng cưỡng mà luận tội, phạt treo

nghiêm khắc đối với tội hiếp dâm, đặc biệt đối với bé gái dưới 12 tuổi Theo quy định

này, mọi hành vi giao cấu với bé gái dưới 12 tuổi đều phạm tội hiếp dâm Bởi ―bé gái

12 tuổi trở xuống, tình chưa phát, vốn không có lòng dâm, lại dễ bị lừa, lại bị khống chế, tức cũng có hòa tình nhưng do bị dối gạt cho nên hòa gian cũng đồng kẻ cưỡng

phân hóa hình phạt cũng được thể hiện rõ trong đoạn 3 Điều 332 Căn cứ vào các trường hợp có tính nguy hiểm khác nhau, Bộ luật Gia Long quy định cách thức xử lý khác nhau, có trường hợp là chém ngay, có trường hợp chém (giam chờ), treo cổ (giam chờ) Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là hình phạt trong các trường hợp này đều rất nghiêm khắc, người phạm tội đều bị xử chết

Đoạn 2 Điều 332 Bộ luật Gia Long có quy định ―nếu dùng cường mà hòa hợp thành thì không phải là cưỡng Như một người bắt một người để dâm thì kẻ gian dâm

Như vậy đây là hành vi một người dùng sức mạnh bắt người khác

phải miễn cưỡng giao cấu, hành vi này giống với hành vi cưỡng dâm trong BLHS hiện hành Tuy nhiên mức hình phạt mà các nhà làm luật quy định rất cao đó là xử chết bằng hình thức treo cổ

Trang 22

Như vậy, Bộ luật Gia Long không có quy định về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, chỉ quy định về Tội cưỡng gian và Tội cưỡng dâm Điểm tương đồng của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và Tội cưỡng gian, Tội cưỡng dâm là đều thuộc tội XPTDTE, tuy nhiên cưỡng gian và gian dâm đều có hành vi giao cấu, còn Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi người phạm tội thực hiện hành vi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác

Như vậy, Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long có nhiều nét tương đồng về hành

vi hiếp dâm cũng như hành vi giao cấu với bé gái dưới 12 tuổi dù thuận tình hay không thuận tình đều phạm tội Tuy nhiên PLHS giai đoạn này chưa có quy định về Tội dâm

ô đối với người dưới 16 tuổi Tuy nhiên có thể thấy rằng Bộ luật Gia Long ra đời sau nên đã học hỏi được nhiều nét tiến bộ trong Bộ luật Hồng Đức và có các quy định về các tội XPTD tiến bộ hơn như đã quy định mức hình phạt trong trường hợp hiếp dâm chưa hoàn thành thì mức hình phạt thấp hơn trường hợp tội phạm đã hoàn thành, đồng thời quy định thêm hành vi cưỡng dâm cũng là hành vi XPTD Những nét tiến bộ này trong Bộ luật Gia Long vẫn được các nhà làm luật sau này tiếp thu và hoàn thiện Hành vi hiếp dâm và hành vi cưỡng dâm cũng bị coi là các hành vi XPTD trong BLHS hiện hành, đồng thời cũng có sự phân hóa TNHS giữa trường hợp phạm tội chưa đạt

và tội phạm hoàn thành, tuy nhiên quy định về các hành vi XPTD trong BLHS hiện hành rộng hơn so với Bộ luật Gia Long

Bên cạnh những ưu điểm thì các quy định về tội XPTD trong Bộ luật Gia Long vẫn còn những hạn chế nhất định như quy định dài dòng, câu chữ nhiều chỗ khó hiểu Việc quy định tội phạm chỉ quy định các hành vi cụ thể, không có tính khái quát cao, không nêu được đầy đủ bản chất của tội phạm Bên cạnh đó việc quy định tội danh cũng không có tính khoa học khi quy định các hành vi phạm tội khác nhau trong cùng một điều luật, ví dụ như Điều 332 quy định tới 3 hành vi phạm tội đó là ngoại tình, hiếp dâm và cưỡng dâm

Mặc dù các quy định về tội XPTD trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long còn nhiều điểm hạn chế nhưng phải công nhận rằng các quy định trong hai bộ luật này vẫn có rất nhiều điểm tiến bộ mà PLHS hiện nay vẫn đang tiếp tục kế thừa Chính vì vậy việc tìm hiểu các quy định về tội phạm nói chung và tội XPTD nói riêng trong hai

bộ luật này là một việc làm cần thiết để các quy định về các tội XPTD ngày càng một hoàn thiện

* Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985

Trang 23

Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, các tòa án vẫn xử theo Luật Hình cũ Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình mới từ năm 1955, toàn bộ các luật lệ cũ không còn được áp dụng nữa và các tòa án bắt đầu xử theo án lệ, theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; nên tới thời điểm này, Nhà nước ta vẫn chưa ban hành một văn bản PLHS mới quy định về Tội dâm ô người dưới 16 tuổi

Để cho các quy định của pháp luật được đầy đủ và toàn diện hơn đồng thời giúp cho việc xét xử trên thực tế được dễ dàng và thuận lợi, năm 1976, trên cơ sở kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn xét xử, TANDTC đã thông qua bản tổng kết 329-HS2 ngày 11/5/1967 hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và các tội phạm khác về tình dục Bản tổng kết quy định 04 tội XPTD, đó là: Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm (trong đó có cưỡng dâm trẻ em), hiếp dâm (bao gồm cả hiếp dâm trẻ em), dâm ô (trong đó có dâm ô với trẻ em) Như vậy, dâm ô với trẻ em được ghi nhận là thuộc

nhóm tội XPTDTE Tại Bản tổng kết 329-HS2 quy định ―Dâm ô tức là có hành vi bỉ

ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó ‖ (ví dụ như: dùng

tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, tác động dương vật vào những chỗ khác trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong, ấn dương vật vào sau quần, cho xuất tinh vào sau quần, bắt nạn nhân sờ mó bộ phận sinh dục của mình…) Can phạm thông thường

là đàn ông, nhưng trong một số trường hợp hết sức cá biệt có thể là đàn bà Hình phạt dâm ô đối với người dưới 16 tuổi tròn từ 03 tháng đến 02 năm tù Trong khi chờ pháp luật có quy định đầy đủ và toàn diện hơn thì Bản tổng kết 329-HS2 ngày 11/5/1967 có

ý nghĩa rất lớn, nó đã tổng kết kinh nghiệm, rút ra và chỉ thêm một số điểm để hướng dẫn công tác xét xử một số loại tội phạm về mặt tình dục được tốt hơn Lần đầu tiên,

hành vi ―dâm ô‖ được định nghĩa, chỉ ra các biểu hiện của loại tội phạm này Việc quy

định này có vai trò rất lớn trong việc xét xử tội phạm này trong thực tiễn, góp phần hoàn thiện từng bước lỗ hổng pháp luật so với trước đây

Bên cạnh đó, Bộ hình Luật ngày 20/12/1972 do Chính quyền Sài Gòn ban hành cũng có nhiều điều khoản quy định việc trừng trị các tội XPTD, đặc biệt là quy định về

các tội XPTDTE Cụ thể Điều 353 quy định: ―Mọi sự xâm phạm hay toan xâm phạm liêm sỉ không bạo hành, trên thân thể một vị thành niên nam hay nữ dưới 15 tuổi sẽ bị phạt cấm cố‖, Điều 354 ―Người nào xâm phạm hay toan xâm phạm liêm sỉ có bạo hành trên thân thể một người, nam hay nữ sẽ bị phạt cấm cố Nếu nạn nhân là vị thành niên dưới 15 tuổi can phạm sẽ bị phạt khổ sai hữu hạn‖, Điều 355 ―Người nào phạm tội hiếp dâm sẽ bị phạt khổ sai hữu hạn Nếu nạn nhân là vị thành niên dưới 15 tuổi can phạm sẽ bị phạt mức tối đa khổ sai hữu hạn‖

Trang 24

Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật 03/SL ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và hình phạt với 18 điều, chia làm 04 chương (từ năm 1977 được áp dụng trên toàn quốc theo hướng dẫn của Nghị định số 76-CP ngày 25/3/1977 của Hội đồng Chính phủ) Trong đó, có hai tội được nêu tội danh cụ thể (tội hiếp dâm và hiếp dâm vị thành niên), còn các hành vi XPTD khác được quy định chung Cũng tại Sắc luật này, điểm d Điều

5 Tội xâm phạm đến thân thể và nhân phẩm của công dân quy định: ―Phạm các tội khác xâm phạm thân thể và nhân phẩm của công dân thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 10 năm‖ Ngày 15/4/1976, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/BTP-TT hướng dẫn

thực hành Sắc luật số 03/SL, trong đó các tội XPTD bao gồm: hiếp dâm, cưỡng dâm, thông gian với gái vị thành niên, dâm ô Theo đó, ngày 06/7/1976, TANDTC đã ban hành Bản sơ thảo Chỉ thị số 54/TATC hướng dẫn việc thi hành pháp luật thống nhất, trong đó các hành vi XPTD vẫn bị xét xử theo tinh thần của Bản tổng kết và hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/5/1967 và các tỉnh, thành phố phía nam cũng như phía bắc đều được áp dụng văn bản này cho đến khi BLHS năm 1985 ra đời

Như vậy, có thể thấy giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 thì xét về mặt hình thức, nhìn chung các quy định của PLHS Việt Nam liên quan đến Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi rõ ràng hơn thời phong kiến Tuy nhiên, pháp luật trong giai đoạn này còn thiếu nhiều quy định, chủ yếu xét xử theo án lệ thông qua công tác tổng kết và hướng dẫn của TANDTC Nói cách khác, trước khi BLHS năm 1985 ra đời thì quy định về Tội dâm ô (bao gồm

cả dâm ô trẻ em) mới chỉ được quy định trong các văn bản dưới luật Mặt khác, mặc

dù trong Bản tổng kết 329-HS2 ngày 11/5/1967 cũng đã đề cập đến hành vi dâm ô và hình phạt hành vi dâm ô đối với trẻ em nhưng còn rất sơ sài, Về mặt nội dung thì hành vi dâm ô trẻ em (dâm ô người dưới 16 tuổi) chưa được chú trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm và đường lối xử lý so với các tội phạm khác

* Tội dâm ô đối với trẻ em theo quy định của BLHS năm 1985

BLHS năm 1985 trước khi được sửa đổi bổ sung vào năm 199723

thì không quy định Tội dâm ô đối với trẻ em Ngày 22/5/1997, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, luật này đã bổ sung Điều 202b quy định về Tội dâm ô đối với trẻ em

Trang 25

- Khách thể: Tội dâm ô đối với trẻ em lần đầu tiên được quy định trong BLHS năm

1985 sửa đổi, bổ sung năm 1997 Trong đó Tội dâm ô đối với trẻ em được quy định tại

Điều 202b thuộc Chương VIII – ―Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính‖ Như vậy, Tội dâm ô đối với trẻ em thuộc nhóm các tội phạm xâm

phạm đến trật tự công cộng, khách thể của Tội dâm ô đối với trẻ em được xác định là trật tự công cộng

Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em - người dưới 16 tuổi

- Mặt khách quan: Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 202b BLHS năm 1985) là tội

phạm có CTTP hình thức Mặt khách quan của tội này chỉ quy định dấu hiệu hành vi Hành vi khách quan của Tội dâm ô đối với trẻ em là hành vi dâm ô đối với trẻ em Đó

là hành vi ―sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ

em phải có hành vi như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó

- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý

- Chủ thể: khoản 1 Điều 202b quy định ―người nào có hành vi dâm ô đối với trẻ

em…‖ Như vậy, bất kỳ người nào đủ tuổi và có năng lực TNHS đều là chủ thể của tội

phạm này

b Các dấu hiệu định khung tăng nặng

Các dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội dâm ô đối với trẻ em được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 202b BLHS năm 1985, gồm các dấu hiệu: ―Phạm tội nhiều lần‖, ―Phạm tội đối với nhiều trẻ em‖, ―Nạn nhân là người mà người phạm tội

có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh‖, ―Gây hậu quả nghiêm trọng‖, ―Tái phạm nguy hiểm‖, ―Gây hậu quả rất nghiêm trọng‖ Đây là các dấu hiệu phản ánh

tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tăng lên đáng kể so với trường hợp thông thường và cho phép chuyển khung hình phạt từ khung cơ bản sang các khung tăng nặng tương ứng có quy định các dấu hiệu này

Trang 26

- Khoản 2 Điều 202b quy định mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây: (i) Phạm tội nhiều lần; (ii) Đối với nhiều trẻ em; (iii) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; (iv) Gây hậu quả nghiêm trọng; (v) Tái phạm nguy hiểm

- Khoản 3 Điều 202b quy định mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm áp dụng đối với trường hợp sau: (i) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này; (ii) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

Như vậy, BLHS năm 1985 là một bước ngoặt đáng kể trong lịch sử lập pháp nước ta Với BLHS năm 1985, về mặt hình thức, Tội dâm ô đối với trẻ em đã được quy định là một điều luật trong BLHS năm 1985 Về mặt nội dung, các dấu hiệu pháp

lý và cấu thành tội phạm tăng nặng của Tội dâm ô đối với trẻ em cũng được quy định

Trong BLHS năm 1999, nhà làm luật đã chuyển Tội dâm ô đối với trẻ em từ chương

―Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính‖ trong BLHS năm 1985 qua chương ―Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh

dự của con người‖ Đây là một trong những điểm mới của BLHS năm 1999 so với

BLHS năm 1985, thể hiện sự thay đổi nhận thức mới về Tội dâm ô đối với trẻ em, đảm bảo tính logic, khoa học, chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp và phù hợp với tình hình, diễn biến thực tế của tội phạm Qua thực tiễn đấu tranh chống tội phạm dâm ô đối với trẻ em

và về mặt lý luận thì hành vi dâm ô đối với trẻ emxâm hại trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em Hành vi dâm ô đối với trẻ em mặc dù có thể xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của Việt Nam nhưng đối tượng chính của tội phạm là con người Chính vì vậy, việc xếp Tội dâm

ô đối với trẻ em vào chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người và cụ thể là nhóm các tội xâm hại đến danh dự, nhân phẩm con người là hoàn toàn hợp lý

Theo đó, khách thể của Tội dâm ô đối với trẻ em được quy định trong BLHS năm

1999 là quyền được tôn trọng nhân phẩm, danh dự và cụ thể là quyền được phát triển bình thường, lành mạnh của trẻ em

Trang 27

Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em, tức là người dưới 16 tuổi Thông qua việc tác động đến trẻ em mà người phạm tội xâm phạm đến khách thể của tội phạm

- Mặt khách quan:

Tội dâm ô đối với trẻ em là tội phạm có CTTP hình thức, dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản chỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi khách quan của tội dâm ô đối với trẻ em là hành vi dâm ô đối với trẻ

em Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử ở nước ta đều thừa nhận khái niệm

―dâm ô‖ theo hướng dẫn tại Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và

một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11 tháng 5 năm 1967 (sau đây

gọi tắt là Bản tổng kết 329) của TAND tối cao Theo Bản tổng kết 329 thì ―dâm ô‖ được hiểu là: ―hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thỏa mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục người đó‖

Như vậy, hành vi dâm ô đối với trẻ em được hiểu là các hành vi tình dục có tính chất thỏa mãn nhu cầu tình dục hoặc khêu gợi nhu cầu tình dục của người phạm tội hoặc cũng

có thể chỉ khêu gợi bản năng tình dục của của trẻ em nhưng không phải là hành vi giao cấu

Dạng cụ thể của dâm ô có thể là các hành vi như sờ mó các bộ phận nhạy cảm trên cơ thể trẻ em như ngực, bộ phận sinh dục…; tiếp xúc bộ phận sinh dục của người phạm tội với các bộ phận trên cơ thể của trẻ em; hoặc cho trẻ em tiếp xúc với các bộ phận trên cơ thể của người phạm tội hoặc chỉ là chứng kiến bộ phận sinh dục của người phạm tội Khi đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi dâm ô đối với trẻ em thì cần đặt

ra một vấn đề, đó là thái độ của trẻ em đối với các hành vi này Hành vi dâm ô có buộc phải là hành vi trái ý muốn đối với trẻ em hay không? Liên quan đến vấn đề thái độ của

nạn nhân đối với hành vi dâm ô đối với trẻ em, Bản tổng kết 329 đã hướng dẫn ―Trong hình thức dâm ô với người dưới 16 tuổi tròn, vì sự phát triển cơ thể cũng như về trí óc các em còn non nớt, các em cần được bảo vệ chống mọi hành vi khiêu dâm, cho nên không kể các em có đồng ý hay không đồng ý, hễ có hành vi dâm ô tức là có tội‖

Như vậy, theo hướng dẫn của Bản tổng kết 329 thì hành vi dâm ô đối với trẻ em không bắt buộc phải trái ý muốn của trẻ em Trẻ em do cơ thể và khả năng nhận thức còn non nớt, chưa phát triển nên cần được bảo vệ chống lại hành vi dâm ô dưới mọi hình thức Do vậy, hành vi dâm ô dù có sự đồng tình hay trái ý muốn của trẻ em thì đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội Chính vì vậy, trong quy định của điều luật về Tội dâm ô đối với trẻ em, nhà làm luật chỉ quy định về hành vi dâm ô đối với trẻ em chứ không quy

Trang 28

định thủ đoạn phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm như một

số tội phạm XPTDTE khác

Tội dâm ô đối với trẻ em là tội phạm có cấu thành hình thức, giống như các tội XPTD khác, dấu hiệu hậu quả của Tội dâm ô đối với trẻ em không được quy định là dấu hiệu bắt buộc để định tội danh mà được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng hoặc tình tiết để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Tội dâm ô đối với trẻ em hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hành vi dâm ô đối với trẻ em trên thực tế

từ đủ 18 tuổi trở lên mà không phân biệt là nam giới hay nữ giới

Với việc quy định chủ thể của Tội dâm ô đối với trẻ em phải là ―người đã thành niên‖, BLHS năm 1999 đã giới hạn phạm vi phải chịu TNHS đối với tội phạm này so với quy định của BLHS năm 1985 Theo đó, ―người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi‖ sẽ

không phải chịu TNHS về hành vi dâm ô đối với trẻ em như quy định của BLHS năm

1985

b Các dấu hiệu định khung tăng nặng

Các dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội dâm ô đối với trẻ em được quy định

tại khoản 2 và khoản 3 Điều 116 BLHS năm 1999, gồm các dấu hiệu: ―Phạm tội nhiều lần‖, ―Phạm tội đối với nhiều trẻ em‖, ―Nạn nhân là người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh‖, ―Gây hậu quả nghiêm trọng‖, ―Tái phạm nguy hiểm‖, ―Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng‖

Có thể thấy, trong các dấu hiệu định khung tăng nặng của tội dâm ô đối với trẻ em

quy định tại Điều 116 BLHS năm 1999 thì dấu hiệu định khung tăng nặng ―Gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng‖

là các tình tiết định khung tăng nặng mà hậu quả được xác định là căn cứ để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên đáng kể so với trường hợp phạm tội thông thường

Trang 29

―Gây hậu quả nghiêm trọng‖, ―Gây hậu quả rất nghiêm trọng‖, ―Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng‖ có phạm vi rất rộng, bao gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về thể chất

và thiệt hại về tinh thần nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Do vậy, để áp dụng tình tiết này cần phải có sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền

Khi áp dụng các tình tiết ―gây hậu quả nghiêm trọng‖, ―gây hậu quả rất nghiêm trọng‖, ―gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng‖ đối với các tội phạm nói chung, cơ quan

tiến hành tố tụng thường viện dẫn các quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại

Chương XIV BLHS năm 1999 Theo đó, ―gây thiệt hại nghiêm trọng‖, ―gây thiệt hại rất nghiêm trọng‖, ―gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng‖ được hiểu chung là các thiệt

hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người Để xem xét trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nguyên tắc chung phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các hậu quả (thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và các thiệt hại phi vật chất).25

Tội dâm ô đối với trẻ em là một tội phạm đặc thù Do đó, hậu quả của Tội dâm ô đối với trẻ em không giống như các tội phạm khác Mặc dù chưa có hướng dẫn trực

tiếp về xác định ―Gây hậu quả nghiêm trọng‖, ―Gây hậu quả rất nghiêm trọng‖,

―Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng‖ đối với Tội dâm ô đối với trẻ em nhưng dựa vào

thực tiễn xét xử có thể xác định gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như gây rối loạn tâm lý ở trẻ em, làm trẻ

em tự sát, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ em hoặc gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt bình thường của trẻ em

c Hình phạt

Điều 116 BLHS năm 1999 gồm có 04 khoản, trong đó có 03 khoản quy định hình phạt chính và 01 khoản quy định về hình phạt bổ sung

Hình phạt chính của tội phạm này được chia làm ba khung, cụ thể như sau:

- Khoản 1 quy định mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm được áp dụng đối với trường hợp tội phạm có đủ yếu tố cấu thành cơ bản của tội này

25

Điểm 3.4 – Mục I, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV BLHS năm 1999

Trang 30

- Khoản 2 quy định mức phạt tù từ ba năm đến bảy năm được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Đối với nhiều trẻ em;

+ Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

+ Gây hậu quả nghiêm trọng;

+ Tái phạm nguy hiểm

- Khoản 3 quy định mức phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội gây ra hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

- Hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4, ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị

áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Như vậy, so với quy định tại Điều 202b của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã quy định thêm hình phạt bổ sung được áp dụng đối với người phạm tội

1.2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

So với quy định của BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã sửa

đổi tên tội danh từ ―Tội dâm ô đối với trẻ em‖ thành ―Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi‖ (Điều 146 BLHS năm 2015) Có thể thấy thuật ngữ ―trẻ em‖ trong BLHS năm

1985 và BLHS năm 1999 đã được đổi thành ―người dưới 16 tuổi‖ Việc sửa đổi tội danh

theo hướng cụ thể hóa độ tuổi của trẻ em đảm bảo tính rõ ràng, cụ thể trong kỹ thuật lập pháp đồng thời đảm bảo tính thống nhất, ổn định của BLHS trong trường hợp thuật ngữ

―trẻ em‖ có sự thay đổi trong pháp luật chuyên ngành Sự thay đổi tên tội danh theo

hướng cụ thể hóa độ tuổi của trẻ em trong quy định tại điều luật liên quan đến quan điểm chỉ đạo, định hướng cơ bản xây dựng BLHS năm 2015 Theo đó BLHS năm 2015 được xây dựng theo hướng hoàn thiện kỹ thuật lập pháp nhằm nâng cao tính minh bạch, tính khả thi và tính dự báo trong các quy định của BLHS; đảm bảo tính thống nhất nội tại của BLHS năm 2015 và tính thống nhất của BLHS năm 2015 với các luật khác.26

a Các dấu hiệu pháp lý

26 Tờ trình số 186/TTr-CP về Dự án Bộ luật Hình sự sửa đổi của Bộ Tư pháp ngày 27 tháng 4 năm 2015

Trang 31

Cũng như các tội phạm khác, Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố cấu thành tội phạm là khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm

- Khách thể của tội phạm:

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Mặt khác, hành vi này còn xâm hại đến sức khỏe, sự phát triển bình thường, ổn định và lành mạnh của trẻ em, gây ảnh hưởng xấu đến tâm, sinh lý của trẻ em về lâu dài, làm tổn thương tinh thần trẻ em cũng như gia đình của trẻ

Đối tượng tác động của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là con người, mà

cụ thể là trẻ em, người dưới 16 tuổi Độ tuổi nạn nhân là đặc điểm có ảnh hưởng quan trọng đến tính nguy hiểm của tội phạm, được thể hiện rõ nét qua việc xâm hại của hành vi phạm tội đối với mọi trẻ em dưới 16 tuổi, ở độ tuổi này trẻ em là đối tượng chưa hoàn thiện về tâm, sinh lý, dễ bị dụ dỗ, mua chuộc hoặc không thể chống cự, tự

vệ lại hành vi xâm hại Độ tuổi của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Hành vi dâm ô chỉ bị truy cứu TNHS

về tội này nếu nạn nhân là người dưới 16 tuổi, trường hợp nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi trở lên thì hành vi dâm ô không cấu thành tội phạm

- Mặt khách quan: Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là tội có cấu thành

hình thức, dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm chỉ là hành vi khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác

Hành vi dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 của BLHS năm 2015 được hướng dẫn tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP như sau: ―Dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên

cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát ) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới

16 tuổi;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi ) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm ) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

Trang 32

c) Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát ) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

d) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm ) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác;

đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy của người dưới 16 tuổi).‖

Các hành vi của người phạm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi phải không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân, tức là trong chính ý chí chủ quan của người phạm tội thì vẫn chưa hoặc không xem giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân là mục đích để thực hiện hành vi phạm tội của mình Nếu có ý định giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân nhưng không giao cấu hoặc không thực hiện hành

vi đó được thì không phải là hành vi dâm ô mà tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu TNHS về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ 13 đến dưới 16 tuổi hoặc Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Nạn nhân của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể đồng tình, tự nguyện hoặc bị cưỡng ép thực hiện hành vi dâm ô với người phạm tội Việc tự nguyện của nạn nhân không phải

là căn cứ loại trừ TNHS đối với người phạm tội bởi vì độ tuổi và nhận thức của nạn nhân rất non nớt, chưa được xem là trưởng thành để đủ chín chắn nhìn nhận được việc bản thân đang bị xâm hại

Như vậy, có thể thấy điểm mới thứ hai trong quy định về Tội dâm ô đối với người

năm 1985 là trong cấu thành cơ bản của điều luật được quy định rõ ràng, cụ thể hơn

―…mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu

2015, nhà làm luật đã bổ sung dấu hiệu ―không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác‖ là dấu hiệu cụ thể hóa hành vi khách

quan của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, đồng thời phân biệt hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi đối với các hành vi khách quan của các tội xâm phạm tình dục

khác được quy định trong BLHS năm 2015

Một trong những điểm mới của BLHS năm 2015 về nhóm tội phạm về tình dục là trong mặt khách quan của các Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Tội cưỡng dâm (Điều 143); Tội cưỡng dâm người dưới 16 tuổi (Điều 144);

27 Khoản 1 Điều 146 BLHS năm 2015

Trang 33

Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới

16 tuổi (Điều 145), nhà làm luật đã bổ sung thêm hành vi ―quan hệ tình dục khác‖.28

Chính vì thế, nhà làm luật đã bổ sung thêm dấu hiệu ―không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác‖ để phân biệt hành vi dâm ô

đối với người dưới 16 tuổi và hành vi khách quan của các tội phạm này

- Chủ thể của tội phạm: Điều 146 BLHS năm 2015 quy định chủ thể của Tội

dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là chủ thể đặc biệt Người phạm tội ngoài tuổi, năng lực TNHS thì phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên (người đã thành niên) mà không ràng buộc phải là nam hay nữ Hơn nữa, chủ thể phạm tội có thể là người cùng giới hoặc

khác giới tính với nạn nhân

- Mặt chủ quan:

Người phạm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện

b Các tình tiết định khung tăng nặng

Các dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 146 BLHS năm 2015, gồm 08 dấu hiệu sau:

―Phạm tội có tổ chức‖, ―Phạm tội 02 lần trở lên‖, ―Đối với 02 người trở lên‖, ―Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh‖, ―Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%‖, ―Tái phạm nguy hiểm‖, ―Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ

lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên‖, ―Làm nạn nhân tự sát‖

- Tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội có tổ chức”:

―Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm‖ (khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015) Như vậy, có thể

hiểu phạm tội có tổ chức là trường hợp có từ 02 người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và giữa những người này có sự câu kết chặt chẽ với nhau khi thực hiện hành

Trang 34

a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu Tuy nhiên, cũng

có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội

b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước

c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm.‖

- Tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”:

Tình tiết ―phạm tội 02 lần trở lên‖ trước BLHS năm 2015 được gọi là ―phạm tội nhiều lần‖ (điểm a khoản 2 Điều 202b BLHS năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1997; điểm a khoản 2 Điều 116 BLHS năm 1999), BLHS năm 2015 gọi là ―phạm tội 02 lần trở lên‖ (điểm b khoản 2 Điều 146 BLHS năm 2015)

Trong BLHS tình tiết ―Phạm tội 02 lần trở lên‖ được quy định là tình tiết tăng nặng

TNHS29 hoặc tình tiết định khung hình phạt được quy định ở một số điều luật cụ thể Do

vậy mà tình tiết ―Phạm tội 02 lần trở lên‖ được hướng dẫn trong nhiều văn bản khác

nhau Tuy nhiên, không có văn bản hướng dẫn nào quy định hướng dẫn trực tiếp tình tiết

―Phạm tội 02 lần trở lên‖ đối với Tội dâm ô đối với trẻ em Do vậy để có thể nhận thức đúng về tình tiết ―Phạm tội 02 lần trở lên‖ cần viện dẫn đến nhiều văn bản hướng dẫn

khác nhau

Theo Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/1/1998 của TAND tối cao, VKSND tối cao và Bộ Nội vụ hướng dẫn áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần quy định tại khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 134a…(đối với một số

tội phạm có tính chất tham nhũng và tội phạm liên quan) Bên cạnh đó tình tiết ―Phạm tội nhiều lần‖ còn được hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày

24/12/2007 của Bộ Công an, VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp

dụng một số quy định tại Chương XVIII ―Các tội phạm về ma túy‖30; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS31 Theo các văn bản hướng dẫn này thì

―Phạm tội nhiều lần‖ được giải thích là phạm tội từ hai lần trở lên, mỗi lần đều đã đủ

Trang 35

yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 của Điều luật và trong hai lần thực hiện hành vi phạm tội chưa lần nào bị đưa ra xét xử

Hiện nay, tình tiết này đã được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số

06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định như sau: ― là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS‖ Điều đó được hiểu là người phạm tội

phải có từ hai lần trở lên dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, mỗi lần đều có đủ yếu tố cấu thành Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng chưa có lần nào bị truy cứu TNHS và còn trong thời gian truy cứu TNHS, nay bị đưa ra xét xử cùng một lần

Nhóm tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng phạm tội 02 lần trở lên ―là trường hợp người phạm tội có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã

có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần tội phạm đó được xét xử trong cùng một lần 32 Mức độ tăng nặng TNHS của tình tiết này tùy thuộc vào số lần phạm tội của bị cáo, tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà mỗi lần bị cáo thực hiện

- Tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên”:

Tình tiết này hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn tình tiết này đối với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Theo quy định tại khoản 2.4, tiểu mục 2, mục I của Thông tư 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp

dụng một số quy định tại Chương XVIII ―Các tội phạm về ma túy‖ của BLHS năm

1999 hướng dẫn tình tiết ―Phạm tội đối với nhiều người‖, quy định tại các khoản 2 các Điều 197, 198 và 200 của BLHS năm 1999 thể hiện ―tình tiết phạm tội đối với nhiều người được hiểu là trong một lần phạm tội, người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với 02 người trở lên‖ Mặc dù Thông tư 17 là nội dung hướng dẫn BLHS năm 1999 về

tội phạm ma túy, tuy nhiên vẫn có giá trị tham khảo khi xem xét tình tiết này với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Có thể hiểu phạm tội ―Đối với 02 người trở lên‖ là trường hợp mà người phạm tội

đã thực hiện hành vi dâm ô với từ hai trẻ em trở lên

Cần phân biệt giữa tình tiết ―Phạm tội đối với 02 người trở lên‖ và ―Phạm tội 02 lần trở lên‖ Đối với trường hợp ―phạm tội 02 lần trở lên‖, người phạm tội thực hiện hành

vi dâm ô từ hai lần trở lên với chỉ một trẻ em còn trong trường hợp ―phạm tội đối với 02 người trở lên‖ người phạm tội thực hiện hành vi dâm ô với từ hai trẻ em trở lên Tình tiết

32 Trường ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - phần chung, Nxb Hồng

Đức, tr 336

Trang 36

―Phạm tội đối với 02 người trở lên‖ có thể được áp dụng trong một lần phạm tội hoặc có

thể áp dụng trong trường hợp người phạm tội đã thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội

- Tình tiết định khung tăng nặng “Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh”:

Đây là trường hợp giữa người phạm tội và nạn nhân có mối quan hệ đặc biệt với nhau, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nạn nhân Nghĩa vụ này có thể xuất phát từ quan hệ huyết thống như bố mẹ đối với con cái, quan hệ giáo dục như thầy cô giáo đối với học sinh, quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân

So với trường hợp dâm ô đối với trẻ em quy định tại khoản 1 Điều 116 BLHS năm

1999 thì trường hợp phạm tội này nguy hiểm hơn thể hiện ở chỗ người phạm tội đã lợi dụng trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để thực hiện hành vi dâm ô với nạn nhân Do vậy, chỉ khi nào người phạm tội lợi dụng lợi dụng trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh… đối với nạn nhân để thực hiện hành vi dâm ô thì mới bị truy cứu TNHS theo tình tiết định khung tăng nặng này

- Tình tiết định khung tăng nặng ―gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân

mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%‖: quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 146 BLHS năm 2015 và tình tiết ―gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên‖ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 146 BLHS năm

2015

Rối loạn tâm thần là các biểu hiện trầm cảm, người bệnh có cảm giác buồn chán, trống rỗng, khó tập trung suy nghĩ, hay quên, luôn cảm giác mệt mỏi, không muốn làm việc gì, cảm giác mình có tội lỗi, vô dụng, mất ngủ, hoặc ngủ quá nhiều, hay cáu gắt, giận dữ, giảm thích thú trong các hoạt động hoặc sở thích hàng ngày, giảm cảm giác ngon miệng, sụt cân hoặc ăn quá nhiều, nghĩ về cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.33

Rối loạn hành vi là các biểu hiện không tuân theo những quy tắc xử sự thông thường được xã hội chấp nhận như: cư xử hung hãn, có hành động gây hại cho bản thân và người khác, nói năng vô thức, khó thích ứng với xã hội.34

- Tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”:

Quy định về tái phạm nguy hiểm tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 như sau:

―Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

33 Xem Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014

34 Xem Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014

Trang 37

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do

cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.‖ Tình tiết ―tái phạm nguy hiểm‖ là tình tiết định khung tăng nặng của Tội dâm ô

đối với người dưới 16 tuổi, được hiểu là trường hợp người phạm tội đã phạm một tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thuộc khoản 3 Điều 146 BLHS năm 2015 hoặc đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Tình tiết định khung tăng nặng “Làm nạn nhân tự sát”:

Để xác định tình tiết định khung tăng nặng này cần phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa việc tự sát của nạn nhân và hành vi của người phạm tội Nếu vì hành vi dâm

ô mà dẫn tới nạn nhân tự sát thì phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả nạn nhân tự sát với hành vi dâm ô đó (hậu quả chết người không bắt buộc)

So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 có sự sửa đổi, bổ sung về các tình tiết định khung tăng nặng Các tình tiết định khung tăng nặng của Tội dâm ô đối với trẻ em trong BLHS năm 1999 hầu hết là các tình tiết mang tính chất định tính, tuy nhiên lại không có văn bản hướng dẫn cụ thể mà chỉ được xác định tương đối thông qua thực tiễn xét xử dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất với nhau, gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn Để khắc phục tình trạng này, BLHS năm

2015 đã sửa đổi theo hướng cụ thể hóa tối đa các tình tiết định khung của điều luật Cụ thể:

+ Điều 146 BLHS năm 2015 không quy định các tình tiết định khung như ―gây hậu quả nghiêm trọng‖ hoặc ―gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng‖ như trong BLHS năm 1999 mà thay vào đó đã cụ thể hóa các tình tiết này thành: ―gây rối loạn hoạt động tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương

cơ thể từ 31% đến 60%‖ (điểm đ khoản 2) và ―gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên‖ (điểm a khoản 3); ―làm nạn nhân tự sát‖ (điểm b khoản 3)

+ Ngoài ra, ―phạm tội 02 lần trở lên‖, ―đối với 02 người trở lên‖ cũng là

những tình tiết đã có sự sửa đổi để thể hiện rõ hơn quy định của BLHS thay thế cho

tình tiết ―phạm tội nhiều lần‖, ―phạm tội đối với nhiều trẻ em‖ Về mặt nội dung thì

việc sửa đổi này không làm thay đổi quy định của BLHS năm 1999 nhưng sẽ đảm bảo

Trang 38

các quy định của BLHS được hiểu rõ ràng và cụ thể, đồng thời cũng đảm bảo tính thống nhất với các điều luật khác trong BLHS năm 2015

+ Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 cũng bổ sung thêm tình tiết ―phạm tội có tổ chức‖ (điểm a khoản 2) So với quy định của BLHS năm 1999 thì đây là tình tiết định

khung tăng nặng mới được bổ sung Với việc bổ sung tình tiết định khung tăng nặng

―phạm tội có tổ chức‖ nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội

phạm đối với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tạo cơ sở phân hóa TNHS và quyết định hình phạt trong các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có nhiều người tham gia và cấu kết chặt chẽ với nhau, làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

c Hình phạt

Căn cứ quy định tại Điều 146 BLHS năm 2015 về hình phạt của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì mức hình phạt của tội phạm này gồm có ba khung quy định hình phạt chính (khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 146) và một khung quy địnhhình phạt bổ sung áp dụng đối với người có đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định (khoản 4 Điều 146)

Khung hình phạt cơ bản: Khoản 1 Điều 146 BLHS năm 2015 quy định: ―…thì

bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm‖ Nếu một người có hành vi dâm ô đối với người

dưới 16 tuổi nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều

146 BLHS năm 2015 thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Khung hình phạt có tình tiết định khung tăng nặng bao gồm khoản 2 và khoản 3 Điều 146 BLHS năm 2015 Trong đó, khoản 2 quy định mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; áp dụng trong các trường hợp như phạm tội có tổ chức, phạm tội hai lần trở lên, đối với hai người trở lên, đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc tái phạm nguy hiểm Nếu hành vi dâm ô trẻ em thuộc trường hợp gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, làm nạn nhân tự sát quy định tại khoản 3 thì mức phạt được quy định là từ 07 năm đến 12 năm tù

Ngoài hình phạt chính, hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 146

BLHS năm 2015: ―Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm‖ Đối với người phạm tội dâm ô

đối với người dưới 16 tuổi chỉ áp dụng một hình phạt chính có thể áp dụng hình phạt

bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Trang 39

1.3 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với một số tội xâm phạm tình dục khác mà nạn nhân là người dưới 16 tuổi

Trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì BLHS năm 2015 có các tội XPTD mà nạn nhân là người dưới 16

tuổi bao gồm: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội cưỡng dâm người từ

đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145), Tội dâm ô người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) và Tội mua dâm người dưới 18 tuổi – trong trường hợp nan nhân là người

từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 329) Nhận biết các dấu hiệu của tội phạm XPTD

mà nạn nhân là người dưới 16 tuổi là điều rất quan trọng để xác định tội phạm, phân biệt các tội phạm với nhau cũng như xác định đúng người đúng tội

1.3.1 Phân biệt Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015)

- Định nghĩa: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là ―hành vi dùng vũ lực, đe dọa

dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ; giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi‖ (khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015)

- Dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi:

+ Khách thể: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi xâm phạm đến quyền được bảo vệ

thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em - người dưới 16 tuổi

+ Mặt khách quan: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi gồm hai trường hợp

 Nạn nhân là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: các dấu hiệu thuộc mặt khách

quan cũng giống như Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS năm 2015) tức là bao gồm hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân

Hành vi giao cấu ―là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận

khác ―là hành vi của những người cùng giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ

35 Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC

Trang 40

phận khác trên cơ thể, dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng,

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để gioa cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác: người bị hại không thể chống cự được, người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi.37

Trái ý muốn của nạn nhân là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không

có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội.38

 Nạn nhân là người dưới 13 tuổi: Hành vi phạm tội của trường hợp phạm tội này

được quy định chỉ là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác mà không đòi hỏi có thủ đoạn phạm tội Việc giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi trong mọi trường hợp dù nạn nhân tự nguyện hay không tự nguyện đều phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Quy định này xuất phát từ độ tuổi của các em thể chất chưa phát triển một cách toàn diện cũng như đang còn sự non nớt trong cách suy nghĩ, tâm lý, vì vậy việc quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là tội phạm có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội đã thực hiện đủ các hành vi được quy định trong cấu thành tội phạm là tội phạm đã hoàn thành mà không đòi hỏi hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác đó phải đã kết thúc về mặt sinh lý

+ Chủ thể: Chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể thường, bất kỳ người nào có đủ

năng lực TNHS và đủ tuổi theo quy định của pháp luật

+ Mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được phân biệt dựa trên hai sự khác biệt chủ yếu, bao gồm:

(1) Dấu hiệu hành vi: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi đòi hỏi phải dùng vũ lực,

đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, nếu nạn nhân dưới 13 tuổi thì trong mọi trường hợp dù nạn nhân tự nguyện hay không tự nguyện đều phạm tội Còn Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

36 Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC

37 Khoản 7 Điều 3 Nghị quyết 06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC

38 Khoản 9 Điều 3 Nghị quyết 06/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC

Ngày đăng: 21/03/2021, 17:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
31. Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi (2014), Dự thảo phần chung Bộ luật hình sự (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo phần chung Bộ luật hình sự (sửa đổi)
Tác giả: Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi
Năm: 2014
32. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự năm 1999 (Tập 1), các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, NXB. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự năm 1999 (Tập 1), các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2006
33. Hồ Thị Nhung (2015), Các tội xâm hại tình dục trẻ em – Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và nghiên cứu so sánh với một số nước, Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm hại tình dục trẻ em – Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và nghiên cứu so sánh với một số nước
Tác giả: Hồ Thị Nhung
Năm: 2015
34. Lê Thị Diễm Hằng (2016), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em – So sánh pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự một số nước, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm tình dục trẻ em – So sánh pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự một số nước
Tác giả: Lê Thị Diễm Hằng
Năm: 2016
35. Lê Lan Chi (2015), Xử lý hình sự đối với các hành vi xâm hại tình dục và các vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ử lý hình sự đối với các hành vi xâm hại tình dục và các vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Lan Chi
Năm: 2015
36. Nguyễn Minh Hương (2014), Các tội xâm hại tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm hại tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Hương
Năm: 2014
37. Nguyễn Hữu Duy (2015), Bàn về việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em
Tác giả: Nguyễn Hữu Duy
Năm: 2015
38. Phạm Văn Báu (2002), Phạm tội đối với trẻ em – những vấn đề lý luận thực tiễn, Tạp chí Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm tội đối với trẻ em – những vấn đề lý luận thực tiễn
Tác giả: Phạm Văn Báu
Năm: 2002
39. Phạm Quang Huy (2016), Tội dâm ô với trẻ em: Một số thực trạng và giải pháp pháp lý, Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội dâm ô với trẻ em: Một số thực trạng và giải pháp pháp lý
Tác giả: Phạm Quang Huy
Năm: 2016
40. Vũ Hải Anh (2016), Những điểm mới về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người theo Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp chí luật học, Số đặc biệt về BLHS năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người theo Bộ luật hình sự năm 2015
Tác giả: Vũ Hải Anh
Năm: 2016
41. Hoàng Thị Thùy Dung (2014), Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Tác giả: Hoàng Thị Thùy Dung
Năm: 2014
42. Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2015
43. Nguyễn Tuấn Thiện (2015), Các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Tuấn Thiện
Năm: 2015
44. Nguyễn Hữu Duy (2015), Bàn về việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữa và trẻ em, Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, (9), tr.27-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữa và trẻ em
Tác giả: Nguyễn Hữu Duy
Năm: 2015
45. Nguyễn Phương Lan (2013), Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, (09), tr.23-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
Tác giả: Nguyễn Phương Lan
Năm: 2013
46. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Bộ luật hình sự Thụy Điển, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Thụy Điển
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2010
47. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Hà Nội, tập 1, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2010
48. Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Hà Nội, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
49. Viện Gia đình và Giới (2008), Tổng quan nghiên cứu về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây, Báo cáo nghiên cứu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghiên cứu về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây
Tác giả: Viện Gia đình và Giới
Năm: 2008
50. Viện Khoa học Pháp lý (2010), Nghiên cứu, so sánh pháp luật Hình sự của một số nước ASEAN, Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, so sánh pháp luật Hình sự của một số nước ASEAN
Tác giả: Viện Khoa học Pháp lý
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w