1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao

153 76 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

  

TRẦN THỊ NGỌC HÀ

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT

TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ NGÀNH: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS: NGUYỄN VĂN KHANG

Thái Nguyên – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp xúc Hán Việt 9

1.2 Quá trình hình thành cách đọc Hán Việt 11

1.3 Từ Hán Việt 13

1.3.1 Khái niệm từ Hán Việt 13

1.3.2 Đặc điểm của từ ngữ Hán Việt 15

1.3.3 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt 27

1.4 Phong cách ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ tác giả 28

1.4.1 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ 28

1.4.2 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ tác giả 30 1.5 Khái quát về con người và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 32

1.5.1 Vài nét về tác giả Nam Cao 32

1.5.2 Khái quát về sự nghiệp văn chương của Nam Cao 34

CHƯƠNG 2: CÁC TỪ NGỮ HÁN VIỆT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 2.1 Dẫn nhập 36

2.2 Thống kê, phân loại các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao 36

2.2.1 Thống kê, phân loại chung 36

Trang 3

2.2.2 Các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam

Cao xét về cấu tạo 38

2.2.3 Các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao xét về từ loại 44

2.2.4 Các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao xét về ngữ nghĩa 45

2.3 Tiểu kết chương 2 53

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 3.1 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong sáng tác văn học 55

3.1.1 Vai trò của ngôn từ trong sáng tác văn học 55

3.1.2 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong sáng tác văn học Việt Nam 58

3.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao 3.2.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua lời văn miêu tả 59

3.2.1.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua lời văn miêu tả người nông dân nghèo 60

3.2.1.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua lời văn miêu tả người trí thức nghèo 65

3.2.1.3 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua lời văn miêu tả bọn địa chủ phong kiến 70

3.2.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua vai giao tiếp 74

3.2.2.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua vai giao tiếp ngang hàng 74

3.2.2.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ Hán Việt qua vai giao tiếp không ngang hàng 79

3.3 Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 89

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vay mượn từ vựng là hiện tượng ngôn ngữ học xã hội phổ biến của mọi ngôn ngữ, tiếng Việt cũng không tách khỏi quy luật này Các từ mượn là nguồn bổ sung quan trọng cho vốn từ tiếng Việt cả về số lượng lẫn chất lượng, trong đó từ ngữ Hán Việt có số lượng lớn nhất Lớp từ này được sử dụng như một phương thức biểu hiện hữu hiệu của các nhà văn, nhà thơ Việc đọc - hiểu văn bản nghệ thuật để khám phá ra các giá trị chân - thiện -

mĩ, không thể bỏ qua việc lí giải ngôn ngữ được sử dụng, đặc biệt là các từ ngữ Hán Việt

Do hoàn cảnh địa lí và lịch sử, từ xa xưa, hai dân tộc Việt - Hán đã

có một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ rất dài Đó chính là điều kiện để các từ ngữ gốc Hán hoà vào dòng từ thuần Việt và trở nên gần gũi với dân tộc Việt Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm từ Hán Việt dường như mới chỉ được xác định về mặt lí thuyết và còn nhiều điều bỏ ngỏ trong thực tế

Song song với việc nghiên cứu về từ ngữ Hán Việt, việc đi sâu vào khảo sát, tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của các nhà văn là một hướng đi cần thiết Nam Cao là nhà văn xuất thân trong một gia đình trung nông nghèo, nhưng ông lại am hiểu sâu sắc đời sống của người dân thôn quê lẫn cuộc sống của người dân thành thị và đặc biệt nhạy cảm trước những thay đổi của xã hội Khi quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra, dẫn đến hệ quả là sự xuất hiện các từ mượn Hán thì Nam Cao đã nắm bắt rất nhanh và đưa vào trong sáng tác của mình một khối lượng lớn từ ngữ Hán Việt Có thể nói ông là một trong những tác giả sử dụng rất thành công lớp từ ngữ Hán Việt

Những tác phẩm của Nam Cao trước và sau cách mạng tháng Tám đều viết về hai đề tài: nông dân và tiểu tư sản Đây cũng là hai vấn đề thu hút

Trang 5

được sự chú ý của những nhà nghiên cứu Tuy nhiên đến nay việc nghiên cứu cách sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao vẫn chưa được tìm hiểu một cách có hệ thống Trong khi đó, lớp từ ngữ Hán Việt trong tác phẩm của ông được sử dụng như một biện pháp nghệ thuật và đã trở thành một phong cách riêng mà không phải nhiều nhà văn, nhà thơ làm được

Với tất cả những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao”

2 Lịch sử vấn đề

Từ Hán Việt một sản phẩm độc đáo của quá trình giao lưu và tiếp xúc ngôn ngữ Ngày nay từ Hán Việt đã đi vào kho từ vựng tiếng Việt với tư cách là một bộ phận từ vựng lớn nhất Lớp từ này có mặt ở mọi cấp độ, trong mọi hoạt động của đời sống ngôn ngữ tiếng Việt Đặc biệt chúng đóng một vai trò quan trọng trong ngôn ngữ văn học

Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ Hán Việt, mỗi công trình lại có hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi khái quát thành các khuynh hướng nghiên cứu sau:

- Khuynh hướng nghiên cứu từ Hán Việt ở mặt cấu trúc – hệ thống như: đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách Đây là khuynh hướng được rất nhiều tác giả lựa chọn khi nghiên cứu về từ Hán Việt Với

khuynh hướng này chúng ta phải kể đến công trình Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt (Phan Ngọc, NXB Đà Nẵng, 1984) Trong công trình này, tác giả tập

trung nghiên cứu về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ Hán Việt, chỉ ra hai loại yếu

tố Hán – Việt xét về mặt hoạt động và khả năng sản sinh Đồng thời tác giả còn chỉ ra các quan hệ ý nghĩa bằng cách quy ra thành công thức và những quy tắc, làm cho những người không có vốn kiến thức Hán học cũng có thể nhận diện được âm tiết Hán Việt Ngoài công trình trên, chúng ta không thể

Trang 6

không kể đến các giáo trình từ vựng học tiếng Việt, như: Từ vựng học tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu

Châu,…

- Khuynh hướng nghiên cứu từ Hán Việt gắn với việc dạy học ở trường phổ thông Hiện nay trong chương trình học tập các môn Văn – tiếng Việt ở các trường phổ thông từ Tiểu học đến Trung học phổ thông, số lượng

từ ngữ Hán Việt được đưa vào giảng dạy rất nhiều Trong khi đó vốn từ Hán Việt của học sinh thì rất hạn chế Chính vì vậy, nghiên cứu từ Hán Việt theo khuynh hướng này càng ngày càng nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà

nghiên cứu và đã có rất nhiều các công trình, tiêu biểu là: Dạy và học từ Hán

- Việt ở trường phổ thông (Đặng Đức Siêu, NXB Giáo dục, 2000); Rèn luyện

kỹ năng sử dụng tiếng Việt và mở rộng vốn từ Hán - Việt (Nguyễn Quang

Ninh (chủ biên), Đào Ngọc, Đặng Đức Siêu, Lê Xuân Thại, NXB GD,

2001); Từ Hán Việt và việc dạy học từ Hán Việt ở tiểu học (Hoàng Trọng Canh, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009), Giải thích từ Hán Việt trong sách giáo khoa văn học hệ phổ thông (Lê Anh Tuấn, NXB ĐHQG HN, 2005)…

Bên cạnh những công trình này, còn có các bài viết nghiên cứu từ Hán - Việt

gắn liền với vấn đề giảng dạy tiếng Việt, như các bài: Từ Hán - Việt và vấn

đề dạy học từ Hán - Việt trong nhà trường Phổ thông (Nguyễn Văn Khang, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/ 1994); Dạy và học từ Hán - Việt ở trường phổ thông (Trương Chính, Tiếng Việt, số 7/1989); Xung quanh vấn đề dạy và học từ ngữ Hán - Việt ở trường Phổ thông (Lê Xuân Thại, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/

1990),… Trong các công trình nghiên cứu và các bài viết trên, các tác giả đã khái quát lại những đặc điểm cơ bản của từ Hán Việt, đưa ra những phương pháp cụ thể để việc dạy học từ Hán Việt trong trường phổ thông đạt được hiệu quả cao nhất Đây thực sự là những tài sản vô giá giúp chúng ta dạy và học tập tốt từ ngữ Hán Việt trong chương trình phổ thông

Trang 7

- Khuynh hướng nghiên cứu từ Hán Việt gắn với nguồn gốc, lịch sử tiếng Việt: Như chúng ta biết, tiếng Việt và nền văn tự Hán đã có một quá tình tiếp xúc lâu dài, chính vì vậy nghiên cứu từ Hán Việt gắn với nguồn gốc lịch sử tiếng Việt là một khuynh hướng cũng được rất nhiều giới nghiên cứu quan tâm Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng nghiên cứu này là công trình

Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (Nguyễn Tài Cẩn,

NXB ĐHQG HN, 2000) Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra cho chúng ta biết những nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng

giữa tiếng Việt và tiếng Hán; cách đọc Hán Việt Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử

(Nguyễn Ngọc San, NXB ĐHSP, 2003), ở công trình này, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về ngữ âm lớp từ Hán Việt trong mối quan hệ với lịch sử phát triển của tiếng Việt

Ngoài các khuynh hướng nghiên cứu trên, chúng ta không thể không

kể đến những cuốn từ điển Hán Việt Đó là những cơ sở nền tảng rất cần thiết, không thể thiếu giúp chúng ta trong việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu và lĩnh hội từ Hán Việt Có thể kể đến các cuốn từ điển Hán Việt sau:

- Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh, NXB KHXH, 2000

- Từ điển từ Hán Việt, Phan Văn Các, NXB TP HCM, 2001

- Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nguyễn Lân, NXB VH, 2007

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao”, luận văn hướng vào mục đích sau: thông qua việc khảo sát, thống kê các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao, người viết khái quát bức tranh về từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong các tác phẩm của nhà văn Trên cơ sở đó, người viết mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, phân tích đánh giá, nhận xét hiệu quả và giá trị sử dụng của lớp từ ngữ Hán Việt, góp phần giải thích, chứng minh nghệ thuật sử dụng

Trang 8

xen kẽ từ thuần Việt và từ ngữ Hán Việt trong văn chương nghệ thuật nói chung và trong các tác phẩm của Nam Cao nói riêng

Từ mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau: Nhiệm vụ đầu tiên

là hệ thống hóa vấn đề lí luận về sự tiếp xúc và vay mượn ngôn ngữ Thứ hai

là điểm lại những kết quả nghiên cứu về từ Hán Việt Trên cơ sở đó, chúng tôi khảo sát, thống kê và phân loại từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao Rút ra nhận xét về giá trị sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác văn học và trong các sáng tác của Nam Cao

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung khảo sát việc sử dụng từ Hán Việt trong tác phẩm của Nam Cao qua hai tuyển tập: Nam Cao toàn tập – tập 1 và Nam Cao toàn tập – tập 2, Nxb Văn học, 2002

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: Dựa vào các tác phẩm của Nam Cao để khảo sát các từ ngữ Hán Việt, sau đó đưa ra bảng hệ thống các từ ngữ Hán Việt được sử dụng theo một số tiêu chí nhất định

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để thấy được hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong các tác phẩm của Nam Cao, người viết so sánh việc sử dụng các từ ngữ Hán Việt giữa các thể loại, giữa hai giai đoạn trước

Trang 9

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần làm rõ giá trị sử dụng của lớp từ ngữ Hán Việt trong sáng tác văn chương nói chung và trong sáng tác của Nam Cao nói riêng Đồng thời người viết hi vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong việc chỉ ra những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của tác giả khi sử dụng từ ngữ Hán Việt

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thực hiện đề tài này người viết mong muốn có những đóng góp nhất định trong việc tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ Hán Việt trong các tác phẩm văn chương, đồng thời sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường (nhất là bậc phổ thông) đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục tham khảo và phụ lục, luận văn gồm các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan

Chương 2: Các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao

Chương 3: Giá trị sử dụng từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt

Từ Hán Việt là sản phẩm của một quá trình tiếp xúc quy mô, sâu rộng trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt giữa hai dân tộc Hán – Việt trên nhiều lĩnh vực Chính sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã hình thành nên cách đọc Hán - Việt Nhưng sự tiếp xúc quy mô, lưu lại ảnh hưởng sâu đậm bắt đầu tính từ khi Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc (-179) nhất là lúc nhà Hán đặt nên đô hộ ở Giao Chỉ, Cửu Chân (-111) Đến 938 khi Ngô Quyền đại thắng quan Nam Hán, đưa lại nền độc lập cho nước nhà thì đợt tiếp xúc này mới thực sự chấm dứt

Theo tài liệu lịch sử, khảo cổ,… ta thấy có ba nhân tố đã đưa đến sự tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng này:

Thứ nhất - nhân tố chính trị: Bộ máy chính quyền của người Hán – nhìn trên những nét lớn - vẫn luôn luôn đi theo một hướng duy nhất đó là một bộ máy thống trị ngoại bang Dưới sự cai trị của nhà Hán, lúc đầu, chính quyền đô hộ phương Bắc mới tập trung quyền lực ở cấp trung ương, nhưng càng ngày càng cố đi sâu xuống tận cơ sở, với chính sách “Hán hóa” để bóp nghẹt tinh thần quật khởi của người Việt Đặc biệt từ khi Mã Viện dập tắt được cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì bộ máy cai trị ngoại bang đã siết chặt hoàn toàn xuống tận quận, huyện Đến thời nhà Đường, bộ máy đô hộ đã xuống tận làng xã

Thứ hai - nhân tố xã hội: Với sự hỗ trợ của bộ máy chính quyền ngày càng thắt chặt như trên, trong gần một nghìn năm Bắc thuộc, các bộ phận, các lực lượng xã hội khác cũng từng đợt, từng đợt một, kéo vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau Người Hán đã dần thâm nhập vào các mặt hoạt

Trang 11

động quan trọng của xã hội, văn học, sống trà trộn với người Việt Nam và chi phối đến nhiều hoạt động quan trọng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Đó là những Kiều nhân sang sinh sống ở Việt Nam với nhiều tầng lớp xã hội, mục đích và lí do khác nhau Vì thế chính sách “Hán hóa” dân tộc Việt ngày càng có tác động sâu sắc đến xã hội nước ta Đó còn là sự tác động mang tính chất qua lại hai chiều khi các binh lính là cư dân người Việt bị bắt phải đi lính cho chính quyền nhà Hán Đây là nhân tố thứ hai là cho đợt tiếp xúc này thêm ảnh hưởng sâu đậm, nhất là ở những nơi lỵ sở, cư dân tập trung đông đúc

Thứ ba - quan trọng là sự truyền bá nền văn hoá Hán trong toàn vùng

và sự ra đời của một tầng lớp quyền quý người Việt tham gia góp phần tuyên truyền cho ngôn ngữ, văn tự Hán Lúc Triệu Đà kéo quân sang xâm lược thì

Âu Lạc đang ở vào giai đoạn có sự phân hoá xã hội và có sự hình thành của một cơ cấu nhà nước đầu tiên trên cơ sở của những điều kiện nội tại của nó, với việc bị thu hút và phạm vi ảnh hưởng cả Trung Quốc, có thể nói rằng giai đoạn lịch sử này là giai đoạn xã hội Âu Lạc chuyển biến dần, đi và một quá trình phong kiến lâu dài Chính cơ sở kinh tế xã hội này đã tạo điều kiện cho việc dễ dàng tiếp thu nền văn văn học Hán, làm cho ảnh hưởng của nền văn học này ngày càng thấm sâu vào xã hội Việt Nam, thúc đẩy xã hội Việt Nam càng đi nhanh hơn vào con đường phong kiến hoá Lực lượng góp phần đắc lực nhất cho quá trình Hán hoá này trước hết phải kể đến bộ máy thống trị do quan lại Trung Quốc nắm và tầng lớp đông đảo các kiều nhân người Hán (trong đó có một bộ phận rất có uy thế) Nhưng càng về sau vai trò của tầng lớp phong kiến, tầng lớp quyền quý Việt Nam dần dần trở thành một vai trò không thể không kể đến

=> Đến thời kỳ này, nền văn học Hán nói chung và nền ngôn ngữ văn

tự Hán nói riêng đã có một ảnh hưởng quyết định trên địa bàn Việt Nam nhất

Trang 12

là ở những nơi trung tâm của chính quyền đô hộ Và đến thời kỳ này trong giai cấp phong kiến Việt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Đây chính là một lực lượng sau khi dành được độc lập đã ra sức bảo vệ, duy trì những gì tiếp thu được trước đó về mặt văn học; nhất là về mặt ngôn ngữ, văn tự và đã góp phần đắc lực trong việc củng cố tuyên truyền cho vai trò của văn ngôn và chữ Hán

1.2 Quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt

Cách đọc Hán - Việt là kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt này

Tác giả Đặng Đức Siêu trong cuốn “Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông” quan niệm như sau:

Sự gần kề về địa lí, sự tương đồng về phương thức hoạt động sản xuất và tổ chức đời sống xã hội đã tạo điều kiện thuật lợi cho việc hình thành các mối quan hệ giao hảo giữa người Việt cổ và tổ tiên Hán tộc Chính vì vậy, quá trình du nhập, định hình và hoạt động của lớp từ ngữ gốc Hán gắn

bó với các hoàn cảnh lịch sử thuộc các giai đoạn khác nhau của lịch trình

tiếp xúc giao lưu ngôn ngữ, văn hoá Hán - Việt Sự du nhập và phổ biến ngôn ngữ văn tự Hán ở nước ta diễn ra trong một hoàn cảnh đặc biệt, bằng những phương thức khác biệt và diễn tiến theo những phưong hướng riêng qua từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử khác nhau Quá trình này diễn ra theo hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Bắt đầu vào khoảng thế kỉ I, II sau Công nguyên và kết thúc vào khoảng thế kỉ X Ban đầu việc du nhập và phổ biến ngôn ngữ - văn hoá Hán là một chủ trương quan trọng trong chính sách đồng hoá người bản địa của đế chế phương Bắc Nó được chính quyền đô hộ thực thi ráo riết với nhiều âm mưu, thủ đoạn, cách thức khác nhau, nhưng kết quả đạt được rất ít

Trang 13

Tuy nhiên giai đoạn này, do cuộc sống cộng cư, sự tiếp xúc giao lưu văn hoá

- ngôn ngữ giữa hai bên Việt - Hán vẫn diễn ra theo phương hướng chủ đạo

là Việt hoá, nên một số lượng lớn từ ngữ Hán đã thâm nhập và xuất hiện trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt cổ sau khi đã bị Việt hoá trên nhiều khía cạnh khác nhau

Như vậy giai đoạn này việc tiếp nhận và Việt hoá từ ngữ Hán nhằm làm giàu cho tiếng Việt đã được khai triển rộng rãi

Giai đoạn 2: Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV: Giai đoạn này đã có nhiều

sự đổi mới về số lượng và chất lượng Thời kì này, vị trí của Nho giáo đã được xác lập, nền Hán học ở nước ta bước vào thời kì thịnh vượng Đó cũng

là cơ sở khoa học để lớp từ ngữ Hán Việt hoạt động một cách chuẩn xác và

có hiệu quả hơn

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt” cho rằng quá trình tiếp xúc Hán Việt bắt đầu vào

khoảng đầu Công nguyên và có thể chia ra làm hai giai đoạn sau:

Giai đoạn 1 kéo dài đến hết thế kỉ VI - VII Giai đoạn này chỉ lưu lại

lẻ tẻ một số cách đọc gọi là cổ Hán Việt mà không thành hệ thống Giải thích điều này, tác giả cho rằng, “trong suốt 9 thế kỉ sau Công nguyên, cách đọc Hán Việt ở Việt Nam là một cách đọc luôn luôn gắn liền với những sự biến đổi xảy ra trong tiếng Hán”

Giai đoạn 2 là giai đoạn cuối Đường, Ngũ đại Đây là giai đoạn để lại cách đọc Hán Việt hệ thống, lưu lại một ảnh hưởng sâu đậm tồn tại mãi đến ngày nay

Theo ý kiến của tác giả Phan Ngọc trong cuốn “Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả”, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000

quá trình hình thành cách đọc Hán Việt diễn ra như sau:

Trang 14

Bắt đầu từ thế kỉ thứ 1 TCN: Lúc đó người Việt và người Mường còn

là một tộc người chung và ngôn ngữ của họ lúc bấy giờ là tiếng Việt - Mường Khi chữ Hán chưa vào nước ta một cách ồ ạt thì người Việt Mường

đã tiếp thu tiếng Hán “theo cách phát âm của người đương thời” và trong quá trình phát âm như thế, họ cũng có những sai lệch nhất định Tình hình này tiếp diễn đến thế kỉ VII và nó để lại trong cả tiếng Việt và tiếng Mường một

số từ đơn tiết và tác giả gọi đó là từ Hán cổ:

Ví dụ:

Danh từ: buồng, buồm, đời, thơ,

Động từ: buộc, múa, mong, khoe,

1.3 Từ Hán Việt

1.3.1 Khái niệm “từ Hán Việt”

Xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau về cái gọi là cách đọc Hán Việt, cho nên cũng có nhiều ý kiến khác nhau nhằm giải đáp cho câu hỏi “từ Hán Việt là gì?” hay “thế nào là từ Hán Việt?”

Tác giả Nguyễn Như Ý - “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng

Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán” [tr 369]

Trang 15

Tác giả Nguyễn Văn Khang - “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, Nxb

Giáo dục, 2007: “tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt” [tr 131]

Tác giả Phan Ngọc - “Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả”, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000: “Xét về mặt lịch sử, một từ Hán Việt là

một từ được viết ra bằng chữ khối vuông của Trung Quốc nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt, người Việt vẫn dùng để đọc mọi văn bản viết bằng chữ Hán, dù đó là của người Hán hay của người Việt Xét về chữ, thì chỉ có chữ Hán mà không có chữ Hán Việt Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của người Việt về chữ Hán” [tr 11]

Tác giả Đặng Đức Siêu - “Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông”: “Từ Hán Việt là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ -

văn hóa Việt Hán diễn ra hàng ngàn năm, trong đó chủ trương “chủ động” và

“Việt hóa” là đường hướng chủ đạo, bộc lộ rõ tài chí thông minh sáng tạo của tổ tiên ta” [tr 6]

Tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến - “Cơ

sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005: “Từ Hán Việt

là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn 2 (từ đời Đường trở về sau) mà người Việt đã đọc âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình” [tr 214]

Như vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về từ Hán Việt Trước hết, tác giả luận văn hoàn toàn nhất trí với những quan điểm trên Bởi nó được xuất phát từ những khía cạnh, góc nhìn và cách giải quyết khác nhau

Từ đó, chúng ta có thể phát biểu một cách khái quát về khái niệm từ Hán Việt như sau:

Trang 16

Từ Hán Việt là những từ mượn Hán, được đọc theo cách đọc Hán Việt và nhập vào kho từ vựng tiếng Việt

1.3.2 Đặc điểm của từ ngữ Hán Việt

1.3.2.1 Đặc điểm về cấu tạo của từ ngữ Hán Việt

Căn cứ vào số lượng âm tiết từ ngữ Hán Việt được chia thành 2 loại

từ đơn âm tiết và từ đa âm tiết

a Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt đơn âm tiết

Từ Hán Việt đơn âm tiết là những từ được biểu thị bằng một từ (một văn tự bằng ngữ âm) chiếm một số lượng lớn trong hệ thống từ Hán Việt

Những từ Hán Việt đơn âm tiết thường có nghĩa từ vựng gọi tên những sự vật, đặc điểm, tính chất mà tiếng Việt chưa có để gọi tên, nên khi

đi vào kho từ vựng tiếng Việt chúng vẫn giữ được khả năng hoạt động tự do Những từ Hán Việt đơn tiết khi vào tiếng Việt, tuy cũng gặp những xung đột đồng âm và đồng nghĩa với từ tiếng Việt, nhưng vẫn trở thành từ hoạt động

tự do bên cạnh từ tiếng Việt là không nhiều và phần lớn các đơn vị đó đã có

sự phân công hoặc thay đổi ít nhiều về nghĩa để tạo ra giá trị riêng

Đại bộ phận từ Hán Việt đơn tiết trong tiếng Việt là danh từ:

Danh từ chỉ người: ông, bà, quan, dân,

Danh từ chỉ động vật: hổ, báo, phượng,

Danh từ chỉ thực vật: tùng, trúc, cúc, mai,

Danh từ chỉ đồ vật: quần, áo, sách, bút,

Còn những tính từ và động từ loại này khi đi vào tiếng Việt, khả năng hoạt động độc lập rất ít

Những từ Hán đơn tiết nêu trên trở thành từ Hán Việt đơn tiết hoạt động tự do trong tiếng Việt như đã nêu trên, nhìn chung chúng rất quen thuộc, cho nên cảm thức tự nhiên của người Việt thường cho các từ đó là thuần Việt

Trang 17

b Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt đa âm tiết

Trong lớp từ Hán Việt xét về mặt số lượng các yếu tố cấu tạo, từ đa

âm tiết chiếm số lượng lớn hơn hẳn so với từ đơn tiết (mà phần lớn là từ song tiết)

Dựa vào phương thức cấu tạo, từ đa âm tiết Hán Việt được chia thành hai loại từ ghép và từ láy

* Từ ghép

Có hai cách cấu tạo từ ghép Hán Việt:

ghép phân nghĩa (ghép chính phụ) ghép hợp nghĩa (ghép đẳng lập)

- Từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ)

Đây là loại từ ghép mà nghĩa của thành tố này quy định, hạn chế, bổ sung nghĩa cho thành tố kia để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh Các nét nghĩa của hai thành tố gắn bó hữu cơ với nhau

Từ ghép chính phụ gồm hai loại:

Từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng

Từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau

+ Từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau

VD: ái quốc, thất vọng, tận tâm, tận lực,

Những từ ghép loại này có số lượng ít, yếu tố chính đứng trước có các tính chất từ loại khác nhau:

Yếu tố chính là tính từ: nhiệt tình, yên thân, khổ tâm, khốn cực, Yếu tố chính là động từ: tận tâm, tốt nghiệp, khai sinh, thưởng thức,

+ Từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau

VD: thanh niên, tác phẩm, tối tân, ưu đãi, ác nghiệt,

Trang 18

Những từ ghép loại này có số lượng rất lớn, yếu tố chính đứng sau có các tính chất từ loại khác nhau:

Yếu tố chính là danh từ: học sinh, nhân loại, tác phẩm, quốc ca, quốc

VD:

Các từ có yếu tố trái nghĩa: sinh tử, động tĩnh, nam nữ, lợi hại, Các từ có yếu tố đồng nghĩa, gần nghĩa, hoặc cùng trường nghĩa: cô độc, hưng thịnh, gian ác, vĩ đại, cao thượng, phân phát, thịnh vượng, hân hoan, lương thiện,…

Trật tự của các yếu tố trong từ ghép đẳng lập thường là cố định, nhưng cũng có một số từ có thể đảo trật tự các yếu tố mà nghĩa vẫn không

thay đổi: VD: chung thuỷ = thuỷ chung; biệt li = li biệt, trang điểm = điểm trang, hoàng kim = kim hoàng, tranh đấu = đấu tranh, giản đơn = đơn giản, tăng gia = gia tăng, tha thiết = thiết tha,…

Trong từ ghép Hán Việt còn có loại từ ghép trùng lặp đó là những từ được cấu tạo bởi hai đơn vị có kết cấu âm tiết và ý nghĩa nội tâm hoàn toàn giống nhau, sau khi được lắp ghép thành một chỉnh thể trở thành một từ ghép song âm

VD: gia gia, xứ xứ, nhân nhân, thường thường,…

Trang 19

Những từ được cấu tạo theo kiểu này thường được dùng để biểu thị

sự toàn thể, toàn bộ, khắp lượt, liên tục, lặp di lặp lại,… Chúng đi vào tiếng

Việt bằng hình thức sao phỏng; như kiểu kết hợp: người người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện,…

* Từ láy

Theo quan niệm hiện tại thì một từ được coi là từ láy phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Phải gồm từ hai thành tố trở lên (chủ yếu là hai thành tố)

- Các thành tố trong từ láy có quan hệ về ngữ âm với nhau

- Nghĩa của từ láy có giá trị gợi tả, biểu cảm

Tuy nhiên thực tế còn có rất nhiều từ ít nhiều gợi lên mối quan hệ

ngữ âm như: hoang mang, ấm ức, khổ sở, an ủi, đường hoàng,… cũng có vẻ

như là từ láy Vì tuy không lặp lại bộ phận (hay toàn bộ) ngữ âm, nhưng các

từ này lại “gây cảm tưởng có sự lặp lại về âm”

Từ láy Hán Việt cũng vậy Bên cạnh những từ mà quan hệ ngữ âm giữa các thành tố không có sự lặp lại toàn bộ (hay bộ phận) mà chỉ gợi lên

mối quan hệ ngữ âm như: đường hoàng, bàng hoàng, an ủi,… chúng ta còn

bắt gặp ở đó những từ láy mà cả hai yếu tố đều có nghĩa trong thụ cảm của người hiểu biết tiếng Hán

Những từ được gọi là từ láy Hán Việt phải thỏa mãn một điều kiện trước tiên là: các thành tố tạo nên từ láy là yếu tố Hán Việt Đó có thể là:

- Cả hai thành tố là Hán Việt: đinh ninh, lâm li, độc đoán, đường hoàng, lam lũ, khang trang, tư lự, do dự,…

- Có thể chỉ có một thành tố là yếu tố Hán Việt: biền biệt, khô khốc, hậu hĩ, não nùng, bạc bẽo, nhục nhã,

Hầu hết những từ láy Hán Việt mà cả hai thành tố là Hán Việt thì đều

là những từ mượn nguyên khối từ tiếng Hán Đối với những từ láy này: về

Trang 20

mặt ngữ âm có thể thấy có một sự tương ứng khá rõ giữa các từ láy Hán Việt với bản thân chúng ở trong nguyên ngữ; về mặt ý nghĩa, các thành tố đều có nghĩa và nghĩa của từ láy Hán Việt trong nguyên ngữ tiếng Hán là do chính các thành tố này tạo thành

VD: “phong phú”:

- phong: dồi dào

- phú: giàu Trong tiếng Hán “phong phú” vừa được dùng làm tính từ với nghĩa “nhiều, dồi dào”; vừa được dùng làm động từ với nghĩa “làm cho nhiều, làm cho dồi dào”

Còn những từ láy chỉ có một thành tố là yếu tố Hán Việt thì đều là những từ láy được tạo ra trong tiếng Việt Những từ láy này nhìn chung không nhiều Đặc điểm bao trùm lên loại từ láy này là khi tham gia cấu tạo

từ láy, các thành tố Hán Việt đóng vai trò là thành tố chính, “có nghĩa”, còn

từ láy được cấu tạo nên thì theo mô hình của từ láy tiếng Việt

VD: khô – khô khốc

biệt - biền biệt bạc – bạc bẽo hậu – hậu hĩ

c Đặc điểm cấu tạo thành ngữ Hán Việt

Khi nói đến bản sắc dân tộc hay đặc trưng văn hoá dân tộc được hiện trong lớp từ vựng của một người, không thể nói đến thành ngữ Bởi mỗi thành ngữ đều chứa đựng trong đó cả một chiều sâu tư duy, kinh nghiệm sống và làm việc; những tập tục, lễ giáo, quan điểm, thẩm mĩ, đạo lí làm người, cách đối nhân xử thế, của con người thuộc từng dân tộc Các thành ngữ Hán Việt nhập vào tiếng Việt chủ yếu thông qua con đường sách vở

Trang 21

Khi nhập vào tiếng Việt, các thành ngữ Hán có vỏ ngữ âm Hán Việt được Việt hoá và ở các mức độ khác nhau

Do đặc điểm của thành ngữ là nghĩa biểu tượng, nghĩa tổng thể chứ không phải là nghĩa của từng thành tố cộng lại cho nên việc thay đổi một thành tố (có khi là hai) ảnh hưởng đến nghĩa của cả thành ngữ

VD: cải lão hoàn đồng

bách niên giai lão

tự cổ chí kim bách chiến bách thắng…

Cùng với sự tồn tại và hoạt động của các từ Hán Việt trong tiếng Việt, thành ngữ gốc Hán nói chung và các thành Ngữ Hán Việt nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong kho tàng thành ngữ Việt Nam

1.3.2.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa từ ngữ Hán Việt

Các từ ngữ Hán Việt khi được mượn vào tiếng Việt trở thành một bộ

phận của từ vựng tiếng Việt và chúng hoạt động theo quy luật tiếng Việt vì vậy ngữ nghĩa của các đơn vị gốc Hán có thể thay đổi so với tiếng Hán

a Sự mở rộng nghĩa, phát triển thêm nghĩa mới

Rất nhiều những từ ngữ Hán Việt khi đi vào hoạt động hành chức, bên cạnh nghĩa gốc trong tiếng Hán, còn phát triển thêm nghĩa mới

VD:

- Hắc: có nghĩa là đen tối

Vào tiếng Việt, ngoài nghĩa trên còn có thêm hai nghĩa nữa:

+ có mùi xông mạnh lên mũi, gây cảm giác khó chịu

+ tỏ ra nghiêm cứng rắn đến mức có thể cứng nhắc trong việc giữ nguyên tắc, làm người dưới quyền phải nể sợ một cách khó chịu

- đả: có nghĩa là đánh

Vào tiếng Việt, ngoài nghĩa trên còn có các nghĩa sau:

Trang 22

+ Đả kích bằng lời nói, tranh ảnh VD: Bài báo đả thói cửa quyền + ăn, uống hoặc ngủ (như đánh) VD: Hắn đả hết 2 bát cơm

- động: có các nghĩa là không đứng yên – đụng đến – hang núi

Vào tiếng Việt, ngoài nghĩa trên còn có các nghĩa sau:

+ cồn rộng và không cao lắm, thường ở vùng ven biển VD: động cát + có những biến đổi trạng thái mạnh mẽ VD: biển động dữ dội

+ có dấu hiệu không bình thường cho thấy tình hình không yên, cần

đề phòng VD: Thấy động, tên trộm bỏ chạy

- đầu: có các nghĩa sau:

+ phần trên hết của thân mình VD: cái đầu,…

+ ném vào, đưa vào VD: đầu cơ, đầu thai,…

Vào tiếng Việt, ngoài nghĩa trên còn có các nghĩa sau:

+ Phần có điểm xuất phát của một khoảng không gian của thời gian đối lập với cuối VD: đầu mùa thu, nhà ở đầu sông, những ngày đầu năm, …

+ Phần ở tận cùng, giống nhau ở hai phía đối lập trên chiều dài của một vật VD: hai bên đầu cầu, nắm hai đầu dây,…

+ Vị trí hoặc thời điểm thứ nhất, trên hoặc trước tất cả những vị trí, thời điểm khác VD: lần đầu, hàng ghế đầu, tập đầu của bộ phim,…

b Sự thu hẹp nghĩa

Đây là sự phát triển theo hướng: các yếu tố gốc Hán khi đi vào tiếng

Việt thì tiếng Việt không tiếp nhận tất cả các nghĩa vốn có của nó mà chỉ tiếp nhận phần nào một số nghĩa, hoặc bớt các nét nghĩa, hoặc hạn chế phạm vi

sử dụng từ Hán Việt với nghĩa cụ thể

VD:

- Bì: trong tiếng Hán có nghĩa là “tổ chức mặt bên ngoài của người

hay sinh - thực vật” Với nghĩa này, bì tương đương với các cách dùng sau

Trang 23

trong tiếng Việt: da của người (nhân bì), da của động vật (trư bì, ngưu bì), vỏ

của thực vật (thụ bì)

Nhưng hiện nay trong iếng Việt bì chủ yếu được dùng với nghĩa: da

của động vật: trâu, bò, lợn, gà, đã chết, dùng làm thức ăn

- Hồng: trong tiếng Hán có nghĩa là đỏ - một loại màu sắc cơ bản

Nhưng khi vào tiếng Việt lại được dùng để chỉ mức độ từng loại màu đỏ: đỏ hồng, đỏ au, đỏ chót, đỏ quạch, đỏ hoe, đỏ chói,

- Tống: trong tiếng Hán có nghĩa chỉ một hành động chung là tiễn

Nhưng khi vào tiếng Việt nó lại được dùng để chỉ một hành động cụ thể: đưa

đi, đuổi đi bằng hành động dứt khoát, mạnh mẽ: tống cổ, tống giam, tống khứ,

- Thổ: trong tiếng Hán mang nghĩa chỉ đất nói chung

Nhưng khi vào tiếng Việt lại mang nghĩa chỉ tiểu loại: đất để xây dựng nhà ở, làm vườn hay để trồng trọt (nhưng không phải là ruộng để trồng lúa): thổ canh, thổ cư,

c Sự biến đổi nghĩa

Bên cạnh hai khuynh hướng mở rộng và thu hẹp nghĩa thì một số từ tiếng Hán khi trở thành yếu tố (hoặc từ) Hán Việt thì có xu hướng: nghĩa của chúng chuyển nghĩa rất xa hoặc thay đổi hẳn so với nghĩa trong tiếng Hán

VD:

- thiên vị (Hán): vốn có nghĩa là ngôi vua; vào tiếng Việt lại có nghĩa

là thiên về phía không công bằng, không vô tư

VD: Trọng tài thiên vị đội A

- bàng hoàng: vốn có nghĩa là do dự, không biết đi lối nào; vào tiếng

Việt lại có nghĩa là: choáng váng, bất ổn định nhất thời về tinh thần

Trang 24

- sa đà: vốn có nghĩa là: vấp ngã vì hờ hững mà bỏ mất thời giờ; vào

tiếng Việt lại có nghĩa là: bị cuốn hút vào việc gì đó đến mức không tự kiểm chế được

- khốn nạn: vốn có nghĩa là khó khăn; vào tiềng Việt lại có nghĩa là

hèn mạt, không còn chút nhân cách, đáng khinh bỉ, nguyền rủa…

1.3.2.3 Đặc điểm phong cách của từ ngữ Hán Việt

a Tính cố định

Từ Hán Việt có sự kết hợp bền chắc, mang tính chất cố định

Ví dụ: So sánh:

“giang sơn” và “sông núi”

“hạnh phúc” và “sung sướng, đủ đầy”

“đê tiện” và “xấu xa, hèn nhát”

Chúng ta thấy rằng: Với các từ Hán Việt, chúng ta không thể đảo vị trí các yếu tố trong từ hay thêm bất kì yếu tố nào vào được:

sơn giang (-) phúc hạnh (-) tiện đê (-) Nhưng với các từ thuần Việt tương đương, chúng ta có thể đảo vị trí các yếu tố, thậm chí thêm các yếu tố khác vào:

núi sông (+) sông và núi (+)

đủ đầy, sung sướng (+) sung sướng và đủ đầy (+) hèn nhát, xấu xa (+) xấu xa và hèn nhát (+)

Trang 25

- để lại cho người sau: di chiếu, di chúc, di bút,…

- dời đi nơi khác: di chuyển, di cư, di trú,…

Từ “giải”: Có các nghĩa sau:

- chia ra, tách ra: giải tán, giải tỏa,

- nói cho hiểu rõ: lý giải, phân giải,

So sánh: thái dương và mặt trời ta sẽ cảm nhận thấy rất rõ điều ấy: Khi nói đến thái dương, chúng ta cảm thấy có một cái gì đó rất xa xôi, trừu tượng và rất khó định hình một cách cụ thể Nhưng nếu nói mặt trời, chúng ta sẽ tưởng tượng ra ngay trước mắt một sự vật cụ thể, thân thiện, gần gũi mà có thể vẽ hoặc mô tả bằng ngôn ngữ: mặt trời đỏ rực, mặt trời

khuất dần sau những rặng tre,… Thậm chí, các em thiếu niên, nhi đồng còn

có thể vẽ nên ông mặt trời của riêng mình: “ chác vẽ ông mặt trời, miệng ông cười thật tươi, như miệng cười cô giáo…cháu vẽ ông mặt trời, chùm mây ở

Trang 26

Bên cạnh đó ta thấy rằng, từ Hán Việt đem đến cho chúng ta sắc thái

cổ kính mà từ thuần Việt không có Sắc thái cổ kính này là do từ Hán Việt dùng để tái tạo hình ảnh các nhân vật và cuộc sống, không khí xã hội ngày xưa Đó là các giá trị phong cách cổ của các từ ngữ Hán Việt chỉ các đối tượng của sự vật mà trong cuộc sống ngày nay, đối tượng đó đã không còn

nữa, đã thuộc về lịch sử; như: trẫm, nương tử, phu quân, ái phi, thiếp, khanh, thần, thái hậu, công chúa, …

d Tính biểu cảm và hình tượng

Nhờ có đặc điểm này mà người nghe có thể biết được thái độ của người nói đối với người nghe hoặc đối với đối tượng được nói đến

Ví dụ:

Khi muốn bày tỏ thái độ khinh ghét, chê bai ai đó, người nói sử dụng

các từ: đê tiện, hám lợi, xu nịnh, kiêu ngạo, khả ố,

Bên cạnh đó, khi chúng ta sử dụng các thành ngữ, tính biểu cảm và hình tượng rất cao:

Ví dụ: khi muốn diễn tả một khoảng thời gian đã lâu lắm rồi, tiếng Việt chúng ta sử dụng các từ, cụm từ: rất lâu, đã từ lâu lắm rồi, ngày xưa,

Nhưng khi chúng ta sử dụng thành ngữ Hán Việt “thiên niên vạn đại” (nghìn

năm vạn đời) thì rõ ràng tính biểu cảm và hình tượng cao hơn rất nhiều

e Tính trang trọng và tao nhã

Nhờ có tính đa nghĩa mà từ Hán Việt có âm hưởng nghe “vang”,

“kêu”, “sang”, ý nghĩa sâu sắc hơn so với từ thuần Việt

Trong nhiều trường hợp người Việt sử dụng từ Hán Việt tên một vùng đất: Thái Bình, Hà Nội, Thái Nguyên, Hồ Nam, , tên người: Phương Thảo, Hương Giang, Đỗ Quyên, Quyết Thắng, (Hiện nay hiện tượng này diễn ra rất phổ biến)

Trang 27

Ngoài ra trong các hoàn cảnh giao tiếp có tính chất nghi thức, chúng

ta thường sử dụng từ Hán Việt thay thế cho từ thuần Việt, làm như vậy sẽ tạo được nhiều sắc thái biểu cảm và đạt được hiệu quả cao

VD: Chúng ta nói: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng phu nhân đã đến dự, chứ không nói: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng vợ đã đến dự

Hoặc khi chúng ta so sánh:

dĩ vãng - thời đã qua

lệ - nước mắt

hy sinh - chết

thì rõ ràng từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng hơn nhiều

Bên cạnh đó, từ Hán Việt còn mang sắc thái tao nhã, tránh được những cảm giác ghê sợ đau thương, thô tục, giảm nhẹ ấn tượng nặng nề:

Trong cụm từ Hán Việt “thân sinh Nguyễn Thị X” chúng ta chỉ có

thể hiểu là chỉ người đã sinh ra chị Nguyễn Thị X

Nhưng trong cụm từ thuần Việt “người sinh ra Nguyễn Thị X” chúng

ta cũng có thể hiểu là chỉ người đã sinh ra chị Nguyễn Thị X, đồng thời chúng ta còn có thể hiểu Nguyễn Thị X là tên người được sinh ra Như vậy, nếu không căn cứ vào những ngữ cảnh cụ thể thì rất dễ gây nên hiểu nhầm

Trang 28

1.3.3 Vai trò của từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt

Mặc dù từ Hán Việt xuất hiện trong tiếng Việt khi mà hệ thống từ vựng đẫ tương đối ổn định về vốn từ cơ bản, nhưng chúng vẫn đóng một vai trò quan trọng trong vốn từ vựng tiếng Việt

Lớp từ Hán Việt có mặt ở mọi cấp độ, trong mọi hoạt động của đời sống ngôn ngữ tiếng Việt Chúng không chỉ dừng lại ở các từ mượn nguyên

khối như: độc lập, tự do, hạnh phúc, … hay các thành ngữ, tục ngữ như: thiên niên vạn đại, bách chiến bách thắng,… mà chúng còn dùng để tạo nên

hàng loạt các từ ngữ Chúng không chỉ dùng trong giao tiếp hàng ngày mà còn có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ hành chính và đặc biệt là trong hệ thống thuật ngữ tiếng Việt

Với tư cách là từ ngữ văn chương, từ Hán Việt góp phần tạo nên sắc thái trang trọng, cổ kính; ý nghĩa trừu tượng, khái quát; cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn Cũng nhờ ý nghĩa trừu tượng, không liên hệ trực tiếp với hiện thực khách quan mà tỉ lệ từ Hán Việt được dùng để đặt tên người Việt rất lớn VD: chúng ta thường đặt tên là Nguyệt chứ không đặt tên là Trăng, là Diệp chứ không phải là Lá, là Thụ chứ không phải là Cây,…

Với tư cách là từ ngữ của phong cách chính luận, các từ Hán Việt có tần số xuất hiện cao ở các bài chính luận, xã luận trên báo chí; làm tăng tính chuẩn xác cho loại văn này

Chúng tôi xin dẫn ra một ví dụ của tác giả Nguyễn Văn Khang trong

cuốn “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, NXB GD, 2007

Trang 29

Tên báo Số từ khảo sát

Tỉ lệ % Toàn bài Hán Việt

sử dụng Hán Việt không những “khả dĩ” mà còn còn bảo đảm “độ an toàn”

Hơn nữa nhờ có cách đọc Hán Việt mà ông cha chúng ta đã đọc và hiểu được rất nhiều công trình về sử học, y học, văn học, thiên văn học, địa

lý, tướng số, … rồi dịch lại và giới thiệu cho đời sau

1.4 Phong cách ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ tác giả

1.4.1 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ

Phong cách đang là vấn đề thời sự của lí luận văn học và lịch sử văn học Phần lớn các sách nghiên cứu về văn học, ngôn ngữ đều đề cập đến vấn

đề phong cách Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có cách nhìn khác nhau:

Toomasepki trong tác phẩm “Giáo trình ngắn gọn về thi pháp”, Nxb Quốc gia, Maxcơva, 1931, cho rằng: Phong cách là một hệ thống ngôn ngữ thể hiện bản thân mình trong hệ thống ngôn ngữ trọn vẹn, với tính chất độc

Trang 30

đáo của từ ngữ, đoản ngữ, đạt đến trình độ để tác phẩm viết theo một phong cách tương tự mà không phụ thuộc vào vận luật chung Phong cách là hiện tượng ngôn ngữ có tính cá biệt nhất

Theo Grigôrian trong cuốn “Vấn đề của phong cách nghệ thuật”, Nxb Viện Hàn lâm, Erêvan, 1996, cho rằng: trong phong cách không thể không có sự tham gia của thế giới quan, các thủ thuật của cá nhân nghệ sĩ, các nhận thức thời đại của nghệ sĩ, các tính độc đáo có tính dân tộc trong tác phẩm Phong cách là sự thống nhất ở trình độ cao các phạm trù ấy

Bên cạnh đó, có những người nghiên cứu phong cách trong sự tách rời với sự phát triển có tính lịch sử của phong cách

Mỗi một phong cách thường mở ra nhánh của trường phái hay trào lưu, gồm một số người sáng tác sử dụng một số thủ pháp tương tự Tuy nhiên, các tác giả khác nhau về phương pháp sáng tác cũng thường sử dụng các chất liệu và các kiểu cấu tạo có thành phần khác nhau Phần lớn các nhà văn, nhà thơ khi sáng tác đều thể hiện cá tính sáng tạo, ra sức đi tìm cái mới, thể hiện cái không lặp lại bên cạnh cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống Nhưng chỉ khi nào nhà văn, nhà thơ đó đạt đến trình độ cao trong nghệ thuật,

mở ra một cách nhìn mới, cách cảm thụ mới, các viết mới, được mọi người chấp nhận thì người đó mới thực sự có phong cách

Không một phong cách nào lại có thể tập trung và tiêu biểu cho những khả năng, tiềm năng diễn đạt của ngôn ngữ dân tộc như ngôn ngữ văn chương - thứ ngôn ngữ được xem là tinh hoa, là niềm tự hào của tiếng nói dân tộc Ngôn ngữ ở tác phẩm văn chương không giống với ngôn ngữ trong các văn bản thuộc phong cách chức năng khác Ở các văn bản này, hiểu ngôn

từ có nghĩa là nhận biết được tin tức mà văn bản chứa đựng, còn đối với các tác phẩm văn học thì phải đi từ ngôn từ đến nhận biết hình tượng văn học thì mới hiểu hết được nội dung nói tới trong tác phẩm

Trang 31

Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ tạo hình, biểu cảm, một thứ ngôn ngữ có giá trị biểu trưng vô cùng lớn lao Các đơn vị biểu đạt ý tưởng trong tác phẩm văn học bên cạnh ý tưởng thông thường được xác định trong ngôn ngữ, còn bao hàm một ý nghĩa bổ sung khác vô cùng sâu xa, đó là ý nghĩa xây dựng hình tượng văn học Do vậy ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ bao gồm nhiều giọng điệu, nhiều màu sắc, nhiều phong cách, một thứ ngôn ngữ rất phức tạp và luôn biến động - phức tạp và biến động như chính cuộc sống của chúng ta vậy

Tuy nhiên, từ phong cách ngôn ngữ văn chương đến ngôn ngữ tác giả còn là một khoảng cách rất xa

1.4.2 Các quan niệm khác nhau về phong cách ngôn ngữ tác giả

Để có thể cho ra đời những tác phẩm có giá trị, các tác giả phải có vốn từ ngữ phong phú, vận dụng khéo léo, thành thạo mà vẫn tuân theo chuẩn mực nhất định, có như vậy mọi người mới hiểu được Tuy nhiên, ngôn ngữ của mỗi nhà văn, nhà thơ lại khác nhau, sự khác nhau về ngôn ngữ chính

là dấu hiệu để xác định phong cách ngôn ngữ tác giả

Phong cách ngôn ngữ cá nhân chỉ được tái hiện trên cơ sở phong cách ngôn ngữ tác phẩm Nhưng việc nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm một cách riêng rẽ, ngoài phong cách thể loại, phong cách chức năng, không tính đến quan điểm lịch sử cụ thể và đặc điểm tư tưởng thẩm mỹ chủ đạo của tác giả, cũng không cho phép đem lại bức tranh cụ thể, đầy đủ, có hệ thống, chân thực về đặc trưng phong cách tác giả Nói cách khác, để có một bức tranh chung, chân thực về phong cách ngôn ngữ tác giả, nhà nghiên cứu phải mô tả

tỉ mỉ đặc điểm ngôn ngữ từng tác phẩm, trong sự phụ thuộc nó vào thể loại, phong cách thời điểm xuất hiện tương ứng Từ đó, bằng tư duy khái quát hóa, tiến hành phân tích, tổng hợp, chuyển hóa để quy nạp các đặc trưng riêng lẻ hoạt động trong các tác phẩm khác nhau về thể loại phong cách, thời

Trang 32

kì sáng tạo, vào trong các quan hệ, các phạm trù nhất định và hệ thống chúng thành một chỉnh thể gắn kết với bên trong

Phong cách ngôn ngữ tác giả là một chỉnh thể tư tưởng - nghệ thuật Theo như V.V Vinogradov thì nó là sự tổng hợp theo cách riêng của cá nhân,

có thể hiểu là một hệ thống các cách sử dụng độc đáo cá nhân các phương tiện ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật; được quy định bởi những nguyên tắc tư tưởng thẩm mĩ độc đáo bên trong của việc lựa chọn liên kết, vận dụng các đơn vị ngôn ngữ và các biện pháp tu từ vốn có trong ngôn ngữ toàn dân Phong cách tác giả được hình thành từ một loạt các yếu tố chủ quan và khách quan; nó gắn liền với quan điểm triết học, mĩ học, khuynh hướng tư tưởng của cá nhân và thái độ của cá nhân đối với hiện thực được phản ánh, đối với văn hóa ngôn ngữ dân tộc, và với tính chất học vấn, thói quen ngôn ngữ cá nhân

Ta thấy rằng, mỗi nhà văn, nhà thơ thường có những sở trường ngôn ngữ riêng: Nguyễn Tuân ưa dùng những từ mới lạ, khác người, Vũ Trọng Phụng lại hay dùng những từ sâu, thâm thúy, trên con chữ ít ai có thể hiểu ngay được; Nguyễn Bính lại hay dùng những từ ngữ mộc mạc, dân dã, thôn quê; ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nam Cao lại là sự hòa âm, phối hợp của nhiều loại ngôn ngữ khác nhau như là sự sống tự nó cất lên như thế

Sêkhốp rất có lí khi cho rằng “nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả” Cái mà Sêkhốp gọi là

“lối nói riêng” ấy, phải chăng cũng chính là phong cách ngôn ngữ tác giả

Như vậy, nói đến phong cách ngôn ngữ của tác giả là nói đến cái riêng, cái cá thể Để tạo ra được những cái đó, trong sáng tạo của mình, các nhà văn, nhà thơ phải khắc hoạ được những nét khu biệt, trên cơ sở tần số lặp đi lặp lại của một hiện tượng, gây ấn tượng và ám ảnh đối với người đọc

Trang 33

Phong cách cá nhân của mỗi nhà văn, nhà thơ cũng góp phần quy định diện mạo văn học của một thời đại, một dân tộc

1.5 Khái quát về con người và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

1.5.1 Vài nét về tác giả Nam Cao

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1917 trong một gia đình trung nông, tại làng Đại Hoàng thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân, Tỉnh Hà Nam Sau khi tốt nghiệp thành chung, ông nhận dạy học cho các trường tư thục, vừa học vừa sáng tác nghệ thuật Khi cách mạng tháng Tám bùng nổ, nhà văn tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân và được bầu làm chủ tịch xã Cuối năm 1947 Nam Cao đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng, tham gia phong trào cách mạng Ngày

30 - 11 - 1951 ông đã anh dũng hi sinh trong một cuộc phục kích của địch ở Mưỡu Giáp, Hoàng Đan, Ninh Bình Hài cốt của nhà văn với các đồng chí cùng hi sinh được đặt tại nghĩa trang Gia Viễn, Ninh Bình

Nam Cao là nhà văn – liệt sĩ đã được Nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996 cho cụm tác

phẩm: nhật kí Ở rừng, Đôi mắt, Chí Phèo, Nửa đêm, Truyện ngắn chọn lọc

Trang 34

và những dục vọng tầm thường Điều này thể hiện rất rõ trong những tác phẩm viết về người trí thức nghèo

Nam Cao dành tình cảm rất lớn cho những người nghèo khổ bị áp bức, bị khinh miệt trong xã hội cũ Theo ông, không có tình thương đối với đồng loại thì không đáng gọi là người Mỗi tác phẩm ông viết về người nông dân và những trí thức nghèo là một thiên trữ tình đầy xót thương đối với những kiếp sống lầm than Sinh ra giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của ông luôn luôn hiện lên cái làng lam lũ ở ven sông, quanh năm hầu như không có tiếng hát, nhà nọ cách xa nhà kia, “hẻo lánh tựa bãi tha ma” Nhà văn đã tận mắt chứng kiến những cảnh “ông bá Kiến sai trói một lúc mười bảy người và đánh một người lòi một mắt”; những cảnh thuế má bóp hầu, bóp cổ; những cảnh người dân “cùng khổ” càng ngày càng khổ thêm; nhưng ông không chịu khuất phục chế độ ngạt thở ấy Ông muốn phá tung ra, vạch cho mọi người thấy rõ cái khổ đang vây kín chung quanh họ, nó len lỏi cả vào những chỗ tốt đẹp nhất của tâm hồn con người; chính chế độ xã hội phong kiến bất công đó đã đầy đoạ và làm truỵ lạc con người

Nhà văn luôn suy tư về bản thân, cuộc sống, đồng loại; từ kinh nghiệp thực tế khái quát thành những triết lí sâu sắc và đầy tâm huyết Là nhà văn của những người nông dân nghèo khổ, bất hạnh, tủi nhục nhất trong

xã hội thực dân phong kiến, Nam Cao đã thấu hiểu những hoàn cảnh thiếu nhân tính làm cho con người tha hoá Nhà văn lên tiếng bênh vực, minh oan, bảo vệ cho những con người thấp cổ bé họng, bị cuộc đời xua đuổi, hắt hủi khinh bỉ một cách bất công Với trái tim tràn đầy tình yêu thương, ông nhận

ra đằng sau những bộ mặt xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” của Thị Nở (Chí Phèo), của mụ Lợn (Lang Rận), của Nhi (Nửa đêm), vẫn là một con người cũng biết khát khao yêu thương, cũng mong mỏi một tổ ấm gia đình Có thể

Trang 35

nói, việc lên án gay gắt những thành kiến, định kiến tồi tệ, sự nhục mạ danh

dự phẩm giá con người, cùng với việc phát hiện ra cái phần “con người” còn sót lại trong một kẻ lưu manh; những khát khao nhân bản, những rung động trong sáng của những con người bị vùi xuống bùn đen, đã làm cho Nam Cao trở thành một trong số những nhà văn nhân đạo lớn nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam

1.5.2 Khái quát sự nghiệp văn chương của Nam Cao

Từ nhiều chục năm nay, con người và tác phẩm Nam Cao đã trở thành đối tượng nghiên cứu của giới nghiên cứu phê bình và của nhiều thế hệ độc giả

Từ khi bắt đầu bước vào sự nghiệp văn chương (1936) đến khi từ giã cõi đời (1951), Nam Cao có một quá trình 15 năm gắn bó với văn chương

So với những tác giả cùng thời, gia tài văn chương Nam Cao để lại cho hậu

thế không mấy đồ sộ: chỉ với 1 tiểu thuyết, 1 truyện dài, 1 bản kịch, nhật kí, vài truyện viết cho thiếu nhi và gần 70 truyện ngắn Nhưng những trang viết

của Nam Cao thực sự là những “dòng văn xuôi mọc cánh” đã khiến cho độc giả và giới nghiên cứu về sau tốn nhiều công sức để tiếp cận, khai thác và khám phá những tầng giá trị của một sự nghiệp văn chương, mà trong đó có những sáng tác đã trở thành cổ điển, mẫu mực cho thể loại truyện ngắn cũng như tiểu thuyết

Những tác phẩm của Nam Cao chủ yếu xoay quanh hai đề tài: người nông dân và người trí thức nghèo Trong các những sáng tác đó, bức tranh hiện thực không chỉ nghiêng về bình diện quan sát, phản ánh mà còn xâm nhập sâu vào bản chất những cái vặt vãnh, tủn mủn của cuộc sống hàng ngày Nhân vật trong sáng tác của Nam Cao không chỉ ôm một nỗi khổ về vật chất mà còn bị lăng nhục một cách tàn nhẫn về tinh thần Trong đó “cái đói và miếng ăn” là yếu tố đẩy họ vào tình trạng bần cùng hóa, lưu manh

Trang 36

hóa Dù bứt phá, nổi loại thì cuối cùng nhân vật của Nam Cao vẫn phải chấp nhận một bi kịch lớn: bi kịch bị “từ chối quyền làm người”

Với tư cách là nhà văn, Nam Cao ý thức rất rõ về quan điểm nghệ thuật của mình Ông đã gửi gắm những suy nghĩ về văn chương nghệ thuật qua những nhân vật mà ông tâm đắc, sở nguyện Nhà văn thường lấy cái tôi đầy ưu tư, nỗi niềm của mình để nhào nặn, chế tác thành những nhân vật đầy

cá tính trong tác phẩm của ông Sáng tác của ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng ngời sáng Thời gian càng lùi xa, những tác phẩm của ông càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo Suốt cuộc đời cầm bút của mình, với Nam Cao là một sự “săn đuổi chính mình”,

“lấy thân mình ra làm cái máy kiểm nghiệm” để đi sâu vào những bí ẩn mang tính nhân cách Đó là những đóng góp độc đáo trong việc hình thành phong cách nhà văn hiện thực tâm lí, hiện thực nhân bản Nam Cao

Càng về sau, chúng ta càng cảm nhận được sức sống trong các tác phẩm của Nam Cao, đặc biệt ở truyện ngắn và tiểu thuyết Ông là một trong những nhà văn đã góp phần hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ trên tiến tình văn học thế kỉ XX Trong tư duy và sáng tạo của Nam Cao, nghệ thuật không còn

là nô lệ của hiện thực, chính vì vậy mà trong sáng tác của ông, văn chương

đã trở nên văn chương hơn Điều đó đã đưa tác phẩm và con người Nam Cao

đi vào cõi bất tử

Trang 37

CHƯƠNG 2 CÁC TỪ NGỮ HÁN VIỆT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG

SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 2.1 Dẫn nhập

Trong chương này chúng tôi tập trung khảo sát các từ ngữ Hán việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao Tư liệu khảo sát là hai cuốn: Nam Cao toàn tập, tập 1 và Nam Cao toàn tập, tập 2, Nxb Văn học, 2002; (bao gồm sáu thể loại: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, nhật kí, kịch và truyện thiếu nhi)

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau: tổng số

từ Hán Việt được sử dụng là 1760 từ; với 8289 lượt từ và trung bình mỗi trang có 4,8 lượt từ

2.2 Thống kê, phân loại các từ ngữ Hán Việt trong sáng tác của Nam Cao

2.2.1 Thống kê, phân loại chung

2.2.1.1 Thống kê, phân loại

trang

Tỉ lệ từ/trang

Trang 38

2.1.1.2 Nhận xét

Số lượng từ ngữ Hán Việt mà tác giả Nam Cao sử dụng trong sáng tác của mình rất lớn gồm 1760 từ với 8289 lượt từ Trong đó, có những từ ngữ được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần:

Ví dụ:

đồng chí: 155 lần

bộ đội: 115 lần

tự nhiên: 95 lần nhất định: 85 lần cán bộ: 73 lần

cố nhiên: 50 lần khốn nạn: 50 lần hành vi: 49 lần kháng chiến: 43 lần

Khi xem xét cụ thể ở từng thể loại thì truyện ngắn là thể loại sử dụng

từ Hán Việt nhiều nhất và sử dụng ít nhất là truyện thiếu nhi Điều này cũng rất phù hợp với thực tế: truyện ngắn có đối tượng tiếp nhận là mọi tầng lớp nhân dân, hơn nữa đây là sở trường của tác giả, cho nên số lượng từ ngữ Hán Việt rất lớn

Trong khi đó những từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong truyện thiếu nhi là rất ít chỉ có 189 từ Bởi vì đối tượng tiếp nhận và những nhân vật được nói đến là thiếu niên và nhi đồng, trình độ tri thức và khả năng tiếp nhận của các em còn hạn chế; hơn nữa chúng đều là những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở những vùng quê nghèo, không có điều kiện được học hành; ít va chạm xã hội… cho nên những câu, từ mà tác giả sử dụng rất đơn giản, gần gũi, dễ hiểu, không bóng bẩy, chau chuốt và đặc biệt là không sử dụng nhiều những

từ ngữ Hán Việt

Trang 39

Còn những thể loại khác, số lượng từ Hán Việt được sử dụng cũng khá nhiều, tuy nhiên tuỳ từng hoàn cảnh, bối cảnh, tình huống mà tác giả lại

sử dụng các từ ngữ Hán Việt khác nhau: khi viết về những người nông dân

nghèo khổ, cùng cực với cuộc sống áo cơm thì tác giả dùng các từ: gia đình, khốn nạn, ích kỉ, phúc,…vẫn những người nông dân ấy khi tham gia vào cách mạng thì tác giả lại sử dụng các từ: chỉ huy, chiến đấu, liên lạc, du kích,…

2.2.2 Các từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong sáng tác của Nam Cao xét về cấu tạo

2.2.2.1 Thống kê, phân loại

Qua khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:

“…Uyển giật mình quay lại thì mí

mắt lại long lanh vài giọt lệ…”

Ngày đăng: 21/03/2021, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (Tái bản 2001), Từ điển Hán Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Phan Văn Các (2001), Từ điển từ Hán Việt, Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ Hán Việt
Tác giả: Phan Văn Các
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 2001
3. Hoàng Trọng Canh (2009) Từ Hán Việt và việc dạy học từ Hán Việt ở tiểu học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Hán Việt và việc dạy học từ Hán Việt ở tiểu học
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
4. Nguyễn Tài Cẩn (1997), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
5. Nguyễn Tài Cẩn (2000), Nguồn gốc và quá trình hình thành các đọc Hán Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và quá trình hình thành các đọc Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2000
6. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Đỗ Hữu Châu (2009), Đại cương ngôn ngữ học – tập hai, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học – tập hai
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2009
8. Đỗ Hữu Châu (1974), Trường từ vựng – ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng – ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1974
9. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
10. Trương Chính (1989), Dạy và học từ Hán - Việt ở trường phổ thông, Tiếng Việt, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học từ Hán - Việt ở trường phổ thông, Tiếng Việt
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1989
11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1996), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Hoàng Dân, Nguyễn Văn Bảo, Trịnh Ngọc Ánh (2001), Mở rộng vốn từ Hán Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng vốn từ Hán Việt
Tác giả: Hoàng Dân, Nguyễn Văn Bảo, Trịnh Ngọc Ánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
13. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
14. Hà Thúc Hoan (1992), Tiếng Việt thực hành, Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Hà Thúc Hoan
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 1992
15. Nguyễn Văn Khang (1992), Vai trò của một số nhân tố ngôn ngữ - xã hội trong việc hình thành nghĩa của yếu tố Hán Việt, Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của một số nhân tố ngôn ngữ - xã hội trong việc hình thành nghĩa của yếu tố Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 1992
16. Nguyễn Văn Khang (1994), Từ Hán - Việt và vấn đề dạy học từ Hán - Việt trong nhà trường Phổ thông, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Hán - Việt và vấn đề dạy học từ Hán - Việt trong nhà trường Phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 1994
17. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại Lai trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngoại Lai trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
18. Nguyễn Lân (2007), Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
19. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình (2004), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
20. Nguyễn Bích Ngọc (2009), Khảo sát từ Hán Việt trong sách tiếng Việt bậc tiểu học, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: sát từ Hán Việt trong sách tiếng Việt bậc tiểu học
Tác giả: Nguyễn Bích Ngọc
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w