Bước vào lớp 1, cuộc sống của trẻ có nhiều biến đổi lớn. Các em phải làm quen với một môi trường hoàn toàn mới lạ, bạn bè mới, thầy cô mới và đặc biệt là những môn học đem lại cho các em những hiểu biết mới. Bên cạnh đó, HS lớp 1 còn non nớt chuyển từ hoạt động vừa học vừa chơi ở mẫu giáo sang hoạt động học tập là chủ yếu nên hoạt động học là một rào cản lớn đối với HS lớp 1. Các em thường khó tập trung trong thời gian dài, học theo cảm hứng. Đồng thời, bộ xương của trẻ bước vào giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn và phát triển chưa hoàn thiện, cân đối, đặc biệt là các xương bàn tay, xương ngón tay còn yếu. Vì vậy, người GV cần phải có các biện pháp giúp trẻ hứng thú học tập, học với niềm thích thú, say mê, người GV phải biết kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học với nhiều hình thức khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ để lôi cuốn, hấp dẫn trẻ vào bài học. Sử dụng phương pháp trò chơi là một giải pháp có tính hiệu quả cao, giúp các em dễ dàng tiếp thu kiến thức thúc đẩy mọi hành động của trẻ.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH 5
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 6
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN 7
SUMMARY OF STUDENT’S SCIENTIFIC RESEACH RESULTS 9
MỞ ĐẦU 11
1 Lí do chọn đề tài 11
2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 12
3 Mục tiêu nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRÒ CHƠI LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 1 17
Trang 21.1 Các khái niệm cơ bản về trò chơi 17
1.1.1 Trò chơi 17
1.1.2 Phân loại trò chơi 23
1.1.3 Vai trò của trò chơi 24
1.1.4 Đặc điểm của trò chơi 27
1.1.5 Cấu trúc của trò chơi 28
1.2 Trò chơi luyện viết chữ 29
1.2.1 Trò chơi vận động 29
1.2.2 Trò chơi học tập 30
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1 31
1.3.1 Đặc điểm về sinh lí 31
1.3.2 Đặc điểm về tâm lí 32
1.4 Chữ cái tiếng Việt và mẫu chữ viết dạy học sinh lớp 1 36
1.4.1 Chữ cái tiếng Việt 36
Trang 31.4.2 Mẫu chữ viết dạy học sinh lớp 1 37
Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG TRÒ CHƠI LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 1 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH,TỈNH ĐỒNG THÁP 40
2.1 Tổ chức khảo sát 40
2.1.1 Mục đích khảo sát 40
2.1.2 Đối tượng khảo sát 40
2.1.3 Nội dung khảo sát 40
2.1.4 Phương pháp khảo sát 40
2.2 Khảo sát thực trạng 41
2.2.1 Khảo sát độ hứng thú của học sinh lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh khi viết chữ 41
2.2.2 Khảo sát thực trạng về luyện viết chữ cho học lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 43
2.2.3 Khảo sát thực trạng về tổ chức trò chơi luyện viết chữ cho học sinh lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 47
Trang 4Tiểu kết chương 2 58
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG TRÒ CHƠI LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 1 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 59
3.1 Nguyên tắc xây dựng trò chơi luyện viết chữ cho học sinh lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 59
3.1.1 Nguyên tắc khoa học 59
3.1.2 Nguyên tắc vừa sức 59
3.1.3 Nguyên tắc kết cấu 59
3.1.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh 60
3.2 Xây dựng một số trò chơi luyện viết chữ cho học sinh lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 60
3.2.1 Các trò chơi trong lớp 60
3.2.2 Trò chơi ngoài lớp 73
3.3 Khảo sát tính khả thi 76
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC i
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ xxxiv
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chữ cái tiếng Việt 36
Bảng 2.1 Học sinh nhận thức về tầm quan trọng của chữ viết 41
Bảng 2.2 Thái độ của học sinh về luyện viết chữ 41
Bảng 2.3 Thái độ của học sinh về trò chơi luyện viết 42
Bảng 2.4 Người dạy viết chữ 43
Bảng 2.5 Mức độ luyện viết ở nhà của học sinh 43
Bảng 2.6 Thái độ của học sinh trong giờ luyện viết 44
Bảng 2.7 Hành động cần thiết để luyện viết chữ tốt hơn 44
Bảng 2.8 Khó khăn trong quá trình luyện viết chữ 44
Bảng 2.9 Thực trạng chữ viết của học sinh 45
Bảng 2.10 Nhận thức của GV về quy trình viết chữ và sử dụng trò chơi luyện viết chữ 47
Bảng 2.11 Nhận định của giáo viên về thuận lợi và khó khăn của trò chơi luyện viết chữ 48
Bảng 2.12 Nhận định của giáo viên về những nguyên nhân hạn chế của trò chơi luyện viết chữ 49
Bảng 2.13 Thời điểm sử dụng trò chơi luyện viết chữ 50
Bảng 2.14.Nhận thức của GV về tác dụng của trò chơi luyện viết chữ 51
Bảng 2.15 Nguồn trò chơi giáo viên thường sử dụng 53
Bảng 2.16 Căn cứ xây dựng trò chơi luyện viết 53
Bảng 2.17 Mức độ tổ chức trò chơi luyện viết của giáo viên 54
Bảng 2.18 Quy trình sử dụng trò chơi luyện viết của các giáo viên 55
Bảng 2.19 Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi 55
Bảng 2.20 Hiệu quả của việc sử dụng trò chơi 56
Bảng 3.1 Kết quả thống kê ý kiến về các trò chơi luyện viết đã được thiết kế 78
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Chữ viết của học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Thực hành Sư Phạm 46Hình 2.2 Chữ viết của HS lớp 1 Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học là bậc học nền tảng Sự thành công củaGiáo dục Tiểu học có ý nghĩa to lớn đến sự phát triển và chất lượng của các bậc học tiếptheo và đặt nền móng cho sự phát triển của một quốc gia Mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu
học hiện nay: “Giúp HS hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho
sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực, định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt” [3, tr.6] “Thông qua những kiến thức phổ thông sơ giản về tiếng Việt và văn học, chương trình giúp học sinh bước đầu phát triển năng lực giao tiếp tiếng Việt (bao gồm giao tiếp đa phương thức) ở tất cả các kỹ năng: đọc, viết, nói và nghe
ở mức độ căn bản” [2, tr.7].
Năng lực viết là một trong bốn năng lực (nghe, đọc, nói, viết) rất quan trọng của bậcTiểu học Đối với lớp 1, việc rèn luyện năng lực viết chữ cho HS là vô cùng quan trọng nó
là nền móng cho chữ viết của HS ở những lớp trên Mục tiêu của năng lực sử dụng chữ
viết hiện nay là “Biết viết đúng chữ cái kiểu chữ thường cỡ vừa và nhỏ; viết hoa chữ cái theo đúng trình tự các nét; bước đầu viết chữ cái viết hoa cỡ lớn và vừa, viết liền mạch chữ cái ghi phụ âm đầu với chữ cái ghi vần của tiếng/từ; viết đúng chữ số cỡ lớn và vừa (từ 0 đến 9) [2, tr.21] Rèn luyện chữ viết không những giúp các em viết đẹp, giáo dục
tính thẩm mĩ mà còn rèn luyện cho các em tính kiên nhẫn, sự chịu khó, chăm chỉ và tạođiều kiện cho HS tiếp xúc, làm quen và cảm nhận được sự giàu có, phong phú và trongsáng của tiếng Việt
Bước vào lớp 1, cuộc sống của trẻ có nhiều biến đổi lớn Các em phải làm quen vớimột môi trường hoàn toàn mới lạ, bạn bè mới, thầy cô mới và đặc biệt là những môn họcđem lại cho các em những hiểu biết mới Bên cạnh đó, HS lớp 1 còn non nớt chuyển từhoạt động vừa học vừa chơi ở mẫu giáo sang hoạt động học tập là chủ yếu nên hoạt độnghọc là một rào cản lớn đối với HS lớp 1 Các em thường khó tập trung trong thời gian dài,học theo cảm hứng Đồng thời, bộ xương của trẻ bước vào giai đoạn cứng dần nhưng cònnhiều mô sụn và phát triển chưa hoàn thiện, cân đối, đặc biệt là các xương bàn tay, xương
Trang 10ngón tay còn yếu Vì vậy, người GV cần phải có các biện pháp giúp trẻ hứng thú học tập,học với niềm thích thú, say mê, người GV phải biết kết hợp sử dụng các phương pháp dạyhọc với nhiều hình thức khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ để lôi cuốn,hấp dẫn trẻ vào bài học Sử dụng phương pháp trò chơi là một giải pháp có tính hiệu quảcao, giúp các em dễ dàng tiếp thu kiến thức thúc đẩy mọi hành động của trẻ.
Trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh, hướng đến sự mở rộng,chính xác hóa, hệ thống hóa các kiến thức của các em nhằm phát triển các năng lực trí tuệ,giáo dục lòng ham hiểu biết của học sinh Trò chơi học tập có tác dụng làm thay đổi hìnhthức hoạt động học tập trên lớp, làm không khí lớp học thoải mãi, dễ chịu, giúp quá trìnhhọc tập trở nên hấp dẫn, tự nhiên và nhẹ nhàng phù hợp với đặc điểm tâm lí HS lớp 1.Chính vì vậy, việc vận dụng trò chơi học tập một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao hiệuquả giáo dục
Nhưng trong thực tiễn giáo dục Tiểu học ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp chothấy trò chơi chưa được sử dụng nhiều trong rèn luyện chữ cho HS Trong khi đó thựctrạng về luyện viết chữ ở HS còn yếu và chưa tích cực Xuất phát từ những lí do trên
chúng tôi lựa chọn nghiên cứu về “Xây dựng trò chơi luyện viết chữ cho học sinh lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”.
2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Đặt vấn đề trò chơi một số nhà tâm lí học, giáo dục học tiêu biểu mà đại diện là J.Piaget,Ph.Phieben, K.Đ.Usinxki, P.Ph.Kapterep, P.Ph.Lexgapht, M.Montesori,…có ý tưởng trò chơivới công việc dạy học, dùng trò chơi làm phương tiện giáo dục
Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học”được phản ảnh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova…[10,tr.10] R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế bằng trò chơi Tác giả chỉ ra những tiềm năng
và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như làhình thức dạy học giúp người học lĩnh hội những tri thức mới Từ đó, tác giả đã soạn thảo ramột số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng [19, tr.30]
Trang 11Thông qua “Tuyển tập Tâm lí học” (1996) tác giả J.Piaget cho rằng: “Trò chơi là đòn
bẩy mạnh mẽ thúc đẩy các em luyện tập đến mức ở bất cứ nơi nào mà người thành côngtrong sự biến đổi về sự khai tâm về học đạo, học làm tính,…thành trò chơi, thì người ta đềuthấy trẻ say mê với những việc làm mà bình thường đối với chúng như công việc khổ sai”[41, tr.289]
Qua công trình “ Tâm lí học trò chơi” (Thanh Hà dịch) (1998) tác giả Edua Clapared – nhà tâm lí học, giáo dục học người Pháp cho rằng: “Trường học cần phải hoạt động, nghĩa là động viên hoạt động của trẻ Nó cần làm một phòng thí nghiệm hơn là một đại giảng đường.
Để đạt được tới mục đích này, nó có thể lợi dụng triệt để trò chơi kích thích tối đa hoạt động của trẻ” [14] Đồng quan điểm nhà tâm lí học người Đức – V.Vunt cho rằng: “Trò chơi chính
là lao động của trẻ Không một trò chơi nào mà lại không có trong nguyên mẫu của một trong những dạng lao động thực sự, mà thực ra nó xuất hiện trước trò chơi về thời gian Trò chơi loại bỏ trong mình những mục đích hữu ích của lao động Vì vậy, chính kết quả thú vị, khoan khái đi kèm theo lao động là mục đích trò chơi” [14, tr.7].
Qua đó, chúng ta thấy rằng mỗi một công trình nghiên cứu đều có những mặt thành côngnhất định Những công trình trên đã trình bày khá cơ bản và đầy đủ về lí thuyết của việc sửdụng trò chơi trong dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí chung của HS Tiểu học Tuynhiên, chưa có công trình nào đề cập tới vấn đề trò chơi luyện viết chữ ở lớp 1
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tác giả Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga (2006) “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở
Tiểu học” [33] Công trình nghiên cứu về những vấn đề chung của phương pháp dạy học
Tiếng việt Tiểu học và các phương pháp dạy học các phân môn trong chương trình Tiếngviệt ở Tiểu học Trong đó, tác giả đã dành một phần đề cập đến phương pháp trò chơitrong dạy học các phân môn nói chung nhưng không có trò chơi riêng cho từng phân môn
Trò chơi học tập trong Tiếng Việt 1 cũng có hai công trình “Trò chơi học Âm - vần Tiếng Việt” [43] và “Trò chơi thực hành Tiếng Việt lớp 1” [44] (2008) của tác giả Vũ Khắc Tuân.
Tác giả đã tập trung nghiên cứu các trò chơi học tập được sử dụng trong từng bài học âm vần
cụ thể để cho người dạy có thể tham khảo lựa chọn áp dụng Tuy nhiên tác giả chưa đề cậptới các dạng trò chơi dạy viết chữ
Trang 12Bộ Giáo dục và Đào tạo với công trình “Trò chơi học tập cấp Tiểu học” (2008) Dự án
Giáo dục Tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn [8], tài liệu giới thiệu một số trò chơi họctập cho các môn học ở Tiểu học Trong đó có môn Tiếng Việt, trò chơi học tập có tác dụngrèn cho HS các kĩ năng và nắm vững kiến thức phục vụ cho yêu cầu học tập Tuy nhiên, côngtrình chưa chỉ rõ phạm vi sử dụng các trò chơi cho từng phân môn cụ thể, đặc biệt là môn tậpviết ở lớp 1
Tác giả Vũ Thị Lan với Luận án Tiến sĩ (2008): “Các biện pháp tạo hứng thú nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học” [25] đã có thành công lớn trong
việc đề xuất những cách thức tạo ra tính thú vị của một bài tập tiếng Việt Những cáchthức tạo nên tính thú vị đã được chỉ ra là: làm rõ tính lợi ích của từng đơn vị, từng kiểuloại ngữ pháp trong giao tiếp bằng Tiếng Việt; tập trung chú ý đến mặt nghĩa của cácđơn vị ngữ pháp; chú ý đến sự tương hợp giữa hình thức ngữ pháp và nội dung ngữpháp, chú ý đến mối quan hệ của các đơn vị ngữ pháp và hoàn cảnh sử dụng chúngtrong khi xây dựng các bài tập cho HS giỏi Những kinh nghiệm và cách làm này có thể
áp dụng rộng rãi để dạy cho HS đại trà Nhưng, luận án này chưa nghiên cứu kỹ về cáctrò chơi luyện viết cho HS lớp 1
Tác giả Nguyễn Kiều Sinh Duyên với Luận văn Thạc sĩ (2014) “Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 1” [ 13] đã đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng sử
dụng trò chơi trong dạy học Tiếng Việt lớp 1 và đưa ra một số trò chơi sử dụng trong dạy họcTiếng Việt chung tuy nhiên việc sử dụng trò chơi trong từng phân môn chưa được đề cập tới
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu như:“Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” [35] của nhóm tác giả Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh (2009) cũng đã nhấn mạnh về việc dạy học Tiếng Việt theo hướng tích cực “Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ cho học sinh” [41] của
nhóm tác giả Hà Nhật Thăng (chủ biên), Nguyễn Dục Quang, Lưu Thị Thủy (2003) đã
giới thiệu các trò chơi vận động cho HS Tiểu học, “Trò chơi giữa buổi dành cho học sinh Tiểu học” của tác giả Trần Đồng Lâm (2002) [27] đã giới thiệu một số trò chơi nhằm đem lại tinh thần thoải mái, sáng khoái cho HS sau những giờ học căng thẳng “Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học” (Trần Thị
Trang 13Hồng khóa 2007-2011) đã nghiên cứu vận dụng tổ chức trò chơi cho các phân môn của
môn Tiếng Việt Tác giả đã đề xuất một số trò chơi phục vụ cho việc dạy học môn Tiếng
Việt Qua đó, tác giả đã nhấn mạnh “Qua trò chơi trẻ không chỉ phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất mà còn được hình thành các kĩ năng Tiếng Việt, hành vi đạo đức Chính trong quá trình vui chơi HS đã tự khám phá, phát hiện ra các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng giúp các em hiểu bài và nhớ lâu hơn” [20].
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trình bày về trò chơi học tập chochúng ta thấy được tầm quan trọng và lợi ích của việc sử dụng trò chơi học tập cho trẻ.Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập tới vấn đề xây dựng trò chơi luyện viết cho
HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng các trò chơi luyện viết chữ nhằm gây hứng thú cho HS trong quá trình rènluyện chữ viết, nâng cao chất lượng học tập cho HS và góp phần hình thành nhân cáchcho HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trò chơi luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa nguồn tài liệu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học thông qua các giờ dự giờ, cáchoạt động ngoại khóa, các tiết dạy thử để thu thập thông tin liên quan đến việc sử dụng tròchơi luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Phương pháp điều tra bằng phiếu anket: Xây dựng bảng điều tra (phiếu anket) đểthu thập thông tin về thực trạng vấn đề
Trang 14- Phương pháp phỏng vấn: Thông qua phỏng vấn giảng viên, GV và HS về việc xâydựng trò chơi luyện viết chữ và nhận xét về các trò chơi.
- Phương pháp thống kê: thống kê số liệu đã điều tra được về thực trạng vấn trên địabàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, khảo sáttính khả thi của các trò chơi trong quá trình nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRÒ CHƠI LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 1 1.1 Các khái niệm cơ bản về trò chơi
1.1.1 Trò chơi
1.1.1.1 Ở nước ngoài
Trò chơi có ngay từ thời cổ đại Các nhà triết học đã nhìn thấy vai trò của trò chơi trẻ
em Có nhiều quan điểm khác nhau về trò chơi:
Thứ nhất, quan điểm sinh vật hóa của trò chơi
Sinh vật hóa của trò chơi có nghĩa trò chơi là hoạt động không có mục đích, tự nhiênsẵn có của sinh vật nhằm giải tỏa năng lượng dư thừa, là hoạt động thư giãn nhằm nạp lạinăng lượng đang thiếu Họ xem hoạt động chơi không mang mục đích quan trọng nào và
có thể thay thế bằng hoạt động khác Hoạt động vui chơi của trẻ em mang tính bản năng,
di truyền và sinh học đơn thuần
Có nhiều học thuyết về trò chơi xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Trong
đó nổi bật lên là các nhà tâm lý học theo trường phái sinh học như Siller, Spencer, Stenlin,Freud, K.Gross, S.Hall, V.Stern,… Các tác giả có chung quan điểm rằng trò chơi là do bảnnăng quy định, chơi chính là giải tỏa năng lượng dư thừa Tính theo thời gian thì họcthuyết đầu tiên về trò chơi là học thuyết “Sức dư thừa” của Ph.Siller và G.Spencer
Nhà triết học, nhà thơ nổi tiếng người Đức Ph.Sillier (1756 – 1800) cho rằng: “Tròchơi là cơ sở của các nghệ thuật Nghệ thuật cũng như trò chơi được xuất hiện khi nhữngnhu cầu sơ đẳng, cần thiết cho việc tồn tại của cuộc sống được đáp ứng Trong những thờigian rảnh rỗi con người dùng sức lực của mình để đáp ứng những nhu cầu tinh thần, nhu
Trang 16cầu sáng tạo Việc đáp ứng những nhu cầu đó được thực hiện trong trò chơi và trong nghệthuật” [47, tr.217]
Kế thừa học thuyết của Ph.Siller nhà triết học, nhà xã hội học và nhà sư phạm họcngười Anh G.Spencer đã phát triển và mang tên “sức dư thừa” thuyết này đã đánh đồngtrò chơi trẻ em với những trò chơi của các con vật non không được sử dụng cho hoạt độngthực, nên đã được tiêu khiển qua con đường bắt chước các hoạt động thực đó bằng tròchơi Ngoài ra G.Spencer cũng đã cho rằng, trong trò chơi những bản năng nghịch ngợmcủa đứa trẻ được đáp ứng qua hình thức tinh thần [47, tr.112]
Quan điểm sinh vật hóa của trò chơi cũng được thể hiện rõ ở nhà trò chơi học người
Áo S.Freud (1856 – 1933) Học thuyết về trò chơi của Freud được hình thành từ họcthuyết về cấu trúc nhân cách trong đời sống vô thức của con người Theo ông cơ sở hành
vi của con người là bảo tồn nòi giống Bản năng đó được thể hiện trong nhiều hoạt độngkhác nhau của con người [47, tr.215] Như vậy, Freud đã gắn trò chơi với đam mê sinhvật Ông xem việc trẻ chơi cốt là để thỏa mãn những đam mê ấy
Người học trò nối nghiệp Freud là K.Alder (1870 – 1937) đã tiếp tục phát triển quanđiểm trên Theo ông trong trò chơi trẻ được bù lại các cảm giác yếu đuối, làm cho nó đaubuồn khi giao tiếp với người khác, nhất là người lớn Ông cho rằng sự đam mê quyền lực
và ưu thế đã thúc đẩy trẻ đến với trò chơi Trong trò chơi nó sẽ tự khẳng định và sẽ đượcthỏa mãn những đam mê của mình
Học thuyết cổ điển về trò chơi của nhà tâm lí học người Đức Kanl Gross (1861 –1946) cũng xuất hiện Ông cho rằng “Trò chơi là một hoạt động sống mà trong đó các cơthể non trẻ đã hoàn thiện Cơ thể sống càng ở mức cao thì thời kì thơ ấu càng dài” và “Tròchơi chính là phương thức biểu hiện đặc thù của các loại bản năng” [47, tr.213] Họcthuyết của ông mang tính sinh vật rõ rệt, trò chơi mang ý nghĩa sinh vật sâu sắc, còn thờithơ ấu chỉ để dành riêng cho vui chơi Vào những năm sau đó, học thuyết của K.Groosđược nhà tâm lí học người Đức V.Stern (1871 – 1983) công nhận Ông đã gọi vui chơi làbình minh của bản năng đúng đắn và nhấn mạnh ý nghĩa của trò chơi trong việc rèn luyệnnhững cơ chế di truyền và phẩm hạnh
Trang 17J.Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lí học kiệt xuất của thế kỉ XX người Thụy Sĩ đã đềcập đến lĩnh vực hoạt động chơi của trẻ em qua những thành tựu nghiên cứu sự phát triểntrí tuệ của trẻ em của ông và các cộng sự J.Piaget xem trò chơi là từ góc độ tư duy, ôngcho rằng: “Trò chơi là một đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy trẻ luyện tập đến mức ở bất cứ nơinào mà người ta thành công trong việc biến đổi sự khai tâm về học đọc, học làm tính,…thành trò chơi, thì người ta đều thấy trẻ say mê với những việc mà bình thường đối vớichúng như những công việc khổ sai” [41, tr.289] Theo ông trò chơi là hoạt động trí tuệthuần túy, là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ
Các quan điểm được hình thành từ những năm 30 của thế kỉ XX trở về trước là nhìnnhận hoạt động chơi của trẻ em một cách tự nhiên chủ nghĩa, tiêu biểu là các thuyết:
Thuyết “năng lượng thừa” (Siller, Spencer), Thuyết đồng nhất hoạt động chơi của trẻ với trò chơi của động vật non (Karl Groos, Stern), Thuyết phân tâm học gắn hoạt động học với đam mê tình dục(Freud),… Những sai lầm chủ yếu của các học thuyết nêu trên về
hoạt động chơi của trẻ em là: Khẳng định hoạt động chơi là một hiện tượng hoàn toànmang tính sinh học Xem hoạt động chơi như là một lĩnh vực đặc biệt của thế giới trẻ em,các trò chơi trẻ em hoàn toàn đóng kín, tách biệt ra khỏi thế giới người lớn Xem xét hoạtđộng chơi chỉ là phương tiện tự giáo dục của đứa trẻ và phủ nhận ảnh hưởng của xã hội,phủ nhận vai trò của xã hội đối với sự phát triển trò chơi của trẻ em
Thứ hai, trò chơi mang bản chất xã hội sâu sắc
Trò chơi mang bản chất xã hội có thể hiểu trò chơi là một hoạt động xã hội, nó mangtính chất xã hội về cả nguồn gốc ra đời, về khuynh hướng, về nội dung và về hình thứcbiểu hiện Hành động chơi mô phỏng lại đời sống xã hội, trong đó những nhân vật của tròchơi là những con người cụ thể có tư tưởng, đạo đức,… phản ánh lối sống, nghề nghiệpcủa xã hội nhất định
“Không loại trừ hoàn toàn một số yếu tố sinh học của trò chơi trong nhiều công trìnhnghiên cứu của đông đảo các nhà tâm lí ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nhà tâm
lý học macxit đã khẳng định bản chất xã hội của trò chơi trẻ em Trò chơi được xem làmột hoạt động xã hội Nó mang tính chất xã hội về cả nguồn gốc ra đời, về khuynhhướng, về nội dung và về hình thức biểu hiện” [47, tr.217]
Trang 18Quan điểm bản chất xã hội của trò chơi, người đầu tiên đưa ra quan điểm này là nhàtriết học, nhà tâm lí học người Đức – V.Vunt (1832 – 1920) Ông cho rằng: “Trò chơichính là lao động của trẻ Không một trò chơi nào mà lại không có trong nguyên mẫu củamột trong những dạng lao động thực, mà thực ra nó xuất hiện trước trò chơi về thời gian,trò chơi loại bỏ trong mình những mục đích hữu ích của lao động Vì vậy, chính kết quảthú vị, khoan khoái đi kèm theo lao động là mục đích trò chơi” [14, tr.7] Ông đã thấy ởtrò chơi trẻ em những mối liên quan với lao động Cách nhìn nhận hoạt động chơi của ông
đã khác với quan điểm sinh vật hóa hoạt động chơi Ông đã xem xét trò chơi ở quan điểmlịch sử - xã hội
Tác giả G.V.Plêkhanôv (1856 – 1918) đã khẳng định trò chơi xuất hiện trước lao động
và trên cơ sở lao động Ông cho rằng trò chơi là một hoạt động phản ánh, thông qua tròchơi, trẻ có thể lĩnh hội những kĩ năng lao động, thói quen và các nguyên tắc ứng xử củangười lớn trong xã hội Từ nhận xét đó G.V.Plêkhanôv đã xem trò chơi là sợi dây nối liềncác thế hệ với nhau và truyền đạt nhựng kinh nghiệm, những thành quả văn hóa từ thế hệnày sang thế khác [47, tr.218]
Đồng thời, trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết cũng khẳng định rằngtrò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng con đường giáo dục [48, tr.12] Mặc dù tác giả khẳng định
và nhấn mạnh đặc tính xã hội của hoạt động chơi, song không phủ nhận sự có mặt củayếu tố sinh lí đối với hoạt động chơi của trẻ
Người có công lớn đặt nền móng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu trò chơi là nhàtâm lí học Xô Viết L.X.Vygotxki (1896 – 1934) Ông đã khởi xướng xây dựng một họcthuyết mới về tâm lí học trẻ em nói chung và về trò chơi nói riêng Những luận điểm cơbản trong học thuyết của ông bao gồm những vấn đề sau:
- Khẳng định bản chất xã hội và tính hiện thực của trò chơi trẻ em
- Khẳng định vai trò trung tâm của trò chơi đối với sự phát triển tâm lí trẻ Trò chơichính là động lực phát triển và tạo ra “vùng phát triển gần”
- Trò chơi trẻ em không nảy sinh một cách tự phát mà do ảnh hưởng có ý thức vàkhông có ý thức từ người lớn xung quanh
Trang 19- Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp phân tích, xác định “cấu trúc đơn vị” củaC.Mác vào nghiên cứu các chức năng tâm lí trong đó có việc nghiên cứu trò chơi
Đây là những luận điểm hết sức quan trọng cho việc hình thành hệ thống giáo dụccủa Liên Xô vào những năm trước đây [47]
Nhà tâm lí học nổi tiếng người Pháp là Henri – Wallon (1879 – 1962), trong khinghiên cứu tâm lí trẻ em cũng đã xem trò chơi của chúng là một hiện tượng xã hội đángquan tâm Ông đã chỉ ra đặc điểm phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hoạt động vui chơicủa trẻ và xác định một loạt mức độ phát triển hoạt động vui chơi qua các lứa tuổi Trongtrò chơi trẻ luyện tập được những năng lực vận động, cảm giác và năng lực trí tuệ, luyệntập những chức năng và các mối quan hệ xã hội
Như vậy, trò chơi của trẻ gắn liền với cuộc sống xã hội Nội dung của các trò chơiphản ảnh những gì xảy ra xung quanh cuộc sống của trẻ Những hành động trong trò chơiđều gắn liền với những gì diễn ra trong đời sống của trẻ Do đó khi tham gia vào các tròchơi trẻ cảm thấy rất gần gũi, yên tâm và tha hồ được chơi, được trải nghiệm với các hoàncảnh chơi, đồ chơi cũng rất quen thuộc
Tóm lại, trên thế giới vấn đề trò chơi trẻ em được nghiên cứu từ rất sớm, ngày càngđược nhiều người quan tâm và còn có nhiều tranh cãi Mặc dù mỗi tác giả nghiên cứu vềmột hướng khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến mục đích là khẳng định bản chất củatrò chơi, các quy trình hướng dẫn trẻ chơi, những biện pháp hướng dẫn trẻ chơi Các quanđiểm trên đều là tiền đề cho sự phát triển của trò chơi và sử dụng trò chơi như là mộtphương tiện giáo dục quan trọng đối với trẻ em
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nhà nghiên cứu với các quan điểm khác nhau vềtrò chơi, và cũng đã đạt được một số thành công nhất định Qua quá trình nghiên cứuchúng tôi thấy có một số khái niệm về trò chơi được đưa ra như sau:
Theo từ điển Tiếng Việt “ Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi giải trí: những tròchơi dân gian, coi đó như là trò chơi của trẻ em” [41, tr.1224]
Trang 20Theo tác giả Nguyễn Thiện Tuân: “Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí,thông qua đó giáo dục con người những kinh nghiệm sản xuất, phẩm chất đạo đức, trithức khoa học,…”[13, tr.9].
Theo tác giả Lê Vĩ: “Trò chơi là một hoạt động vui chơi có chứa đựng một chủ đềnhất định, có quy tắc bắt buộc người tham gia phải tuân thủ [13, tr.9]
Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng [10, tr.13], trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩakhác nhau tương đối xa:
+ Một là, kiểu phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõmục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đốivới người tham gia
+ Hai là, những thứ công việc được tổ chức tiến hành dưới hình thức chơi như chơibằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hìnhthức chơi
Như vậy các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức vàthiết kế, nếu không có thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Trò chơi
là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống, có tổ chức Vì thế, luật hay quy tắc chính làphương tiện tổ chức tập hợp đó [10, tr.13]
Ngoài ra, có một số nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định được vai trò của hoạt độngchơi đối với sự giáo dục của trẻ:
“Chơi là một hoạt động chỉ nhằm vui mà thôi, không có mục đích gì khác” [10, tr.12]
“Chơi là phương pháp giáo dục toàn diện cho trẻ em [48, tr.19]
“Chơi là hoạt động vô tư người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả,trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên với xã hội được mô phỏng lại,luôn mang lại cho người chơi một tinh thần vui vẻ, thoải mãi, dễ chịu” [10, tr.12]
“Chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không sống” [23, tr53]
“Hoạt động vui chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ Chơi chính là cuộc sống của trẻ”.[48, tr.9]
“Chơi là kiểu hành vi hoạt động tự nhiên, tự nguyện có động cơ thúc đẩy những yếu
tố bên trong quá trình chơi và chủ thể thống nhất không cần theo đuổi những mục tiêu và
Trang 21lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó.Bản thân quá trình chơi có sức hút
tự thân và các yếu tố tâm lí của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vuiđùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thư giãn có khuynh hướng thử nghiệm những tâm trạng vàtạo ra khuây khỏa cho mình” [22, tr.384]
Như vậy có thể thấy rằng: Trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nộidung nhất định, có tổ chức của nhiều người tham gia và có những quy định, những luật lệbuộc người tham gia phải tuân theo” hay đơn giản rằng: “Trò chơi là một loại hình phổbiến của chơi: Chơi có luật Cứ là chơi có luật thì gọi là trò chơi” Ngoài ra, nó còn có vaitrò đặc biệt trong việc giáo dục, cũng như hình thành nhân cách cho con người, đặc biệtđối với các em HS nhỏ tuổi
1.1.2 Phân loại trò chơi
Có nhiều cách phân loại trò chơi trẻ em khác nhau trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng:
Phân loại trò chơi theo chức năng giáo dục và vận động gồm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Gồm các trò chơi nhằm phát triển rèn luyện các giác quan cho trẻ
- Nhóm 2: Gồm các trò chơi vận động, nhằm phát triển và tập luyện vận động cho trẻ
- Nhóm 3: Gồm các trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ
Phân loại theo chức năng, bản năng gồm 2 nhóm:
- Nhóm 1: Gồm các trò chơi thực hành: trò chơi nhận cảm – trò chơi trí tuệ - trò chơivận động
- Nhóm 2: Gồm các trò chơi theo bản năng: trò chơi săn bắn – trò chơi chiến tranh –trò chơi chăm sóc - trò chơi gia đình và xã hội – trò chơi bắt chước
Phân loại trò chơi theo nguồn gốc, cấu trúc chơi gồm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Gồm các trò chơi luyện tập dành cho trẻ dưới 2 tuổi
- Nhóm 2: Gồm các trò chơi kí hiệu dành cho trẻ 2 đến 4 tuổi
- Nhóm 3: Gồm các trò chơi có quy tắc (có luật) dành cho trẻ từ 4, 7, 12 tuổi và chủyếu là 7 – 12 tuổi
Phân loại trò chơi của nền giáo dục học Liên Xô cũ gồm 2 nhóm:
Trang 22- Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo gồm: trò chơi phân vai theo chủ đề, trò chơi lắpghép – xây dựng, trò chơi đóng kịch.
- Nhóm 2: Trò chơi có luật gồm: trò chơi học tập và trò chơi vận động
Phân loại trò chơi ở Việt Nam được chia thành 3 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Những năm 60 gồm 2 nhóm:
- Nhóm 1: Trò chơi phản ánh sinh hoạt
- Nhóm 2: Trò chơi vận động gồm: Trò chơi vận động với dụng cụ thể dục và trò chơi
có luật (lấy từ các trò chơi dân gian và bắt chước một số trò chơi của nước ngoài (cướpquân, cướp cờ,…)
* Giai đoạn 2: Những năm 70 gồm có 2 nhóm:
- Nhóm 1: Trò chơi phân vai có chủ đề
* Nhóm trò chơi có luật là nhóm trò chơi mà đề tài của chúng tôi đang hướng đến
- Nhóm 3: Nhóm trò chơi dân gian
1.1.3 Vai trò của trò chơi
1.1.3.1 Trò chơi mang tính giáo dục cao
Nhà giáo dục học người Đức Friedrich Froebel (1782 – 1852) là một trong những nhà
tư tưởng có ảnh hướng nhất thời đại ông và triết lí giáo dục của ông tiếp tục có ảnh hưởngđến thực hành ngày nay Froebel cho rằng vui chơi là trung tâm đối với việc giáo dục trẻ
em và phát triển tương lai của chúng và mặc dù hầu hết, nếu không nói là tất cả nhữngngười thực hành lí thuyết làm việc với trẻ nhỏ ngày nay có thể coi đây là một cống hiến,
Trang 23nhưng (trước đây) không phải bao giờ cũng thế Ông tin tưởng mãnh liệt vào tầm quantrọng của trẻ em biểu lộ bản thân chúng thông qua việc chúng chơi một mình hay chơi vớinhau [11, tr.43 – 44] Do vậy, khi tổ chức trò chơi nên tổ chức cho các em chơi theo nhómhay chơi cả lớp
Nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A.Komenxki (1592 – 1670) coi trò chơi làmột dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ được phát triển, mởrộng phong phú hơn vốn hiểu biết Đó là phương diện phát triển toàn diện của trẻ, là hìnhthức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Ông đã khuyênngười lớn cần phải chú trọng đến trò chơi dạy học cho trẻ và hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắncho trẻ chơi [10, tr.9]
Trò chơi là phương tiện nhân cách của trẻ, là phương tiện để trẻ học làm người Nhà
sư phạm vĩ đại A.X.Macarenco (1888 – 1939) người Ukraina đã viết: “Trò chơi có ýnghĩa rất quan trọng đối với trẻ Ý nghĩa này chẳng khác nào ý nghĩa của sự hoạt động, sựlàm việc và sự phục vụ đối với người lớn Đứa trẻ thể hiện như thế nào trong trò chơi thìsau này trong trường hợp lớn nó cũng thể hiện như thế trong công việc Vì vậy, một nhàhoạt động tương lai trước tiên phải được giáo dục trong trò chơi” [47, tr.241]
Trò chơi có ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi có chủ định Qua việc thực hiệnđúng các luật chơi, yêu cầu các trò chơi mà trẻ sẽ dần làm chủ được hoạt động của chínhbản thân và rèn luyện cho trẻ có tính kỷ luật, tinh thần đồng đội khi tham gia trò chơi.Ngoài ra thông qua sự hợp tác với nhau trong quá trình chơi còn giúp trẻ đầu cấp Tiểu họcphát triển khả năng hoạt động cùng nhau trong nhóm bạn Đây là một khả năng giúp trẻhòa nhập với cộng đồng, phát huy năng lực cá nhân
Trò chơi còn giúp trẻ hình thành niềm tin ở bản thân và yêu thích môn học Điều này
có được là do kết quả khi thực hiện thắng lợi ở trò chơi đem lại Đây chính là điều có ýnghĩa nhất vì theo thống kê gần đây đa phần HS yếu và không yêu môn học đều là những
HS không có niềm tin vào bản thân Nhờ có niềm tin mình có thể công sức và trở nên tốthơn Ngoài ra trò chơi còn giúp trẻ phát triển các giác quan, rèn luyện sự tinh nhạy củađôi mắt, đôi tai, khéo léo của đôi tay, đặc biệt là các trò chơi luyện viết
1.1.3.2 Kích thích hứng thú học tập cao
Trang 24Trò chơi là một phương pháp phổ biến được các GV sử dụng trong lớp học hiện nay
do hiệu quả mang lại cho nhiều lứa tuổi Theo nhiều nghiên cứu cho thấy rằng người học
sẽ tiếp thu hiệu quả hơn trong môi trường trạng thái vui vẻ, thư giãn
Việc sử dụng trò chơi một cách hợp lý sẽ giúp HS lĩnh hội tri thức trong quá trình dạyhọc, gây hứng thú học tập đối với việc học, làm cho kiến thức của các em chiếm lĩnhđược ngày càng sâu sắc hơn Đặc biệt, thông qua trò chơi các em có thể tự tìm tòi nghiêncứu, rèn luyện tri thức trong quá trình ngoài giờ lên lớp Nếu một số HS nào đó quen vớikhông khí trầm, các em có ít hào hứng hoặc tỏ ra miễn cưỡng lúc đầu Những trò chơi baogiờ cũng mang bản chất lôi cuốn và hấp dẫn với mọi đối tượng Nó khuyến khích mức độtập trung công việc cũng như kích thích niềm đam mê đối với học bài
Trò chơi là phương tiện, con đường độc đáo giúp trẻ tiếp tục củng cố, mở rộng kiếnthức một cách hào hứng Đây là phương pháp “học mà chơi, chơi mà học” rất phù hợp vớiđặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của HS Tiểu học nói chung và HS đầu bậc Tiểu học nóiriêng Ngoài ra, trò chơi còn giúp trẻ đầu cấp Tiểu học chuyển từ tư duy bình diện bênngoài vào bình diện bên trong và góp phần hình thành ở HS động cơ nhận thức đúng đắn.Trong khi chơi HS phải huy động năng lực một cách tự nguyện và hào hứng trong việcgiải quyết nhiệm vụ học tập Đó là cơ sở để trong và sau trò chơi có thể diễn ra sự chuyểndịch từ động cơ chơi sang động cơ nhận thức Tức là nhiệm vụ chơi của các em đã đượcbiến thể vào nhiệm vụ học tập
Hứng thú của các em đối với nội dung nhận thức trò chơi bây giờ đã lấn át hứng thúchơi Các em mong muốn lĩnh hội một cách tích cực những trò chơi mới có liên quan đếnhoạt động chơi Ngoài ra trò chơi còn tạo nên khả năng tập trung ý thức được nhiệm vụhọc tập của HS Nhờ có trò chơi mà việc củng cố kiến thức được hình thành một cách đadạng, tạo hứng thú đối với trẻ khi chúng sử dụng những điều đã biết vào hoàn cảnh mới
và đó còn là phương tiện góp phần tạo lập các điều kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội trithức trong học tập
1.1.3.3 Rèn luyện kĩ năng vận động
Trò chơi không chỉ thỏa mãn nhu cầu vận động cho HS mà nó còn góp phần nâng caonhận thức, phát triển các giác quan và tăng cường thể lực Thông qua trò chơi, giúp HS
Trang 25phát huy tích cực, tinh thần tập thể, biết chia sẻ với bạn bè, có lòng dũng cảm, tính kiên trì
và kỉ luật tốt Đồng thời, trò chơi góp phần nâng cao nhận thức, giúp HS phát triển ngônngữ và trí tưởng tượng của HS
Nội dung của các trò chơi phong phú và phản ảnh những hiện tượng đơn giản trongcuộc sống tự nhiên, xã hội diễn ra hàng ngày rất gần gũi với cuộc sống của HS Tên tròchơi hấp dẫn, hành động thỏa mãn nhu cầu về thể lực, trí tuệ của HS, giúp HS nhận thức
về tinh thần kỉ luật, tính trung thực không ganh đua
Khi thực hiện các động tác trong trò chơi giúp HS củng cố, tăng cường sức khỏe, pháttriển cân đối, hài hòa về hình thái và chức năng của cơ thể, rèn luyện tư thế vận động cơbản Trò chơi luyện viết sẽ giúp HS rèn luyện các kĩ năng có liên quan tới các cơ lớn vàchuyển dần sang các cơ bắp nhỏ, sự kết hợp giữa mắt và tay với các kĩ năng đơn giản đếnphức tạp như nắm chặt bàn tay cho đến các kĩ năng phức tạp như hoạt động vẽ, cắt xé,…
Từ đó giúp HS phát toàn diện phục vụ cho quá trình luyện viết chữ
1.1.3.4 Giúp học sinh thư giãn
Thông qua trò chơi, quá trình tuần hoàn hô hấp tăng lên làm thay đổi trạng thái của cơthể giữa các hoạt động, giúp HS trở về trạng thái cân bằng, tăng cường lực sống đem lại
sự thoải mái vui vẻ cho HS Trò chơi là một loại hình hoạt động vui chơi có nhiều tácdụng trong các giờ học của HS lớp 1 Trò chơi tạo ra không khí vui tươi, hồn nhiên, sinhđộng trong giờ học Nó còn kích thích được trí tưởng tượng, tò mò, ham hiểu biết ở HS.Vui chơi không chỉ giúp HS thoải mái, thư giãn ngoài giờ học căng thẳng mà còn gópphần phát triển toàn diện cho HS
Tóm lại trò chơi có ý nghĩa thiết thực đối với trẻ tiểu học nói chung và đặc biệt là trẻđầu cấp Tiểu học nói riêng Tuy nhiên để trò chơi có tác động mạnh mẽ đến quá trình giáodục, đặc biệt đến sự phát triển trí tuệ của HS đòi hỏi người GVTH cần có những kĩ năng
sử dụng trò chơi vào mục đích giáo dục Ngoài ra họ phải không ngừng nghiên cứu, nângcao trình độ tạo ra những yêu cầu mới trong giáo dục và dạy học trong giai đoạn hiện nay
1.1.4 Đặc điểm của trò chơi
Trước khi một hoạt động được xem là trò chơi nó có thể chứa những đặc điểm cơ bảnsau đây:
Trang 26- Trò chơi luyện viết chữ thuộc dạng trò chơi có luật, là hoạt động có quy tắc thường
do người lớn nghĩ ra cho HS tham gia chơi và dùng trong hoạt động nhà trường nhằmmục đích giáo dục và dạy học, hướng đến việc phát triển trí tuệ cho HS Trò chơi dù đơngiản đến bao nhiêu cũng phải có quy tắc nhất định Vì vậy sẽ tạo nên không khí bình đẳnggiữa người tham gia chơi
- HS tự nguyện tham gia vào các trò chơi, HS thích trò chơi nào thì chơi một cách say
mê trò chơi đó, có vui thì mới có chơi và đã chơi là phải vui Đây là một đặc điểm nổi bậtcủa vui chơi Mọi sự bắt buộc và cững bức đều dẫn đến sự phá hoại trò chơi Trò chơi màkhông có sự vui sướng thì không gọi là trò chơi nữa
- Khác với học tập và lao động, trò chơi là một hoạt động lựa chọn tự do bởi nhữngngười trực tiếp tham gia, không mang tính bắt buộc Bởi vì vui chơi không phải là hoạtđộng tạo ra sản phẩm và hành động chơi không tuân theo một phương thức chặt chẽ Nếu
bị gò ép bắt buộc thì trò chơi mất tính hấp dẫn và không có ý nghĩa và người chơi sẽ xemhoạt động chỉ định đó chỉ là chơi đùa Vui chơi càng mang tính tự nguyện bao nhiêu thìcàng phát huy ở HS tính tích cực, chủ động, độc lập và nảy sinh nhiều sáng tạo bấy nhiêu
- Trò chơi là một hoạt động mang tính tự lập của HS HS hoạt động hết mình, tíchcực, độc lập và chủ động trong trò chơi Trong quá trình chơi người lớn không thể ápđặt hay chơi hộ mà chỉ có thể gợi ý và hướng dẫn cho HS vui chơi mà thôi Như thế, sẽhình thành tính tự làm việc, tự chơi cũng như giúp HS có tính tự lập hơn trong cuộc sống
- Trò chơi được giới hạn bởi không gian và thời gian Đặc trưng này sẽ quy định quy
mô, điều kiện, vật chất và số lượng người chơi phù hợp Đặc biệt, trong quá trình chơi trẻ
có nhu cầu chơi với nhau, các trò chơi của trẻ không còn mang tính chất riêng lẻ, đơn độc
mà có liên quan đến người khác Tức là, trò chơi là nội dung cơ bản để tập hợp HS lạithành nhóm và mối quan hệ của HS được thiết lập một cách tự nhiên, từ đó nhân cách của
HS cũng được nâng lên từ nhóm bạn bè đó
- Trò chơi là một hoạt động giả định, là tổng hợp những hành vi không bình thường,nhưng ai cũng có thể thực hiện được nếu cố gắng hơn, kiên trì hơn, dũng cảm hơn mứcbình thường một chút Đồng thời trò chơi là một hoạt động bất định Đây là một đặc trưng
Trang 27tạo nên sự hấp dẫn, thu hút Bởi vì không ai dám khẳng định diễn biến và kết quả cuốicùng của trò chơi.
1.1.5 Cấu trúc của trò chơi
Thông thường cấu trúc của trò chơi thường có:
- Giới thiệu tên trò chơi: Tên trò chơi GV phải nói rõ ràng và có thể cho HS nhắc lại
- Nêu luật chơi: Giải thích cách chơi, nêu rõ luật chơi và hình thức chơi Nêu ra hìnhthức phạt đối với những bạn làm sai
- Tổ chức chơi thử: Cho HS chơi thử nhằm giúp các em có biểu tượng trò chơi
- Tổ chức chơi thật: Trong quá trình chơi GV cần phải chú ý đến việc thực hiện luậtchơi của HS Vì nếu HS không tuân thủ theo luật chơi thì trò chơi không đạt được mụcđích và GV nên bao quát lớp trong quá trình chơi để cho tất cả HS có thể tham gia chơi
- Tổng kết trò chơi: Sau mỗi lần chơi nên đánh giá việc thực hiện trò chơi của HShoặc cho HS tự đánh giá lẫn nhau Thông qua việc đánh giá nhằm giúp HS nắm vững bàihơn và rút ra kinh nghiệm cho những lần chơi sau, chơi hay hơn, đúng hơn Đồng thờiđánh giá nhận xét về người thắng cuộc để khích lệ tinh thần cho HS
1.2 Trò chơi luyện viết chữ
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng mặc dù các quan điểm về phân loại tròchơi là khác nhau Nhưng các quan điểm trên đều có sức ảnh hưởng rất lớn đối với việcxây dựng cơ sở lí luận về trò chơi cũng như đưa trò chơi vào việc giáo dục trẻ em ở nhiềunước trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên dựa vào đặc điểm của chữ viết và quá trình rènluyện chữ viết nên trò chơi luyện viết chữ được phân thành trò chơi vận động (trò chơithư giãn) và trò chơi học tập (trò chơi luyện viết)
1.2.1 Trò chơi vận động
Trò chơi vận động là hoạt động của con người, nó được cấu thành bởi 2 yếu tố: Vuichơi giải trí, thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần và giáo dục giáo dưỡng thể chất (gópphần giáo dục đạo đức, ý chí, hình thành phát triển tố chất, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết chocuộc sống) [42, tr 7-8] Trò chơi vận động đòi hỏi trò chơi phải tuân theo các quy luật hay
Trang 28quy tắc, và nội dung chơi chủ yếu là vận động Nó đương nhiên có chức năng phát triểnvận động và tạo cảm giác vui vẻ, thoải mái từ đó giúp trẻ học tập tốt hơn.
Trò chơi vận động là trò chơi mà trong đó, các loại hình vận động cơ bắp của cơ thể
là hoạt động chính Tất cả các HS đều thích loại trò chơi này Trò chơi vận động tuy thiên
về cơ bắp nhưng nó cũng mang nội dung trí tuệ phong phú, đòi hỏi người chơi phải chú
ý, nhanh trí linh hoạt, có tổ chức Trò chơi thư giãn gắn với các thao tác khác nhau mộtcách tự nhiên nên có tác dụng rất tốt đến sự phát triển cơ bắp, thể lực cho HS Sự phốihợp giữa vận động cơ bắp và vận động trí tuệ
Đặc điểm tâm sinh lí HS Tiểu học là thích hoạt động, vì sinh lí của HS còn đang tronggiai đoạn phát triển, các chức năng phản xạ của chúng chưa phát triển hoàn chỉnh, hệ vậnđộng đang dần dần hoàn thiện Do đó, HS thích vận động và cần được vận động thườngxuyên Từ đó, trong quá trình dạy học chúng ta cần phải cho HS vận động nhiều, khôngnên để HS phải ngồi học tại chỗ quá lâu Tuy nhiên, các trò chơi được đưa ra cũng phảiphù hợp với đặc điểm sinh lí của HS, không để HS chơi những trò chơi vận động quámạnh hay quá sức đối với HS
Trò chơi vận động là trò chơi được tổ chức nhằm cho cơ bắp ở vào trạng thái thả lỏng,tạo nên cảm giác thư thái về tinh thần Giúp cho những bài học của trò không bị kéo dài
mà HS có thể thả lỏng trong một thời gian ngắn thông qua trò chơi Giúp trẻ cân bằng lại
sự tập trung và tỉnh táo Vì vậy, nếu GV thường xuyên tổ chức trò chơi cho HS chơi thìchất lượng dạy học sẽ được nâng cao
1.2.2 Trò chơi học tập
Trò chơi học tập được hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục Trò chơi học tập là tròchơi có nội dung và luật chơi cho trước do người lớn sáng tạo và đưa vào cuộc sống của
HS Trò chơi học tập được người lớn hướng dẫn, kiểm soát song nó vẫn đảm bảo tính tự
do, độc lập của HS, nó vẫn chứa đựng 4 đặc tình cơ bản của trò chơi: thỏa mãn nhu cầucảm xúc của HS, HS tự do chơi, tự điều khiển và sáng tạo không ngừng
Trò chơi học tập là một dạng hoạt động vì vậy nó mang trong mình những đặc điểmchung của các loại hoạt động: có phương hướng, có mục đích, có ý thức và có các đặcđiểm chung của trò chơi Đặc điểm của trò chơi nói chung là mang lại cảm xúc chân thực,
Trang 29mạnh mẽ, đa dạng Trò chơi bao giờ cũng mang lại cho trẻ niềm vui sướng, thỏa mãn,bằng lòng Chơi mà không có niềm vui sướng thì không còn là chơi nữa.
Trò chơi học tập là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được hình thành dưới hình thứcnhiệm vụ chơi vui vẻ, thoải mái Ở đây, nội dung học tập được lồng ghép vào nội dungchơi; động cơ học tập hòa quyện vào động cơ chơi Nó có nguồn gốc trong nền giáo dụcdân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ và con trong những trò vui và những bàihát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý tới những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùnghình thức đó để dạy con Những trò chơi đó có chứa đựng các yếu tố dạy học
Trò chơi học tập mang đầy đủ những đặc điểm của trò chơi HS và có định hướng giáodục đối với sự phát triển nhân cách của HS, trong đó HS là người chủ động cho dù tròchơi do người lớn nghĩ ra Trò chơi gắn liền với hoạt động tập thể của HS, gắn liền vớicác kiến thức của môn học trong chương trình học Là loại trò chơi tạo hứng thú, tích cựctrong học tập đối với HS giúp HS có sự phát triển năng lực vốn có của HS một cách tựnhiên và có sự thoải mãi, tâm lí nhẹ nhàng khi tiếp thu kiến thức trong tiết học
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1
Các nhà tâm lí học cho rằng, thời kì trẻ 6 tuổi đến trường là thời kì tốt nhất cho việcphát triển trí tuệ Ở giai đoạn này, trẻ có những tiền đề cần thiết: Sự chín muồi đến trường
và các mặt tâm sinh lí, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ và tâm thế,…để có thể thích nghi bướcđầu vào điều kiện học tập lớp 1 [28]
Ở Việt Nam chúng ta đã tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 3, trẻ em vào lớp 1 từ 6tuổi tròn Thực tiễn giáo dục trong hơn chục năm qua chứng tỏ trẻ em Việt Nam 6 tuổi đihọc lớp 1 là thích hợp Trẻ em ở độ tuổi này hoàn toàn có khả năng lĩnh hội được chươngtrình học do Nhà nước quy định Chúng ta đã biên soạn được một hệ thống sách giáo khoacho bậc Tiểu học và tiến hành bồi dưỡng GV dạy theo sách cải cách giáo dục [21]
Thực tế cho thấy rằng mặc dù độ tuổi có phù hợp bao nhiêu thì đối với trẻ khi thayđổi môi trường học tập thì cũng gặp phải rất nhiều khó khăn Những điều đó liên quan tớivấn đề sinh lí cũng như tâm lí của trẻ ở độ tuổi này Tuy nhiên, dựa vào đặc điểm của chữviết và quá trình luyện viết nên chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu về các đặc điểm tâm sinh
lí liên quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi
Trang 301.3.1 Đặc điểm về sinh lí
Về cơ thể, hệ thống cơ xương của trẻ em trở nên vững chắc hơn, các cơ quan hoạtđộng ngày càng hoàn thiện, hoạt động tim mạch tương đối ổn định, trọng lượng của nãotăng lên rõ rệt 90% não của người lớn những thùy trán tăng lên một cách đặc biệt và giữvai trò lớn trong sự hình thành những chức năng cao cấp và phức tạp nhất của hoạt độngtâm lí người, các quá trình thần kinh và ức chế cân bằng hơn [18, tr21]
Các giác quan nhận rõ được hình thành, màu sắc, âm thanh, tính chất (cứng, mềm,nóng, lạnh) của đồ vật, cơ quan vận động phối hợp với cơ quan chân và toàn thân giữđược thăng bằng trong cử động, dùng ngón tay, bàn tay, thao tác được dùng với một sốdụng cụ đơn giản [49] Tuy nhiên ở thời điểm này sự phối hợp của các cơ ngón tay chưaphát triển đến mức độ tinh tế và chính xác cần thiết Do đó HS rất khó khăn trong quátrình nắm bắt kĩ thuật viết, HS không thể viết nhanh và cũng không thể viết quá lâu Vìvậy, trong quá trình dạy viết cho trẻ, GV cần chú ý đặc điểm trên để có những bài tập phùhợp đối với trẻ
Bộ xương đang trong giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn Vì thế, cần quantâm đến tư thế đi, đứng, ngồi, chạy nhảy của các em đề phòng cong, vẹo, gù lưng ở trẻ.Tránh để các em mang xách các vật quá nặng, tránh để các em viết lâu, làm các việc quá tỉ
mỉ gây mệt mỏi cho các em Là GVTH cần quan tâm tới thể lực của học sinh [21]
Chữ viết được thể hiện bằng các hoạt động cơ bắp của bàn tay và ngón tay với công
cụ và vật liệu để viết Theo tác giả E.N.Sokolova viết “Việc học cách viết dựa trên quyluật chuyển động của bàn tay viết là: đưa ngòi bút mạnh về phía người và động tác đưanét lên là hai động tác chung chủ yếu khi viết các chữ cái tiếng Nga” Nhận xét trên cũngđúng với chữ cái tiếng việt Các động tác của bàn tay phù hợp với trình tự thể hiện các nétchữ, trình tự liên kết các nét chữ, nghĩa là có giai đoạn bắt đầu, kéo dài và kết thúc mộtchữ cái hoặc một sự liên kết các chữ cái Do đó, dạy viết chữ cho HS phải dạy kết hợpquy trình chuyển động của bàn tay viết [1]
Từ các đặc điểm trên, trong quá trình luyện viết cho HS nhà trường và GV cần chú ý
tổ chức cho các em được thư giãn, không để cho HS ngồi học quá lâu Đồng thời phải cócác biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho HS học tập một cách thoải mái Sử dụng trò
Trang 31chơi là một trong những biện pháp được đánh cao để giúp HS thư giãn sau, có tác dụnggây hứng thú học tập tốt nhất cho HS trong giờ học mệt mỏi
1.3.2 Đặc điểm về tâm lí
1.3.2.1 Tri giác
Tri giác của các em đối với sự vật hiện tượng nào đó nếu chỉ nhìn thì chưa được toànvẹn Tri giác của HS Tiểu học mang đại thể, ít đi vào chi tiết… sự phân biệt đối tượng cònchưa chính xác, nhưng không có nghĩa rằng HS Tiểu học (lớp 1) chưa có khả năng phântích, tách các dấu hiệu chi tiết khác của sự vật hiện tượng Vấn đề là ở chỗ sự phân tíchcủa tri giác còn yếu, chưa có tổ chức và sâu sắc Tri giác của HS Tiểu học (lớp 1) còn liênquan đến cuộc sống thực tế, đến nhu cầu và gắn với hành động
Tri giác của các em thiên về nhận biết tổng quát đối tượng Trong khi đó, để viết đượcchữ, người viết phải có tri giác cụ thể, chi tiết từng nét chữ, từng động tác kĩ thuật tỉ mỉ
Vì vậy khi tiếp thu kĩ thuật viết chữ, học sinh không tránh khỏi những lúng túng khó vàkhăn [1, tr.45]
Trò chơi là một dạng hoạt động thực hành thú vị, hấp dẫn, nó có thể kích thích tri giáccủa HS Do vậy, khi tổ chức trò chơi, GV cần phải hướng dẫn HS quan sát (có thể sử dụngtranh hướng dẫn, ví dụ mẫu, cho HS chơi thử) Các trò chơi cần phong phú đa dạng đểtránh sự khô khan, nhàm chán cho trẻ
1.3.2.2 Chú ý
Ở Tiểu học, HS chú ý có chủ định còn yếu, chú ý không chủ định được phát triển, các
em thường được thu hút với cái mới, cái lạ Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trìđược chú ý không chủ định Tuy nhiên, không phải trong giờ học thì lúc nào cũng cóhứng thú, nhưng do yêu cầu của nội dung bài học, có những yếu tố, những chi tiết cầnphải lưu ý thì chúng ta cũng nên rèn cho HS chú ý những yếu tố chưa được hứng thú đó.Tác giả KĐ UsinXi đã cảnh báo điều đó: “Sau khi làm cho bài học của mình đượchấp dẫn các bạn không sợ làm cho trẻ chán, nhưng bạn hãy nhớ rằng trong việc học tậpkhông phải tất cả đều trở thành lý thú, mà nhất định sẽ có điều buồn tẻ Vậy, hãy rènluyện cho trẻ không chỉ quen cái gì mà trẻ hứng thú, mà còn làm quen làm cả những cáikhông lí thú nữa,…” [21]
Trang 32Về mặt chú ý của trẻ 6 tuổi chưa đạt tới mức độ bền vững và thường không có chúđịnh, dễ phân tán Khối lượng chú ý còn hạn chế, trẻ chỉ có thể có thể bao quát được 1 – 2đối tượng cùng một lúc, trạng thái chú ý này biểu hiện rất rõ ở bề ngoài của trẻ qua tư thế,
cử chỉ, hành động.Những hoạt động vui chơi hấp dẫn trẻ thường được trẻ chú ý và lôicuốn trẻ tham gia Vì vậy trong các tiết học GV nên tổ chức các trò chơi giúp trẻ thư giãn
và tập trung chú ý một cách hiệu quả nhất
Nếu trẻ chỉ được nghe, trẻ sẽ nhớ được khoảng 20%, nếu cho trẻ nhìn thấy trẻ nhớ30%, vậy HS Tiểu học trí nhớ trực quan, hình tượng được chiếm ưu thế hơn trí nhớ từngữ, logic Ghi nhớ máy móc của các em chưa có điểm tựa ghi nhớ, ngôn ngữ học HS lớp
1 còn hạn chế, chưa biết cách tổ chức ghi nhớ Về ghi nhớ trẻ 6 tuổi ghi nhớ máy móc rấttốt Ghi nhớ chủ định của trẻ đã phát triển nhưng ghi nhớ máy móc vẫn chiếm ưu thế
Sự phát triển trí nhớ của các em phụ thuộc vào lứa tuổi, đặc điểm tâm lí cá nhân, phụthuộc vào cách dạy, cách tổ chức hoạt động của GV Mặt khác ta cũng thấy, sự ghi nhớ ởlứa tuổi lớp 1 là ghi nhớ máy móc dễ dàng hơn ghi nhớ logic Với đặc điểm trí nhớ của
HS Tiểu học như thế khi tham gia các trò chơi thì sự hấp dẫn của trò chơi sẽ giúp HS kếthợp các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác) để chiểm lĩnh kiếnthức, thì kiến thức đó sẽ được ghi nhớ sâu hơn
1.3.2.4 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của trẻ 6 tuổi đã phát triển khá tốt, các em đã biết sử dụng đúng các câuđơn giản để giao tiếp với bạn và người lớn Điều cần chú ý là ngôn ngữ tự kỉ của trẻ em 6
Trang 33tuổi, đó là ngôn ngữ hướng vào chính bản thân đứa trẻ, ít phục vụ cho giao tiếp, nhưng làphương tiện tư duy của các em [42, tr19-20]
Nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ F.De.Saussure ( 1857 – 1913) từng cho rằng “ngônngữ và chữ viết là hai hệ thống khác nhau” [37] Nhưng ông cũng đồng thời thừa nhậnrằng “Lí do tồn tại duy nhất của chữ viết là để biểu hiện ngôn ngữ, đối tượng ngôn ngữhọc không phải là sự kết hợp giữa các từ viết ra Những từ viết xen lẫn một cách khít khaovới từ nói mà nó là hình ảnh, đến nỗi nó chiếm mất vai trò chủ yếu” [37]
Theo nhà tư tưởng Jerome Bruner (1915 – 2016) người Hoa Kỳ cho rằng: “Trẻ emhọc sử dụng ngôn ngữ ban đầu để có được cái gì chúng muốn, để chơi trò chơi, để liên hệvới những người mà chúng phụ thuộc” [21] Từ đó chúng ta thấy rằng ngôn ngữ tạo điềukiện cho trẻ biểu thị bên trong học tập của nó theo những cách phức tạp khiến cho việctrìu tượng suy luận được dễ dàng Trực tiếp liên hệ đến sự phát triển ngôn ngữ là sự nổilên vấn đề biết đọc biết viết
Ngôn ngữ của HS được hình thành thông qua giao tiếp và hoạt động Ngôn ngữ HSlớp 1 còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ngôn ngữ viết Do đó khi tổ chức trò chơi nên tổ chứccho các em chơi theo nhóm để tăng cường giao lưu giữa các HS và chú ý tạo cơ hội đểcác em phát triển ngôn ngữ viết
Tóm lại trò chơi có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ cũng nhưquá trình rèn luyện chữ viết cho trẻ Trong vui chơi nếu các em giao tiếp với bạn bè xấu,
do đặc điểm tâm lí của các em hay bắt chước, dễ chịu ảnh hưởng của bạn bè nên tác dụngtiêu cực không nhỏ, thông qua hoạt động vui chơi HS Tiểu học nắm được cung cách ứng
xử giữa người với người, các quy tắc đạo đức, phong cách làm việc, thái độ thật thà, tinhthần tập thể, tính sáng tạo,… Ngoài ra, hoạt động vui chơi còn phát triển các em khả năngghi nhớ, trí tưởng tượng, cá tính lòng dũng cảm, sự kiên trì, sức lao động dẻo dai… [37,tr117 – 118]
Như vậy, ở lứa tuổi tiểu học mọi biểu hiện tâm lí của trẻ đều chưa ổn định, chưa bềnvững và dễ chịu tác động của môi trường sống và những hoạt động của chính trẻ đượctham gia Chính vì thế trong quá trình giáo dục nói chung và trong quá trình dạy học nóiriêng cần tạo môi trường tốt để những nhân tố tích cực có điều kiện phát triển đúng hướng
Trang 34và trở nên bền vững theo quy luật của quá trình nhận thức Đối với HS Tiểu học, các emvẫn cần thời gian để vui chơi Ở lứa tuổi này nếu HS chơi có nội dung tốt, lại được tổchức hợp lí đúng cách, đúng lúc, không xâm phạm vào thời gian học và lao động thì hoạtđộng vui chơi ngoài tác động nghỉ ngơi tích cực còn có tác dụng phát triển năng khiếu,tính tình, sở thích,… của các em Rõ ràng trò chơi đóng vai trò hết sức quan trọng đối vớitrẻ, đặc biệt là HS lớp 1.
1.4 Chữ cái tiếng Việt và mẫu chữ viết dạy học sinh lớp 1
1.4.1 Chữ cái tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm vị, được xây dựng trên hệ thống chữ cái La –tinh Chữ cái tiếng Việt chính là đơn vị chữ viết nhỏ nhất Chữ cái còn được gọi là kí tự,con chữ
Để ghi âm tiếng Việt, chữ quốc ngữ đã sử dụng 29 chữ cái (a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g,
h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y), 10 tổ hợp chữ cái ghi phụ âm (ch, gh, gi, kh,
ng, ngh, nh, ph, th, tr) và 5 dấu thanh (dấu huyền, dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng)
để ghi thanh điệu Các con chữ trong bảng chữ cái tiếng việt được được sắp xếp theo mộtthứ tự cố định (theo thứ tự bảng chữ cái La – tinh)
Trong đó có:
12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.
27 nguyên âm đôi: ai, ao, au, ay, âu, ây, iê, eo, êu, ia, iu, oa, oă, oe, oi, ôi, ơi,
ua, uâ, uê, ui, uô, uy, ưa, ưi, ươ, ưu
10 nguyên âm ba là: iêu, oai, oay, uây, uôi, uya, uyê, uyu, ươi, ươu.
17 phụ âm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x.
Các phụ âm ghép chuẩn là: ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr, qu.
Bảng 1.1 Chữ cái tiếng Việt
STT Chữ cái thường Tên chữ cái STT Chữ cái thường Tên chữ cái
Trang 351.4.2 Mẫu chữ viết dạy học sinh lớp 1
Ngày 14/6/2002, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định số
31/2002/QB BGD&ĐT về “Mẫu chữ viết trong trường Tiểu học” Bắt đầu từ năm 2002 –
2003, “Mẫu chữ viết Tiểu học” được ban hành chính thức Mẫu chữ viết này đáp ứng các
nguyên tắc cơ bản: Bảo đảm tính khoa học và hệ thống; Có tính thẩm mỹ (đẹp trong sựhài hòa khi viết liền các con chữ); Bảo đảm tính sư phạm (phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lí lứa tuổi HS Tiểu học); Có tính kế thứa và phát triển, phù hợp với thực tiễn (kế thừa vẻđẹp của chữ viết truyền thống đồng thời tính đến sự thuận lợi khi sử dụng, viết nhanh, viếtliền mạch, phù hợp với điều kiện dạy và học)
Trong trường Tiểu học, HS viết chữ thường, chữ số và chữ hoa theo kiểu chữ đứng làchủ yếu Ở những nơi có điều kiện thuận lợi, GV có thể dạy hoặc giới thiệu thêm cáchviết chữ viết thường, chữ viết hoa theo kiểu viết nghiêng Tuy nhiên, mẫu chữ viết dạy HStiểu học chúng tôi chỉ nêu một số mẫu chữ thường được dạy ở các trường Tiểu học dànhcho HS lớp 1:
Mẫu chữ viết hoa
Việc dạy chữ viết hoa ở HS lớp 1 được tiến hành theo một quá trình từ nhận diện, tập
tô từng chữ cái
Chiều cao của các chữ viết hoa là 2,5 đơn vị; riêng 2 chữ viết hoa G, Y được viết vớichiều cao 4 đơn vị Ngoài 29 chữ cái viết hoa theo kiểu 1, bảng chữ cái viết hoa còn cung
Trang 36cấp thêm 5 mẫu chữ cái viết hoa kiểu 2 (A, M, N, Q, V) Hình dạng của các chữ viết hoa
cơ bản đã kế thừa và chính sửa Mỗi chữ cái viết hoa thường có nét cong, nét lượn, tạodáng thẩm mỹ, đảm bảo viết liền mạch và hạn chế nhấc bút Vì vậy, so với chữ viếtthường, các nét của chữ viết hoa thường có biến điệu
Mẫu chữ viết thường (đa số các tiết dạy)
Chữ cái viết thường có đặc điểm như sau:
Các chữ b, g, h, k, l, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị, tức bằng hai lần rưỡi chiềucao chữ cái ghi nguyên âm Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị Các chữ r, sđược viết với chiều cao 1,25 đơn vị Các chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn
vị Các chữ cái còn lại o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết với chiều cao 1đơn vị Các dấu thanh được viết trong phạm vi một ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị
Mẫu chữ in thường (phụ trợ cho các bài học vần)
Các chữ a, c, e, ê, i, m, n, o, ô, ơ, r, s, u, ư, v, x chiều cao là 1 đơn vị Các chữ d, đ, g,
h, k, l, p, q, t, y có độ cao là 1,5 đơn vị Các chữ in thường có độ rộng là 1 đơn vị, riêngchữ m có độ rộng là 3 đơn vị do cấu tạo của 2 nét móc
Mẫu chữ số (khi trẻ bắt đầu vào lớp 1)
Chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị Bảng chữ số tiếng việt ngoài cách viết thôngthường thì các số 2, 3, 4, 5, 7 còn có kiểu viết 2 So với cách viết 1 thì cách viết 2 mềmmại, uyển chuyển hơn
Trang 37Tiểu kết chương 1
Trong chương này, trên cơ sở lí luận của việc xây dựng trò chơi luyện viết chữ cho
HS lớp 1, chúng tôi thấy rằng:
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi trong dạy học nói chung
và sử dụng trò chơi trong dạy học Tiếng Việt nói riêng Qua các công trình nghiên cứuchúng tôi thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng trò chơi trong quátrình dạy học Đặc biệt đối với đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 1 Tuy nhiên, chúng tôichưa tìm thấy các công trình nghiên cứu về trò chơi luyện viết chữ cho HS lớp 1
Sử dụng trò chơi trong dạy học rất phù hợp với HS Tiểu học Đặc biệt đối với các lớpđầu cấp như lớp 1 Vì các em vừa chuyển từ hoạt động chơi sang hoạt động học Có thểnói trò chơi là phương tiện, con đường độc đáo, giúp trẻ tiếp thu kiến thức Khắc phụccho trẻ những khó khăn khi chuyển từ hoạt động chơi sang hoạt động học
Việc sử dụng trò chơi giúp trẻ có thái độ tích cực hơn đối với hoạt động học đọc, họcviết chữ cái Từ đó hình thành ở trẻ ý thức về giá trị của ngôn ngữ viết hay chữ viết trongcuộc sống đối với bản thân phục vụ nhu cầu của trẻ Sử dụng trò chơi trong dạy học sẽgiúp các em có cảm giác vui vẻ, thoải mái, thấy hứng thú và kích thích tính tò mò của các
em, giúp các em tập trung chú ý tốt hơn Đặc biệt sử dụng trò chơi giúp các em thả lỏng,thư giãn sau những giờ học kéo dài
Từ cơ sở nghiên cứu đó, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát thực trạng việc xây dựng tròchơi luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đểlàm rõ thêm về vấn đề này
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG TRÒ CHƠI LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 1 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP 2.1 Tổ chức khảo sát
2.1.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu thực trạng về việc xây dựng trò chơi luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địabàn thành phố Cao Lãnh Từ đó, xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các trò chơi
và xây dựng trò chơi luyện viết cho HS lớp 1
2.1.2 Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng việc xây dựng trò chơi luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địabàn thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp Chúng tôi tiến hành khảo sát trên các đối tượng:
- Các GV dạy lớp 1 và các HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp:+ Trường Tiểu học Thực hành Sư Phạm – Thành phố Cao Lãnh
+ Trường Tiểu học Võ Thị Sáu – Thành phố Cao Lãnh
+ Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm – Thành phố Cao Lãnh
Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức thăm dò ý kiến của một số GVTH của một số trườngkhác (Trường Tiểu học Phan Chu Trinh và Trường Tiểu học Bùi Thị Xuân)
2.1.3 Nội dung khảo sát
Khảo sát độ hứng thú của HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Thápkhi viết chữ
Khảo sát thực trạng về luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnh,tỉnh Đồng Tháp
Khảo sát thực trạng về tổ chức trò chơi luyện viết chữ cho HS lớp 1 trên địa bàn thànhphố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
2.1.4 Phương pháp khảo sát
- Dự giờ, quan sát hoạt động vui chơi của HS với sự hướng dẫn của GV
Trang 39- Điều tra bằng mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của GV và HS về các vấn đềnghiên cứu.
- Chúng tôi xây dựng một mẫu điều tra dành cho GV gồm 15 câu hỏi và một mẫuphiếu điều tra cho HS gồm 14 câu hỏi dưới hình thức là tham khảo ý kiến
2.2.1.1 Nhận thức của học sinh về chữ viết
Bảng 2.1 Học sinh nhận thức về tầm quan trọng của chữ viết
STT HS nhận thức về tầm quan trọng của chữ viết Số lượng Tỉ lệ
Qua bảng 2.1 ta thấy rằng tất cả HS đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
chữ viết (100%) Và 100% các em cho rằng cần luyện viết chữ ở các phân môn khác Khinhà trường tổ chức các hoạt động phong trào vở sạch chữ đẹp thì các em rất có hứng thútham gia (97,65 %) Tuy nhiên vì một số lý do nào đó nên vẫn còn một tỉ lệ nhỏ các emchưa tích cực tham gia (2,35%)
2.2.1.2 Thái độ của học sinh về luyện viết chữ
Bảng 2.2 Thái độ của học sinh về luyện viết chữ
Trang 402.2.1.3 Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi luyện viết
Bảng 2.3 Thái độ của học sinh về trò chơi luyện viết
Đồng thời có tới 83,52% HS đồng ý rằng sau khi chơi trò chơi thì các em đều cảmthấy rất vui vẻ trong học tập Bên cạnh đó, các em hứng thú hơn trong học tập chiếm24,35% Điều này chứng tỏ rằng trò chơi mang lại cho các em cảm giác vui vẻ và hứngthú với việc học Ngoài ra còn có một số em có cảm giác chán nản nhưng chiếm tỉ lệ rấtnhỏ, chỉ có 2,35% Có thể do các em mệt mỏi trong quá trình học nên khi chơi khôngmang lại cảm giác tích cực cho các em
Qua quá trình khảo sát độ hứng thú của HS lớp 1 trên địa bàn thành phố Cao Lãnhchúng tôi nhận thấy rằng: Phần lớn HS đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng củachữ viết, hứng thú tham gia các phong trào vở sạch chữ đẹp mà nhà trường tổ chức Cũngnhư có thái độ rất tích cực về luyện viết chữ Đó là những thái độ tích cực đối với nềntảng quá trình xây dựng trò chơi cho HS lớp 1