1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

39 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 77,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩuTài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Trang 1

Đề tài: Chứng minh rằng: “Tài nguyên thiên nhiên là một lợi thế so sánh hết sức quan trọng của các nước đang phát triển, chính vì vậy các nước này thường dựa vào tài nguyên thiên

nhiên để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu”

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

PHẦN NỘI DUNG 5

I TNTN là LTSS quan trọng của các quốc gia đang phát triển 5

1 Khái niệm 5

2 Phân loại TNTN 5

3 Tài nguyên thiên nhiên đúng là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển 8

3.1 Tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc 8

3.2 Tài nguyên thiên nhiên của Lào 10

3.3 Tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam 13

3.4 Tài nguyên thiên nhiên của Thái Lan 18

*Vai trò và lợi thế của tài nguyên thiên nhiên đối với các quốc gia đang phát triển 20

II Các nước đang phát triển dựa vào TNTN để thúc đẩy xuất khẩu 21

1 Vai trò của TNTN đối với hoạt động xuất khẩu: 21

2 Số liệu thực tế chứng minh ( Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Lào) 24

2.1 Việt Nam 24

2.2 Trung Quốc 28

2.3 Thái Lan 30

2.4 Lào 36

KẾT LUẬN 40

Tài liệu tham khảo 41

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Xã hội luôn không ngừng phát triển, với đòi hỏi trước tiên là phát triển kinh tếđặc biệt là trong thời kỳ xu thế hội nhập như hiện nay Hoạt động sản xuấtluôn diễn ra không ngừng với các điều kiện tiên quyết của nó là vốn lao động,công nghệ… Đặc biệt là các quốc gia được thiên nhiên ưu ái với nhiều nguồnlợi thế TNTN mang lại những lợi ích vô cùng to lớn trong GDP toàn ngànhcủa mỗi quốc gia Nó là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá lợi thế so sánhgiữa các nền kinh tế khác nhau trên Thế giới Có thế nói, sở hữu nguồn TNTNphong phú là bước đệm vô cùng thuận lợi trong chiến lược phát triển kinh tếcủa các quốc gia và đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Tài nguyên thiênnhiên là yếu tố tạo cơ sở cho việc phát triển các ngành kinh tế: Với quy mô lớncủa các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ làm cơ sở cho sự phát triển một sốngành như chế biến lâm sản, thuỷ sản, ngành dầu khí, lọc hoá dầu có thể mởrộng phát triển từ nguồn đầu vào có sẵn trong nước Các nước đang phát triển

đã và đang sử dụng tài nguyên thiên nhiên như một lợi thế so sánh để thúc đẩyhoạt động xuất khẩu của mình so với các nước khác và đã đạt được nhữngthành công nhất định và góp phần thúc đẩy nền kinh tế của mình phát triển…

Trang 4

- Lợi thế so sánh được hiểu là một nguyên tắc trong kinh tế phát biểu rằngmỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (haytương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ đượclợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phítương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác).

-Quốc gia đang phát triển là các quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nềntảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI)không cao Ở các nước này, thu nhập đầu người ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và

cơ cấu tư bản thấp Mức độ phát triển của một xã hội bao hàm cơ sở hạ tầnghiện đại (cả về mặt vật chất và thể chế) và sự chuyển đổi ra khỏi những lĩnhvực sản xuất tạo ra giá trị gia tăng thấp như nông nghiệp và khai thác tàinguyên tự nhiên

2 Phân loại TNTN

Mục đích phân loại TNTN theo công dụng là xác định vai trò của nhuữngTNTN trong quá trình hoạt động kinh tế cũng như đời sống con người Theocông dụng có thể chia nguồn tài nguyên thiên nhiên thành 7 loại sau:

2.1 Nguồn năng lượng

- Nguồn năng lượng lại có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Theotính chất thương mại là nguồn năng lượng được sử dụng phổ biến ở các nước(đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển) bao gồm các nguồn năng lượngmới: dầu hỏa, khí đốt, than đá, thủy điện, uraniom, địa nhiệt, mặt trời, sứcnước, sức gió Năng lượng phi thương mại là năng lượng được sử dụng để tạo

ra nhiệt năng và chỉ còn được sử dụng ở các nước đang phát triển bao gồmcủi đốt và năng lượng sinh khói (rơm rạ, thân cây các loại, phân súc vật…) ỞViệt Nam, hiện nay bình quân mỗi năm ở các vùng nông thôn, miền núi sửdụng khoảng 22 triệu tấn củi cho việc đun nấu Tuy nhiên, tỷ trọng nănglượng phi thương mại ở các nước đang phát triển sẽ giảm dần cùng với sựphát triển của nền kinh tế

- Toàn bộ nguồn năng lượng được sử dụng trong hoạt động giao thông, sảnxuất điên năng, phục vụ các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, từđiện năng, nguồn năng lượng lại tiếp tụ đi vào phục vụ cho tất cả các lĩnh vực

Trang 5

hoạt động khác nhau của nền kinh tế cũng như đời sống con người Có thểnói năng lượng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.Năng lượng là cơ sở cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nướcViệt Nam hiện nay.

- Để phản ánh quy mô nguồn năng lượng và khả năng đóng góp của nguồnnăng lượng vào hoạt động kinh tế, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như:Trữ lượng tài nguyên năng lượng (than, dầu, khí…), trong khi đó bao gồm trữlượng tham dò và trữ lượng có khả năng khai thác; khả năng khai thác/ năm

- Mức độ đánh giá chính xác quy mô nguồn năng lượng là sự phản ánh khácnhau giữa trữ lượng thăm dò và trữ lượng có khả năng khai thác Khả năngkhai thác/năm là chit tiêu phản ánh sự đóng góp trực tiếp của nguồn nănglượng vào kết quả hoạt động của nền kinh tế

- Trong các nguồn năng lượng, thủy năng là nguồn năng lượng có ý nghĩa quantrọng đối với các nước đang phát triển Trên 45% điện năng tiêu thụ ở cácnước đang phát triển được sản xuất ở các nhà máy thủy điện Ở VN, tỷ lệ nàyhiện nay là 63% với Nhà máy thủy điện Hòa BÌnh có công suất là 1920 MW

và hiện đang triển khia xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La với công suất3600MW

- Dầu hỏa là nguồn năng lượng có giá trị lớn nhất trên thế gời hiện nay Ưuđiểm của nguồn năng lượng này là sử dụng thuận lợi, dễ vận chuyển (bằngđường ống, tầu biển) và ít gây ô nhiễm hơn than Tổ chức OPEC bao gồm 13nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới, hiện đang kiểm soát khoảng80% lượng dầu thô trên thị trường thế giới Các nhà khoa học dự đoán dầu

mỏ có thể khai thác được trong vòng 60 năm nữa Dầu khí của VN theo đánhgiá của WB, trữ lượng có khả năng khia thác là 1 tỷ tấn, đúng thứ tư khu vựcchâu Á– TBD

- Sau hàng trăm năm được coi là thứ nhiên liệu độc hại, vừa khó khai thác lạivừa gây ô nhiễm khi sử dụng, bây h than đá lại bắt đầu được sử dụng ưachuộng trở lại nhờ giá rẻ và nhờ kỹ thuật sử dụng hoàn toàn mới Lợi thế đầutiên của than đá là trữ lượng dồi dào, bảo đảm giá cả ổn định Theo ước tínhcủa các chuyên gia, nếu không tìm thấy mỏ mới thì nhân loại cũng đủ lượngthan để dùng trong hai thế kỷ nữa, trong khi các mỏ dầu hỏa và khí đốt đangcạn dần, Lợi thế thứ hai là các mỏ than phân bố tương đối đều giữa các vùnglãnh thổ trên trái đất Chỉ trừ ở Chây Âu là đã bị khai thác gần cạn, còn than

có mặt ở khắp mọi nơi: châu Á, châu Úc, châu Mỹ, chây Phi… Nhược điểmchính của than đá là gây ô nhiễm do khói than có nhiều chất đột hại nhưCO2…Nhưng những nhược điểm này đang dần biến mất do những kỹ thuậtlọc khí đang được thí nghiệm và đặc biệt là có hai quy trình kỹ thuật có nhiềutriển vọng là biến than đá từ thể rắn sang thể khí đang được tính đến trongnhững dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Do những ưu thế trên, than đá cókhả năng trở thành nguồn năng lượng chính của thế kỷ 21

Trang 6

- Việt Nam có trữ lượng than lớn, chủ yếu nằm ở khu vực Quảng Ninh chạy từđảo Cái Bầu trên vịnh Hạ Long cho tới Phả Lại với chiều dài 150km Theođánh giá, trữ lượng thăm dò khoảng 3,5 tỷ tấn.

2.2 Các loại khoáng sản

- Các loại khoáng sản là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác vàcông nghiệp sản xuất các loại vật liệu như công nghiệp luyện kim, côngnghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ Trong số 16 loạikhoáng sản chủ yếu được sản xuất trên thế giới hiện nay, các nước đang pháttriển dẫn đầu thế giới về sản xuất bô-xít, phốt phát và chiếm tỷ trọng lớn vềsản xuất coban, cromit, thiếc, đồng, trong khi đó các nước công nghiệp pháttriển cung cấp các loại khoáng sản chủ yếu: kiềm, lưu huỳnh, quặng sắt,niken và kẽm

- Việt Nam được đánh giá là có nguồn khoáng sản đa dạng như bô-xit, thiếc,đồng, cromit, quặng sắt, đá vôi… Trong đó có thể nói triển vọng nhất lànguồn bô-xit, trải dọc theo biên giới phía bắc với trữ lượng 5 tỷ tấn và ở vùngTây Nguyên là 7 tỷ tấn Một số cơ sở khai thác quặng sắt ở Thái Nguyên,apatit ở Lào Cai và thiếc ở Cao Bằng đều có quy mô còn nhỏ

2.3 Nguồn tài nguyên rừng

- Rừng vừa có giá trị kinh tế vừa phải có giá trị bảo vệ môi trường Về mặtkinh tế, rừng cho sản phẩm gỗ, ngoài ra rừng còn cho chúng ta các sản phẩmđộng thực vật: thịt thú rừng, những cây dược liệu quý, những loại cỏ cóhương thơm, dầu thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại Nhữngsản phẩm này của rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của những ngườidân nông thôn ở vùng rừng núi của các nước đang phát triển Rừng còn có giátrị bảo vệ môi trường: chống xói mòn, lụt lội, điều hòa khí hậu, chống sựthiêu đốt của mặt trời, tạo môi trường rất quan trọng nhưng khó định lượnghơn giá trị kinh tế Hai mặt này thường có mâu thuẫn với nhau Từ xưa đếnnáy con người thường có nhu cầu sử dụng gỗ và đất đai Do khai phá rừng đểtrồng trọt, diện tích đất rừng tự nhiên đang bị giảm dần, những dải rừng đang

bị đe dọa Nguồn tài nguyên thường được đánh giá qua các chỉ tiêu: Diện tích

có rừng chê phủ (triệu ha); Tổng trữ lượng gỗ rừng (triệu m3); trữ lượnggỗ/ha có rừng che phủ

- Ở Việt Nam, diện tích đất đai có rừng che phủ đã giảm từ 15-16 triệu ha(năm 1945) xuống chỉ còn 8-9 triệu ha, tức là giảm từ 45% tổng diện tíchxuống còn 28% diện tích đất có rừng chê phủ Trong khi tỷ kệ này ở TháiLan là 52%, ở Philippin là 58% và ở Indonesia là 67%

Trang 7

đất có thể huy động thêm từ 2 đến 2,5 triệu ha, nhưng phần lớn là đất dốc bịxói mòn và thoái hóa Hệ số sử dụng đất trồng cây còn thấp, mới chỉ đạt chỉ

số trung bình trong cả nước là 1,3 Bên cạnh đó, thời gian qua do nhiều khucông nghiệp và đô thị mới đang hình thành nên đất canh tác bị xâm lấn, diệntích đất nông nghiệp có xu hướng bị co hẹp nhanh chóng

2.5 Nguồn nước

Nước là nguồn tài nguyên không thể thiếu trong sản xuất và đời sống, là cơ

sở để xây dựng hệ thống thủy điện, vận tải thủy, tạo bể chứa, đập tràn phục

vụ tưới tiêu, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho đời sống con người ViệtNam có nguồn nước phong phú, có 9 hệ thống sông ngòi với lưu lượng dòngchảy 840 tỷ m3/ăm, ngày mưa bình quân 100 ngày/năm Bên cạnh đó còn cónhiều hồ, đầm lầy và các mạch nước ngầm Tuy vậy, mặt hạn chế là mưa theomùa và tài nguyên nước phân bố không đồng đều giữa các vùng Ở các vùngnúi nước rất hiếm, ở các vùng ven biển lại thiếu nước ngọt vào mùa khô Mặtkhác, nhiều nguồn nước đã bị ô nhiễm, việc cung cấp nước sạch ở nhiều vùngnông thôn và đô thị đang gặp rất nhiều khó khăn

2.6 Biển và thủy sản

Với hơn 3200 km bờ biển chạy suốt chiều dài đất nước đã tạo điều kiện thuậnlời cho Việt Nam trong vận tải biển Hoạt động nuôi và đánh bắt hải sản cũng

có ý nghĩa to lớn, vừa tạo ra nguồn thu nhập, vừa là nguồn dinh dưỡng của đa

số nhân dân Một số sinh vật biển như cá, tôm, cua, sò, hến có giá trị cao trênthị trường thế giới Ngoài ra cá vùng ven biển còn có điều kiện phát triểnnghề làm muối, trồng và sản xuất các sản phẩm từ cói Trữ lượng hải sản chophép đánh bắt mỗi năm ở VN là 1,5 triệu tấn cá và 5-6 vạn tấn tôm

2.7 Khí hậu

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng và ẩm, độ ẩm bình quân hàng năm là 87%, rất thuận lời cho trông cây nông nghiệp và hoa quả nhiệt đới Điều kiện khí hậu kết hợp với nguồn nước và đất đai đã cung cấp các loại nông sản có giá trị xuất khẩu: lúa gạo, cao su, cà phê, chè, thuốc lá, tơ tằm, thịt và các sản phẩm chăn nuôi

Tuy vậy, một vấn đề đang đặt ra với Việt Nam hiện nay là phải hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí từ các chất thải công nghiệp, khí thải từ các phương tiện giao thông, ô nhiễm do tàn phá rừng…

3 Tài nguyên thiên nhiên đúng là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển

(Thông qua một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan để chứng minh.)

3.1 Tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc

Nguồn năng lượng:

Trang 8

Nước này hiện cung cấp hơn 2/3 số tấm pin mặt trời và gần một nửa số

turbine gió của thế giới Đến nay, Trung Quốc đã trở thành một nhà sản xuất

và xuất khẩu lớn về công nghệ năng lượng tái tạo, cung cấp hơn 2/3 số tấm pin mặt trời trên thế giới Nước này cũng giữ vị trí đi đầu về năng lượng gió, khi sản xuất gần một nửa số turbine gió của thế giới

Các loại khoáng sản:

Có nhiều loại khoáng sản như than đá, dầu mỏ, khí đốt, quặng sắt và quặng kim loại màu, sông ngòi có giá trị về thủy điện thuận lợi để phát triển nhiều ngành công nghiệp Dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên phân bố ở miền Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Bắc

Tài nguyên Than đá có trữ lượng đứng đầu Thế Giới, cả nước có trữ lượng khám phá rõ là 1000 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở miền Hoa Bắc và Tây Bắc.Sắt chủ yếu phân bố tại miền Đông Bắc,Hoa Bắc và Tây Nam.Đồng phân bố tại Tây Nam,Tây Bắc và Hoa Đông.Quặng chì và kẽm phân bố khắp nơi

Nguồn đất đai

Núi thấp và các đồng bằng phù sa màu mỡ: Đông Bắc, Hoa Bắc,Hoa Trung, Hoa Nam Tạo nên vùng nông nghiệp trù phú, giao thôngthuận lợi

Núi cao, sơn nguyên xen lẫn bồn địa:

Phát triển lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc

Khí hậu

Phía Bắc: ôn đới gió mùa

Phía Nam: cận nhiệt gió mùa.Phát triển nông nghiệp nhiệt đới với các sản phẩm: lúa, gạo, cà phê, cao su…

Lượng mưa lớn >1000 mm/năm: Tạo cơ cấu cây trồng đa dạng

Có các đồng bằng châu thổ rộng lớn, đất phù sa màu mỡ Khí hậu chuyển từ cận nhiệt sang ôn đới gió mùa, có nhiều sông lớn với nguồn nước dồi dào cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp

Nguồn nước:

Sông ngòi:

Sông nhiều, dài, hạ lưu của các sông lớn: Hoàng hà, Trường giang thuận lợicho nông nghiệp và giao thông vận tải

Trang 9

Sông ít, ngắn, dốc Nơi bắt nguồn của nhiều hệ thống sông có

giá trị lớn về thủy điện

Thủy sản:

Trung Quốc chiếm 62% tổng sản lượng nuôi trồng đánh bắt thủy sản.Cá chép và những loài thuộc họ cá chép là những loài được nuôi chủ yếu ở

Trung Quốc, chiếm khoảng 44% tổng sản lượng NTTS Năm 2002, sản lượng

cá chép bạc và cá chép đầu to là 5,1 triệu tấn, cá trắm cỏ là 3,4 triệu tấn, cá chép thường 2,2 triệu tấn, cá diếc bạc 1,7 triệu tấn và cá chép đen 224.529 tấn Cá tráp biển và cá tráp mũi ngắn cũng được nuôi ở quy mô lớn với sản lượng hàng năm khoảng 564.086 tấn Động vật thân mềm cũng là loài nuôi biển chính của NTTS Trung Quốc, chiếm khoảng 33, 20% sản lượng Trong năm 2002, động vật thân mềm nuôi đạt sản lượng khá cao, hàu đạt 3,63 triệu tấn, nghêu 2,30 triệu tấn, sò điệp 935.585 tấn, vẹm 663.866 tấn và sò dao cạo 635.486 tấn

Nguồn tài nguyên rừng:

Rừng và các khu vực đã được khai thác cho nông nghiệp nen

được phát triển tổng hợp các ngành kinh tế

Rừng, đồng cỏ xen những vùng hoang mạc và bán hoang mạc thuận lợi cho chăn nuôi gia súc và phát triển lâm nghiệp

Khí hậu

Khí hậu nhiệt đới gió mùa (phía Bắc Việt Nam và Mianma có mùa đông lạnh Nhiều sông lớn: Mêcông, sông Mê Nam…

Đất phù sa màu mỡ, đất feralit, đất ba dan

4/5 nước có biển, 3 mặt giáp biển

Nguồn tài nguyên rừng

Khai thác chế biến gỗ, nhiều rừng nhiệt đới

3.2. Tài nguyên thiên nhiên của Lào

Lào rất giàu có và phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên như:

+ Tài nguyên khoáng sản: Các mỏ kim loại quý như: mỏ vàng, bạc, sắt, đồng, quặng bô xít, than đá,… Lào giàu khoáng sản có thể khai thác được như: vàng, bạc, đồng, chì, thiếc, bô xít, kim loại, than, các loại muối, đá vôi,

Trang 10

đất sét, v.v… Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng Lào có trên 500 điểm mỏ

trải dài từ Bắc đến Nam

-Than ở huyện Vieng phù kha, trữ lượng khoảmg 9 triệu tấn, khai thác hàng năm khoảng 600.000 tấn Than (than nâu và Antraxit): Luang Prabang, Xiêngkhoảng,Viêng Chăn, Saynhabuli, Salavan khoảng hơn 4 triệu tấn

- Khai thác vàng: Mỏ vàng ở Sepon có trữ lượng khoảng 100 tấn, có khả năngsản xuất hàng năm khoảng 10 tấn vàng hợp kim và trên 60.000 tấn đồng Vàng còn được phát hiện ở huyện Vilabuli tỉnh Savannakhet; vùng Phubia huyện Sayxổmbun tỉnh Viêng Chăn và Bản Sakhai, huyện Sangthong thủ đô Viêng Chăn, Phaphon tỉnh Luang Prabang; Vùng Nakadok tỉnh

Bolikhamxay; Dọc sông Sekong ở Attapư và một số nơi khác Dự kiến sản xúât vàng hợp kim vàng- bạc sẽ hơn 10 tấn vào 2010

- Khai thác bạc : Huyện Vilabuli tỉnh Savannakhet; Vùng Phubia huyện Sayxổmbun tỉnh Viêng Chăn và huyện Sangthong thu đô Viêng Chăn ước khoảng 30 tấn

- Khai thác đồng : Quặng đồng có trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Sepon, ngoài ra còn phát hiện đồng ở Attapư, Huyện Vilabuli tỉnh Savannakhet; Huyện Long tỉnh Luông Nậm Thà; Vùng Phubia, Huyện Say xổm bun tỉnh Viêng Chăn; Tỉnh Udomxay; Huyện Kham tỉnh Xiêng Khoảng Khả năng khai thác khoảng 200.000 tấn đồng trong thời gian 3 năm tới

- Muối kali: Huyện Toulakom tỉnh Viêng Chăn có thể khai thác 50.000

tấn/năm

- Mỏ Bô xít: Huyện Dakjeung, tỉnh Sekong có trữ lượng 40 triệu tấn Ngoài

ra còn phát hiện Bô xít ở tỉnh Attapư và Champasak

- Đá vôi cho sản xuất xi măng: Các tỉnh Viêng Chăn, Khăm Muộn, Saravan

và Luang prabang Số lượng Thạch cao có thể sản xuất khoảng 1,9 triệu tấn/ năm

- Đất sét, đá vôi để sản xuất xi măng, gốm, gạch có khoảng 500.000 tấn/năm

- Mỏ chì: Tỉnh Khăm Muộn có thể khai thác gần 2000 tấn quặng/ 3năm, với hàm lượng chì từ 60 – 65%

- Kẽm: Tỉnh Viêng Chăn có khoảng 20.000 tấn, hàm lượng kẻm 37%

- Đá quý: Tỉnh Bò kẹo có thể khai thác khoảng 200.000 Carat trong 3 năm tới

- Barit: Tại tỉnh Viêng Chăn, Khăm Muộn, Savannakhet có thể khai thác trên

Trang 11

50,000 tấn/năm với hàm lượng Baso 4 khoảng 90%.

- Đá vôi: có thể khai thác và xuất khẩu theo kế hoạch cho phép tại Khăm Muộn và Savannakhet khoảng 300.000 tấn/ năm

Trữ lượng địa chất (Tấn)

Trữ lượng Khai thác (Tấn)

Kim loại (Tấn) 1

630.901.776 70.503.656 421.565.256 52,22 14.427.000.000 32.563.845 719.266.000 44.822.682 280.000 94.800.000

370.000.000 1.644.552.121 17.800.009 182.305.805 49,20 399.970.000 1.619.250 124.797.000 128.064.807 800.000 13.800.000

143 2.969.791

6.893 31.199.250 170.000 6.900.000

+ Tài nguyên đất: có 3 loại đất chủ yếu như đất phù sa, đất đỏ và đất vùng

núi đồi, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm - nghiệp

Phân loại

Tổng số(ha)

So với DT

tự nhiên(%)Diện tích tự nhiên

5 Đất thổ cư, đường giao thông,

đất khu công nghiệp

6 Đất ao, hồ, sông, suối

7 Đất khác

23.680.000

11.166.900850.000850.0005.000.0001.500.000

2.180.0002.133.100

100

473,63,6216,3

9,49.0

+ Tài nguyên rừng: Rừng của Lào chiếm 67% diện tích toàn nước Lào, có

nhiều loại gỗ quý hiếm với trữ lượng lớn và có giá trị kinh tế cao

Lào sở hữu những nguồn tài nguyên quan trọng, cho phép khai thác các lĩnh

vực thủy điện, mỏ và các vùng đất nông nghiệp (trồng cây cao su, bạch đàn,

sắn, mía, trầm hương…)

Trang 12

+ Thủy điện:

Tiềm năng thuỷ điện của Lào khá lớn, khoảng trên 27.000 MW Đã có trên

75 nhà máy Thuỷ điện được xác định địa điểm, công suất và chủ đầu tư Riêng trên dòng chính sông Mê Kông của Lào có gần 10.000 MW thuỷ điện

đã có chủ đầu tư được cấp phép nghiên cứu xây dựng.Tiềm năng Thuỷ điện còn lại phân bố trong 15 trên 17 tỉnh khắp nước Lào( trừ Thủ đô Viêng Chăn

và tỉnh Bò Kẹo) Những tỉnh có tiềm năng thuỷ điện lớn như : Attapư với trên2.500 MW, tiếp đến là tỉnh Viêng Chăn với gần 2.500MW, tỉnh

Bolikhamxay, Khăm Muộn với trên 1.500MW.v.v…

3.3. Tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam

Tài nguyên đất

Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất tự nhiên và 38,92% diện tích đất đang sử dụng Hiện còn 14,217 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm

43, 96% quỹ đất tự nhiên Vị trí và địa hình đặc biệt làm cho thổ nhưỡng ViệtNam có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây Cả nước có 14 nhóm đất là:

Đất xói mòn trơ sỏi đá: 505.298 ha

Các loại đất khác và đất chưa điều tra: 3.651.586 ha

Tiềm năng đất có khả năng canh tác nông nghiệp của cả nước khoảng từ

10-11 triệu ha, diện tích đã được sử dụng chỉ có 6, 9 triệu ha; trong đó 5,6 triệu

ha là đất trồng cây hàng năm (lúa: 4, 144 triệu ha; màu, cây công nghiệp ngắn

Trang 13

ngày: 1, 245 triệu ha) và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác (cà phê, cao su, dâu tằm, hồ tiêu, cam, chanh, quýt)

Tài nguyên nước

Nếu xét chung trong cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới

Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc với 2.345 con sông có chiều dài trên

10 km, mật độ trung bình từ 1,5 – 2 km sông/1 km2 diện tích, cứ đi dọc bờ biển khoảng 20 km lại gặp một cửa sông Tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 853 km3, trong đó tổng lượng dòng chảy phát sinh trên nước ta chỉ có 317 km3 Tỉ trọng nước bên ngoài chảy vào nước ta tương đối lớn, tới 60% so với tổng lượng nước sông toàn quốc, riêng đối với sông Cửu Long là 90%

Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếmtới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước; sau đó đến

hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%); hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%); các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%); các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%)

Nước ta có trữ lượng nước ngầm phong phú, khoảng 130 triệu m3/ngày, đáp ứng được 60% nhu cầu nước ngọt của đất nước

Ở vùng đông bằng châu thổ, nước ngầm ở độ sâu từ 1 – 200m, ở miền núi nước ngầm thường ở độ sâu 10 – 150m, còn ở vùng núi đá vôi nước ngầm ở

độ sâu khoảng 100m Đặc biệt vùng Tây Nguyên, nước ngầm thường sâu vài trăm mét, còn ở một số nơi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như Hà Tiên, CàMau, Bến Tre… nước ngầm thường bị nhiễm mặn, dân đến tình trạng thiếu nươc ngọt Nước ta cũng đã phát hiện được 350 nguồn suối khoáng, trong đó

có 169 nguồn nước có nhiệt độ trên 300C

Tài nguyên biển

Việt Nam có 3260 km bờ biển với vùng lãnh thổ rộng tới 226000 km2, diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 2 triệu ha trong đó 1 triệu ha nước ngọt; 0,62 triệu ha nước lợ và 0,38 triệu ha nước mặn Phần lớn diện tích này

đã được đưa vào sử dụng để khai thác hoặc nuôi trồng thuỷ sản

Biển nước ta còn có 2.028 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị kinh tế cao, 650 loài rong biển, 300 loài thân mềm, 300 loài cua, 90 loài tôm, 350 loài san hô… Biển nước ta có trữ lượng cá khoảng 3,6 triệu tấn, tầng trên mặt

có trữ lượng 1,9 triệu tấn, tầng đáy có trữ lượng 1,7 triệu tấn Ngoài ra còn có

Trang 14

40.000 ha san hô ven bờ, 250.000 ha rừng ngập mặn ven biển có sự đa dạng sinh học cao Trong đó có 3 khu sinh quyển thế giới là: vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), rừng Sác Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) và vườn quốc gia Cát Bà (hải Phòng) Đồng thời nước ta còn có 290.000 ha triêu lầy, 100.000

ha đầm phá

Tài nguyên rừng

Nước ta có tới 3/4 diện tích là đồi núi và rừng che phủ hơn 30% diện tích Rừng Việt Nam là kho tài nguyên quí báu, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, rừng làm cho không khí trong lành, điều hoà khí hậu

Có khoảng 8000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 275 loài thú, 820 loài chim, 180 loài bò sát, 471 loài cá nước ngọt và hơn 2000 loài cá biển sống trên lãnh thổ Việt Nam Việc tìm ra 2 loài móng guốc lớn là Sao la

và Mang lớn ở Việt Nam là sự kiện lớn chứng tỏ sự phong phú và đa dạng của tài nguyên sinh vật Việt Nam

Độ che phủ của rừng cao và hợp lý làm giảm dòng chảy mặt ngay sau mưa, làm chậm lũ, điều hoà dòng chảy giữa mùa mưa và mùa khô

Việt Nam có hơn 100 khu bảo tồn thiên nhiên Để nâng cao độ che phủ của rừng, Chính phủ đang tiến hành giao trên 1 triệu ha đất lâm nghiệp cho các

hộ gia đình cá nhân, hơn 5 triệu ha cho các tổ chức kinh tế xã hội để quản lý

Nhờ việc cấm khai thác rừng tự nhiên để xuất khẩu gỗ, trong thời gian quan

độ che phủ rừng đã bước đầu lên

Tài nguyên sinh vật

- Hệ thực vật :

Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng sinh học, hệ thực vật có khoảng 14.000 loài thực vật bậc cao có mạch; đã xác định được khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 600 loài rong biển Trong đó có

1.200 loài thực vật đặc hữu, hơn 2.300 loài thực vật đã được sử dụng làm lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, tinh dầu, vật liệu trong xây dựng Tỷ

lệ số loài thực vật dùng làm dược liệu ở nước ta lên tới 28% Hệ thực vật nước ta có nhiều loài quý hiếm như gỗ đỏ, gụ mật, Hoàng Liên chân gà, ba kích, hoàng đàn, cẩm lai, pơ mu…

- Hệ động vật:

Tính đến nay đã xác định được ở nước ta có 275 loài thú, 1.009 loài và phân loài chim, 349 loài bò sát và lưỡng cư, 527 loài cá nước ngọt, khoảng 2.038 loài cá biển, 12.000 loài côn trùng, 1.600 loài động vật giáp xác, 350 loài động vật da gai, 700 loài giun nhiều tơ, 2.500 loài động vật thân mềm, 350 loài sa nhô được biết tên…

Hệ động vật Việt Nam có mức độ đặc hữu rất cao, 80 loài thú và phân loài thú, hơn 100 loài và phụ loài chim, 7 loài linh trưởng Hệ động vật Việt Nam

Trang 15

còn có một số loài quý hiếm như voi, tê giác, bò rừng, bò tót, trâu rừng, hổ, báo, culy, vượn den, voọc vá, voọc mũi hếch, voọc đầu trắng, sếu cổ trụi, cò quắm cánh xanh, sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, bò sừng xoắn, gà Lam đuôi trắng…

Tài nguyên khoáng sản

Nước ta nằm giữa hai vành đai tạo khoáng lớn của thế giới là Thái Bình Dương và Ðịa Trung Hải Công tác thăm dò địa chất trong 40 năm qua đã phát hiện và đánh giá được trữ lượng của 5000 mỏ và điểm quặng, thuộc 60 loại khoáng sản

Các loại khoáng sản có quy mô lớn :

- Than: trữ lượng khoảng 3,5 tỉ tấn ở độ sâu 300 m (1991), chủ yếu là ở Quảng Ninh, Thái Nguyên Năm 1996 lượng than khai thác là 10,9 triệu tấn than lộ thiên

- Boxit: trữ lượng vài tỉ tấn, hàm lượng quặng cao 40 - 43%, chất lượng tốt, tập trung nhiều ở Nam Việt Nam

- Thiếc: ở Tĩnh Túc - Cao Bằng có hàng chục ngàn tấn, khai thác còn ít, trữ lượng 129.000 tấn

- Sắt: phân bố ở phía bắc Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang, ven sông Hồng.Trữ lượng khoảng gần 1 tỉ tấn

- Apatit: trữ lượng trên 1 tỉ tấn

- Ðồng: trữ lượng khoảng 600 ngàn tấn, khai thác còn ít

- Crom: trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, chất lượng không cao

- Vàng: phân bố nhiều ở Bồng Miêu - Bắc Lạng ; vàng sa khoáng quy mô nhỏ

ở Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Tuyên , trữ lượng khoảng 100 tấn

- Ðá quý: có nhiều ở sông Chảy (Yên Bái), Thanh Hóa, Nghệ An, Ðông Nam

Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Granat, Rubi, Saphia

- Ðá vôi: ở miền Bắc, miền Trung có trữ lượng lớn và miền Nam (Hà Tiên, trữ lượng 18 tỉ tấn)

- Cát thủy tinh: phân bố dọc theo bờ biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận, trữlượng là 2,6 tỉ tấn

- Dầu mỏ: tập trung trong các trầm tích trẻ tuổi ở đồng bằng ven biển và thềmlục địa Trữ lượng Vịnh Bắc Bộ là 500 triệu tấn, Nam Côn Sơn 400 triệu tấn, Ðồng bằng sông Cửu Long 300 triệu tấn, vịnh Thái Lan 300 triệu tấn Sản lượng của Việt Nam 1995 là 10 triệu tấn/năm Từ 1991 -1995 Việt Nam sản xuất 20 -23 triệu tấn dầu thô Nhiều mỏ dầu lớn như Bạch Hồ, Ðại Hùng đang được khai thác và sản lượng ngày càng tăng

Trang 16

Tài nguyên du lịch

Việt Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi Địa hình có núi, có rừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có cả cao nguyên Núi non đãtạo nên những vùng cao có khí hậu rất gần với ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉ dưỡng và danh lam thắng cảnh như: Sa

Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây Ninh) ; động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Từ Thức (Thanh Hoá), Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) ; thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ thuỷ điện Sông Đà (Hoà Bình - Sơn La),

hồ thuỷ điện Trị An (Đồng Nai), hồ thuỷ điện Yaly (Tây Nguyên), hồ Thác

Bà (Yên Bái), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh, đã hai lần được UNESCO công nhận là di sản của thế giới), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), đảo Phú Quốc (Kiên Giang) Với 3.260 km bờ biển có 125 bãi biển, trong đó có 16 bãi tắmđẹp nổi tiếng như: Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)

Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong đó khoảng 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) lịch sử, văn hoá, dấu

ấn của quá trình dựng nước và giữ nước, như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu Đặc biệt quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn

đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới Hàng nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật - văn hoá khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn

Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, độc đáo như thế, mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc khai thác, những năm gần đây ngành Du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu khách du lịch trong và ngoài nước, góp phần đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Hơn thế, bằng tiềm năng và sản phẩm du lịch của mình, ngành Du lịch đang tạo điều kiện tốt cho bè bạn khắp năm châu ngày càng hiểu biết và yêu mến đất nước Việt Nam

Nguồn suối nước khoáng cũng rất phong phú như: suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Hội Vân (Bình Định), suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối khoáng Dục Mỹ (Nha Trang), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bình)

Trang 17

3.4. Tài nguyên thiên nhiên của Thái Lan

Vài nét về tự nhiên Thái Lan

Thái Lan nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm giá mùa, từ tháng 5 đến tháng 9 chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nóng ẩm, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô và lạnh

Thái Lan có 4 khu vực địa hình chính: Phía Bắc là địa hình đồi núi, phía Đông Bắc là địa hình cao nguyên, trung tâm là vùng đầu bằng với đất đai màu mỡ, miền Đông là vùng sông Mê Kông đây là vùng đất trồng nhiều cây sắn

Vùng lãnh thổ nhiều núi non thường có khí hậu mát mẻ hơn so với vùng đồngbằng và cũng có môi trường sinh thái với những thảm thực vật, những loại thú riêng biệt đặc trưng

Tài nguyên đất

Nhóm đất ở Thái Lan Thái Lan được chia thành 3 loại:

Đất ở vùng đồng bằng: là các vùng đất thấp có nguồn thoát nước kém, chẳng hạn như trầm tích Tìm thấy ở vùng đồng bằng trung tâm Bao gồm cả vùng Đông Bắc và đồng bằng duyên hải Nam Đó là một loại đất màu mỡ phù hợp

để trồng lúa và trồng cây trồng bằng cách nâng rãnh

Đất trên cao nguyên phẳng và trên các ngọn đồi: là đất ở miệng dòng suối cũ.Trên đỉnh núi, dọc theo đồi núi Tìm thấy ở vùng Đông Bắc và đồng bằng duyên hải Nam, đất ít bị kiềm Phù hợp cho việc trồng các loại cây trồng như sắn, mía, bắp

Đất ở vùng núi: đất đai nằm ở vùng núi Bắc và Đông Bắc

Tài nguyên nước

- Lượng mưa: Thái Lan chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam Từ đại dương đến đất giữa cuối tháng 5 đến đầu tháng 10 (mùa mưa), dẫn đến mưa Tổng lượng mưa Thái Lan là khoảng 1.600 milimet / năm Bởi miền Bắc Đông Bắc, Trung Bộ, Thượng và Đông Mưa, mưa vào mùa đông và mưa rất nhiều trong mùa mưa Mặc dù bán đảo Nam bán đảo có rất nhiều mưa vào mùa đông

- Nước bề mặt: là nước đang chảy hoặc tồn tại trên bề mặt đất, chẳng hạn như sông, kênh tự nhiên Bao gồm cả nước có thể bị mắc kẹt trong hẻm núi, kênh rạch, đầm lầy và hồ hoặc hồ nhân tạo, nước ngầm, nước mưa, tuyết tan,…

Trang 18

Tài nguyên khoáng sản

- Các quặng kim loại chủ yếu bao gồm thiếc, mangan, vonfram và wolfram, chì, kẽm, vàng, bạc và đồng

- Khoáng sản phi kim loại bao gồm lưu huỳnh, calcit, khoáng chất làm

nguyên liệu trong các ngành công nghiệp hoá chất khác nhau như thuốc trừ sâu, kiểm soát dịch hại Sản xuất thuốc

- Các khoáng chất màu bao gồm đất sét, đất sét, diatomite, diatomite và barit

được sử dụng làm nguyên liệu thô quan trọng cho sản xuất sơn

- Quặng nhiên liệu: khoáng chất được sử dụng để sản xuất cả nhiệt và ánh sáng, rất quan trọng đối với nhiều ngành công nghiệp, bao gồm than, dầu, dầukhí và khí tự nhiên

Tài nguyên rừng

Rừng ở Thái Lan được phân thành các loại sau:

- Rừng thường xanh là một khu rừng có lá thường xanh: rừng thường xanh hoặc rừng nhiệt đới tìm thấy trong những khu vực có độ ẩm cao Lượng mưa cao hơn 1.500 mm / năm Mực nước biển cao hơn 500 mét so với mực nước biển được tìm thấy ở tất cả các vùng của Thái Lan Nó được tìm thấy ở phía nam và phía đông

- Rừng thông tìm thấy ở nơi có lượng mưa từ 1.000 đến 1.500 mm / năm Caohơn mực nước biển 600 - 1.200 mét Nó được tìm thấy ở vùng đồi núi phía Bắc, đông bắc, vv

- Rừng ngập mặn được tìm thấy ở các vùng duyên hải như Samut Prakan, Samut Sakhon, Samut Songkhram, Phetchaburi, Chonburi, Rayong,

Chanthaburi và Trat Gần biển từ Prachuap Khiri Khan đến Narathiwat

- Rừng rụng lá là một khu rừng nơi mà lá cây không hoạt động trong mùa khô Và khi mùa mưa

- Rừng hoang dã, rừng ẩm ướt hoặc rừng khộp khô Nó được tìm thấy ở tất cả các vùng của Thái Lan, ngoại trừ ở miền Nam, đặc biệt là ở vùng Đông Bắc

- Rừng lá rộng rụng lá là rừng rụng lá hoặc rụng lá cùng nhau trong cùng mộtthời điểm trong rừng Tìm thấy ở Bắc và Đông Bắc và phía tây

Nguồn động vật hoang dã

Trang 19

Bảo vệ động vật hoang dã được chia thành 2 loại.

- Bảo tồn Động vật hoang dã loại 1 đề cập đến động vật hoang dã mà thườngkhông sử dụng thịt để ăn hoặc săn các môn thể thao như một động vật hoang

dã tiêu diệt sâu bệnh Hoặc loại bỏ các chất thải Hoặc dành riêng để tô điểm cho vẻ đẹp tự nhiên Có 166 loài như voi, lính ngự lâm, sóc, khỉ, chó rừng

Và có tới 130 loài chim như chim, chim mỏ sừng, chim chóc, chim bồ câu

- Bảo vệ động vật hoang dã loại 2 có nghĩa là động vật hoang dã thường được sử dụng thịt để nấu thức ăn hoặc săn bắn thể thao, chẳng hạn như bò rừng, hươu, nai chuột, hổ, gấu, lợn rừng,…

*Vai trò và lợi thế của tài nguyên thiên nhiên đối với các quốc gia đang phát triển

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hìnhthành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sửdụng- (Nguyễn Đức Qúy – Trung tâm Khoa học tự nhiên & Công nghệ Quốcgia – 2001) Có thể nói, tài nguyên thiên là một trong những yếu tố nguồn lựcđầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thể giới, nếukhông có tài nguyên, đất đai thì sẽ không có sản xuất và cũng không có sựtồn tại của con người

Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển.Đối với các nước đang phát triền thường quan tâm đến việc xuất khẩu sảnphẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyênthiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nhờ những

ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút nhắn quátrình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đadạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp côngnghiệp hóa đất nước

Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển một số ngành côngnghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiềungành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước Sự giàu

có về tài nguyên ở các nước đang phát triển, đặc biệt về năng lượng giúp chomột quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởngmột cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới bị rời vào trạngthái bất ổn

Khai thác và chế biến khoáng sản ở các nước đang phát triển

Việc khai thác và chế biến khoáng sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế ở nhiều nước đang phát triển: đó là nguồn xuất khẩu chủ yếu để thu ngoại tệ ở các nước Tây Á, nhiều nước châu Phi, Mĩ La-tinh Các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nền công nghiệp phát triển cao và lâu đời, là các nước nhập khẩu khoáng sản chủ yếu

Ngày đăng: 21/03/2021, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w