Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao đất, cho thuê đất và
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN QUỲNH ANH
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Vòng
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Quỳnh Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Vòng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Thạch Thất, phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Thạch Thất đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Quỳnh Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan nghiên cứu 3
2.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất 3
2.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất 3
2.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 4
2.1.3 Các loại hình của quy hoạch sử dụng đất 6
2.1.4 Nhiệm vụ, nội dung của quy hoạch sử dụng đất 8
2.2 Cơ sở lý luận cơ bản về tính khả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất 9
2.2.1 Bản chất và phân loại tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất 9
2.2.2 Bản chất và phân loại hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất 12
2.3 Tình hình lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất một số nước trên thế giới và Việt Nam 14
2.3.1 Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới 14
2.3.2 Tình hình về nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 18
2.3.3 Khái quát tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất thành phố Hà Nội hiện nay 27
Trang 5Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Nội dung nghiên cứu 29
3.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất 29
3.1.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai huyện Thạch Thất 29
3.1.3 Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 -2020 huyện Thạch Thất 29
3.1.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Thất 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 30
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
3.2.4 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 30
3.2.5 Phương pháp so sánh, đánh giá 30
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 32
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất 32
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 32
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất 43
4.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 48
4.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất huyện Thạch Thất 50
4.2.1 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai 50
4.2.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất năm 2016 và biến động đất đai giai đoạn 2010 - 2016 59
4.3 Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2020 huyện Thạch Thất 64
4.3.1 Khái quát phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Thất giai đoạn 2010 - 2020 64
4.3.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Thất giai đoạn 2010 - 2020 đến năm 2015 67
4.3.3 Kết quả thực hiện dự án, công trình theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 huyện Thạch Thất 70
Trang 64.3.4 Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất từ năm 2010 đến năm
2015 theo quy hoạch sử dụng đất được duyệt huyện Thạch Thất 78
4.3.5 Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Thạch Thất 80
4.3.6 Kết quả thực hiện các công trình dự án đến năm 2016 huyện Thạch Thất 83
4.3.7 Đánh giá mặt đạt được, tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện phương án QHSDĐ huyện Thạch Thất 85
4.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Thất 88
4.4.1 Giải pháp tuyên truyền phổ biến 88
4.4.2 Giải pháp nguồn lực, vốn đầu tư 88
4.4.3 Giải pháp về kỹ thuật 88
4.4.4 Giải pháp về tổ chức thực hiện 89
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 91
5.1 Kết luận 91
5.2 Kiến nghị 93
Tài liệu tham khảo 94
Phụ lục 96
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tổng hợp các loại đất huyện Thạch Thất 36
Bảng 4.2 Dân số huyện Thạch Thất giai đoạn 2011 - 2016 47
Bảng 4.3 Diện tích đất chồng lấn giữa các xã của huyện Thạch Thất 53
Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2016 huyện Thạch Thất 60
Bảng 4.5 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Thạch Thất năm 2016 61
Bảng 4.6 Biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2010-2016 huyện Thạch Thất 62
Bảng 4.7 Biến động sử dụng đất phi nông nghiệp giai đoạn 2010- 2016 huyện Thạch Thất 63
Bảng 4.8 Phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Thất đến năm 2020 65
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất67huyện Thạch Thất đến năm 2015 67
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2015 huyện Thạch Thất 68
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2015 huyện Thạch Thất 69
Bảng 4.12 Tổng hợp công trình, dự án đã thực hiện theo phương án quy hoạch giai đoạn 2010 - 2020 (thực hiện đến năm 2015) huyện Thạch Thất 71
Bảng 4.13 Đánh giá một số công trình, dự án thực hiện theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 huyện Thạch Thất 76
Bảng 4.14 Các công trình, dự án chưa thực hiện theo phương án quy hoạch giai đoạn 2010 - 2015 huyện Thạch Thất 77
Bảng 4.15 Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất từ năm 2010 đến năm 2015 theo quy hoạch được duyệt huyện Thạch Thất 79
Bảng 4.16 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Thạch Thất 81
Bảng 4.17 Công trình, dự án thực hiện đến năm 2016 huyện Thạch Thất 84
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí địa lý của huyện Thạch Thất - TP Hà Nội 32Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế huyện Thạch Thất năm 2016 43Hình 4.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Thạch Thất năm 2016 59Hình 4.4 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2015 huyện Thạch
Thất 67
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Quỳnh Anh
Tên luận văn: “Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu đã được duyệt trong phương án QHSDĐ huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020 tìm ra những tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện phương án quy hoạch
sử dụng đất
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp;
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp;
2 Công tác Quản lý Nhà nước về đất đai theo 15 nội dung, hầu như các nội dung đều đã được thực hiện tốt, còn nội dung xây dựng hệ thống thông tin đất đai thực hiện chưa tốt do hạn chế về công nghệ và trình độ chuyên môn của các cán bộ chuyên ngành
3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2016 và biến động đất đai giai đoạn 2010 - 2016: Năm 2016 tổng diện tích của toàn huyện là 18.744,17 ha Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 56,86 tổng diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp chiếm 42,78% tổng diện tích
tự nhiên; đất chưa sử dụng chiếm 0,36% tổng diện tích đất tự nhiên Xu hướng biến động đất đai giai đoạn này là tăng diện tích đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, giảm diện tích đất chưa sử dụng
Trang 114 Kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch
sử dụng đất 5 năm (2011-2015) huyện Thạch Thất cho thấy:
Theo phương án quy hoạch sử dụng đất đã duyệt, đến năm 2020, tổng diện tích tự nhiên là 18.459,05 ha; diện tích đất nông nghiệp 7.885,18 ha; diện tích đất phi nông nghiệp là 10.013,64 ha
Trong giai đoạn 2011-2015, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả nhất định Theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015, diện tích đất nông nghiệp là 10224,24 ha, chiếm 54,55% tổng diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp là 8456,12 ha, chiếm 45,11 % tổng diện tích tự nhiên; Đất chưa sử dụng 63,82 ha, chiếm 0,34 % tổng diện tích tự nhiên Trong giai đoạn này, số công trình, dự án đã thực hiện được là 565 công trình với tổng diện tích là 1.485,59 ha; số công trình, dự án chưa thực hiện là 56 công trình, dự án với tổng diện tích là 504,32 ha
Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016: các chỉ tiêu sử dụng đất của nhóm đất nông nghiệp đều thực hiện đạt so với chỉ tiêu theo phương án kế hoạch sử dụng đất năm 2016; chỉ tiêu đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm đạt vượt kế hoạch 2016
Tình hình thực hiện các công trình, dự án: Số công trình đã tổ chức triển khai thực hiện trong năm 2016 là 38 dự án đạt 54,29% so với kế hoạch Trong đó có: 30 dự án đang triển khai GPMB, diện tích 258,89 ha, chiếm 44,33% kế hoạch; 08 dự án đã hoàn thành đến 31/12/2016 diện tích 17,74 ha, chiếm 4,62% Số công trình, dự án chưa thực hiện trong năm 2016 đăng ký đưa sang thực hiện năm 2017 là 29 dự án
5 Để thực hiện tốt phương án quy hoạch sử dụng đất, trong thời gian tới quận cần
có những giải pháp cụ thể trên các mặt:
Giải pháp tuyên truyền phổ biến;
Giải pháp nguồn lực, vốn đầu tư;
Giải pháp về kỹ thuật;
Giải pháp về tổ chức thực hiện
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Quynh Anh
Thesis title: “Evaluate the implementation of land use planning up to 2020 in Thach That District, Hanoi City”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- Evaluate the implementation of the approved land use indicators in land use planning in Thach That District, Hanoi in period 2010-2020 to seek the shortcomings and causes of the shortcomings
- Propose solutions to improve the efficiency of the implementation of land use planning
Methods
In the thesis, the research methods are used:
- Method of secondary data collection;
- Method of primary data collection;
- Methods of data processing;
- The method illustrated by maps;
- Method of comparison, evaluation
Main findings and conlusions
1 Thach That district has a favorable geographical position in economic and social development of Hanoi Economic growth reached 11.89% and the population of 199,470 people with a source of abundant labour, high professional level By 2016, the natural area of the district is 18,744.18 hectares
2 The State management of land follows 15 basic contents, almost all contents have been well implemented; however the content of the land information system has not been well implemented due to the technological limitations as well as the specialized staff’s limitations
3 The Current of land using in 2016 and the land changesin the period 2010 - 2016: By 2016, the natural area of the district is 18,744.18 hectares Where: 10,657.62
ha agricultural land occupies 56,86%; non-agricultural land has 8,019.17 hectares 42.78%; unused land has 67.39 hectares 0.36% of the natural area The trend of land
Trang 13conversion this period is to increase the area of agricultural and non-agricultural land, reduce the area of unused land
4 During the period 2011-2015, the implementation of the master plan and land use planning in the first period in the district has achieved certain results According to land use planning to 2015, the area of agricultural land is 10224.24 hectares, accounting for 54.55% of the total natural area; non-agricultural land is 8456.12 hectares, accounting for 45.11% of the total natural area; Unused land is 63.82 hectares, accounting for 0.34% of total natural area During this period, the number of works and projects implemented was 565 with the total area of 1,485.59 hectares; The number of works and projects not yet implemented are 56 works and projects with a total area of 504.32 hectares
The status of land use planning in 2016: Land use criteria of agricultural land group are achieved compared with the target of land use plan 2016; Indicators of paddy land, annual crop land, perennial land exceeded the 2016 plan
Performance of works and projects: The number of works implemented in 2016
is 38 projects reaching 54.29% of the plan including 30 projects are underway, covering 258.89 hectares , accounting for 44.33% of the plan; 08 projects were completed by 31/12/2016 with an area of 17.74 hectares, representing 4.62% The number of works and projects not implemented in 2016 registered for implementation
in 2017 is 29 projects
5 In order to carry out well the plan to use land, in the coming time, the District should have specific solutions based on the following aspects:
Popular propaganda solution;
Resource solutions, investment capital;
Technical solution;
Solution on implementation organization
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Điều 53, 54 Hiến pháp và Luật Đất đai (sửa đổi) 2013 quy định cụ thể “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” theo đó Quy hoạch là cơ sở quan trọng để thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai, tuy không phải là pháp luật nhưng lại mang tính pháp lý gắn liền với nhiệm
vụ quản lý Nhà nước Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Luật Đất đai năm 2013 quy định:
“Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” là 1 trong 15 nội dung Quản lý Nhà nước về đất đai Như vậy là quy hoạch hóa việc sử dụng đất không đơn thuần là một hoạt động kỹ thuật mà còn là hoạt động quản lý có ý nghĩa kinh tế chính trị, thể hiện ý chí của Nhà nước về phát triền đất nước trong tương lai xác định mà mọi người đều phải chấp hành Vì vậy vai trò của quy hoạch sử dụng đất là phục
vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho từng giai đoạn và bảo vệ môi trường có
ý nghĩa hết sức quan trọng
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm xác lập sự
ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao đất, cho thuê đất và đầu tư phát triển sản xuất; là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ mặt bằng sinh thái, gây
ô nhiễm môi trường và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị,
an ninh quốc phòng
Thạch Thất là một huyện thuộc thành phố Hà Nội, chịu nhiều tác động ảnh hưởng trong sự phát triển chuỗi đô thị phía tây Nhiều dự án trọng điểm của Trung ương và địa phương đã và đang được triển khai xây dựng trên địa bàn Cùng với khu công nghệ cao Hòa Lạc, đại học Quốc gia, các cụm, điểm công nghiệp khác đã
và đang có nhiều doanh nghiệp vào đầu tư, đang tiếp tục mở rộng diện tích Nhiều khu đô thị đã được phê duyệt đầu tư trên địa bàn Trên thực tế huyện là địa phương
có những bước phát triển khá nhanh và mạnh mẽ với nhiều dự án đã, đang và sẽ được thực hiện Vì vậy, để phát triển đúng hướng và bền vững công tác quản lý đất đai có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất
Huyện Thạch Thất đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, phương án quy hoạch sử dụng đất đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt
Trang 15tại QĐ số 7308/QĐ-UBND ngày 04/12/2013 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để địa phương thực hiện việc quản lý và sử dụng đất Sau một thời gian thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, huyện Thạch Thất đạt được nhiều kết quả mang lại sự phát triển kinh tế xã hội, hạ tầng kỹ thuật Tuy nhiên một số nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện triệt để, kéo dài qua các năm do nhiều nguyên nhân dẫn đến tính khả thi chưa cao Vì vậy việc đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất là một khâu quan trọng trong công tác lập phương án quy hoạch sử dụng đất phục vụ phát triển KTXH của huyện Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội nhằm tìm ra những tồn tại trong quá trình thực hiện
- Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Thạch Thất trong những năm tiếp theo, qua đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách trong việc ra quyết định sử dụng đất hiệu quả, qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội bền vững
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
2.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Theo FAO (1993): “ Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án quy hoạch sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án đã lựa chọn áp dụng vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất”
* Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất được xác định theo những quan điểm sau:
- Xét trên quan điểm đất đai là địa điểm của một quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất gắn với quy hoạch sản xuất về sở hữu và sử dụng, với lực lượng sản xuất và tổ chức sản xuất xã hội thì quy hoạch sử dụng đất nằm trong phạm trù kinh tế - xã hội; có thể xác định khái niệm quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, hiệu quả thông qua việc phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng và định hướng
tổ chức sử dụng đất trong các cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức đơn vị và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thực hiện đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái bền vững
- Xét trên quan điểm đất đai là tài nguyên quốc gia, một yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội, là nguồn lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội thì quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống đánh giá tiềm năng đất đai, những loại hình sử dụng đất và những dữ kiện kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn các giải pháp sử dụng đất tối ưu, đáp ứng với nhu cầu của con người trên cơ sở bảo vệ các nguồn tài nguyên lâu dài
- Xét trên quan điểm chức năng quản lý kinh tế của nhà nước, đất đai là tài sản quốc gia được sử dụng trong sự điều khiển và kiểm soát của Nhà nước thì quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp bố trí và sử dụng đất, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia theo lãnh thổ các cấp và
Trang 17theo các ngành kinh tế - xã hội Từ nhiều khía cạnh trên có thể rút ra khái niệm như sau: Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường (Đoàn Công Quỳ và cs., 2006)
2.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau (Đoàn Công Quỳ và cs., 2006):
* Tính lịch sử - xã hội: Qua mỗi giai đoạn lịch sử lại có các chế độ cai trị khác nhau, lịch sử phát triển của mỗi loại giai đoạn khác nhau Chính vì thế, ta có thể nói rằng lịch sử phát triển xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất thể hiện theo hai mặt: lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất ) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai Các công việc của con người như điều tra,
đo đạc, khoanh định, thiết kế đều liên quan chặt chẽ với đất đai, nhằm đưa đất đai vào sử dụng sao cho đầy đủ hợp lý và hiệu quả cao nhất Quy hoạch đất đai thể hiện động thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội
Mặt khác, ở mỗi nước khác nhau đều có luật đất đai riêng của mình Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai của các nước cũng có nội dung khác nhau Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội Bởi vì vậy, theo Luật đất đai thì đất đai nước ta thuộc sở hữu toàn 10 dân do nhà nước thống nhất quản lý và nhà nước giao đất cho các hộ gia đình và tổ chức
sử dụng Điều đó góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn, tạo điều kiện cho người dân làm chủ mảnh đất, tự tin trong sản xuất và đầu tư, giúp cho việc bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền
Trang 18kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn tồn tại của từng lợi ích kinh tế xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau
* Tính tổng hợp: Đất đai có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và các hoạt động xã hội Cho nên quy hoạch sử dụng đất mang tính tổng hợp rất cao, đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế, xã hội như: khoa học
tự nhiên, khoa học xã hội dân số và đất đai, sản suất công nông nghiệp, môi trường sinh thái Quy hoạch sử dụng đất đai thường động chạm đến việc sử dụng đất của sáu loại đất chính: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị,đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng, cũng như ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng đất đai của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đai lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất, nó phân bố,
bố trí và điều chỉnh các nhu cầu đất đai; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai các ngành, lĩnh vực xác định và điều phối phương thức, phương hướng phân bổ sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế -xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định
* Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ), từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm
Để đáp ứng được nhu cầu đất cho phát triển lâu dài kinh tế -xã hội, quy hoạch sử dụng đất đai phải có tính dài hạn Nó tạo cơ sở vững chắc, niềm tin cho các chủ đầu tư, tạo ra môi trường pháp lý ổn định
* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính dài hạn quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân
bố sử dụng đất với tính đại thể chứ không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài nhưng lại phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch thường là không cụ thể và chi tiết như trong kế hoạch ngắn và trung hạn do vậy nó chỉ có thể là một quy hoạch mang tính chiến lược chỉ đạo vĩ
mô Các chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa quy hoạch càng ổn định
Trang 19* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách
và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thể hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển
ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế
về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
* Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các
dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện
và tính phù hợp ngày càng cao
2.1.3 Các loại hình của quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch; phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết
Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2013 (Điều 42) quy định: quy hoạch
sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính đến cấp huyện, ngoài ra quy hoạch đất quốc phòng do Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện, quy hoạch đất an ninh do Bộ Công an tổ chức thực hiện
- Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các vùng kinh tế tự nhiên);
Trang 20- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao gồm: Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất của địa phương mình và để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm; làm căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm
2013 không quy định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính, tuy nhiên Luật Đất đai năm 2013 quy định không lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định riêng tại Điều 42
Tuy nhiên, có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy hoạch
sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng đất các xí
Trang 21nghiệp Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về tổ chức, kinh tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất như tư liệu sản xuất một cách hợp
lý để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn Nội dung quy hoạch đất đai của xí nghiệp rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Quy hoạch ranh giới địa lý; quy hoạch khu trung tâm; quy hoạch đất trồng trọt; quy hoạch thuỷ lợi; quy hoạch giao thông; quy hoạch rừng phòng hộ Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng
2.1.4 Nhiệm vụ, nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau về không gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch
sử khác nhau (về thời gian) là rất khác nhau (Viện Điều tra Quy hoạch đất đai, 1998)
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm: (1) Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất chưa sử dụng); (2) Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản
về sử dụng đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng đất đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số lượng
và chất lượng đất đai);
(3) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh (điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, phân phối hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành, đưa ra các chỉ tiêu khống chế - chỉ tiêu khung để quản lý vĩ mô đối với từng loại
sử dụng đất - 3 nhóm đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2013);
(4) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; (5) Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;
(6) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Trang 22Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: phân phối hợp
lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước Theo luật đất đai năm 2013 quy định quy hoạch sử dụng đất nước ta được phân chia thành 3 cấp: toàn quốc, cấp tỉnh, cấp huyện Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH KHẢ THI VÀ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
2.2.1 Bản chất và phân loại tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất
Về mặt bản chất, tính khả thi biểu thị khả năng thực hiện của phương án quy hoạch sử dụng đất khi hội tụ đủ một số điều kiện hoặc yếu tố nhất định cả về phương diện tính toán, cũng như trong thực tiễn
Như vậy, để nhìn nhận một cách đầy đủ về góc độ lý luận, tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao hàm “tính khả thi lý thuyết” được xác định và tính toán thông qua các tiêu chí với những chỉ tiêu thích hợp ngay trong quá trình xây dựng và thẩm định phương án quy hoạch sử dụng đất; “tính khả thi thực tế” chỉ có thể xác định dựa trên việc điều tra, đánh giá kết quả thực tế đã đạt được khi triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong thực tiễn Khi triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong điều kiện bình thường, sự khác biệt giữa “Tính khả thi lý thuyết’ và “tính khả thi thực tế” thường không đáng kể Tuy nhiên, không ít trường hợp luôn có những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
do tác động của nhiều yếu tố khó đoán trước được như: tính kịp thời về hiệu lực thực thi của phương án quy hoạch; nhận thức và tính nghiêm minh trong thực thi
Trang 23quy hoạch của các nhà chức trách và người sử dụng đất; các sự cố về khí hậu và thiên tai; những đột biến về mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; khả năng về các nguồn lực; áp lực mới về các vấn đề xã hội, thị trường, an ninh quốc phòng; tác động của nền kinh tế quốc tế
Tính khả thi của phương án quy hoạch có thể được đánh giá và luận chứng thông qua 5 nhóm tiêu chí sau (Võ Tử Can, 2006):
(1) Khả thi về mặt pháp lý, có thể bao gồm các tiêu chí đánh giá về: căn cứ
và cơ sở pháp lý để lập quy hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu: các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật; các quyết định, văn bản liên quan đến triển khai thực hiện dự án ; việc thực hiện các quy định thẩm định, phê duyệt phương
án quy hoạch sử dụng đất: thành phần hồ sơ và sản phẩm; trình tự pháp lý (2) Khả thi về phương diện khoa học - công nghệ, bao gồm:
- Cơ sở tính toán và xác định các chỉ tiêu sử dụng đất: tính khách quan của các yếu tố tác động đến việc sử dụng đất: điều kiện tự nhiên, định hướng phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng các định mức, tiêu chuẩn; xây dựng các dự báo theo quy luật phát triển khách quan; căn cứ theo mô hình mẫu
- Phương pháp công nghệ được áp dụng để xử lý tài liệu, số liệu và xây dựng tài liệu bản đồ
(3) Khả thi về yêu cầu chuyên môn - kỹ thuật, gồm các tiêu chí đánh giá về:
- Mức độ đầy đủ các nội dung chuyên môn theo các bước thực hiện quy hoạch và các nội dung cụ thể của phương án quy hoạch sử dụng đất
- Nguồn tư liệu và độ tin cậy của các thông tin phụ thuộc vào cách thức thu thập, điều tra, xử lý và đánh giá
- Tính phù hợp, liên kết (từ trên xuống dưới) của các chỉ tiêu sử dụng đất theo quy định trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất các cấp
(4) Khả thi về các biện pháp cần thiết để phương án quy hoạch thực hiện được Theo kinh nghiệm, tiêu chí này có thể được đánh giá căn cứ theo đặc điểm hoặc tính chất đầu tư của nhóm các biện pháp sau đây:
- Nhóm 1: là các biện pháp về tổ chức lãnh thổ (cần đầu tư kinh phí) nhằm tạo điều kiện không gian phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh và mục đích sử dụng đất của doanh nghiệp và người sử dụng đất) Cụ thể bao gồm: các biện pháp cần thiết khi thực hiện việc chu chuyển đất đai và chuyển đổi mục đích
Trang 24sử dụng (khai hoang, phục hoá, lấn biển, khôi phục mặt bằng sử dụng đất, cải tạo
cơ bản nhằm đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào
sử dụng ); xác định ranh giới và cơ cấu diện tích đất của các chủ sử dụng, cơ cấu diện tích cây trồng; xác lập các chế độ sử dụng đất đặc biệt (sử dụng đất tiết kiệm diện tích bề mặt, khai thác triệt để không gian và chiều sâu)
- Nhóm 2: bao gồm các biện pháp về xây dựng các hạng mục và thiết bị công trình trên lãnh thổ (xác định theo đặc điểm của khu vực và định hướng phát triển của doanh nghiệp và người sử dụng đất), cần lượng vốn đầu tư cơ bản khá lớn (gồm cả chi phí điều tra khảo sát, thiết kế cũng như vốn đầu tư để thực hiện công trình) và thực hiện theo dự án đầu tư hoặc thiết kế kỹ thuật chi tiết, như các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; hệ thống ruộng bậc thang trên đất dốc và các thiết bị công trình bảo vệ đất (chống rửa trôi, xói mòn, sạt lở đất); hệ thống công trình thuỷ lợi, ao hồ chứa nước (tưới tiêu, chống xâm nhập mặn, thau chua, rửa mặn, rửa phèn)
- Nhóm 3: bao gồm các biện pháp bảo vệ đất và môi trường sinh thái để phát triển bền vững (trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tăng độ che phủ của rừng, chắn sóng, chắn cát; bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng) Các biện pháp thuộc nhóm này được đề xuất trong phương án quy hoạch sử dụng đất tuỳ theo đặc điểm của lãnh thổ, phải đầu tư vốn cơ bản và cũng được triển khai thực hiện theo
dự án đầu tư hoặc luận chứng kinh tế - kỹ thuật
- Nhóm 4: Bao gồm các biện pháp không đòi hỏi vốn đầu tư cơ bản, nhưng được thực hiện bằng dự toán chi phí sản xuất bổ sung hàng năm của doanh nghiệp hoặc người sử dụng đất như nâng cao độ phì và tính chất sản xuất của đất, áp dụng các quy trình công nghệ gieo trồng tiên tiến, thực hiện các biện pháp kỹ thuật canh tác chống xói mòn, sử dụng các chế phẩm hoá học, bón phân, bón vôi Để triển khai thực hiện các biện pháp thuộc nhóm này, trong phương án quy hoạch sử dụng đất cần xác định rõ các thông số cần thiết về đặc điểm mang tính công nghệ của từng khu đất (như kích thước chiều dài - chiều rộng của khu đất, hiện trạng sử dụng, loại thổ nhưỡng, thành phần cơ giới, mức độ xói mòn, điều kiện địa hình, địa chất ), cũng như những kiến nghị về hướng cải tạo việc sử dụng đất
(5) Khả thi về các giải pháp tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch, được đánh giá theo nhóm các giải pháp gồm:
Trang 25- Các giải pháp về nguồn lực và kinh tế: huy động các nguồn lực về vốn và lao động để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án; giải quyết tốt việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án
- Các giải pháp về quản lý và hành chính: xác định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thực hiện và quản lý quy hoạch; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được quyết định, xét duyệt; kiểm soát chặt chẽ tình trạng tự phát chuyển đổi đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản hoặc chuyển sang sử dụng vào các mục đích khác không theo quy hoạch; thực hiện tốt việc đào tạo nghề, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề đối với lao động có đất bị thu hồi
- Các giải pháp về cơ chế chính sách: tạo điều kiện để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất nông nghiệp nhằm tăng hiệu quả
sử dụng đất, phù hợp với nhu cầu thị trường; bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có đất canh tác và đất ở; tổ chức tốt việc định canh, định cư; ổn định đời sống cho người dân được giao rừng, khoán rừng; khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ có liên quan đến sử dụng đất nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất 2.2.2 Bản chất và phân loại hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất
Hiệu quả là tổng hoà các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường mà quy hoạch sử dụng đất sẽ đem lại khi có thể triển khai thực hiện phương án trong thực tiễn (với phương án đã được đảm bảo bởi các yếu tố khả thi) Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế của xã hội Quá trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề
và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như các mối quan hệ sản xuất; hình thức sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất khác Với cách tiếp cận như trên, cần phải lưu ý một số vấn đề khi xem xét hiệu quả quy hoạch sử dụng đất như sau (Võ Tử Can, 2006):
(1) Hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất phải được đánh giá trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ về kinh tế cùng với việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phù hợp; (2) Khi xác định hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất cần xem đồng thời giữa lợi ích của những người sử dụng đất với lợi ích của toàn xã hội;
(3) Đất đai là yếu tố của môi trường tự nhiên, vì vậy cần phải chú ý đến các yêu cầu bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất, cũng như giữ gìn các đặc điểm sinh thái của đất đai;
Trang 26(4) Khi tính toán các chỉ tiêu hiệu quả cần tách bạch rõ phần hiệu quả đem lại của quy hoạch sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu đồng nhất về chất lượng và
có thể so sánh được về mặt số lượng (cần xác định hiệu quả theo từng nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất và từng đối tượng sử dụng đất);
(5) Phương án quy hoạch sử dụng đất là cơ sở để thực hiện các biện pháp (sẽ được cụ thể hoá trong các đề án quy hoạch chi tiết) như chuyển đổi
cơ cấu sử dụng đất, cải tạo và bảo vệ đất, xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, các dự án xây dựng công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh Vì vậy, cần tính đến hiệu quả của tất cả các biện pháp có liên quan được thực hiện cho đến khi định hình phương án quy hoạch sử dụng đất (bao gồm chi phí vốn đầu tư cơ bản và vốn quay vòng, các chi phí cần thiết để bồi thường thiệt hại và bảo vệ môi trường)
Do đặc điểm tổng hợp, nên việc đánh giá và luận chứng phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp Thông thường, khi đánh giá về góc độ kinh tế luôn chứa đựng cả vấn đề môi trường cũng như yếu tố xã hội của phương án (chính vì bất kỳ phát sinh bất lợi nào về vấn đề môi trường và xã hội sẽ không tránh khỏi tác động đến các kết quả kinh tế) Ngoài ra, khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ giải quyết đồng thời nhiều vấn đề riêng nhìn từ góc độ
kỹ thuật, cũng như về mặt quy trình sản xuất (yếu tố công nghệ) Như vậy, nội dung luận chứng tổng hợp và đánh giá phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao gồm các hợp phần sau: luận chứng và đánh giá về kỹ thuật; luận chứng và đánh giá về quy trình công nghệ; luận chứng và đánh giá về kinh tế; luận chứng và đánh giá tổng hợp (chứa đựng đồng thời các yếu tố KTXH - môi trường)
Luận chứng về kỹ thuật được thực hiện để đánh giá việc bố trí đất đai về mặt không gian của phương án quy hoạch sử dụng đất và về đặc điểm tính chất của đất (địa hình khu vực, thành phần, cơ giới đất, kết cấu địa chất, độ lớn khoanh đất, tình trạng khai thác khu đất, các trở ngại ) Khi lập quy hoạch, để luận chứng và đánh giá kỹ thuật sẽ sử dụng các tiêu chuẩn cho phép (hướng và cấp độ dốc cho phép đối với máy móc nông nghiệp, bề rộng giới hạn của các dải đất, giới hạn về kích thước thửa đất cho từng đối tượng sử dụng đất, diện tích tối
ưu đối với thửa đất, khoảng cách cho phép ) Các chỉ tiêu kỹ thuật được so sánh giữa các phương án quy hoạch với nhau hoặc so với tình trạng trước quy hoạch
sẽ cho phép đưa ra nhận định về mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra, mức độ cải thiện và những tồn tại, bất cập về điều kiện không gian của việc sử dụng đất
Trang 27Luận chứng về quy trình công nghệ nhằm đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu tái sản xuất mở rộng của việc tổ chức lãnh thổ đề ra trong phương án quy hoạch Các chỉ tiêu luận chứng và đánh giá thường biểu thị dưới dạng cân đối các nguồn lực, các loại sản phẩm Ngoài ra, còn đề cập đến các vấn đề khác như phân bố sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xuất, áp dụng các khu luân canh, chuyên canh (biểu thị thông qua các chỉ tiêu xác định nào đó)
Mục tiêu của luận chứng về kinh tế và luận chứng tổng hợp (KTXH- môi trường) nhằm xác định phương án, tính toán hiệu quả của các biện pháp đề ra trong quy hoạch, xác định các chỉ tiêu tổng hợp (biểu thị bằng tiền) đặc trưng cho hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất, so sánh những kết quả nhận được (do tổ chức hợp lý sản xuất) với các chi phí bổ sung
2.3 TÌNH HÌNH LẬP VÀ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới
Quy hoạch sử dụng đất của các nước trên thế giới mang tính đặc thù riêng, với những quy định về nội dung, phương pháp tiến hành khác nhau Song phổ biến nhất là dựa trên cơ sở quy hoạch không gian người ta tiến hành phân vùng
sử dụng đất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng khu vực Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất động sản tư nhân Tuy nhiên, mỗi phương án quy hoạch chi tiết đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về xây dựng và môi trường; các phương án quy hoạch chi tiết phải được công bố công khai và trưng cầu ý kiến của cộng đồng dân cư nơi có quy hoạch trước khi phê duyệt và triển khai Sau đây là một số kinh nghiệm về QHSDĐ của một số nước trên thế giới (Nguyễn Thảo, 2013 )
2.3.1.1 Về cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tại Trung Quốc, QHSDĐ được lập theo 4 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh), cấp huyện và cấp xã Tại Indonesia QHSDĐ vẫn chủ yếu dựa trên việc cải tạo và tu bổ các đô thị
cũ, tính chắp vá trong quy hoạch vẫn còn tồn tại và khá phổ biến
Ở các quốc gia phát triển như Đức, Mỹ quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với việc giải quyết các yêu cầu về môi trường, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả bền vững Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất tại các nước này có tính khả thi cao Những nguyên tắc về sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork từ năm 1916
Trang 28đến những năm 30 và hầu hết các Bang của nước Mỹ tuân thủ theo nguyên tắc này Đến những năm 70, các Bang ngày gặp phải một số vấn đề về môi trường và
sự bảo tồn các di tích lịch sử nên đòi hỏi phải có những nguyên tắc và tầm nhìn
xa hơn Từ đòi hỏi trên, Luật đất đai mới của Mỹ đã hình thành hệ thống quy hoạch sử dụng đất mới
Tại Malaysia và Indonesia có quy định quy hoạch tương đối giống nhau và giống Liên bang Úc Tuy nhiên, Malaysia đang có định hướng và đã tiến hành với Chính phủ Trung ương tách khu hành chính (Thủ đô hành chính) ra khỏi khu đô thị cũ, khu dân cư và khu thương mại Đây là phương án quy hoạch khá mới, một cách tiếp cận và tư duy hoàn toàn đổi mới Với phương án này Malaysia vừa bảo toàn được các khu phố cổ để duy trì du lịch, vừa có điều kiện hiện đại hóa các cơ quan công quyền, thực hiện Chính phủ điện tử vừa tránh được ùn tắc giao thông trong khu đô thị Một vấn đề đang đặt ra đối với Malaysia là Chính phủ cần có hỗ trợ để xây dựng các khu dân cư dành cho công chức tại các khu hành chính mới này Với quy hoạch các “Thủ đô hành chính” tạo điều kiện thuận lợi cho người dân
và các tổ chức khi thực hiện các thủ tục hành chính và thuận lợi cho các cơ quan kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của các cơ quan công quyền
2.3.1.2 Về nguyên tắc và căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tại Trung Quốc, việc lập quy QHSDĐ phải bảo đảm tuân thủ triệt để các nguyên tắc, như: sử dụng đất phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao nhất; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích sử dụng đất của các ngành kinh tế,
xã hội và các địa phương; tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người dân của cả nước… Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác Điều này được thể hiện rõ và xuyên suốt trong hệ thống pháp luật về đất đai của Trung Quốc Theo đó, trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì Hàng năm, căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu chuyển mục đích
sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác cho từng tỉnh Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ cụ thể cho từng đơn vị hành chính cấp huyện và
Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ kế hoạch sử dụng đất đến từng đơn vị xã để
Trang 29thực hiện Việc chuyển mục đích sử dụng đất canh tác sang sử dụng vào các mục đích khác phi nông nghiệp phải được phê duyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ Trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bị vi phạm thì tùy mức độ vi phạm
mà người đứng đầu địa phương sẽ bị xử lý hành chính hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu hồi (kể cả trường hợp đã đầu tư)
Ở Hà Lan, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá các tham số ở các địa phương: tham số kỹ thuật (chất lượng đất, đặc điểm địa hình, hiện trạng sử dụng, các khả năng cải thiện với bên ngoài ); tham số kinh tế (tiềm năng phát triển kinh tế); tham số văn hoá - xã hội (công trình văn hoá, nghệ thuật, bảo tồn các truyền thống văn hoá ); các giá trị
và tiêu chuẩn xã hội; tham số môi trường (mức độ ô nhiễm nước và đất, không khí) Việc đưa ra quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên cơ sở kết quả khảo sát các tham số này sẽ giúp chính quyền có được cái nhìn tổng quát và chi tiết nhất về đặc điểm của từng vùng, lãnh thổ; từ đó đưa ra bản quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp, hiệu quả và có tính bền vững
2.3.1.3 Về thẩm quyền lập, quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ở Trung Quốc, Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia và Cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đều có trách nhiệm chung là tổ chức lập và thực hiện quy hoạch đất quốc gia, quy hoạch tổng thể sử dụng đất; tham gia vào việc thẩm tra quy hoạch tổng thể đô thị trình Quốc vụ viện phê chuẩn Nhìn chung, Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia chỉ đạo và thẩm tra quy hoạch tổng thể sử dụng đất của địa phương; còn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, chỉ đạo và thẩm định quy hoạch tổng thể sử dụng đất của thành phố (thuộc tỉnh), huyện Cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất của cấp trên, tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tổng thể sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan cấp huyện Phòng tài nguyên đất đai cấp xã lập và thực hiện quy hoạch tổng thể sử dụng đất cấp xã, hợp tác và hỗ trợ làm tốt công tác lấy ý kiến quần chúng đối với quy hoạch Chính phủ phê duyệt QHSDĐ cấp quốc gia, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các thành phố thuộc tỉnh nhưng có trên 1 triệu dân Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất của cấp xã
Ở Hà Lan, quyền quyết định QHSDĐ cấp quốc gia thuộc về Nghị viện và Chính phủ Giúp việc cho các cơ quan này có Ủy ban Quy hoạch Không gian
Trang 30Nhà nước, Cơ quan Quy hoạch không gian Nhà nước và Hội đồng tư vấn quy hoạch không gian Tại cấp tỉnh, Ủy ban Quy hoạch không gian tỉnh và Cơ quan quy hoạch không gian tỉnh là các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Hội đồng tỉnh và Ban chấp hành Hội đồng tỉnh về đất đai Tại địa phương có Phòng Quy hoạch cấp huyện, Hội đồng Huyện và Ban Chấp hành Hội đồng huyện Tuy nhiên, chỉ có các huyện lớn mới có Phòng Quy hoạch cấp huyện Các huyện khác thuê các chuyên gia tư vấn tư nhân thực hiện các công việc quy hoạch như khảo sát, tư vấn và lập kế hoạch Huyện có 2 loại sơ đồ dùng cho chính sách quy hoạch là Sơ đồ bố trí tổ chức và Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất Hội đồng huyện sau khi thông qua Sơ đồ sẽ báo cáo lên Ban chấp hành Hội đồng tỉnh và Cơ quan Quy hoạch không gian nhà nước
2.3.1.4 Về kỳ quy hoạch
Ở Trung Quốc, theo quy định của Luật đất đai năm 1999 thì kỳ quy hoạch
sử dụng đất của các cấp là 10 năm Ở Canada, trước năm 2005 kỳ quy hoạch là
05 năm nhưng thực tế chứng minh là không hợp lý, nên hiện nay, Luật quy hoạch của Canada không quy định khoảng thời gian này Do đó, kỳ quy hoạch có thể rất linh hoạt, có thể thay đổi nhưng phải thực hiện các thủ tục phê duyệt theo quy định của Luật
2.3.1.5 Về quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ở Thụy Điển, quá trình lập quy hoạch quốc gia bao gồm hai bước Bước đầu tiên là tiến hành nghiên cứu về nhu cầu sử dụng đất từ các bộ, ngành, khu vực, chính quyền địa phương và chính quyền Trung ương; đồng thời, tham vấn
về nhu cầu sử dụng đất ưu tiên đối với mỗi lĩnh vực sử dụng đất (nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất điện, bảo vệ môi trường và văn hóa) Bước thứ hai là tham vấn các thành phố về ưu tiên của họ cho các nhu cầu cạnh tranh về sử dụng đất Chính quyền quận sẽ biên soạn các kết quả này và gửi cho Chính phủ và Quốc hội để quyết định trong các trường hợp có xung đột giữa lợi ích quốc gia với lợi ích khu vực hoặc địa phương
Ở Canada, công tác QHSDĐ được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật của cơ quan lập pháp của tỉnh (bang), với một đạo luật đặc biệt cho thành phố thủ
đô và một Luật quy hoạch cho 200 thành phố còn lại Theo Luật quy hoạch chính quyền tỉnh, mỗi thành phố lập kế hoạch phát triển và bản quy hoạch vùng (bao gồm kế hoạch chi tiết, các quy định về sử dụng đất và các tiêu chuẩn phát triển)
Kế hoạch phát triển phải tuân thủ các quy định, chính sách của tỉnh; các cơ quan
Trang 31khác phải được tham vấn trong quá trình chuẩn bị kế hoạch Nếu họ không đồng
ý với một kế hoạch phát triển được đề xuất, họ có thể khiếu nại đến một hội đồng đặc biệt và thường kế hoạch sẽ không được phê duyệt nếu có phản đối này Việc giải quyết xung đột thường được thực hiện thông qua thương lượng, thỏa thuận giữa các bên
2.3.2 Tình hình về nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
2.3.2.1 Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960
Ở giai đoạn 1930 - 1945, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ ở một số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su, cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp
Từ năm 1946 đến 1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm 1953, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953) Mục đích cải cách ruộng đất là tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến
Ở miền Nam có những đề án thiết lập quy hoạch sử dụng đất đai về xây dựng các đồn điền, các khu công nghiệp nhỏ lẻ, các khu vực dân cư đô thị và nông thôn, các khu vực bến xe, bến cảng phục vụ mục đích quân sự “Một ví
dụ về quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ giáo dân khá tiêu biểu là đồ án Quy hoạch sử dụng đất đai khu vực xung quanh Toà Thánh Tây Ninh tiến hành năm 1952”
“Từ sau khi hoà bình lập lại, ở miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh
tế sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất tiếp đến là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp” “Trên toàn miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài” Đây là thời kỳ quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, tự túc, khôi phục và kế thừa truyền thống cây trồng vật nuôi, phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thể của chế độ xã hội chủ nghĩa
Trang 322.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975
Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “quy hoạch sử dụng đất đai cũng đồng thời được đặt ra (chính xác là năm 1962), các
bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào
đó cho những mục đích đơn lẻ”
Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai
đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất “Nó là một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản
lý sản xuất nông nghiệp ngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này”
2.3.2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra cơ bản trên phạm vi cả nước “Vào cuối năm 1978 lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt” Trong các tài liệu này đều đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông… cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới Thực tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại
Trang 33vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này không được bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ lực như cao su, cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ… trong cùng một địa bàn cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy việc Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/QH ngày 24/5/1979 của
Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất; Nghị định
số 404/CP ngày 09/11/1979 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất)
Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng nhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp (9/1979); xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (10/1979); thông báo về
“khoán” sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệt phải kể đến Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”
mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quy hoạch sử dụng đất đai
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982)
đã quyết định: “xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Trong chương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 - 2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề về tài nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai; coi đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động và vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví như 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước hết sức sôi động
Như vậy, đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai mà thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ
Trang 34yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị
Tiếp theo đó là thời kỳ Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa
về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11 tức là quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng
Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý ruộng đất lần đầu tiên ra Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15/4/1991 hướng dẫn về quy hoạch phân
bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung như sau: xác định ranh giới
về quản lý, sử dụng đất; điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất; phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt; một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai
Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn cứ theo Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch
sử dụng đất đai cho hàng trăm xã Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức, phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế “Đại đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu Vấn đề này có mặt được nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà ở với số lượng lớn mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạo nên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị”
2.3.2.4 Giai đoạn từ Luật đất đai 1993 đến Luật Đất đai 2003
Giai đoạn này nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện quá trình công
Trang 35nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp
- công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp đã và đang gây
áp lực ngày càng lớn đối với đất đai Tháng 7 năm 1993 Luật Đất đai được công
bố Trong các Luật này, những điều khoản về quy hoạch sử dụng đất đai đã được
cụ thể hóa hơn so với Luật Đất đai 1988, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất Cơ sở pháp lý về công tác lập quy hoạch sử dụng đất của giai đoạn này được thể hiện cụ thể ở các mặt sau:
- Sự cần thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất: Trong Luật đất đai 1993 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” (Điều 1), xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là “Quy hoạch
và kế hoạch hóa việc sử dụng đất” (Điều 13), căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” (Điều 19); “Đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp trong cả nước…” (Nghị quyết số 01/1997/QH9 Quốc hội khóa 9, kỳ họp thứ 11 thông qua kế hoạch sử dụng đất đai cả nước trong thời hạn 5 năm từ 1996 đến 2000)
- Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính, theo ngành cũng như trách nhiệm của ngành Địa chính về công tác này (Điều 16 - Luật Đất đai 1993)
- Nội dung tổng quát của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 17 - Luật Đất đai 1993)
- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 18 - Luật Đất đai 1993)
Cùng với các văn bản có tính pháp lý ở mức độ cao (Hiến pháp và Luật Đất đai), còn có các văn bản dưới luật và các văn bản ngành, cũng như các văn bản của từng địa phương (dưới các hình thức Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Công văn…) trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.3.2.5 Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 2003 đến nay
a Công tác lập quy hoạch sử dụng đất
Đây là thời kỳ mà công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta được triển khai thực hiện và điều chỉnh theo các quy định của pháp luật đất đai hiện hành, cụ thể như sau:
Trang 36Điều 18 Chương II Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” Căn cứ quy định của Hiến pháp, pháp luật đất đai đã không ngừng hoàn thiện các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất đai Luật Đất đai 2003 đã có một mục riêng (mục 2) tại Chương 2, gồm 10 điều (từ Điều 21 đến Điều 30) về
cơ sở pháp lý liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai đã dành riêng Chương III gồm 18 điều (từ Điều 12 đến Điều 29) để
cụ thể hóa những vấn đề cơ sở pháp lý liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành riêng một Mục 1 gồm 8 Điều quy định rõ nội dung quy hoạch sử dụng đất theo từng loại quy hoạch sử dụng đất của 4 cấp (Quốc gia, tỉnh, huyện, xã) và quy định cụ thể nội dung quy hoạch sử dụng đất của từng cấp đảm bảo phù hợp với yêu cầu quản lý và khả năng tổ chức thực hiện của cấp đó
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, gồm: Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất; Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 24/10/2005 về việc ban hành định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 2 tháng 11 năm 2009 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho việc triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật đất đai đến thời điểm này cho thấy những vấn đề liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cho quy định khá đầy đủ, cụ thể và rõ ràng theo các nội dung:
+ Loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Trang 37+ Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; + Việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cấp quốc gia được lập theo quy định của Luật Đất đai 2003, có một số nội dung chưa phù hợp với quy định của Luật Đất đai 2013 Do đó, Luật Đất đai 2013 (khoản 1 Điều 51) đã quy định: đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt trước ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành thì phải rà soát, điều tra bổ sung để điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho phù hợp với quy định của Luật này khi lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2016-2020)
b Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010-2015 của cả nước
Chính phủ đã xây dựng trình Quốc Hội ban hành Luật Đất đai năm 2013 và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai kịp thời, đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kịp thời phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Chính phủ đã phê duyệt và chỉ đạo thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011
- 2015) cho 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; QHSDĐ quốc phòng, đất an ninh; ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; về sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp; về quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiêp, cụm công nghiệp; rà soát, điều chỉnh quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, quyết định về việc đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác thống kê, kiểm kê đất đai; phê duyệt đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành quản lý đất đai Chính phủ đã tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện việc rà soát, sửa đổi các nội dung quy định của các văn bản hướng dẫn theo hướng cải cách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp Chính phủ đã ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Về kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo Nghị quyết của Quốc hội như sau:
Trang 38Nhóm đất nông nghiệp
Đến năm 2015, tổng diện tích các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp là 26.791,58 nghìn ha, tăng 565,19 nghìn ha so với năm 2010, kết quả thực hiện một số loại đất trong nhóm đất nông nghiệp như sau:
Đất trồng lúa: trong giai đoạn 2010 - 2015, diện tích đất trồng lúa được giảm 169,18 nghìn ha Kết quả thực hiện đến năm 2015 cả nước có 4.030,75 nghìn ha, giảm gần 90 nghìn ha so với năm 2010
Đất rừng phòng hộ: diện tích đất rừng phòng hộ phải tăng thêm 30,53 nghìn ha và đạt 5.826 nghìn ha vào năm 2015 Kết quả thực hiện đến năm 2015
cả nước có 5.648,99 nghìn ha, thấp hơn so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội là 177,01 nghìn ha
Đất rừng đặc dụng: năm 2015, cả nước có 2.210,25 nghìn ha đất rừng đặc dụng, tăng 71,05 nghìn ha; cơ bản đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội Diện tích đất rừng đặc dụng tăng chủ yếu do thành lập mới và mở rộng một số khu bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái đặc thù; bảo tồn quỹ gen, đa dạng sinh học
Đất rừng sản xuất: năm 2015, cả nước có 7.840,91 nghìn ha đất rừng sản xuất, tăng 409,11 nghìn ha (do khoanh nuôi, trồng mới rừng) từ đất chưa sử dụng
và chuyển đổi nội bộ 3 loại rừng; cơ bản đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (7.917 nghìn ha)
Đất nuôi trồng thuỷ sản: giai đoạn 2010 - 2015, đất nuôi trồng thuỷ sản được bổ sung 59,28 nghìn ha từ đất trồng lúa bị nhiễm mặn, đất rừng và đất chưa
sử dụng Năm 2015 diện tích đất nuôi trồng thủy sản có 749,11 nghìn ha, cơ bản đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội
Đất làm muối: Giai đoạn 2011-2015, đất làm muối chuyển đổi sang các loại đất khác là 1,16 nghìn ha; năm 2015, cả nước có 16,70 nghìn ha đất làm muối, cao hơn gần 2 nghìn ha so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội
Nhóm đất phi nông nghiệp
Năm 2015, diện tích các loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp là 4.049,11 nghìn ha, tăng 399,02 nghìn ha so với năm 2010, kết quả thực hiện một
số loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp như sau:
Đất quốc phòng: Năm 2015, cả nước có 252,52 nghìn ha đất quốc phòng, đạt 67,88% so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội
Trang 39Đất an ninh: Năm 2015, cả nước có 56,58 nghìn ha đất an ninh, đạt 72,38%
so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội Việc giảm diện tích đất quốc phòng, đất an ninh là do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đã phối hợp với địa phương rà soát, chỉ đưa vào những công trình thực sự cần thiết, một phần diện tích chuyển trả cho các địa phương để sử dụng vào mục đích dân sự
Đất khu công nghiệp: Theo Nghị quyết của Quốc hội, đến năm 2015, diện tích đất khu công nghiệp phải đạt được 130 nghìn ha Kết quả thực hiện đến hết năm 2015, diện tích đất khu công nghiệp có 103,32 nghìn ha, tăng thêm 31,33 nghìn ha so với năm 2010, đạt 79,48% so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội
Đất giao thông: Năm 2015, diện tích đất giao thông có 691,18 nghìn ha, tăng 91,65 nghìn ha so với năm 2010, do xây dựng, nâng cấp, cải tạo trên 4,5 nghìn km đường quốc lộ, 70 nghìn km đường giao thông nông thôn,…
Đất thủy lợi: Năm 2015, diện tích đất thủy lợi có 391,46 nghìn ha, tăng 18,58 nghìn ha so với năm 2010 (bình quân 3,72 nghìn ha/năm) Đất thủy lợi tăng do xây dựng và hoàn thiện trên 200 công trình thuỷ lợi lớn (xây dựng mới được khoảng 100 công trình), trên 1.000 km kênh trục lớn, …
Đất cơ sở văn hoá: Năm 2015, diện tích đất cơ sở văn hoá có 19,62 nghìn
ha, tăng 4,25 nghìn ha so với năm 2010, cao hơn 2,23 nghìn ha so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (17,39 nghìn ha)
Đất cơ sở y tế: Năm 2015, diện tích đất cơ sở y tế có 8,20 nghìn ha, tăng 2,42 nghìn ha so với năm 2010, cao hơn 0,69 nghìn ha so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (7,51 nghìn ha)
Đất cơ sở giáo dục - đào tạo: Năm 2015, diện tích đất cơ sở giáo dục - đào tạo có 50,34 nghìn ha, tăng 9,12 nghìn ha so với năm 2010; tuy nhiên vẫn còn thấp hơn 14,76 nghìn ha so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (65,10 nghìn ha)
Đất cơ sở thể dục - thể thao: Năm 2015, diện tích đất cơ sở thể dục - thể thao có 21,45 nghìn ha, tăng 5,17 nghìn ha so với năm 2010; tuy nhiên vẫn còn thấp hơn 5,99 nghìn ha so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (27,44 nghìn ha) Trong đó có 9,27 nghìn ha đất làm sân golf với 58 sân golf thuộc 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 40Đất di tích, danh thắng: Năm 2015, cả nước có 26,53 nghìn ha đất di tích, danh thắng tăng 9,21 nghìn ha so với năm 2010, cao hơn 2,53 nghìn ha so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (24 nghìn ha)
Đất bãi thải, xử lý chất thải: Năm 2015, cả nước có 12,26 nghìn ha đất bãi thải, xử lý chất thải, tăng 4,39 nghìn ha so với năm 2010, thấp hơn 3,74 nghìn ha
so với chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc Hội (16,00 nghìn ha)
Nhóm đất chưa sử dụng
Trong 5 năm qua (2011-2015) cả nước đã khai thác đưa vào sử dụng 875,88 nghìn ha đất chưa sử dụng (hiện nay cả nước còn 2.288 nghìn ha), trong đó chủ yếu cho mục đích khoanh nuôi phục hồi rừng và trồng rừng
2.3.3 Khái quát tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất thành phố Hà Nội hiện nay
Thực hiện chỉ đạo của Bộ TN & MT, các Sở, ngành liên quan thành phố Hà Nội vừa ra soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố
Theo đó, về lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020: Thực hiện chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia, ngày 13/11/2015, UBND thành phố có tờ trình
số 83/TTr-UBND trình HĐND thành phố thông qua điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) thành phố Hà Nội
Ngày 2/12/2015, HĐND thành phố đã ban hành Nghị quyết số HĐND ngày 2/12/2015 thông qua làm cơ sở báo cáo Chính phủ phê duyệt theo quy định
12/NQ-Thực hiện Văn bản số 1927/TTg-KTN ngày 2/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ có phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2020 cấp quốc gia, ngày 19/1/2017 UBND thành phố đã có Tờ trình số 153/TTr-UBND trình Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của thành phố Hà Nội Ngày 13/3/2017, Bộ TN&MT có Thông báo số 42/TB-BTNMT về kết quả thẩm định
Ngày 12/5/2017, UBND thành phố Hà Nội có Báo cáo số 105/BC-UBND tiếp thu, giải trình ý kiến của Hội đồng thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của Bộ TN&MT và có Tờ trình số 25/TTr-UBND trình Chính phủ phê