1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây kim ngân (lonicera japonica thunb ) tại thanh trì hà nội

138 32 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐỖ THỊ BÉ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY KIM NGÂN LONICERA JAPONICA THUNB..

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THỊ BÉ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG

VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY KIM NGÂN

(LONICERA JAPONICA THUNB.) TẠI THANH TRÌ – HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ninh Thị Phíp

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này

là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tác giả xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Bé

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Cây công nghiệp và Cây thuốc, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt đề tài này

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ths Phạm Thị Thu Thủy cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên thuộc Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc – Viện Dược liệu đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi bố trí thí nghiệm, thực hiện đề tài nghiên cứu, cung cấp tư liệu khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh em, bạn bè những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn

Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Bé

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

2.1 Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật của cây kim ngân 4

2.1.1 Nguồn gốc và vị trí phân loại 4

2.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây kim ngân 7

2.2 Yêu cầu sinh thái của cây kim ngân 9

2.2.1 Ánh sáng 9

2.2.2 Nhiệt độ 9

2.2.3 Ẩm độ 10

2.2.4 Yêu cầu đất đai, dinh dưỡng 10

2.3 Thành phần hóa học 10

2.4 Giá trị của cây kim ngân 12

2.4.1 Giá trị kinh tế 12

2.4.2 Tác dụng sinh học và giá trị sử dụng 12

2.5 Quy trình kỹ thuật trồng cây kim ngân 15

2.5.1 Giống 15

2.5.2 Chăm sóc 15

2.6 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 16

2.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 16

Trang 5

2.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 18

2.7 Những nghiên cứu về mật độ trồng 19

2.7.1 Cơ sở khoa học của xác định mật độ trồng hợp lý 19

2.7.2 Những nghiên cứu về mật độ trồng hợp lý cho cây trồng 19

2.7.3 Một số nghiên cứu xác định mật độ trồng đối với cây dựơc liệu 20

2.8 Những nghiên cứu về bón phân cho cây trồng 22

2.8.1 Cơ sở khoa học của bón phân 22

2.8.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng dinh dưỡng qua lá 24

2.8.3 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá trên thế giới và Việt Nam 27

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Địa điểm nghiên cứu 32

3.2 Thời gian nghiên cứu 32

3.3 Vật liệu nghiên cứu 32

3.4 Nội dung nghiên cứu 33

3.5 Phương pháp nghiên cứu 33

3.5.1 Bố trí thí nghiệm 33

3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 36

3.5.3 Xử lý số liệu 37

Phần 4 Kết quả và thảo luận 38

4.1 Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng và công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây kim ngân 38

4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng kim ngân 38

4.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của kim ngân 39

4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân bón đến động thái ra lá kim ngân 42

4.1.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến ộng thái tăng trưởng đường kính thân của kim ngân 44

4.1.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới động thái phân cành của cây kim ngân 46

4.1.6 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến chỉ số SPAD 48

4.1.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) kim ngân 50

4.1.8 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới khối lượng chất khô kim ngân 52

Trang 6

4.1.9 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới khả năng chống chịu của

cây kim ngân 54

4.1.10 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến năng suất kim ngân 55

4.1.11 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến hiệu quả kinh tế cây kim ngân 57

4.1.12 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân bón đến lượng Loganin của cây kim ngân 58

4.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất kim ngân 59

4.2.1 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây kim ngân 59

4.2.2 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá của cây kim ngân 60

4.2.3 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng đường kính thân của kim ngân 61

4.2.4 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới động thái phân cành của cây kim ngân 62

4.2.5 Ảnh hưởng bổ sung một số loại phân bón lá đến chỉ số SPAD 63

4.2.6 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới khối lượng chất khô kim ngân 64

4.2.7 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới khả năng chống chịu của cây kim ngân 65

4.2.8 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới năng suất của cây kim ngân 66

4.2.9 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới hàm lượng Loganin của cây kim ngân 67

4.2.10 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến hiệu quả kinh tế của cây kim ngân 68

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Kiến nghị 70

Tài liệu tham khảo 71

Phụ lục 77

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến các giai đoạn sinh

trưởng kim ngân 38Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới động thái tăng trưởng

chiều cao cây kim ngân 40Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới động thái ra lá của cây

kim ngân 43Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới đường kính thân của

cây kim ngân 45Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới phân cành của cây kim

ngân 47Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới chỉ số SPAD của cây

kim ngân 49Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón tới diện tích lá/cây và chỉ

số diện tích lá (LAI) kim ngân 51Bảng 4.8 Ảnh hưởng tương tác giữa mật độ và lượng phân bón đến khối lượng

chất khô kim ngân 53Bảng 4.9 Ảnh hưởng tương tác giữa mật độ và lượng phân bón đến khả năng

chống chịu sâu bệnh hại cây kim ngân 54Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến năng suất thân lá kim

ngân 56Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến hiệu quả kinh tế cây

kim ngân 57Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến lượng Loganin của cây

kim ngân 58Bảng 4.13 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng

trưởng chiều cao cây kim ngân 59Bảng 4.14 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng

trưởng số lá cây kim ngân 60Bảng 4.15 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới đường kính thân

của cây kim ngân 62

Trang 8

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái phân

cành của kim ngân 63Bảng 4.17 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá tới chỉ số SPAD kim

ngân 64Bảng 4.18 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến khối lượng chất

khô của cây kim ngân 65Bảng 4.19 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến khả năng chống

chịu sâu bệnh hại của cây kim ngân 65Bảng 4.20 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến năng suất thân lá

của cây kim ngân 66Bảng 4.21 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến lượng Loganin

của cây kim ngân 67Bảng 4.22 Hiệu quả kinh tế khi bổ sung một số loại phân bón lá cây kim ngân 68

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cấu trúc hóa học của một số hợp chất chính trong dược liệu kim ngân

hoa và kim ngân cuộng (Nguyễn Thành Công, 2015) 11Hình 4.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây kim ngân 41Hình 4.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến động thái ra lá của cây

kim ngân 44Hình 4.3 Cây kim ngân giai đoạn 60 ngày sau trồng 46Hình 4.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến động thái phân cành

của cây kim ngân 48Hình 4.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến năng suất kim ngân 57Hình 4.6 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng

trưởng chiều cao cây kim ngân 59Hình 4.7 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái tăng

trưởng số lá cây kim ngân 61Hình 4.8 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến động thái phân

cành của cây kim ngân 63Hình 4.9 Ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến năng suất của

cây kim ngân 67

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đỗ Thị Bé

Tên luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) tại Thanh Trì – Hà Nội.”

Phương pháp nghiên cứu

- Bố trí thí nghiệm: Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng và công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây kim ngân theo phương pháp thí nghiệm đồng ruộng kiểu ô lớn ô nhỏ (Split – plot)

- Bố trí thí nghiệm: Đánh giá ảnh hưởng của bổ sung một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây kim ngân theo phương pháp thí nghiệm đồng ruộng chuẩn RCB

- Xử lý số liệu theo chương trình IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel để tính các tham số thống kê cơ bản và tính sai số thí nghiệm

Kết quả chính và kết luận

- Trên đất Thanh Trì trồng kim ngân với mật độ 27.800 cây/ha (khoảng cách cây

x hàng 60x60 cm, 1 cây/hố trồng) và mức phân bón: Nền + 80 kg N/ha + 60 kg P2O5/ha + 80 kg K2O/ha) đã thể hiện khả năng sinh trưởng phát triển của cây khá, cho năng suất cao, chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao, đề nghị tiếp tục nghiên cứu để phát triển trong sản xuất

- Khuyến cáo: trong quá trình chăm sóc nên bổ sung thêm phân bón lá Black Earth Organo Liquid Hume cho cây để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Do Thi Be

Thesis title: “The research effect of planting and fertilizer density on the growth, development and productivity of the honeysuckle (Lonicera japonica Thunb.) in Thanh Tri - Ha Noi”

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

Research on determined density of planting, NPK fertilizer formula and the suitable foliar fertilizer for honeysuckle for productivity, quality of medicine and high economic efficiency

Materials and Methods:

Experimental design: Evaluate the effect of planting density and fertilizer formula on the growth, development and yield of hippopotami using the Split-plot field method

Experimental design: Evaluate the effect of supplementation of some foliar fertilizers on the growth, development and yield of hippopotamus by RCB field trials

Data processing under the IRRISTAT 5.0 program, Microsoft Excel to calculate the basic statistical parameters and experimental error

Main findings and conclusions:

On Thanh Tri soil, planted with a density of 27,800 trees / ha (60 x 60 cm per tree rows / plant) and fertilizer level: + 80 kg N / ha + 60 kg P2O5 / ha + 80 kg K2O / ha) has demonstrated the ability to grow and grow well, high productivity, good quality, high economic efficiency, suggested to continue research to develop in production

Recommendation: During the care should add black foliage Organo Liquid Hume leaves for the tree to achieve higher economic efficiency

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam những năm gần đây sự bùng nổ dân số, công nghiệp hóa ồ ạt làm cho môi trường sống của chúng ta trở nên suy thoái nghiêm trọng kèm theo đó là dịch bệnh phát triển Biến đổi khí hậu đang là một vấn đề được cả thế giới quan tâm trong đó Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai Chính vì vậy trong sản xuất nông nghiệp nhiều loài cây trồng cũ dần được thay thế bằng những cây trồng mới có khả năng thích nghi cao với những điều kiện bất thuận của môi trường

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên rất đa dạng và phong phú, có nhiều loài động – thực vật có thể làm thuốc, có nền y học cổ truyền phát triển lâu đời, người dân có kinh nghiệm chế biến và sử dụng cây thuốc, động vật để làm thuốc chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền một cách hiệu quả Để nâng cao giá trị sử dụng, chủ động nguồn động – thực vật thuốc, các nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu khả năng nuôi trồng trong điều kiện nhân tạo, từng bước chứng minh công dụng của thuốc bằng khoa học hiện đại để giúp cho việc khai thác, sử dụng bền vững và hiệu quả hơn

Trong số những loài cây đang được đưa vào các mô hình sản xuất nông nghiệp thì cây kim ngân được đánh giá cao về giá trị chữa bệnh và hiệu quả kinh

tế mà nó đem lại Cây kim ngân hoa có tên khoa học là Lonicera japonica Thunb Thuộc họ Cơm cháy Caprifoliaceae Kim ngân là cây leo bằng thân quấn, cành non có lớp lông bao phủ Kim ngân được thu hái làm thuốc là chủ yếu Sản phẩm thu hái là thân lá hoặc hoa tùy thuộc vào mục đích sử dụng

Theo tài liệu, kinh nghiệm nhân dân cũng như trên thực tế, kim ngân thường được dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác chữa mụn nhọt, mày đay, lở ngứa ban sởi, tả, lỵ, ho do phế nhiệt, ứng dụng điều trị thấp khớp, viêm mũi dị ứng hạ sốt, làm dễ tiêu, lợi tiểu Ngoài ra kim ngân còn có tác dụng cải thiện chuyển hoá chất béo trong bệnh tăng lipid máu, sau khi uống thuốc các ester trong huyết thanh giảm Nước cất nụ hoa kim ngân (kim ngân hoa lệ) được dùng tiêm để điều trị bệnh nhiễm khuẩn

Vị thuốc kim ngân có mặt trong rất nhiều bài thuốc dân gian và Y học cổ truyền, có thể kể đến một số bài thuốc cổ như: Ngân kiều tán, Ngũ vị tiêu độc

Trang 13

ẩm, Tiên phương hoạt mệnh ẩm (Đỗ Tất Lợi, 2004) Y học hiện đại cũng đã

có nhiều nghiên cứu chứng minh các tác dụng của kim ngân trên mô hình in vitro và in vivo như: tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa, kháng virus (Lê Thị Diễm Hồng, 2002; Đỗ Tất Lợi, 2004; Eun et al., 2010; Xiaofei et al., 2011)

Tuy nhiên, để phát triển bền vững cây thuốc quý cần phải nghiên cứu một cách bài bản về đặc tính nông sinh học, đặc biệt các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất và chất lượng dược liệu, trong đó kỹ thuật sử dụng phân bón

và mật độ trồng là rất quan trọng Hiện nay, các nghiên cứu tại Việt Nam chỉ mới tập trung chú trọng vào tác dụng chữa bệnh, kĩ thuật trồng, công nghệ chế biến

mà ít có công trình nào nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và sinh khối thu được của cây kim ngân

Vì vậy, để có đánh giá đầy đủ về khả năng sinh trưởng - phát triển, khả năng thích ứng của cây trong điều kiện nhân tạo và xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng

và phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) tại Thanh Trì – Hà Nội”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài nhằm xác định mật độ trồng, công thức bón phân NPK và

bổ sung loại phân bón qua lá phù hợp góp phần xây dựng quy trình trồng cây kim ngân trong sản xuất cho năng suất, chất lượng dược liệu và hiệu quả kinh tế cao 1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: cây kim ngân

Thời gian nghiên cứu: 7/2016 – 9/2017

Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc

Trang 14

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc xác định được mật độ trồng, lượng phân bón thích hợp đối với cây kim ngân sẽ góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất thâm canh cây kim ngân

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA CÂY KIM NGÂN

2.1.1 Nguồn gốc và vị trí phân loại

2.1.1.1 Nguồn gốc

Cây kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) có nguồn gốc ở vùng Đông Á, phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên (Viện Dược Liệu, 2004) Ở Trung Quốc, kim ngân đã được trồng và sử dụng làm thuốc từ lâu Ngày nay, kim ngân đã được trồng rộng rãi trên toàn thế giới và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Ở Việt Nam hiện nay kim ngân được trồng khá phổ biến, ở

cả thành thị và nông thôn, vừa được dùng làm cảnh, vừa được dùng làm thuốc 2.1.1.2 Vị trí phân loại

Theo hệ thống phân loại của APG II (USA) năm 2003, kim ngân có tên khoa học là Lonicera japonica Thunb., thuộc giới thực vật (Plantae), ngành hạt kín (Magnoliophyta), lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), bộ Tục đoạn (Dipsacales),

họ Kim ngân (Caprifoliaceae), chi Kim ngân (Lonicera) Trong họ Kim ngân có

220 loài, 5 chi Trong chi Kim ngân có 180 loài trong đó có 5 loài chính hay gặp

và sử dụng đó là kim ngân hoa (Lonicera japonica Thunb.), kim ngân lông (Lonicera cambodiana Pierre.), kim ngân rừng (Lonicera confusa D.C.) và Lonicera dasystyla Rehd., Lonicera macrantha D.C (Lê Trần Đức, 1987)

Hiện nay tất cả các loài kim ngân đều có tác dụng làm thuốc và làm cảnh,

ở Việt Nam thấy chủ yếu dùng 3 loài đó là kim ngân hoa, kim ngân lông, kim ngân rừng Tuy nhiên, ở miền Trung thì dùng chủ yếu là kim ngân hoa, còn miền Bắc thì dùng chủ yếu là kim ngân lông

2.1.1.3 Tính đa dạng các loài trong chi Lonicera L ở ViệtNam

Có 10 loài kim ngân đã được xác định tìm thấy ở Việt Nam bao gồm: Kim ngân trung bộ (Lonicera annamensis Fukuoka); kim ngân nhọn (Lonicera acuminata Wall in Roxb.); kim ngân rừng (Lonicera bournei Hemsl.); kim ngân lông (Lonicera cambodiana Pierre ex Danguy); kim ngân lẫn, kim ngân núi (Lonicera confusa DC.), kim ngân dại, kim ngân vòi nhám (Lonicera dasystyla Rehd.); kim ngân, nhẫn đông (Lonicera japonica Thunb.); kim ngân quả to, kim

Trang 16

ngân Hildebrandia (Lonicera hildebrandia Coll et Hemsl.); kim ngân mốc (Lonicera hypoglauca Miq.); kim ngân hoa to, kim ngân lông (Lonicera macrantha (D Don) Spreng.) (Võ Văn Chi, 2012; Phạm Hoàng Hộ, 1999; Đỗ Tất Lợi, 2004)

a Kim ngân trung bộ (Lonicera annamensis Fukuoka)

Bụi leo cao 5-6 m Lá mọc đối; phiến xoan tròn dài đến tròn dài, to 4-8 ×

2-4 cm, gốc cắt ngang hay hơi lõm, ngọn có mũi, gân phụ 3-5 cặp, không lông; cuống 5-7 mm Cụm hoa ở nách lá; cuống 4-17 mm, không lông, tím tím, lá bắc có lông; đài có 5 thùy cao 2 mm có lông, tràng hoa dài 7-7,5 cm, không lông ở mặt ngoài, môi dài 2 cm; bầu không lông, 3 ô, cao 2-2,5 mm (Phạm Hoàng Hộ, 1999)

b Kim ngân nhọn (Lonicera acuminata Wall inRoxb.)

Dây leo, thân và lá có lông màu nâu Lá có phiến bầu dục, gốc tròn hay hình tim, ngọn có mũi, gân lồi ở mặt dưới; cuống 5-7 mm Cụm hoa ngắn ở ngọn nhánh; hoa vàng có sọc đỏ hay cam; tràng hoa có ống, có 5 thùy đứng, thon, mặt ngoài có lông, dài 2,5 cm; nhị 5 Quả mọng (Võ Văn Chi, 1999; Phạm Hoàng

Hộ, 1999)

c Kim ngân rừng (Lonicera bourneiHemsl.)

Cây nhỡ, leo, hình trụ, có lông ngắn màu hơi vàng Lá có phiến hình trái xoan - ngọn giáo, dài 2-7 cm, rộng 2-3,5 cm, tròn ở gốc, nhọn ở đầu, màu lục, nhẵn bóng ở mặt trên, nhạt hơn ở mặt dưới, gân và mép lá có lông Cụm hoa xim

ở ngọn các nhánh Hoa màu vàng, ống mảnh và dài; 5 cánh hoa mà 2 cái hợp thành một môi (Võ Văn Chi, 1999)

d Kim ngân lông (Lonicera cambodiana Pierre exDanguy)

Cây dây leo bằng thân quấn, nhiều khi cao tới 9m Cành có nhiều lông xù xì gồm lông đơn, cứng, hơi xám và lông tuyến có hình trái xoan, phiến lá dài 5-12

cm, rộng 3-6 cm, tròn hay gần hình tim ở gốc, nhọn ở đầu; mép nguyên, hơi cuộn xuống phía dưới, nhẵn ở mặt trên, có lông xù xì ở mặt dưới, nhất là trên các gân Cụm hoa xim hai hoa ở nách các lá gần ngọn, có lông xù xì (Võ Văn Chi, 2012)

e Kim ngân lẫn, kim ngân núi (Lonicera confusa DC.)

Cây leo 2-4 m Cành có lông hơi xám Lá có lông, phiến lá hình trái xoan, dài 4-6 cm, rộng 1,5-3 cm, tròn hay gần hình tim ở gốc, nhọn hay gần nhọn ở đầu, nhẵn ở mặt trên, có lông mặt dưới Cụm hoa xim hai hoa ở nách các lá ở

Trang 17

ngọn Hoa dài 1,6-2 cm, lúc đầu trắng sau chuyển sang màu vàng Ra hoa tháng 6-9, quả tháng 10-11 (Võ Văn Chi, 2012)

f Kim ngân dại, kim ngân vòi nhám (Lonicera dasystylaRehd.)

Cây leo bằng thân quấn Các nhánh non có lông rồi nhẵn, mầu nâu đỏ Lá mọc đối, có phiến mỏng, hình trái xoan - ngọn giáo dài 2-8 cm, rộng 1-4 cm, tròn hay hình tim ở gốc, nhọn thành mũi ở đầu, mặt trên nhẵn, mặt dưới nhạt và hơi

có lông mịn, với 3-4 cặp gân phụ; cuống lá hơi hẹp có rãnh ở trên, dài 2-8 cm Hoa trắng, thành xim 2 hoa ở nách các lá ở ngọn, cuống có lông Quả đơn, nhẵn, hình cầu, đường kính 8 mm Ra hoa vào tháng 4 (Võ Văn Chi, 2012)

g Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.)

Cây dây leo thân cuốn Cành non có lông mịn, thân già xoắn Lá nguyên, mọc đối Phiến lá hình trứng, dài 4-7 cm, rộng 2-4 cm, cả hai mặt lá đều có lông mịn Hoa mọc từng đôi một ở các nách lá gần ngọn Khi mới nở, cánh hoa mầu trắng, sau chuyển sang vàng nhạt, mùi thơm nhẹ 5 cánh hoa dính liền nhau thành ống ở phía dưới, miệng ống có 2 môi 5 nhị thò ra ngoài cánh hoa Bầu dưới Quả hình trứng, dài chừng 5mm, màu đen

Mùa hoa tháng 3-4, quả tháng 6-8 Cây mọc phổ biến ở các tỉnh miền Bắc, ngoài ra còn được trồng ở một số nơi (Đỗ Huy Bích và cs., 2004; Võ Văn Chi, 2012; Phạm Hoàng Hộ, 1999; Đỗ Tất Lợi, 2004)

h Kim ngân quả to, kim ngân Hildebrandia (Lonicer hildebrandia Coll.et Hemsl.)

Dây leo, to; thân dài đến 20-25 m, nhánh không lông Lá có phiến hình bầu dục, to vào 10 × 4 cm, tù hai đầu, dày, không lông, gân phụ 6-7 cặp, nâu vàng láng, đến đen lúc khô; cuống 2 cm Cụm hoa 2 hoa; cuống chung dài 6-8

mm, không lông; lá đài nhỏ; tràng to, màu vàng hay da cam, có ống dài 3,5- 4

cm, môi dưới to gần bằng môi trên, môi trên 2,5-3 cm; nhị 5, ngắn hơn tràng, bầu

3 ô, không lông Quả hình trái xoan, cao 2,5 cm (Võ Văn Chi, 1999; Phạm Hoàng Hộ, 1999)

i Kim ngân lá mốc, kim ngân mặt dưới mốc (Lonicera hypoglauca Miq.)

Dây leo khá mảnh Thân non, cuống, mặt dưới lá có lông mịn dày vàng

Lá có phiến hình trái xoan, dài 3-10 cm, rộng 2,5-3,5 cm; gốc tròn hay hơi lõm, chóp lá tù, mặt dưới mốc, có lông mịn, gân ở gốc 3-4; cuống 1 cm Cụm hoa xim

2 hoa dài 3,5-4,5 cm; mầu trắng rồi vàng; bầu và lá dài có lông mịn Tràng có

Trang 18

lông dài ở mặt ngoài, ống tràng 2,5 cm, môi dài 1,5 cm, môi dưới hẹp Quả dài

7-8 mm, màu đen (Võ Văn Chi, 2012)

k Kim ngân hoa to (Lonicera macrantha (D Don) Spreng)

Dây leo quấn to Nhánh có lông cứng vàng Lá có phiến bầu dục, dài 4-11

cm, rộng 3-4,5 cm, có lông Cụm hoa ở nách lá, dạng xim co, có cuống, mang

2-3 hoa Hoa to, màu vàng Đài có 5 răng cưa nhỏ Tràng cao 5-6 cm, môi trên có thùy, môi dưới 1 Bầu 3 ô Quả mọng to 7-8 mm, màu đen Ra hoa tháng 3 (Võ Văn Chi, 2012)

2.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây kim ngân

dễ nhân giống từ thể sinh dưỡng Rễ kim ngân phát triển rất mạnh vừa có khả năng ăn rộng và ăn sâu nên kim ngân có khả năng chịu hạn tốt, vì vậy nên khi trồng nên đào hố rộng và sâu để thuận lợi cho bộ rễ phát triển sau này

Sự sinh trưởng của rễ và phần thân, lá, hoa cây kim ngân có mối tương quan rất chặt chẽ, vừa có tác dụng tương hỗ thúc đẩy, vừa hạn chế nhau; chỉ khi nào bộ rễ phát triển mạnh thì thân lá mới phát triển mạnh và cho hoa chất lượng cao

Trong điều kiện khí hậu thích hợp, nếu thấy phần trên mặt đất phát triển không bình thường thì phần lớn là do rễ sinh trưởng kém Ngược lại nếu diện tích

lá quá nhỏ hoặc quá ít cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ

2.1.2.2 Thân

* Sự phát triển của thân dưới mặt đất

Phần lớn kim ngân được trồng bằng hom giâm nên phần dưới mặt đất cũng là một phần thân (Đỗ Huy Bích và cs., 2004) Khi cây phát triển phần thân dưới mặt đất mọc ra những nhánh bên Từ một mắt có thể mọc ra từ 2-7 nhánh Các nhánh này có nguồn gốc từ mầm nách, và có xu thế hướng thiên rất mạnh Lúc đầu thân có màu tím đỏ và có lông Sau khi vươn ra khỏi đất thì hình thành

Trang 19

lá Các mầm phát triển lúc cây mẹ sinh trưởng mạnh (thường là cùng nách với cây mẹ) thì sinh trưởng chậm, các chồi ra sau thì sinh trưởng rất mạnh và lấn át

cả cây mẹ, các chồi này dùng để nhân giống bằng cách tách chồi rất tốt

* Đặc điểm hình thái của thân trên mặt đất

Kim ngân là loại cây dây leo quấn, sống nhiều năm, thân có thể dài tới 10

m, thân cây rỗng ở giữa, khi non có màu tím đỏ, lúc già có màu xanh và có vết nứt sinh trưởng, thân có nhiều lông hoặc ít lông tuỳ giống, lông có hai loại đó là lông thường và lông tiết, khi cây già thì lớp lông này bị rụng đi (Nguyễn Tiến Bân và cs., 2005) Mức độ phân cành, độ mềm cứng của cành phụ thuộc rất lớn vào giống, tuổi sinh lý của cây và chiều cao cây Trong các loài thì kim ngân lông có khả năng phân cành mạnh nhất, còn kim ngân hoa khả năng phân cành yếu hơn Cây có tuổi sinh lý lớn thì khả năng phân cành mạnh hơn những cây non Cây cao khả năng phân cành mạnh hơn cây thấp, thông thường đối với giống kim ngân hoa cây cao khoảng 1,1-1,4 m mới bắt đầu phân cành, còn kim ngân lông thì thấp hơn khoảng từ 0,4-0,9 m đã phân cành Thông thường mỗi nách lá ra 1 cành Tuy nhiên, mức độ sinh trưởng mạnh hay yếu của cành sau khi hình thành phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của thân chính, các mầm khác của cây, điều kiện ngoại cảnh và nó tuân theo quy luật ra nhánh cấp 2 như thân chính

Thân kim ngân được chia thành nhiều đốt, trên các đốt mang một cặp lá, giữa các đốt là lóng có độ dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào giống và thời điểm sinh trưởng Giống kim ngân hoa có đốt dài hơn so với kim ngân lông Lóng phát triển vào mùa thu, mùa đông và mùa xuân thì dài hơn so với lóng phát triển vào mùa hè

2.1.2.3 Lá

Lá kim ngân là lá đơn mọc đối hoặc mọc vòng, phiến lá hình xoan bầu dục, đuôi lá nhọn hoặc hơi nhọn, mùa đông lá không rụng nên có tên gọi là cây nhẫn đông (chịu đựng được mùa đông), cuống lá dài 4-8 mm, có lông mềm, ngắn, mọc dày; mép lá có lông tơ, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu xanh nhạt, lúc non hai măt đều có lông tơ ngắn, lúc già chỉ gân lá mới có lông Lá có 1 đôi lá bao hình trứng hoặc hình bầu dục, hai mặt cũng có lông tơ ngắn (Trần Văn

Ơn, 2004; Kawai et al., 1988)

Trong thực tế, đặc điểm này không hoàn toàn như vậy, chỉ thấy lá của cây kim ngân lông là giữ được những đặc điểm này, còn cây kim ngân hoa ngoài

Trang 20

dạng lá trên còn có lá chia thuỳ và xẻ thuỳ, ngoài mọc đối còn có dạng mọc cách,

lá khi còn non có màu hơi tím đỏ, khi già mới có màu xanh, tuy nhiên gân lá vẫn

có màu đỏ tím Hơn nữa, lông của kim ngân hoa chỉ thấy một lượng rất ít ở mặt dưới, còn mặt trên hầu như không có

2.1.2.4 Hoa, quả, hạt

* Hoa

Hoa mọc thành cụm ở nách các lá tận cùng, cuống có lông, dài 6-22 mm;

lá bắc giống các lá con hình mũi mác, có cuống dài 15-25 mm; lá bắc con tròn, dài 1,5 mm, lông thưa ở mép; đài có 5 phiến hình mũi mác, mảnh, dài 1-1,5 mm, đôi khi không bằng nhau, có lông; tràng màu trắng sau chuyển màu vàng có lông mịn và lông tuyến ở ngoài, thơm, ống tràng dài 18-20 mm, môi dài 15-18 mm, tràng chia thành hai môi đối xứng và uốn cong ra ngoài, môi trên khá rộng, chia thành 4 thuỳ bằng nhau, môi dưới nhỏ không chia; 5 nhị thò ra ngoài, đính ở họng tràng; chỉ nhị nhẵn, bao phấn hình mũi mác đính lưng, bầu nhẵn và là loại bầu hạ (Nguyễn Tiến Bân và cs., 2005; Tào Duy Cần và Trần Sĩ Viên, 2007; Kawai et al., 1988)

* Quả, hạt

Quả mọng, hình cầu nhỏ, màu đen, nhẵn bóng, mỗi quả chứa từ 4-7 hạt, hạt nhỏ, 1 kg hạt có khoảng 15 vạn hạt với độ tinh sạch là 70% (Nguyễn Tiến Bân và cs., 2005) Hạt thu về được cất giữ để làm giống

2.2 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY KIM NGÂN

2.2.1 Ánh sáng

Ánh sáng ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng của kim ngân vì nó ảnh hưởng tới quá trình quang hợp tạo chất khô cho cây Kim ngân là ưa sáng (Viện dược liệu, 2004), có phổ thích nghi với ánh áng khá rộng, tuy nhiên nó không chịu được điều kiện ánh sáng trực xạ quá mạnh Vì vậy trong quá trình trồng, chúng ta cần phải chú ý không để cây bị rợp bóng quá và bị nắng chiếu trực tiếp mạnh quá Nên trồng cây để cho kim ngân leo, vừa che bớt ánh sáng quá mạnh vào mùa hè

2.2.2 Nhiệt độ

Cây kim ngân là cây có nguồn gốc ôn đới nên thích hợp với nhiệt độ mát

mẻ, nó có thể chịu được nhiệt độ xuống thấp trong băng tuyết (nên được gọi là cây nhẫn đông), mùa rét không rụng (Ngô Văn Thu, 2011) Vì vậy mùa đông ở

Trang 21

Việt Nam rất thích hợp cho kim ngân phát triển Kim ngân chịu nóng kém, trong điều kiện thời tiết quá nóng như thời tiết miền Trung vào mùa hè thì kim ngân sinh trưởng kém và bị rụng lá Ở những nơi mát mẻ thì cây sinh trưởng nhanh, còn ở những vùng nóng (34-37oC) cây sinh trưởng chậm (Viện Dược Liệu, 2004)

2.2.3 Ẩm độ

Kim ngân là cây ưa ẩm (Viện dược liệu, 2004) tuy nhiên kim ngân có bộ

rễ phát triển nên có khả năng chịu hạn rất tốt, hơn nữa ở một số loài kim ngân ở trên thân và lá có phủ một lớp lông mịn nên đã hạn chế được sự thoát hơi nước ở

lá, hiện tại trong kĩ thuật trồng chưa thấy có khuyến cáo tưới nước cho kim ngân Tuy nhiên khi mới trồng thì cần phải tưới đủ nước để đảm bảo tỷ lệ sống cao 2.2.4 Yêu cầu đất đai, dinh dưỡng

Kim ngân là cây dễ tính, có thể trồng được ở nhiều loại đất, chân đất khác nhau (kể cả đất trũng) (Bảo Thắng, 2006) Về dinh dưỡng, kim ngân không đòi hỏi nhiều, nhiều nơi trồng không bao giờ bón phân cho cây Tuy nhiên, để trồng kim ngân được hiệu quả kinh tế cao thì nên trồng ở đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng

và bón đủ phân cho cây

Cũng theo Đỗ Tất Lợi (2004), trong cây kim ngân có nhiều saponozit.Trong hoa có chứa acid chlorogenic 6% Chất này cũng có trong rễ, thân

và lá với hàm lượng theo thứ tự 1,4%, 0,9% và 2,6% Hoa và thân có acid isochlorogenic, gồm 3 đồng phân là các acid isochlorogenic a,b,c Acid isochlorogenic a là acid 3,5- dicacfeoyl quinic, còn acid isochlorogenic b và c là đồng phân của acid 3,4- dicafeoylquinic Lá chứa nhiều acid chlorogenic và acid isochlorogenic hơn hoa (Đỗ Huy Bích và cs., 2004, Koichi et al., 2002)

Nhiều nghiên cứu về kim ngân đã được tiến hành cả trong và ngoài nước Kết quả cho thấy các thành phần chính trong dược liệu kim ngân hoa và kim ngân cuộng bao gồm:

Trang 22

Hình 2.1 Cấu trúc hóa học của một số hợp chất chính trong dược liệu kim

ngân hoa và kim ngân cuộng

Nguồn: Nguyễn Thành Công (2015)

- Các Acid Phenolic carboxylic và các ester: Acid chlorogenic (Yuan et al., 2012), acid isochlorogenic a, b, c, acid 3-caffeoylquicnic (Jiang et al., 2013), 3-caffeoylquicnic acid methyl ester, methyl caffeate (Chang and Hsu, 1992), acid 3,4-di-O-caffeoylquicnic (Chia et al., 1995)

- Các iridoid glycosid: Loganin, secoxyloganin, secologanin dimethylacetat, vogeloside, 7- epi- loganin (Li et al., 2003), loniceracetalides A,

B (Kakuda et al., 2000), L- phenylalaninosecologanin, (Z)-aldosecologanin, aldosecologanin (Machida et al., 2002)

(E) β(E) sitosterol (Chai et al., 2004)

- Các Flavon: Lonicerin (luteolin-7-O-rhamnoglucosid), loniceraflavon, rutin, quercetin, luteolin-7-O-β-D-galactosid, tetratriacontan (Chai et al., 2004), ochnaflavon (Suh et al., 2006), luteolin (3', 4', 5, 7-tetrahydroxyflavon) (Wing-Cheung Leung et al., 2006)

Trang 23

- Các saponin triterpenoid: Hederagenin-mono-, di-, tri-, tetraglycosid có các mạch đường như glucose, rhamnose và arabinose, acid oleanolic mono-, di-,tri-, tetraglycosid có các mạch đường như glucose, rhamnose và arabinose (ví dụ như macranthoidin A, B, dipsacosid B, macranthosid A, B, lonicerosid A, B, C) (Yu et al., 2012 ; Kwak et al., 2003)

- Tinh dầu: linalool, 2,6,6-trimethyl-2-vinyl-5-hydroxytetrahydropyran, pinen,hex-1-en, hex-3-en-1-ol, cis-, trans-2-methyl-2-vinyl-5-(α- hydroxyisopropyl)- tetrahydrofuran, geraniol, α-terpineol, benzyl alcohol, β- phenylethyl alcohol, carvacrol, eugenol, aromadendren (Wang et al., 1992), ethylpalmitate (Ji et al., 1990), acid palmitic, acid linoleic (Li et al., 2002)

2.4 GIÁ TRỊ CỦA CÂY KIM NGÂN

2.4.1 Giá trị kinh tế

Thực tế cho thấy, trồng kim ngân mang lại hiệu quả kinh tế khá cao vì ngoài việc sử dụng làm thuốc ra nó còn có giá trị làm cảnh và được bán với giá khá cao, hơn nữa kim ngân là cây dễ tính nên có thể trồng ở các mảnh đất thừa, đất xấu… và nó cũng không đòi hỏi nhiều công chăm sóc Ở Trung Quốc, sản phẩm của kim ngân ngoài việc phục vụ cho nhu cầu trong nước còn được dùng

để xuất khẩu, vì vậy nếu được nghiên cứu kĩ, được đầu tư và quan tâm đầy đủ thì các sản phẩm của kim ngân có thể mang lại nguồn ngoại tệ thông qua xuất khẩu 2.4.2 Tác dụng sinh học và giá trị sử dụng

có tác dụng nhưng kém hơn

Tác dụng ngăn chặn choáng phản vệ: Đỗ Tất Lợi và cs (2006) đã báo cáo

Trang 24

nước sắc kim ngân có khả năng ngăn choáng phản vệ trên chuột lang Ở chuột lang uống kim ngân, số lượng và tính chất các dưỡng bào ở mạc treo ruột ít thay đổi Lượng histamin ở phổi chột lang bị choáng phản vệ cao gấp rưỡi so với chuột lang bình thường và chuột lang uống kim ngân trước khi gây choáng (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Tác dụng trên chuyển hóa chất béo: kim ngân có tác dụng tăng cường chuyển hóa các chất béo (Đỗ Huy Bích và cs., 2004) Khi cho chuột béo phì dùng lượng lớn cholesterol vỗ béo cho chuột đồng thời cho uống nước sắc kim ngân hoa, mức cholesterol trong máu chúng thấp hơn so với nhóm đối chứng (Vũ Thị Ngọc Thanh và cs., 2005)

Tác dụng trên đường huyết: Năm 2013, dịch chiết methanol từ nụ hoa Lonicera japonica đã được nghiên cứu có tác dụng ức chế men α - glucosidase ruột ở chuột, vì vậy có tác dụng giảm đường máu sau ăn (Zhong et al., 2013)

Tác dụng chống oxy hóa: Các nghiên cứu, thử tác dụng sinh học các chất phân lập từ Lonicera japonica đã cho kết luận kim ngân có tác dụng chống oxy hóa (Phạm Thị Huệ, 2012)

Tác dụng kháng virus: Nghiên cứu các chất phân lập được từ L japonica năm 2011 đã chỉ ra L japonica có tác dụng kháng virus (Xiaofei et al., 2011) Nước sắc kim ngân hoa có thể làm giảm sức hoạt động của PR8 ở virus cúm nhưng không có tác dụng ở phôi gà con đã tiêm chủng (Viện Dược liệu, 2004)

Tác dụng chống viêm: Năm 2002, dịch chiết flavonoid từ kim ngân hoa đã được nghiên cứu có tác dụng chống viêm tốt (Lê Thị Diễm Hồng, 2002), đến

2010, nghiên cứu sâu hơn chỉ ra rằng các chất phân lập từ L japonica có tác dụng ức chế 5- LOX (yếu tố tổng hợp leukotrien - tham gia phản ứng viêm) (Eun

et al., 2010)

Dịch chiết Saponin kim ngân toàn phần có tác dụng chống viêm trên mô hình gây viêm mạn Dịch chiết Saponin toàn phân 1,5 g/kg/ngày làm giảm số lượng bạch cầu, tăng tỉ số A/G, giảm nồng độ seromucoid huyết thanh (Nguyễn Thị Hồng Nhiên, 2008)

Tác dụng Hưng phấn Trung khu Thần kinh: Cường độ bằng 1/6 của cà phê (Viện Dược liệu, 2004)

Trong nhãn khoa: Theo dõi 36 bệnh nhân không chọn trước, nước sắc kim

Trang 25

ngân hoa được dùng cho những trường hợp kết mạc viêm mạn, giác mạc loét (Viện Dược liệu, 2004)

Độc tính: Chuột nhắt trắng, sau khi được cho uống nước sắc kim ngân liên tục 7 ngày với liều gấp 150 lần liều điều trị cho người, vẫn sống bình thường, giải phẫu các bộ phận không thấy có thay đổi gì đặc biệt (Đỗ Huy Bích và cs., 2004) 2.4.2.2 Giá trị sử dụng

Như đã nói ở trên, kim ngân có giá trị rất quan trọng trong việc dùng làm thuốc, theo y học cổ truyền, kim ngân có vị ngọt, tính hàn; quy kinh phế, vị và đại tràng Theo TS Bùi Thị Tho thì thành phần hoá học của kim ngân là rất phức tạp bao gồm một số thành phần sau: Innosite 1%, tonixerin có cấu tạo luteonin –

7 rhamnoza, nhiều loại caponozid, tuy nhiên hàm lượng các chất ở trong hoa và thân lá là khác nhau, ví dụ như trong hoa chứa 8.8% flavonoid còn trong thân là 0.7% (Bùi Thị Tho, 2009) Vì vậy các sản phẩm của kim ngân thường được dùng

để thanh nhiệt, giải độc, trị mụn nhọt và trị một số bệnh khác nữa, nhưng hoa dùng tốt hơn thân lá

Dựa trên kết quả thực nghiệm, kim ngân đã được ứng dụng điều trị thấp khớp, viêm mũi dị ứng và bệnh dị ứng khác Ngày dùng 4-6 g hoa hay 10-16 g cành lá dưới dạng thuốc sắc, hãm, cao, rượu thuốc hoặc hoàn tán Có thể dùng riêng kim ngân hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)

Ngoài ra kim ngân còn có các công dụng như chữa viêm nhiễm đường

hô hấp, cảm cúm truyền nhiễm, viêm kết mạc cấp tính, loét cổ tử cung (Võ Văn Chi, 2012)

Kim ngân đã được dùng từ lâu đời ở Trung Quốc như một thuốc hạ sốt, làm dễ tiêu và trị lỵ Hoa phơi khô dùng để lợi tiểu Một số người uống kim ngân

bị ỉa lỏng, chỉ cần giảm liều hoặc nghỉ uống là hết (Đỗ Huy Bích và cs., 2004)

Những người tỳ vị hư hàn không thực nhiệt, hoặc mồ hôi ra nhiều không nên dùng (Đỗ Huy Bích và cs., 2004; Nguyễn Duy Cương và Nguyễn Hữu Quỳnh, 1999)

Một tác dụng quan trọng nữa của kim ngân là dùng để làm cảnh Cây kim ngân là cây dây leo nên thường được trồng cho leo ở ban công, vừa có tác dụng che bóng, hạn chế bụi, hơn nữa hoa kim ngân có mùi thơm rất dễ chịu nên có tác dụng giảm mệt mỏi rất tốt

Trang 26

2.5 QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KIM NGÂN

Theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2004), kỹ thuật trồng cây kim ngân như sau: 2.5.1 Giống

Cây kim ngân có 2 cách nhân giống: Nhân giống hữu tính và nhân giống

vô tính

* Nhân giống hữu tính:

Dùng hạt để gieo, đầu tháng 11 thu hoạch quả chín, trong mỗi quả có 4-7 hạt Đem hạt phơi khô, cất giữ đến cuối tháng 3 năm sau đem gieo Bỏ hạt vào nước ấm 30oC, ngâm 21 giờ, vớt ra trộn với cát ẩm để thúc đẩy sự nảy mầm, khi hạt đã nứt vỏ trên 30% thì đem gieo

* Nhân giống vô tính truyền thống:

Cho tới nay các nơi trồng kim ngân phần lớn dùng cách nhân giống vô tính truyền thống gồm hai cách: trồng bằng cắt hom và trồng bằng đánh tỉa chồi

+ Cách nhân giống bằng đánh tỉa chồi: Đánh tỉa chồi thường phải chọn lúc trên chồi có nụ hoa đang nở Vì thế nếu đánh chồi đi trồng thì sang năm cây mẹ

sẽ không ra hoa và ảnh hưởng tới sản lượng Do đó cách này ít khi được sử dụng

+ Cách trồng bằng hom: Cách trồng bằng hom là cắt lấy đoạn thân cây chưa ra hoa mang đi trồng Cách này đơn giản, cây ra hoa sớm nên bà con nông dân thích dùng cách nhân giống này Lúc cắt hom tốt nhất là chọn ngày râm mát sau khi mưa, vì đất ẩm, độ ẩm không khí cao, cắm xong tỷ lệ cây sống cao Hom cần phải chọn ở cây khỏe mạnh, cây một, hai tuổi tỷ lệ sống cao nhất, sinh trưởng cũng nhanh Trước khi cắm phải cuốc hốc rồi đặt hom vào hốc, ở dốc núi và đất

bờ ruộng khoảng cách giữa các cây 1,3-1,7 m, chỗ đất đại khác nói chung hàng cây cách nhau là 1,7 m, hốc sâu

2.5.2 Chăm sóc

* Vun xới đất:

Làm cho đất tơi xốp, giữ cho gốc cây vững chắc, làm cho rễ mọc nhiều, cây mọc nhiều cành Hằng năm vào tiết trước kinh trập (ngày 5 tháng 3 hàng năm), tiến hành vun xới một lần và vào trước lúc bước vào mùa đông lạnh giá cuối thu vun gốc lần hai

* Làm cỏ:

Mỗi năm có thể làm cỏ 3-5 lần Khi làm cỏ nên chú ý trước hết bắt đầu từ

Trang 27

ngoài vào gốc, về sau làm dần vào, lần trước xới đất sâu, các lần sau xới nông để tránh rễ bị tổn thương

* Bón phân:

Mỗi năm bón phân thúc một lần, bón vào lúc trước khi bước vào mùa đông hoặc trước khi cây đâm chồi nảy lộc đầu xuân Những lần sau có thể bón vào sau lúc đâm chồi một lần và sau khi hái hết hoa bón một lần

* Tưới nước:

Thực tế cho thấy tưới nước có tác dụng nhất định đối với việc làm tăng sản lượng Vì thế vào mùa xuân khô hạn nên tiến hành tưới nước cho cây

* Tỉa bớt cành:

Tỉa ở những cây cành mọc quá dày Khi tỉa phải nắm vững nguyên tắc tỉa

từ trong ra ngoài, chia ra từng lớp Việc tỉa cành này sẽ góp phần làm cho cây ra hoa nhiều hơn

* Phòng trừ sâu bệnh:

Kim ngân rất ít sâu bệnh Hạn chế dùng hóa chất trừ sâu bệnh vì nó sẽ làm cho hoa bị nhiễm độc không an toàn cho dược liệu sau này

* Thu hoạch và chế biến:

Thu hoạch: Thời vụ thu hoạch kim ngân là từ cuối tháng 5 đến đầu tháng

6, từ lúc cây có nụ hoa đến lúc hoa nở trong khoảng 15 ngày Thời gian hái hoa nên chọn lúc nụ hoa màu xanh trở thành màu trắng, lúc hoa bắt đầu nở là tốt nhất Sau khi hái hoa về nên phơi khô và sấy khô ngay Hoa sau khi đã phơi sấy khô nên chú ý bảo quản ở nơi thoáng gió, tránh nơi ẩm ướt

2.6 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

* Tình hình nghiên cứu về khả năng trị bệnh của cây kim ngân

Theo thần y Hoa Đà (Trung Quốc) kim ngân có tác dụng chữa mụn nhọt

và giải độc Khinh phấn rất hiệu quả (Phạm Văn Lâm hiệu đính, 2006; Tương Quân, 2004)

Theo Ban huấn luyện và đào tạo cán bộ dược liệu Trung Quốc (1979) kim ngân có tác dụng tốt trong việc trừ phong thũng, tán nhiệt giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống Trị các chứng nhọt độc, hầu tý, phong ẩm hàn nhiệt khẩu kiệt, huyết lỵ (Nguyễn Văn Lan và cs., 1979)

Trang 28

Theo Huang Bei Rong (2005), Huang Li Yan (2005), Long Jia Xing (2005), kim ngân có tác dụng chống cầu khuẩn Gram dương, trực khuẩn Gram

âm và dương, khuẩn móc xoắn ốc, chân khuẩn da; khi phối hợp với penicilin thì

có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn nho vàng; tác dụng chống độc, giải nhiệt, chống dị ứng, viêm, tăng cường chức năng xâm thực, chống loét dạ dày, lợi mật, giảm mỡ trong máu, và cầm máu Ngoài ra, khi làm thí nghiệm với chuột, tiêm nước thuốc sắc từ kim ngân vào ổ bụng chột có thai 3 tháng thì thấy

nó có tác dụng phá thai và đã rút ra kết luận là kim ngân có tác dụng phá thai sớm, tuy nhiên tác dụng này còn còn tỉ lệ với hoocmon sinh dục trong cơ thể

* Tình hình nghiên cứu về phân loại thực vật, kĩ thuật trồng, chăm sóc

và thu hái chế biến kim ngân

- Về kĩ thuật trồng: Để phục vụ cho việc đào tạo, giảng dạy cán bộ dược liệu, Ban huấn luyện đào tạo cán bộ dược liệu Trung Quốc (1979) đã có công trình nghiên cứu khá đầy đủ về đặc điểm thực vật học, kĩ thật trồng, cách thu hái, chế biến và quy cách của sản phẩm đạt chất lượng (Nguyễn Văn Lan và cs., 1979)

Nghiên cứu đầu tiên của sự phát sinh mô sẹo từ cây trên 6 tháng tuổi do George et al (1993) đã nghiên cứu thành công sự tái sinh cây Lonicera japonica

“Hall’s Prolific” từ nuôi cấy mô lá trưởng thành, thân và đốt rễ trên môi trường chứa 10,7 µM NAA và 2,7 µM BA trong môi trường chứa 2,4-D lại làm chết nhanh chóng các mẫu cấy Kết quả cho thấy sự tái sinh chồi đạt được tỷ lệ cao nhất trên môi trường chỉ chứa BA (4,4 đến 44,4 µM) Sự phát sinh chồi dễ dàng

và đã bén rễ trên môi trường dùng để nhân Cây con đem ra trồng ngoài tự nhiên

có tỷ lệ sống khá cao

Năm 2003, Suk et al đã tiến hành nghiên cứu tái sinh Lonicera japonica Thub thông qua phát sinh phôi soma từ nuôi cấy phôi và nuôi cấy huyền phù tế bào Từ phôi hợp tử trưởng thành đã tạo được mô sẹo với tần suất cao 46,7% trên môi trường MS cơ bản có bổ sung 4,52 µM 2,4-D Nuôi cấy huyền phù tế bào trên môi trường MS lỏng có bổ sung 4,52 µM 2,4-D đã phát sinh rất nhiều phôi soma rồi phát triển thành cây con với tần suất 68% Cây con đem ra trồng ngoài

tự nhiên có tỷ lệ sống rất cao

- Về phân loại: Trong hệ thống Cronquist phiên bản 1981 đã chia họ này gồm 15 chi với khoảng 420 loài khác nhau; trong hệ thống APG năm 1998 đã tách một số chi của họ kim ngân đưa vào 1 số họ khác và rút họ kim ngân lại còn

Trang 29

5 chi với khoảng 220 loài; năm 2003, APG II đã đưa ra sự phân loại tuỳ chọn như sau: theo nghĩa hẹp thì họ này gồm khoảng 220 loài trong 5 chi như ở năm

1998, còn theo nghĩa rộng thì gồm năm chi trên và một phần các họ Diervillaceae, Dipsacaceae, Linnaeaceae, Morinaceae, và Valerianaceae (trích nguồn internet)

2.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

* Về tác dụng trị bệnh

Tại Việt Nam kim ngân đã được trồng và sử dụng từ lâu

Theo Lương Y Lê Trần Đức (1987), kim ngân được chia thành 5 loài Theo Nguyễn Xuân Viên (1999, 2003, 2004), Lê Trần Đức (1997), Hoàng Quyết (2001), Vũ Quốc Trung (2006) thì kim ngân có rất nhiều tác dụng như thanh nhiệt, giải độc, trừ mụn nhọt và kim ngân có 2 loại là kim ngân nhà và kim ngân rừng, cả hai đều có tác dụng như nhau Tác giả Lê Trần Đức (1997) còn đưa ra khuyến cáo là phải trồng kim ngân vì lượng khai thác trong tự nhiên

và lượng trồng không đủ mà phải nhập thêm của Trung Quốc

Còn theo Trung Hiếu (2005) thì kim ngân có khả năng chữa các bệnh do sốt và đi ngoài do sốt

Lê Thị Diễm Hồng và cs (2007) đã nghiên cứu tác dụng chống viêm mãn tính của saponin và Flavonoid kim ngân kết hợp với α-chymotrypsin và α-amylase cho thấy saponin và Flavonoid có tác dụng chống viêm trên mô hình gây viêm mạn tính Khi kết hợp saponin và Flavonoid với α-chymotrypsin và α-amylase, tác dụng tăng lên so với khi dùng đơn độc từng hoạt chất Saponin và Flavonoid kim ngân kết hợp với α-chymotrypsin và α-amylase có tác dụng làm giảm số lượng bạch cầu, không làm thay đổi nồng độ protein huyết thanh, làm tăng tỷ số A/G, làm giảm nồng độ seromucoid huyết thanh tương đương với của idomethacin ở lô đối chứng

* Về kĩ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến và quy cách sản phẩm Theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2004), Chu Thị Thơm và cs (2006), hiện tại có 2 phương pháp nhân giống là vô tính và hữu tính trong đó phương pháp nhân giống bằng hom (vô tính) là phổ biến, hom dài 20 – 27 cm Các tác giả cũng

đã đưa ra quy trình chăm sóc, thu hái khá hoàn chỉnh

Kim ngân là cây có phổ thích nghi rộng với đất, có thể trồng kim ngân

Trang 30

được ở cả những chân đất trũng Về hom giống, tác giả cho rằng nên cắt hom dài 50-60 cm và khi cây sinh trưởng lớn rồi thì nên cuộn thân lấp xuống đất để sau này nó cho nhiều hoa hơn (Bảo Thắng, 2006)

2.7 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ TRỒNG

2.7.1 Cơ sở khoa học của xác định mật độ trồng hợp lý

Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích (Phạm Hồng Minh, 2009)

Mật độ càng cao thì sự cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt Dưới đất cây cạnh tranh nhau về nước, dinh dưỡng trong đất và khoảng trống trong đất để phát triển củ Khi đất không cung cấp đủ nhu cầu cho cây thì cây sẽ phát triển kém, cây nhỏ Trên khoảng không gian, để có thể lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác sẽ phải tăng trưởng chiều cao tối đa chính vì vậy sẽ làm cho thân nhỏ, cây yếu, sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh kém Khi trồng ở mật độ thấp cây sẽ không phải cạnh tranh nhau nhiều do vậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất các thể cao nhưng năng suất quần thể lại giảm bên cạnh đó cây sẽ bị ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh do tính quần thể giảm Mật độ thích hợp giúp cho cây trồng sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng từ đó giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó có thể tăng năng suất, sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế (Phạm Hồng Minh, 2009)

2.7.2 Những nghiên cứu về mật độ trồng hợp lý cho cây trồng

Theo X.Lascol mật độ thích hợp với cây ngô tùy thuộc vào giống Với giống chín sớm 60.000 cây/ha Với giống chín trung bình 50.000 cây/ha và giống chín muộn 40.000 cây/ha Mật độ thấp, cây phát triển tốt, trọng lượng cây cao nhưng tổng sản lượng trên một đơn vị diện tích thấp Trái lại, ở mật độ cao số bắp trên đơn vị diện tích nhiều nhưng cây phát triển kém, sản lượng hạt trên cây nhỏ, kéo theo sản lượng trên đơn vị diện tích thấp (Đinh Thế Lộc và cs., 1997)

Kết quả thí nghiệm mật độ trường Đại học Nông nghiệp I (Nguyễn Văn Bình và cs., 1996), Viện cây công nghiệp Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp cho thấy: Trong vụ xuân:

Trang 31

+ Đối với các giống đậu tương chín sớm (xanh lơ, cúc,…) gieo mật độ với

55 cây/m2 là vừa, khoảng cách 30-35 x 5-6 cm/cây

+ Đối với các giống trung bình (DDT7, DDT8) nên gieo mật độ 40-45 cây/m2, với khoảng cách 30-40 x 5-7 cm/cây

+ Đối với giống chín muộn thường gieo mật độ: 20-25 cây/m2 với khoảng cách 40-45 x 10-12 cm/cây (Nguyễn Văn Bình và cs., 1996)

Ngoài ra với khoảng cách và mật độ hợp lý còn làm hạn chế được cỏ dại

và sâu bệnh phát triển, tận dụng được dinh dưỡng trong đất, làm giảm chi phí sản xuất Cho nên việc bố trí mật độ hợp lý là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất cây trồng

Từ những dẫn cứ khoa học và thực tiễn trên cho thấy nghiên cứu đặc điểm thực vật là cần thiết nhằm xác định được ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển của cây kim ngân cho năng suất cao với chất lượng phù hợp Đưa kim ngân vào trồng trọt thành công sẽ chủ động được nguồn nguyên liệu làm thuốc, đảm bảo về số lượng và chất lượng đồng đều không phụ thuộc vào việc khai thác hoang dại

Nghiên cứu của Westermann and Crothers (1977) cho thấy các yếu tố kỹ thuật sản xuất như mật độ, khoảng cách cũng ảnh hưởng đến phát triển của hạt,

do ảnh hưởng đến cạnh tranh về dinh dưỡng, khoảng cách hàng hẹp và tăng số cây trên hàng đã làm giảm kích thước hạt, sự cạnh tranh và ảnh hưởng của mật

độ khoảng cách là rất khác nhau trong cùng một loài và khác loài

Theo Hà Thị Thanh Bình và cs (2002), cho rằng mật độ gieo trồng với khoảng cách nhất định liên quan tới yếu tố cấu thành năng suất Ở khoảng cách thích hợp tạo điều kiện đồng đều cho các cá thể phát huy hết khả năng sinh trưởng, phát triển thuận lợi cho năng suất cao Điều này được quyết định bởi quang hợp của quần thể Cường độ quang hợp của quần thể chịu sự chi phối của cường độ ánh sáng Vì vậy việc quyết định khoảng cách gieo trồng có ý nghĩa trong việc sử dụng ánh sáng Do đó, trong quá trình trồng trọt con người cần điều khiển hoạt động quang hợp bằng cách bố trí khoảng cách cây trồng một cách hợp lý

2.7.3 Một số nghiên cứu xác định mật độ trồng đối với cây dựơc liệu

Viện Dược liệu khi nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng bạch chỉ tại Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội đã có nhận xét: Với

Trang 32

khoảng cách 20 cm x 20 cm là thích hợp nhất, năng suất dược liệu cao nhất đạt 3,16 kg/ô thí nghiệm

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ khoảng cách trồng bạch truật ở Sapa (Lào Cai) đã có nhận xét: mật độ trồng 25 vạn cây/ha với khoảng cách 10

cm x 20 cm là thích hợp nhất, năng suất dược liệu cao nhất đạt 2,12 tấn/ha, tỷ lệ cây bị bệnh thấp 11,2% (Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần, 2005)

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất dược liệu của một số cây thuốc di thực quý tại Sapa (Lào Cai), Nguyễn

Bá Hoạt đã có nhận xét rằng chiều cao cây có xu hướng giảm đi theo sự tăng lên của mật độ trồng Năng suất dược liệu tăng lên khi mật độ thưa dần Tuy nhiên

sự tăng giảm này đều có giới hạn nhất định (Nguyễn Bá Hoạt, 2001)

Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội - Viện Dược liệu tiến hành thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách trồng đến năng suất và chất lượng lá thanh cao trong 3 năm từ 1997 đến 1999 Kết quả cho thấy với khoảng cách 20 cm x 30 cm không những cho năng suất lá, năng suất artemisinin cao nhất mà cả hàm lượng artemisinin cũng khá nhất

Khi tiến hành thí nghiệm mật độ khoảng cách trồng tục đoạn tại SaPa (Lào Cai), Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần (2005) cho rằng khối lượng củ tục đoạn trên 1 cây có chiều hướng tăng dần từ mật độ trồng dày đến mật độ trồng thưa nhưng năng suất thì có chiều hướng ngược lại Tuy nhiên, với khoảng cách

30 cm x 40 cm cho năng suất cao nhất

Khi nghiên cứu cây ích mẫu, Lê Khúc Hạo, Ngô Quốc Luật, Nguyễn Duy Thuần thấy rằng: nếu trồng ích mẫu trong 3 công thức về khoảng cách 20 x 10 cm; 20 x 20 cm; 20 x 30 cm tương ứng với các mật độ 50 cây/m2, 25 cây/m2, 15 cây/m2 với lượng phân bón như nhau thì công thức trồng có khoảng cách 20 x 20

cm (25 cây/m2) cho năng suất và hiệu quả cao nhất (Lê Khúc Hạo và cs., 2006)

Theo Phạm Văn Ý nghiên cứu về mật độ gieo trồng cây đương quy cho thấy: mật độ càng dày thì cây trồng phủ kín mặt đất càng nhanh, ở mật độ 20 x

15 cm sau khi trồng 90 ngày đã phủ kín mặt đất Nhưng ở mật độ 20 x 25 cm thì phải mất tới 120 ngày Với 3 mức mật độ nghiên cứu, tác giả cho thấy mật độ 20

x 15 cm cho năng suất cao nhất, đạt 120,9 kg/ha Nhưng mật độ 20 x 25 cm có khối lượng củ lớn nhất (33,3 g/củ) và tỉ lệ củ có trọng lượng từ 30g trở lên cao nhất (93,7%) (Phạm Văn Ý, 1993)

Trang 33

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần (2005) về mật độ và khoảng cách của cây ô đầu tại Sapa – Lào Cai cho thấy: ở khoảng cách càng thưa khối lượng củ càng lớn, tuy nhiên về năng suất thì khoảng cách trồng dầy hợp lý (30 x 30 cm) là sự kết hợp hài hòa giữa khối lượng củ và mật độ trồng để tạo nên năng suất dược liệu cao nhất (9,8 tấn tươi/ha) Như vậy, đối với cây ô đầu ở Sapa ở khoảng cách 30 x 30 cm là thích hợp nhất

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hòa ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng, phát triển của cây nhân trần cho thấy: mật độ thích hợp nhất với cây nhân trần là 15 x 15 cm và 15 x 20 cm làm tăng trưởng chiều cao và khối lượng cá thể của cây (Nguyễn Thị Hòa, 1996)

Theo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc

Hà Nội và Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội cho biết khoảng cách trồng đối với cây đương quy là 20 cm x 20 cm, cây bạch chỉ 20 cm x 10 cm, cây ngưu tất 5

cm x 5 cm, cây cúc hoa 30 cm x 30 cm cho năng suất dược liệu đạt cao nhất

Khi tiến hành nghiên cứu về khoảng cách cây sâm Ngọc Linh, Nguyễn Văn Thuận và Ngô Quốc Luật (2013) cho hay khoảng cách trồng tốt nhất cho năng suất cao nhất là 20 cm x 30 cm

2.8 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BÓN PHÂN CHO CÂY TRỒNG

2.8.1 Cơ sở khoa học của bón phân

Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng là lượng chất dinh dưỡng mà cây cần qua các thời kỳ sinh trưởng để tạo nên một năng suất kinh tế tối đa

Phân bón là thức ăn của cây trồng Phân bón cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau thường không chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào đó mà thường có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Do đặc điểm của phản ứng dây chuyền và quá trình tiếp nhận các tác động từ bên ngoài vào các hệ sinh thái mà

có thể dẫn đến những tác động rất mạnh nhưng không gây ra hiệu quả gì đáng kể, trong khi đó, những tác động nhẹ nhàng, nhưng được nhân lên trong phản ứng dây chuyền và tạo nên những hiệu quả rất lớn Bón phân hợp lý có thể không cần

sử dụng những lượng phân bón lớn mà có thể đạt được hiệu quả rất cao Theo Nguyễn Xuân Quát (1985) để giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề

bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của bầu cây bằng cách bón phân

Trang 34

là rất cần thiết Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm

là đam, lân, kali, và các chất phụ gia

Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng Mặc dù hàm lượng trong cây không cao nhưng Nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất Thiếu Nitơ cây không thể tồn tại Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong

cơ thể thực vật Vai trò của protein đối với cơ thể thực vật là không thể thay thế được Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyryl,

là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật….Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá xanh và to, quang hợp mạnh Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá có kích thước nhỏ và hơi vàng Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều (Trịnh Xuân Vũ, 1975; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998; Ekta and Singh, 2000; Thomas, 1985)

Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng Lân có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của

rễ, ra hoa, sự phát triển của quả và hạt Cây được cung cấp đầy đủ lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua và kiềm Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá phồng cứng, màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng suất chất khô giảm Ngoài

ra nếu thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng của đạm Ở một vài loại lá kim khi thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ Ở những loài cây

lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm Khi thừa lân không thấy tác hại nghiêm trọng như thừa Nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998; Ekta and Singh, 2000; Thomas, 1985)

Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâu bệnh, chịu hạn và rét Do vậy, nếu thiếu Kali thì cây có biểu hiện về hình thái rất

rõ như là lá hơi ngắn, phiến lá hẹp có màu lục tối, sau chuyển sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống (Trịnh Xuân Vũ, 1975; Viện

Trang 35

thổ nhưỡng nông hóa, 1998; Ekta and Singh, 2000; Thomas, 1985) Các chất phụ gia thường được sử dụng là xơ dừa, tro, trấu hun,… chúng có tác dụng làm xốp đất, giữ ẩm, thoáng khí,…

Phân bón là một trong những biện pháp được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên, bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng suất cao, chất lượng tốt

2.8.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng dinh dưỡng qua lá

Thông thường bộ rễ của cây làm nhiệm vụ hút nước và hút khoáng là chính song lá cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thu chất dinh dưỡng thông qua khí khổng và các lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin của lá nhưng cơ bản hấp thu dinh dưỡng qua lá là quá trình hấp thu bị động Cây trồng có tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với các chất dinh dưỡng cao gấp 8 - 10 lần diện tích tán cây che phủ Vì vậy, cây trồng có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng qua lá rất cao (đạt 90-95%), trong khi nếu bón qua đất cây chỉ sử dụng được 40 - 45% lượng phân bón

Tuy nhiên, sự hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch gặp khó khăn hơn vì tầng cutin của lá cản trở Tầng cutin này có thể dày, mỏng khác nhau thay đổi theo từng loại cây cũng như tuổi của cây Các ion khoáng có khả năng xâm nhập qua lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin, đường kính các lỗ này lớn hơn 1nm và mật độ các lỗ rất cao 1010 lỗ/m2 lá, những phân tử có kích thước lớn như ure, chất hữu cơ qua lỗ siêu nhỏ này khó khăn hơn Nhìn chung các cation qua các lỗ nhỏ này theo gradient nồng độ hấp thu mạnh hơn các anion (NH4+ hấp thu tốt hơn N03, hay Mg2+, K+ > các anion)

Vì vậy, hiệu quả bón phân qua lá phụ thuộc vào đặc điểm giải phẫu lá của từng loại cây, giai đoạn sinh trưởng và điều kiện ngoại cảnh Để tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng phun qua lá phải tạo ra một lớp mỏng dinh dưỡng trên

bề mặt lá Điều kiện nhiệt độ, ánh sáng cũng ảnh hưởng đến hấp thu dinh dưỡng qua lá, để hấp thu dinh dưỡng tốt cần phun vào lúc râm mát, không mưa Cung cấp dinh dưỡng qua lá có hiệu quả nhanh và rõ nhất khi cây trồng trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn không thể cung cấp dinh dưỡng vào đất hay trong đất có hiện tượng đối kháng ion sự hấp thu chất khoáng qua rễ bị hạn chế thì đây là biện pháp hỗ trợ để bổ sung dinh dưỡng cho cây tốt nhất giúp cây sinh

Trang 36

trưởng, phát triển tốt Khi cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực cây rất cần dinh dưỡng song hút qua rễ rất khó khăn do bộ rễ già hóa và kém phát triển thì biện pháp phun dinh dưỡng qua lá sẽ giải quyết được sự mất cân bằng dinh dưỡng của cây, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất, chất lượng cao Theo Vũ Hữu Yêm (1995), về mặt

số lượng nguyên tố vi lượng cây cần không nhiều nhưng mỗi nguyên tố đều có vai trò xác định và không thể thay thế trong đời sống của cây Chúng có vai trò xúc tác, là nhóm ngoài của enzim hoặc là chất hoạt hóa của emzim, làm thay đổi đặc tính lý hóa của chất nguyên sinh tế bào cây và ảnh hưởng đến tốc độ, chiều hướng của phản ứng sinh hóa (Hoàng Đức Cự và cs., 1993) Còn theo Đường Hồng Dật (2002), đối với cây có 6 nguyên tố vi lượng được xem là thiết yếu: Fe,

Zn, Mn, Cu, Bo, Mo ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng

Bên cạnh những ưu thế của việc cung cấp dinh dưỡng cho cây qua lá còn tồn tại những hạn chế là: cung cấp lượng nhỏ chất dinh dưỡng mà chủ yếu là các nguyên tố trung lượng và vi lượng, dung dịch sau khi phun qua lá cần tạo một lớp màng mỏng trên mặt lá với thời gian tồn tại lâu nên khi phun phải chọn lúc trời râm mát, dung dịch dinh dưỡng dễ bị rửa trôi khỏi lá nên hiệu quả hấp thu phụ thuộc vào thời tiết, có thể gây cháy lá cục bộ do mất cân bằng dinh dưỡng nên cần sử dụng đúng nồng độ khi phun qua lá, không nên phun phân bón lá khi cây đang ra hoa, lúc trời đang nắng sẽ làm rụng hoa, quả và làm giảm hiệu lực của phân bón Theo Romheld and Fouly (1999), sự hấp thu dinh dưỡng qua lá qua 5 bước cơ bản như sau:

Bước 1: Làm ướt bề mặt lá bằng dung dịch dinh dưỡng:

Vách ngoài của những tế bào lá được bao phủ bởi lớp cutin và một lớp sáp

có đặc tính chống thấm nước rất mạnh Để hấp thu các chất dinh dưỡng dễ dàng,

ta có thể bỏ thêm các chất phụ gia để làm giảm sức căng bề mặt

Bước 2: Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào:

Sự xâm nhập của chất lỏng xuyên qua bề mặt có sức căng cao và các khí khổng nên cần tạo các giọt nhỏ liên kết với sự bốc hơi Khi sự bốc hơi xảy ra, mức

độ xâm nhập đạt cao nhất và sự hấp thu liên tục xảy ra với phần chất rắn còn lại Bước 3: Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các thành vách tế bào (apoplast) bên trong lá cây:

Trang 37

Các apoplast rất quan trọng để chứa các chất dinh dưỡng trước khi chúng được hấp thu vào bên trong từng tế bào Các chất dinh dưỡng sẽ vào những apoplast này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá cũng như được hấp thu từ rễ qua các mao mạch trong thân cây

Bước 4: Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào:

Việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các apoplast vào bên trong từng tế bào lá cũng giống như sự hấp thu từ rễ và tốc độ hấp thu như sau:

- Những phân tử nhỏ nhanh hơn những phân tử lớn (urea > Fe-Chelates)

- Những phân tử không mang điện nhanh hơn các ion tĩnh điện

- Những ion hoá trị một nhanh hơn các ion đa hoá trị

- Độ pH của không bào (apoplast) thấp sẽ hấp thu các anion nhanh hơn

- Độ pH của không bào (apoplast) cao sẽ hấp thu các cation nhanh hơn

- Khả năng hấp thu của các tế bào lá cây cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại vi như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng…

Khi áp dụng những chất dinh dưỡng lưu động (mobile nutrients) cho các

lá non, lá còn đang phát triển thì sự chuyển dịch xuống rễ chậm hơn, điều này kích thích sự hấp thu dinh dưỡng từ rễ do bộ lá phát triển và quang hợp tốt hơn

Các chất dinh dưỡng bất động (immobile nutrients) áp dụng trên cả lá già

và lá non sẽ chuyển dịch chậm xuống rễ, như vậy không gây nên sự thay đổi nào hoặc có thể làm gia tăng lượng dinh dưỡng hấp thu từ rễ

Bước 5: Sự phân bổ từng chất dinh dưỡng riêng biệt bên trong và chuyển dịch chúng ra ngoài lá:

Sau khi phun phân bón thì tùy thuộc vào từng mô libe và tính cơ động của

hệ mao dẫn Các chất dinh dưỡng lưu động libe (phloem mobile nutrients) như N,

P, K, Mg được phân bố vào mỗi mô mao dẫn cũng như mỗi mô libe bên trong lá cây, và một tỷ lệ lớn các chất dinh dưỡng đã hấp thu sẽ được vận chuyển ra khỏi

lá tới các bộ phận khác của cây nơi có nhu cầu cao

Ngược lại các chất dinh dưỡng có khả năng cơ động nhưng bị giới hạn bởi libe (nutrients with a restricted phloem mobility) như Ca, Cu, Fe, Mn, Zn sẽ được phân bố chính cho mỗi mô mao dẫn bên trong lá cây và không có sự chuyển dịch đáng kể nào ra ngoài

Trang 38

2.8.3 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá trên thế giới và Việt Nam 2.8.3.1 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá trên thế giới

Phân bón qua lá phát huy được hiệu lực nhanh, hiệu quả đến 90% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi đó bón phân qua đất cây chỉ sử dụng 40 - 45%

Theo Ikeda et al (1991) phun phối hợp Mg và N làm tăng sản lượng chất khô và đặc biệt bón phối hợp N + Mg, N + Mg + Mn, N + Mg + Zn tăng năng suất của lúa mỳ 30 - 30,9% Bón Mg và N+Mg làm tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng sản lượng chất khô của lúa mỳ, tăng năng suất của rau trong hai điều kiện đất nghèo Mg++ và giầu Mg++ và K+, bón đạm qua lá có thể không làm tăng năng suất đáng kể với lúa mỳ và rau ăn lá nhưng nó làm tăng hàm lượng protein ở cây này, cải thiện chất lượng nông sản

Lam and Morahan (1993), phát hiện ra rằng, năng suất và hàm lượng đường của củ cải đường trong điều kiện thiếu đạm đã tăng lên khi sử dụng hỗn hợp đạm nitrate phun qua lá nhưng không làm tăng năng suất trong điều kiện đủ đạm

Biểu hiện thiếu Mg là biểu hiện rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là vùng đất cát và đất chua, đất có hàm lượng K+ dễ tiêu cao Vì vậy, việc cung cấp Mg để ổn định và nâng cao năng suất cây trồng là rất cần thiết Hai nguyên tố Mg++ và K+ có mối quan hệ đối kháng nhau trong đất, nếu hàm lượng

Mg++ và K+ đều cao, Mg++ có thể trở thành nguyên tố bị thiếu đối với cây, nhưng bón Mg++ vào đất có thể gây mất cân bằng ion và gây ngộ độc đối với cây, do đó việc bón Mg++ qua lá là phương pháp tốt nhất để điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng và cải thiện sự sinh trưởng của cây (Bolton, 1992)

Theo Ciler (1991), khi sử dụng magiesunphat (MgSO4 7H2O) phun qua

lá có ảnh hưởng tốt đến sự hấp thu Mg++, làm tăng hàm lượng diệp lục, năng suất chất khô của cây kiều mạch

Theo Matula (1996), việc bón Mg++ vào đất có thể không hiệu quả vì sự hấp thu Mg++ trong đất phụ thuộc vào nhiều tỷ lệ Mg++/K+ ở trong đất, nếu hàm lượng của hai ion này không được tối ưu hóa Chitosan là một hợp chất hữu cơ tự nhiên giầu cacbon, Nitơ, được phối trộn với các nguyên tố khoáng khác dạng phế phẩm dinh dưỡng qua lá Chitosan có vai trò như một chất kích thích sinh trưởng của cây, tăng khả năng ra chồi, mầm hoa, tăng khả năng chống lại một số nấm và

vi sinh vật gây hại Chitosan có mặt ở các bộ phận rễ, lá hoa và quả của cây nhưng ở nồng độ thấp, nó có tác dụng kích thích các hoạt động của các bộ phận

Trang 39

trong cây (Oua and Asseliu, 1992)

Kết quả nghiên cứu của Hiroko (2002), khi sử dụng Chitosan cho cây lúa

ở Thái Lan với nồng độ 20 ppm đã làm tăng khả năng sinh trưởng, tích lũy chất khô, đặc biệt tăng số bông và tăng năng suất lúa

Nghiên cứu của Vasconuelo and Boland (2003), cho thấy Chitosan xử lý cho cây là tăng quá trình ligin hóa thành tế bào và làm tăng sự tích lũy axit ascorbic có tác dụng điều hòa gen tự vệ của cây, do đó Chitosan làm tăng tính đề kháng của thực vật, nhất là đối với các vấn đề nấm (mốc sương, phấn trắng,…) trên cây cà chua, dưa chuột Theo Punnja (1994), tưới chitosan nồng độ thấp cho cây phong lan làm tăng khả năng phân hóa mầm hoa và tăng khả năng kháng virut gây bệnh

Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn sản xuất cho thấy bón phân qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản, tăng giá trị của nông sản hàng hóa như người ta phun ure lên lá với nồng độ 0,5-1,5% Tuy nhiên, phần lớn các loại phân bón qua lá là những hỗn hợp các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng ở dạng hòa tan trong nước, để nâng cao hiệu quả của phân bón qua lá, người ta thường bổ sung thêm các chất kích thích sinh trưởng, các phytohocmon, các enzym

2.8.3.2 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hiện nay đã có khá nhiều các loại phân bón qua lá Có những loại do Việt Nam sản xuất như Đầu trâu 502, Đầu trâu 902, Thiên Nông, HVP301 N, Comix, HB101, Biofact, BK104, CSF 002, Humid,… các loại nhập ngoại như: Sweet, Atonix, lục thủy phần, Vạn Niên Hồng, Open all,…

Phân bón lá phức hữu cơ Pomior đã được thử nghiệm trên diện rộng, từ năm 1995 ở các vùng: Yên Hưng (Quảng Ninh), Phù Yên (Sơn La), Yên Dũng, Hiệp Hòa (Bắc Giang), Tiên Sơn (Bắc Ninh), Ngọc Lặc (Thanh Hóa), Mỹ Hào (Hưng Yên), Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội), Nghệ An, Nha Trang, Huế,… Trên tất cả các loại cây trồng: Lúa, màu, cây ăn quả, hoa cây cảnh Ở các địa phương trên đều có nhận xét tốt: Năng suất tăng nhanh, cây sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân lực, phẩm chất rau, hoa, quả đạt chất lượng cao (Hoàng Ngọc Thuận, 1996)

Phân vi sinh qua lá Biogro là chế phẩm được chiết rút từ vi sinh vật nên có nguồn gốc hữu cơ Cũng do được chiết rút từ vi sinh vật, nên tác dụng của nó có

Trang 40

thể được đẩy nhanh hơn (5-7 ngày) so với vi sinh vật bón qua rễ Phân vi sinh Bogro bón qua lá, giúp cây trồng phát triển nhanh hơn, năng suất cao hơn, rút ngắn thời gian cho thu hoạch (Chu Thị Thơm và cs., 2006) Từ trước đến nay người ta vẫn phun cho lá các loại phân vi lượng, đa lượng có nguồn gốc hóa học

Bùi Hồng Vân (1996), đã sử dụng chế phẩm qua lá ở trong nước đó là phân Sài Gòn Safe (HQ và VA) được chiết xuất từ các hợp chất hữu cơ vi lượng

và khuyến nông 301 trên vụ lạc xuân giống trạm tuyên tại hợp tác xã Xa La - thị

xã Hà Đông thấy phân qua lá đã có tác dụng rõ rệt: cây phát triển nhanh, thân cây

to, lá dầy, màu xanh sáng, ít sâu bệnh hơn so với không phun Số quả chắc trên cây chênh lệch không đáng kể nhưng số quả hai hạt trên cây tăng rõ Phân qua lá trong nước cho sản xuất bội thu từ 15,8-18,9%

Những kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng phân bón lá trên các loại cây trồng khá tốt Theo Vũ Cao Thái (1996), sản lượng tăng trung bình từ 10-20% đối với cây lấy lá và cây lấy quả, 5-10% với lúa Điều này khá rõ vì lá là

cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây thông qua các quá trình sinh lý, sinh hóa và quang hợp Khi bón phân qua lá, tốc

độ hấp thu dinh dưỡng nhanh và hiệu quả sử dụng cao, khắc phục được những hạn chế khi bón phân vào đất do sự rửa trôi, bốc hơi hay giữ chặt trong đất Hiệu quả sử dụng phân bón vào đất chỉ đạt 40-45% trong khi đó với phương thức bón phân qua lá có thể nâng hiệu quả sử dụng của cây tới 90-95% Đây là cơ sở hợp

lý để đưa những nguyên tố vi lượng vào những dạng phân bón lá để tăng hiệu quả và tiết kiệm Mặt khác, bón phân qua lá giúp cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt

* Nghiên cứu sử dụng phân bón cho cây dược liệu

Đối với cây trồng nói chung và cây thuốc nói riêng phân bón là nhu cầu cần thiết để cây trồng sinh trưởng phát triển Đồng thời, bón phân còn quyết định

cả năng suất và hoạt chất của cây Chế độ phân bón hợp lý sẽ tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển thuận lợi, cho năng suất cao, chất lượng dược liệu tốt Chế độ phân bón quá cao cây sinh trưởng mạnh tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển, dư lượng hóa chất tồn dư trong sản phẩm nhiều không kiểm soát được, có hại đến sức khỏe của người sử dụng Chế độ phân bón thấp quá cây sinh trưởng kém còi cọc, năng suất, chất lượng dược liệu thấp Do đó, xác định được lượng phân bón thích hợp cho năng suất và chất lượng dược liệu tốt có ý nghĩa lớn đối với sản xuất dược liệu

Ngày đăng: 20/03/2021, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm