Ảnh hưởng của một số yếu tố tới sự phát sinh gây hại của bệnh đốm đen hoa hồng .... Ảnh hưởng của các môi trường tới sự sinh trưởng của nấm Marssonina rosae gây bệnh đốm đen hoa hồng ...
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN KỲ NAM
NGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM ĐEN HẠI HOA HỒNG TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI – TỈNH YÊN BÁI VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2016 – 2017 VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng công trình này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được sử dụng cho một báo cáo luận văn nào và chưa được sử dụng bảo vệ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho tôi thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Kỳ Nam
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành tốt luận văn này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Nguyễn Hà đã hướng dẫn, giúp đỡ, dìu dắt tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học – Học Viên Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban lãnh đạo, cán bộ Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi tiến hành đề tài được thuận lợi
Tôi xin cảm ơn tới sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người thân luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Kỳ Nam
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục biểu đồ ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.1 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae) 4
2.1.2 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum) 5
2.1.3 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi) 6
2.1.4 Bệnh thối xám hoa hồng (Botrytis cinerea Pers.) 6
2.1.5 Bệnh phấn trắng hoa hồng (Sphaerotheca pannosa var rosae) 7
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
2.2.1 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa) 9
2.2.2 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae) 10
2.2.3 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum) 11
2.2.4 Bệnh thán thư (Colletotrichum rosae) 11
2.2.5 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi) 12
2.2.6 Bệnh thối xám (Botrytis cinerea Pers.) 13
Trang 5Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 14
3.1 Địa điểm nghiên cứu 14
3.2 Thời gian nghiên cứu 14
3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 14
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 14
3.4 Nội dung nghiên cứu 14
3.5 Phương pháp nghiên cứu 15
3.5.1 Phương pháp điều tra, thu thập mẫu ngoài đồng ruộng 15
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 18
3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá 21
Phần 4 Kết quả và thảo luận 23
4.1 Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng tại Yên Bái vụ đông xuân 2016-2017 23
4.1.1 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum (Pers.) Shltdl) 24
4.1.2 Bệnh thán thư (Colletotrichum sp.) 25
4.1.3 Bệnh đốm đen lá (Marssonina rosae) 26
4.1.4 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa var rosae Wor.) 26
4.1.5 Bệnh thối xám (Botrytis cinerea Pers.) 27
4.2 Kết quả một số nghiên cứu về nấm Marssonina rosae 28
4.2.1 Đặc điểm hình thái nấm Marssonina rosae 28
4.2.2 Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo nấm Marssonina rosae 29
4.2.3 Ảnh hưởng của các môi trường nuôi cấy khác nhau đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae 30
4.2.4 Ảnh hưởng của một số loại thuốc hóa học đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae 31
4.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố tới sự phát sinh gây hại của bệnh đốm đen hoa hồng 32
4.3.1 Ảnh hưởng của vùng trồng hoa tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 32
4.3.2 Ảnh hưởng của giống hoa tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 34
4.3.3 Ảnh hưởng của tuổi cây tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 36
4.3.4 Ảnh hưởng của nền đất canh tác tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 37
4.3.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 38
Trang 64.3.6 Ảnh hưởng của phương pháp tưới tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 40
4.3.7 Ảnh hưởng của việc cắt tỉa tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 41
4.3.8 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng 43
4.4 Biện pháp phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng 44
4.5 Tình hình canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây hoa hồng tại thành phố Yên Bái 47
4.5.1 Tình hình canh tác cây hoa hồng 47
4.5.2 Tình hình sử dụng thuốc hóa học trên cây hoa hồng 48
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
Tài liệu tham khảo 53
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng tại Yên Bái vụ đông xuân
2016-2017 23 Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái của nấm Marssonina rosae gây bệnh đốm đen
hoa hồng 28 Bảng 4.3 Mức độ nhiễm bệnh đốm đen hoa hồng và thời gian tiềm dục nấm
Marssonina rosae trên một số giống hoa hồng 29 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các môi trường tới sự sinh trưởng của nấm
Marssonina rosae gây bệnh đốm đen hoa hồng 30 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của một số thuốc ở các nồng độ khác nhau đến sự phát
triển của nấm Marssonina rosae gây bệnh đốm đen hoa hồng trên môi trường PGA 32 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của vùng trồng hoa tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng
tại Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 33 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến bệnh đốm đen tại Yên
Bái vụ đông xuân 2016-2017 35 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của tuổi cây tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng tại
Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 36 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của nền đất canh tác tới diễn biến bệnh đốm đen hoa 37 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới diễn biến bệnh đốm đen tại Yên Bái
vụ đông xuân 2016-2017 39 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phương pháp tưới tới diễn biến bệnh đốm đen tại
Yên Bái vụ đông xuân 2016-2017 41 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của việc cắt tỉa tới diễn biến bệnh đốm đen tại Yên Bái
vụ đông xuân 2016-2017 42 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đạm tới diễn biến bệnh đốm đen
tại Yên Bái vụ đông xuân 2016-2017 43 Bảng 4.14 Hiệu lực phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng của một số loại thuốc
hóa học 45 Bảng 4.15 Tình hình canh tác trên cây hoa hồng vụ đông xuân 2016-2017 tại
Yên Bái 47 Bảng 4.16 Tình hình sử dụng thuốc trừ bệnh đốm đen hoa hồng của nông dân 48 Bảng 4.17 Danh mục các loại thuốc hóa học thường sử dụng phòng trừ bệnh
đốm đen hoa hồng tại Yên Bái 49
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Bào tử hạ nấm gỉ sắt (Phragmidium mucronatum) 24
Hình 4.2 Bào tử đông nấm gỉ sắt (Phragmidium mucronatum) 24
Hình 4.3 Triệu chứng bệnh gỉ sắt trên hoa hồng 24
Hình 4.4 Triệu chứng bệnh thán thư trên lá hoa hồng 25
Hình 4.5 Bào tử nấm thán thư ( Collectotrichum capsici (Syd.)) 25
Hình 4.6 Triệu chứng bệnh đốm đen trên lá hoa hồng 26
Hình 4.7 Triệu chứng bênh phấn trắng trên hoa hồng 27
Hình 4.8 Bào tử phân sinh của nấm thối xám (Botrytis cinerea Pers.) 27
Hình 4.9 Bào tử nấm Marssonina rosae 28
Hình 4.10 Phương pháp lây bệnh nhân tạo 30
Hình 4.11 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae 31
Hình 4.12 Bố trí thí nghiệm khảo sát hiệu lực của một số thuốc hóa học phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng 46
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy khác nhau đến sự phát triển
của nấm Marssonina rosae 31 Biểu đồ 4.2 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng tại các vùng trồng khác nhau tại
Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 34 Biểu đồ 4.3 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng trên các giống hồng khác nhau tại
Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 35 Biểu đồ 4.4 Mức độ bênh đốm đen hoa hồng trên các tuổi cây khác nhau tại
Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 37 Biểu đồ 4.5 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng trên các chân đất khác nhau tại
Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 38 Biểu đồ 4.6 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng trên các mật độ trồng khác nhau
tại Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 40 Biểu đồ 4.7 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng trên các phương pháp tưới khác
nhau tại Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 41 Biểu đồ 4.8 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng trên các biện pháp cắt tỉa khác
nhau tại Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 43 Biểu đồ 4.9 Mức độ bệnh đốm đen hoa hồng trên các công thức bón phân đạm
khác nhau tại Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 44 Biểu đồ 4.10 Hiệu lực phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng của một số thuốc hóa
học 46
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Kỳ Nam
Tên luận văn : “Nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng tại thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 và biện pháp phòng trừ”
Phương pháp nghiên cứu
Điều tra diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng vụ Đông Xuân 2016-2017 tại Yên Bái ngoài đồng ruộng theo phương pháp cố định ruộng điều tra, điều tra theo 10 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 5 cây, mỗi cây 1 cành cố định Khảo sát hiệu lực của 3 loại thuốc hóa học Anvil 5SC, Daconil 75WP, Ridomil Gold 68WG phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng trên đồng ruộng Mẫu bệnh nấm Marssonina rosae thu thập có triệu chứng điển hình được phân lập nuôi cấy trên môi trường nhân tạo Nghiên cứu đặc điểm hình thái của nấm Marssonina rosae trên môi trường PGA, WA Lây bệnh nhân tạo bệnh đốm đen hoa hồng Ảnh hưởng của 3 loại thuốc hóa học Anvil 5SC, Daconil 75WP, Ridomil Gold 68WG đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae trên môi trường nhân tạo
Kết quả chính và kết luân
Điều tra diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng, ảnh hưởng của một số yếu tố tới bệnh đốm đen hoa hồng tại Yên Bái, kết quả cho thấy mức độ gây bệnh trên các công thức so sánh là khác nhau
Khảo sát hiệu lực thuốc hóa học ngoài đồng ruộng cho thấy thuốc Anvil 5SC, Daconil 75WP và Ridomil Gold 68WG đều có khả năng phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng
Trang 12Lây bệnh nhân tạo trên 3 giống hoa hồng là hồng đỏ Pháp, hồng Tỉ Muội và hồng Trắng Trung Quốc với 2 phương pháp lây bệnh là sát thương và không sát thương Kết quả cho thấy các giống khác nhau thì số lá bị lây bệnh cũng khác nhau ở từng phương pháp
Thí nghiệm so sánh ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae cho thấy trên môi trường PGA nấm phát triển mạnh hơn so với môi trường WA
Thí nghiệm ảnh hưởng của một sô loại thuốc hóa học đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae cho thấy cả 3 thuốc Anvil 5SC, Daconil 75WP và Ridomil Gold 68WG đều có sự ức chế nhất định đến sự phát triển của nấm
Trang 13THESIS ABSTRACT Author: Nguyễn Kỳ Nam
Thesis title: “|Study black spot on rose disease commission in the city of Yen Bai - Yen Bai province 2016-2017 winter-spring crop and control measures”
Major: Plant protection Program code: 60 62 01 12
Training institution: Vietnam National University of Agriculture
Aims
Marssonina rosae fungus is the causative agent of black spot on roses The study assessed on the prevalence of disease, the effects of ecological and technical factors on the development of disease and disease control measures in Vietnam is still limited Based on the reality, we conducted a survey on black spot disease in Yen Bai city - Yen Bai province in the winter-spring crop of 2016 - 2017 Surveys effect of fungicides to the black spot on rose disease in the field to Isolates, culture and identify
of Marssonina rosae causing black spot disease on rose in Yen Bai
Methods
Investigation of black spot on rose disease in spring-winter crop 2016-2017 in the field ay Yen Bai by fixed method of survey field, survey at 10 crosspoints, each surveyed 5 plants, each plant 1 regulations to determine 3 chemical drugs Anvil 5SC, Daconil 75WP, Ridomil Gold 68WG to prevent black spot disease in the field The sample of Marssonina rosae fungus with typical symptoms were isolated shown on artificial medium Morphological characteristics of Marssonina rosae fungus on PGA,
WA Pathogenicity test was conducted Effects of three chemical drugs Anvil 5SC, Daconil 75WP, Ridomil Gold 68WG on the development of Marssonina rosae fungus
on artificial medium
Main results and conclusions
Investigation of the disease black spot damage , the influence of some ecological factors (area of cultivation of flowers, old trees, soil cultivation) and techniques (planting density, irrigation methods, pruning , fertilizer nitrogen) to black spot disease rose in Yen Bai, the results showed that disease-causing levels of severity on formulas
is different
Survey disease control effect of some fungicides drugs in the field showed Anvil 5SC effective drug prevention is 73.36% after 14 days of spraying, Daconil 75WP is 68.85%, Ridomil Gold 68WG is 67,3%
Trang 14Pathogenicity on three red rose varieties including French, red roses and white sisterhood China with 2 methods of infection is damage and no damage Results showed, the number of infected leaves are also different in each method
Laboratory comparisons of environmental impact to the development of fungal Marssonina rosae shows PGA was more favourable for fungus than WA
Experiments influence of some fungicede to the development of fungal Marssonina rosae shows all 3 fungicides Anvil 5SC, Daconil 75WP and Ridomil Gold 68WG could inhibiting the growth of fungies
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong các loài hoa, hoa hồng là cây thuộc chi Rosa, họ Rosaceae, đây là
họ rất lớn thuộc loại thực vật thân bụi, phổ biến trên toàn thế giới Hoa hồng được xem là chúa tể của các loài hoa bởi sự đa dạng về chủng loại, màu sắc, vẻ đẹp quyến rũ, hương thơm dịu dàng kín đáo không phải loài hoa nào cũng có
Hiện nay trên thế giới hiện nay, công nghệ sản xuất hoa càng ngày càng hiện đại, đặc biệt là các công nghệ nhân giống mới và chuyển giao kỹ thuật Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất thế giới chiếm trên 60% lượng hoa xuất khẩu thế giới Chủ yếu là hoa tuy líp và hoa hồng Sau đó đến Colombia chiếm 12% chủ yếu là hoa hồng và hoa cẩm chướng Nước nhập khẩu nhiều nhất là nước Đức sau đó đến Mỹ Theo thống kê năm 1987 Đức nhập khẩu hoa hồng 882 triệu USD, gấp khoảng 3 lần Mỹ Hoa hồng cũng là cây có giá trị quan trọng ở Anh Quốc với giá xuất khẩu khoảng 699.000 bảng Anh vào năm 1997
Ở Việt Nam, hoa hồng được trồng khắp mợi nơi trong cả nước từ Bắc tới Nam, là một trong những loại hoa – cây trồng quan trọng của Việt Nam Diện tích trồng hoa hồng khá cao (40%), trong khi hoa cúc (25%), lay-ơn (15%), các loài hoa khác (20-25%) diện tích thấp hơn
Bên cạnh việc không ngừng mở rộng diện tích các vùng trồng hoa chuyên canh lớn trên khắp cả nước như: Mê Linh, Tây Tựu (Hà Nội); Sapa (Lào Cai); Đông Cương (Thanh Hóa); Đà Lạt (Lâm Đồng)…bộ giống hoa cũng ngày một được phát triển phong phú từ màu sắc, kích cỡ tới chủng loại loại đáp ứng thị hiếu thị trường Một số giống được nhập có nguồn gốc từ: Hà Lan, Mỹ, Colombia, Nhật, Trung Quốc…cùng với trình độ thâm canh cao, phần lớn các giống đều đảm bảo năng suất, chất lượng, giá trị thẩm mỹ đạt yêu cầu Nhưng cũng từ đó mà nguôn sâu bệnh hại trên hoa ngày một gia tăng, gây hại nặng luôn
là vấn đề mà người sản xuất và kinh doanh hoa lo lắng
Cây hoa hồng là một trong những loài hoa quan trọng có tỷ lệ bị sâu bệnh gây hại cao nhất Thành phần sâu bệnh trên hoa hồng rất phong phú, trong thời gian gần đây một số sâu, bệnh hại đã được các tác giả nghiên cứu như: nhện đỏ, sâu khoang, sâu xanh, bệnh phấn trắng, bệnh gỉ sắt, bệnh thối xám, bệnh u sùi …
Trang 16Đặc biệt, các bệnh nấm hại trên lá nói chung, bệnh đốm đen lá hại hoa hồng nói riêng là các loài bệnh hại nguy hiểm, gây hại trên lá làm giảm khả năng quang hợp, trao đổi chất của cây, gây thiệt hại về năng suất Các bệnh hại này hiện nay trên thế giới đang được quan tâm với nhiều nghiên cứu đang được tiến hành Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu về loài bệnh hại do nấm trên lá hoa hồng là chưa nhiều Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất nhằm hạn chế bệnh hại, đảm bảo năng suất cho cây hoa hồng, được sự phân công của Bộ môn Bệnh cây - Khoa Nông Học - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Nguyên Hà, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng tại thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017
và biện pháp phòng trừ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu, xác định thành phần nấm bệnh hại hoa hồng tại thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái vụ Đông Xuân 2016-2017 Nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh, tìm hiểu diễn biến, đánh giá mức độ thiệt hại và biện pháp phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng
Trang 17nước nói chung và Yên Bái nói riêng Cây hoa hồng bị nhiều bệnh hại tấn công như bệnh gỉ sắt, bệnh đốm đen Tuy nhiên, hiện nay có rất ít thông tin về nguyên nhân cũng như biện pháp phòng trừ bệnh
Việc xác định chính xác tác nhân gây bệnh và thử nghiệm biện pháp phòng trừ sẽ cung cấp thông tin khoa học giúp nông dân trồng hoa, ít nhất tại địa bàn tỉnh Yên Bái có thể áp dụng hiệu quả biện pháp phòng chống bệnh hại hoa hồng
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện được khá nhiều loài vi sinh vật gây bệnh trên cây hoa hồng
Pirone (1960) đã ghi nhận có 02 loài virus 03 loài vi khuẩn và 30 loài nấm gây bệnh trên cây hoa hồng Ở Venezuela ghi nhận 18 loài nấm gây bệnh trên lá
và hoa , 6 loài nấm gây bệnh trên thân và 2 loài nấm gây bệnh trên rễ Có những loài nấm gây bệnh trên tất cả các bộ phận chính (lá, hoa, thân, rễ) của cây hoa hồng như nấm Fusarium sp., Botrytis sp., nhưng có một số loài chỉ gây bệnh trên
lá và hoa như Erysiphe sp., Phragmidium sp., Phoma sp và cũng có loài nấm chỉ gây bệnh trên rễ và thân cây hoa hồng như Botryo diplodia
2.1.1 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae)
2.1.1.1 Phân bố
Theo Horst (1983) bệnh đốm đen hoa hồng được thông báo đầu tiên ở Thụy Điển (1815), sau đó là ở Pháp , Bỉ, Đức, Anh và ở Hà Lan (1844) Bệnh được ghi nhận lần lượt ở Mỹ (1830), Nam Mỹ (1880), Úc (1892), Liên Xô (1907), Trung Quốc (1910), Canada(1911), ở Châu Phi (1920-1922), Ấn Độ (1941) và Thổ Nhĩ Kỳ (1947) Nấm gây bệnh phát hiện khắp các vùng trồng hoa hồng và thậm chí ở các đảo như Philipine, Malta, Hawai và Newzealand
2.1.1.2 Triệu chứng
Theo Westcott (1972) triệu chứng là xuất hiện nhiều hay ít những đốm đen tròn lớn 12mm, có viền và mép đâm tia
2.1.1.3 Nguyên nhân gây bệnh
Baker (1948) cho rằng nguyên nhân gây bệnh là nấm D rosae Dạng sinh sản vô tính là nấm M rosae Nấm D rosae hình thành các quả thể hình cầu trên các vết bệnh già, cũ và qua đông ở đó, chúng chính là nguồn lây nhiễm đầu tiên vào mùa xuân trên đồng ruộng
2.1.1.4 Đặc điểm phát sinh phát triển
Hosrt (1983) cho biết: sợi nấm phân nhiều nhánh, không màu khi còn non,
về già sợi nấm sẫm màu Sợi nấm sinh trưởng trong môi trường PDA và môi trường Malt agar rất chậm, tối thiểu từ 15-37 ngày, một tháng sau khi nuôi cấy
Trang 19mới đạt đường kính tản nấm từ 2-9mm và tính độc mất đi sau một vài tháng nuôi cấy Wenefride (1993) đã xác định kích thước bào tử 21,1- 25,3 μm; các chủng nấm chia 4 nhóm màu: Nâu củ hành, hồng sáng, xám nhạt và nâu của củ hành với sự pha trộn giữa đốm nâu đỏ và vàng màu sắc tản nấm M.rosae, giai đoạn vô tính của nấm D.rosae đã được khẳng định sự đa dạng của nấm này Nấm M rosaecó khả năng thích ứng nhiệt độ khá rộng (15- 17OC), điều kiện tốt nhất của bệnh là có độ ẩm tương đối trên 85% và lá được để ẩm liên tục ít nhất trong 6 giờ hoặc hơn, nhiệt độ thuận lợi nhất cho sự nẩy mầm của bào tử là 18- 20OC Ở nhiệt độ này sự nẩy mầm của bào tử bắt đầu sau 9 giờ và tỷ lệ nảy mầm có thể đạt tới 96% trong 36 giờ Bào tử phân sinh chết, không nẩy mầm ở 33OC, ở nhiệt
độ 30OC chúng có thể nẩy ầm nhưng không đủ sức để phát triển đủ sức để phát triển Sợi nấm sinh trưởng mạnh nhất ở 21OC và ngừng phát triển sau 8 tuần ở nhiệt độ 330C Sự lây nhiễm của bào tử trên lá mạnh nhất ở nhiệt độ 19-21OC và triệu chứng bệnh có thể xuất hiện trong vòng 3-4 ngày ở nhiệt độ 22-30OC Sự lây nhiễm hoàn thành nếu lá vẫn ẩm ướt suốt 24 giờ trước khi khô
Sự lây nhiễm không thực hiện được trong không khí khô, ngay cả khi độ
ẩm tương đối 100% cũng không thực hiện được sự nẩy mầm nếu bào tử không được làm ướt
2.1.2 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum)
2.1.2.1 Phân bố
Theo Baker (1953) bệnh gỉ sắt hoa hồng phá hại rất phổ biến trên vườn trồng và cả cây hồng dại Bệnh làm rụng lá sớm dẫn đến giảm năng suất phẩm chất hoa Nấm P mucronarum được quan sát đầu tiên trên kính hiển vi vào năm
1665 do Hooker tiến hành Nuôi cấy P mucronatum có thể thực hiện trên các môi trường Agar có chứa dung dịch chiết nấm men, pepton, casein Ở Anh, bệnh
gỉ sắt đã được phát hiện thấy trên 200 giống hồng khác nhau Bệnh hại nghiêm trọng ở các vườn hoa hồng dọc theo bờ biển Thái Bình Dương
2.1.2.2 Đặc điểm phát sinh phát triển
Bào tử nấm được không khí và gió truyền di lây nhiễm ở dưới mặt lá qua các lỗ khí khổng Nhiệt độ tối thích cho sự lây nhiễm của bệnh là 18-20OC và có điều kiện ẩm ướt liên tục trong 2- 4 giờ
Baker (1953) cho rằng nấm gỉ sắt qua đông ở lá và thân cành Mùa xuân sang bào tử nấm được sinh ra và bắt đầu quá trình xâm nhiễm mới Bào tử đông
Trang 20hình thành đảm đa bào và các bào tử đảm Bào tử đảm phát tán nhờ gió, rơi lên
bề mặt lá non, cành non của cây để bắt đầu xâm nhiễm Sự nhiễm bệnh thuận lợi
ở những nơi không thông gió và có sự ngưng tụ hơi nước Nhiệt độ cao của mùa
hè làm ảnh hưởng đến sự lây nhiễm của bào tử Bào tử gỉ sắt có thể giữ được khả năng sống trong 1 tuần ở 80oF ở miền nam California Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có nhiệt độ thích hợp cho bào tử nấm gỉ sắt nẩy mầm, do có những cơn mưa rào
2.1.2.3 Biện pháp phòng trừ
Theo Forberg (1975) để phòng trừ bệnh này cần chọn tạo các giống kháng bệnh, tiêu diệt nguồn bệnh trên tàn dư, cỏ dại và ký chủ phụ, kết hợp với việc phun thuốc hoá học Peroxin 0,2- 0,4%
Theo Baker (1953) để phòng trừ bệnh, cần hái bỏ các lá già, lá bệnh thường xuyên Nên phun thuốc 6 ngày / lần vào thời kỳ có điền kiện môi trường thích hợp với sự phát triển của nấm có thể sử dụng một số thuốc hoá học sau: Sunfua đồng, Ferbam, Zineb, Maneb (cả trong giai đoạn nấm qua đông)
2.1.3 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi)
Theo Westcott (1983) có 2 loài nấm gây bệnh đốm lá Nguyên nhân thứ nhất là nấm C puderi, được ghi nhận ở bang Georgia và Texas Loài thứ hai là nấm C rosicola gây ra Bệnh được phát hiện vùng phía Nam nước Mỹ Quả thể bầu được hình thành trên các tàn dư cây bệnh Có thể phun Maneb để phòng chống bệnh này
Theo Horst (1983) bệnh đốm lá cùng do 2 loài nấm là C puderi và C rosicola gây ra Ngoài ra còn có một số bệnh đốm lá như: bệnh đốm lá do nấm Alternaria alternata gây ra các vết đốm trên lá ở thời kỳ có mưa nhiều Vết bệnh thay đổi từ màu vàng sang màu nâu đậm, các đốm to dần và xuất hiện các vòng đồng tâm trên mô bệnh của lá Gặp điều kiện ẩm ướt, các chồi hoa, nụ hoa và hoa đều có thể nhiễm bệnh Nhiệt độ tối ưu cho nấm phát triển là 30OC Các loài A brassicae var microspora Brun và các loài khác cũng đã được thông báo là nguyên nhân gây ra bệnh đốm lá trên cây hoa hồng; bệnh thán thư do nấm Colletotrichum capsici (Syd) Bult và Bisby gây ra những vết đốm đỏ hình tròn, các đốm này có thể kết hợp thành một đốm lớn Bệnh nặng các lá bị khô và dễ rụng
2.1.4 Bệnh thối xám hoa hồng (Botrytis cinerea Pers.)
Theo tác giả Horst (1983), sự hình thành bào tử tốt nhất ở bước sóng ánh
Trang 21sáng 355 nm (đèn cực tím) Một số loại nhà lưới che phủ bởi các loại màng lọc loại ánh sáng này làm giảm khả năng lây nhiễm bệnh
Theo tác giả Redmond (1987), sử dụng Isolate của nấm men và vi khuẩn đối kháng có khả năng làm giảm số lượng vết bệnh gây ra do nấm Botrytis cinerea trên cánh hoa
Elad (1993) quan sát thấy Trichoderma harzianum làm giảm triệu chứng bệnh trên hoa hồng, nếu hoa hồng được thu hoạch ngay sau khi xử lý
Hammer and Marois (1989) thành công trong việc sử dụng 2 nhân tố sinh học làm giảm triệu chứng gây ra do nấm Botrytis cinerea trên hoa hồng ở kho bảo quản (2,50C), nhưng biện pháp không có hiệu quả khi hoa chuyển từ kho bảo quản sang nhiệt độ phòng (210C) Biện pháp sinh học phòng trừ nấm Botrytis cinerea trên lá, cành và các phần khác của cây vẫn chưa được công bố, đây là nguồn lây nhiễm cho hoa hồng trong sản xuất
2.1.5 Bệnh phấn trắng hoa hồng (Sphaerotheca pannosa var rosae)
Phoatus đó mô tả bệnh phấn trắng trên hoa hồng lần đầu tiên vào khoảng
300 năm trước công nguyên Năm 1819, Wallroth đã mô tả nấm gây ra bệnh này là nấm Alphitomorpha pannosa Nó được chuyển vào loại Erysiphe là
E pannosa vào năm 1829 và cuối cùng vào năm 1851 loài nấm này được xếp vào loại Sphaerotheca Mặc dù vẫn được công nhận là S.panosa (Wallre Ex Fx) Lév một số chuyên gia đã công nhận sự phân chia loại này thành 2 loài của Woronichine đó là Var rosae lây nhiễm hoa hồng và Var persicae lây nhiễm cây đào và cây hạnh nhân Một cuộc khảo sát có quy mô lớn với các mẫu vật được lấy từ nhiều nơi trên thế giới đã đưa Coyier đi đến quyết định rằng S pannosa và S hunuili không có sự khác nhau rõ rệt và nấm phấn trắng trên hoa hoa hồng ở Mỹ là do S pannosa gây nên
Theo Westcott (1972) , bệnh phấn trắng hoa hồng được phát hiện thấy ở nhiều nơi trên thế giới Đây là bệnh phổ biến thường xuyên trong nhà kính và trên các vườn trồng Bệnh thường hại nặng trên các vườn hồng bị côn trùng và nhện đỏ phá hại Bệnh phấn trắng phá hại nặng trên các vườn hồng khi người ta
sử dụng Ferbam và những thuốc hữu cơ khác như thuốc lưu huỳnh và đồng để trừ bệnh đốm đen Bệnh phát triển phá hại nặng ở vùng bờ biển Thái Bình Dương và hại nghiêm trọng ở các vùng trồng hồng ở phía Tây Nam Phía Đông bệnh ít hơn trên các giống hồng leo vào tháng 5 như giống Dorothy Perkins,
Trang 22Crimson Rambler Bệnh hại mạnh trên các giống hồng lai vào cuối mùa hè khi nhiệt độ ban đêm thấp Để phòng trừ bệnh các tác giả khuyên nên phun bột lưu huỳnh khi thấy dấu hiệu triệu chứng bệnh đầu tiên, thuốc Lưu huỳnh có hiệu lực kéo dài cả khi thời tiết quá nóng; Karathane hiệu quả ở dạng phun nước hơn ở dạng bột, nhưng cần phải pha đúng liều lượng; Fantan cũng có hiệu quả trừ bệnh nhưng nó để lại tồn dư của thuốc trên lá (màu trắng) Theo tác giả nên chọn những giống hồng kháng bệnh là điều rất quan trọng Giống hồng đỏ, hồng lai, hồng nở hoa thành búi rất mẫn cảm với bệnh cùng những giống hồng có màu đỏda cam lại rất ít bị nhiễm bệnh Theo Massey (1948) và Moseman (1966) bệnh phấn trắng thường hại nặng trên những vườn hồng không luân canh
Horst (1983) cho rằng bệnh này phân bố rộng rãi và bệnh nguy hiểm nhất đối với cây hoa hồng Nguyên nhân gây ra bệnh phấn trắng là do nấm S.pannosa var rosae Bệnh phấn trắng phát sinh phá hại nặng ở điều kiện bón quá nhiều phân đạm Nấm bệnh làm giảm sự phát triển của lá, giảm độ bóng của hoa Sợi nấm màu trắng, đa bào, thường hình thành trên bề mặt mô bệnh, tạo vòi hút xâm nhập vào biểu bì của lá cành bào tử phân sinh ngắn, thẳng đứng Bào tử phân sinh hình thành trên đỉnh của mỗi cành, bào tử cú hình trứng hoặc hình bầu dục, mọc thành chuỗi thường có từ 5-10 bào tử trên đỉnh cành Khi gặp điều kiện không thuận lợi (nhiệt độ thấp) nấm hình thành các quả thể lớn (cleistothecia) Quả thể
có dạng hình cầu đến hình quả lê, đường kính từ 80-120 µm Quả thể non màu trắng, già có màu đen, khi có độ ẩm thích hợp quả thể giải phóng các túi và bào
tử túi ra ngoài, nhờ gió phát tán Bào tử nấm nẩy mầm ở nhiệt độ 200C từ 2-4 giờ
và có độ ẩm tương đối gần 100% Rất hiếm khi quả thể của nấm được hình thành
ở những vùng khí hậu ôn hoà hoặc trong nhà kính, bào tử nấm có thể tồn tại quanh năm Khi vào ban đêm ở trên cánh đồng khoảng 15,50C và độ ẩm tương đối là 40-70% vào ban ngày thích hợp cho sự hình thành và giải phóng bào tử Nhiều chu kỳ ngày và đêm lặp lại là điều kiện thuận lợi để hình thành dịch bệnh
Để phòng trừ, theo tác giả cần chọn các giống chống chịu bệnh kết hợp với việc phun thuốc hoá học Việc cắt tỉa chồi cành bị bệnh , thiêu huỷ những tàn dư có tác dúng hạn chế nguồn bệnh Đối với vườn hồng trồng trong nhà kính ngoài việc phun thuốc diệt nấm có thể hạ thấp ẩm độ vào ban đêm trong nhà kính bằng cách dựng quạt, máy thông hơi, dùng hơi nóng để làm giảm độ ẩm và hạn chế sự hình thành dịch bệnh trong vườn trồng
Một số tác giả cho rằng đối với hoa hồng trồng ngoài đồng ruộng nấm
Trang 23phấn trắng bảo tồn qua đông chủ yếu ở dạng sợi nấm trên nụ và quả thể trên lá bệnh , còn trên hoa hồng ở nhà kính nấm chỉ tồn tại ở dạng sợi và bào tử phân sinh (Massey 1948; Schnathorst 1965)
Để phòng trừ bệnh phấn trắng hoa hồng nên sử dúng một số loại thuốc nội hấp như Teiforin, Ferarimol, Tradimefon, Etaconazon (Geoger, 1988; Coyier, 1983)
Theo Geoger (1988), một số loài nấm như Ampelomyces quisqualis, Cladosporium oxysporum, Til1etiopsis sp., Vertiauium lecanii, rệp Thriptabasi
đã được xác nhận là ký sinh bậc 2 hoặc vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh phấn trắng là một trong những hướng đi tích cực có nhiều triển vọng trong việc phòng trừ bệnh này ngoài sản xuất
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Cây hoa hồng (Rosa sp.) thuộc họ hoa hồng (Rosaceae) có xuất xứ ở vùng
ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu Nhiều tác giả cho rằng hoa hồng được trồng đầu tiên ở vùng Tiểu á và Trung Quốc sau đó du nhập qua Hà Lan, Pháp ,Đức, Bungari và một số nước khác Ở Việt Nam hoa hồng được trồng ở khắp cả
ba miền đất nước Nước ta có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thích hợp cho hoa hồng sinh trưởng thường từ 18-25oC, độ ẩm đất từ 60-70%, độ ẩm không khí từ 80-85% Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 1500-2000 mm rất thuận lợi cho cây hoa hồng phát triển Về vấn đề bệnh hại, một số tác giả cho rằng, nhiều loại bệnh nguy hiểm phá hại nặng trên các giống hồng mới nhập nội vào nước ta Bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất và sinh trưởng của cây: các bệnh như phấn trắng, đốm đen, gỉ sắt, mụn vỏ thân cành, bệnh thối cành; ngoài ra cây hoa hồng còn bị tuyến trùng gây hại tạo u sưng trên rễ
2.2.1 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa)
2.2.1.1 Phân bố
Theo Trần Văn Mão (2001), bệnh phấn trắng là bệnh phá hại phổ biến trên các vườn hồng Bệnh hại lá, thân và cành non và nụ hoa Tỷ lệ cây nhiễm bệnh chiếm tới 50-70%, ảnh hưởng tới sự ra hoa của cây
2.2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân là do nấm Oidium sp Bệnh phát sinh vào cuối mùa đông
và ngừng phát triển vào cuối tháng 5, hại nặng vào tháng 3 ,tháng 4 Nhiệt độ thích hợp bào tử nấm nảy mầm xâm nhập là từ 17-25oC, trong điều kiện khô hạn
Trang 24hoặc ẩm ướt bệnh đều có thể phát triển được
Theo Nguyễn Xuân Linh (2000) nguyên nhân gây bệnh là do nấm Sphaerotheca pannosa var rosae (S pannosa) gây ra Trong các giống hoa hồng bệnh thường phá hại nặng trên giống Đà Lạt
Theo các tác giả Dương Công Kiên (1999) cho rằng nguyên nhân gây bệnh phấn trắng hoa hồng là do nấm Sphaerotheca pannosa Nấm phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 18OC , ẩm độ 85%, nếu nhiệt độ lên cao tới 27OC nấm sẽ chết sau 24 giờ 2.2.1.3 Biện pháp phòng trừ
Để phòng trừ bệnh cần chú ý chăm sóc tốt, thường xuyên tỉa cành, vườn thoáng gió, đủ ánh sáng Trong thời kỳ bị bệnh nên bón nhiều phân và Kali để tăng sức đề kháng cho cây, tránh bón nhiều đạm Khuyến cáo nên sử dụng hợp chất lưu huỳnh vôi 0.3O bome theo định kỳ có tác dụng tốt trong việc phòng trừ bệnh phấn trắng
Theo Nguyễn Xuân Linh (2000) nên sử dụng thuốc Score 250 ND, Anvil 5SC, Bayfidan 250 EC đạt hiệu quả cao trong việc phòng chống bệnh
Theo các tác giả Dương Công Kiên (1999) sử dụng phun Kasuran, Derosal, Ridomil rất có hiệu quả, cần kết hợp với biện pháp cắt tỉa, đốt huỷ cành
lá bị bệnh, bón thêm kali cho cây
2.2.2 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae)
Theo Trần Văn Mão (200l), bệnh đốm đen hoa hồng phổ biến và gây hại nghiêm trọng ở nhiều nước , tỷ lệ bệnh có thể tới 100% Bệnh làm lá rụng sớm,
lá rụng hoàn toàn Bệnh do nấm Actinonema rosae Fr gây ra, giai đoạn hữu tính
là nấm Diplocarpon rosae Wolf Đĩa cành hình thành dưới lớp biểu bì của lá, sợi nấm qua đông trong các cành cây khô, lá rụng và sang năm lại lây nhiễm Đầu tiên nấm xâm nhiễm vào các lá già rồi lan lên các lá non, ở điều kiện thuận lợi chỉ 3-6 ngày đã xuất hiện triệu chứng bệnh Cây bị bệnh thường sau 8-32 ngày lá rụng Nhiệt độ càng cao lá rụng càng sớm Bệnh đốm đen có thể phát sinh, phát triển quanh năm, nhưng hại nặng nhất từ tháng 9 đến tháng 11 Biện pháp phòng trừ là cần phải kịp thời tỉa cành, tránh để cành cây quá dài, cắt bỏ các cành bệnh, bón phân bón hữu cơ, phân đạm hợp lý, thu dọn sạch lá rụng dọn sạch cành lá bệnh, khử trùng đất đất bằng dung dịch đồng sulfat 1 %, thuốc tím 0,5% phun lên mặt đất hoặc dùng mùn cưa, tro bếp phủ lên mặt đất (dầy khoảng 8 mm) Tỷ lệ bệnh còn thấp dưới 10% phun Daconil 0,1%
Trang 252.2.3 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum)
2.2.3.1 Phân bố
Theo Trần Văn Mão (200l), bệnh gỉ sắt phân bố rộng ở nước ta, làm lá rụng sớm ảnh hưởng đến sự ra hoa và phẩm chất của hoa Ngoài ra bệnh còn gây hại trên cành non, hoa và quả
2.2.3.2 Triệu chứng và sự phát sinh phát triển nấm
Theo Trần Văn Mão (200l), vào mùa đông biểu hiện triệu chứng bằng những chấm đen nhỏ, đó là ổ đông bào tử của nấm gỉ sắt Sợi nấm hoặc đông bào
tử qua đông trên chồi, cành bệnh mùa xuân năm sau bào tử đông hình thành bào
tử đảm sau đó hình thành bào tử xuân, rồi hình thành bào tử hạ, bào tử hạ tái xâm nhiễm nhiều lần trên đồng ruộng Bào tử đông nảy mầm ở nhiệt độ 6-25OC, bào
tử hạ nảy mầm ở nhiệt độ 9-27OC, gặp thời tiết ấm áp, mưa nhiều bệnh thường phá hại nặng
2.2.3.3 Nguyên nhân gây bệnh
Theo Trần Văn Mão (200l), nguyên nhân gây bệnh là do nấm Phragmidium rosae- multiflorae Diet
2.2.3.4 Biện pháp phòng trừ
Theo Trần Văn Mão (200l), để phòng trừ bệnh gỉ sắt cần áp dụng các biện pháp chăm sóc, tỉa bỏ cành lá bệnh kết hợp với phun thuốc sodium -p- aminobenzen sulffonate hoặc hợp chất lưu huỳnh vôi 0,3Obome, ngoài ra cần bón thêm phân Ca, K, Mg, P với liều lượng hợp lý tăng khả năng chống chịu bệnh cho cây
Tác giả Nguyễn Xuân Linh (2000) cho rằng nên loại bỏ tàn dư cây bệnh
và cỏ dại kết hợp với việc phun thuốc Score 250 ND, Anvil 5SC
2.2.4 Bệnh thán thư (Colletotrichum rosae)
2.2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh
Theo Nguyễn Xuân Linh (2000) nguyên nhân gây bệnh là do nấm Collettotrichum rosae gây ra Bệnh gây hại trên các lá bánh tẻ, lá già, bệnh nặng lan lên ngọn, điều kiện ẩm ướt bệnh lây lan rộng
Theo Dương Công Kiên (1999) nguyên nhân gây bệnh thán thư hoa hồng
là do nấm Sphaceloma rosarum (Pass) (Elsinoe rosarum) Bệnh thường phá hại trên lá hồng dại, khi bệnh nặng các mô lá bệnh khô chết làm rách lá Bệnh có thể
Trang 26hại cả thân, cành làm cành yếu dễ gãy Bệnh có thể hại cả trên hoa và đài hoa Bệnh lây lan mạnh vào mùa xuân khi có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao Bào tử nấm lây lan nhờ nước tưới và côn trùng
2.2.4.2 Biện pháp phòng trừ
Theo Dương Công Kiên (1999), biện pháp phòng trừ khi bệnh xuất hiện phải giảm lượng nước tưới, tránh đọng nước trên lá, cần phải thu dọn tàn dư cây trồng đồng thời có thể phun định kỳ 1-2 tuần một lần một trong những thuốc Antracol, Score, Carbenzim để phòng trừ bệnh
Theo Nguyễn Xuân Linh (2000) nên dùng thuốc Topsin M 70ND với liều lượng 5- 10g/8 lít nước để phòng trừ bệnh
2.2.5 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi)
2.2.5.1 Nguyên nhân gây bệnh
Theo Trần Văn Mão (2001), nguyên nhân gây bệnh do nấm Cercospora puderi Davis (C puderi))
Nguyễn Xuân Linh (2000) cho rằng nguyên nhân gây bệnh là do nấm C rosae Bệnh hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, lá già, bệnh nặng có thể làm cho lá chóng rụng
2.2.5.2 Đặc điểm phát sinh phát triển
Theo Trần Văn Mão (2001) bào tử nấm hình ống dài hay hình đuôi chuột, không màu đến nâu nhạt Sợi nấm qua đông trong lá bệnh hoặc trong tàn dư cây bệnh, đến mùa xuân năm sau sợi nấm bắt đầu lây lan xâm nhiễm trên các lá mới Bệnh xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10 khi có ẩm độ cao trên vết đốm thường có một lớp mốc xám đen
2.2.5.3 Biện pháp phòng trừ
Theo Trần Văn Mão (2001) để phòng trừ bệnh có thể phun thuốc Daconil 0,2% hoặc Bavitis 0,2% kết hợp với việc thu dọn tàn dư cây bệnh trong vườn sẽ đạt hiệu quả cao
Theo Nguyễn Xuân Linh (2000) có thể phòng trừ bệnh bằng thuốc Topsin M- 70ND và Score 250ND Trên cây hoa hồng còn có bệnh cháy mép lá do nấm Pestalozia sp gây ra và có thể phòng trừ bệnh này bằng thuốc Daconil 75WP pha
ở nồng độ 0,20% hoặc Roval 50WP pha ở nồng độ 0,15% Bên cạnh cây hồng còn bị các bệnh hại khác do vi khuẩn, virus gây ra
Trang 272.2.6 Bệnh thối xám (Botrytis cinerea Pers.)
Theo Trần Văn Mão (2001) bệnh gây hại nặng vào mùa xuân khi tiết trời có nhiều mưa phùn, bệnh hại cả nụ hoa, tràng hoa và lá non, bệnh nặng làm hoa khô và lá rụng Để phòng trừ bệnh, theo một số tác giả nên sử dụng dung dịch Boocdo 1% hoặc Zineb 0,2% phun theo định kỳ 7 ngày / lần Theo Dương Công Kiên (1999) bệnh chết khô do nấm Botrytis cinerea Pers ex Fr gây ra, nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển là 150C Khi cây bị bệnh, nụ hoa thường không nở được, nụ bị gãy gục xuống, hoa khô cháy Theo tác giả có thể phòng trừ bằng một số loại thuốc hóa học như Kasuran, Daconil, Carbenzim định kỳ 1 tuần/ 1 lần cho hiệu quả tốt
Dương Công Kiên (1999) trên cây hoa hồng ngoài các bệnh kể trên còn
có bệnh héo do nấm Verticillium albo - atrum gây ra Bệnh gây hại làm cho các ngọn non bị héo nhưng vẫn còn xanh, các lá ở phía dưới biến vàng, ban đêm có thể phục hồi nhưng sau một vài ngày cả phần ngọn cũng chuyển sang màu vàng sau cùng biến thành màu nâu, tàn úa và chết, bệnh thường hại từ ngọn xuống Trên hoa có thể tạo những vệt đen dọc theo chiều dài cành hoa Bệnh hại nặng vào mùa k hố khi thời tiết khô hạn Hoa hồng ở ngoài trời ít bị bệnh này hơn hoa hồng được trồng trong nhà kính Theo tác giả để phòng trừ bệnh nên dùng các giống kháng bệnh như Rose multif1ora, Rose manetti Ngoài ra theo các tác giả trên cây hoa hồng còn bị một số bệnh do virus, vi khuẩn, tuyến trùng gây ra hoặc bệnh sinh lý không truyền nhiễm cũng gây hại khá nghiêm trọng trên cây hoa hồng trồng ngoài đồng ruộng
Theo Trần Văn Mão (2001) trên cây hoa hồng còn có bệnh khô lá (nguyên nhân do nấm Phyllosticta sp.) Bệnh thường phát sinh từ tháng 6 đến tháng 9, nhiệt độ càng cao, bệnh càng nặng Bệnh khô cành hồng (Coniothyrium fuckeili Sacc) Bệnh thường gây hại trên các cành non có thể làm gãy cành và cây chết Sợi nấm qua đông trên các cành bệnh, năm sau nấm xâm nhiễm lên các cây trồng mới Vì vậy để phòng trừ bệnh này cần phải tỉa cành theo định kỳ, nhất là những cành bị gãy do gió bão, kịp thời đốt bỏ những cành
bị bệnh, sau khi cắt tỉa cành cần phun thuốc Daconil 0,1% hoặc trộn Zineb 0,1%
và Benlat 0,1 % để bảo vệ cho cây
Trang 28PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Xã Minh Bảo, xã Tuy Lộc – thành phố Yên Bái- tỉnh Yên Bái
- Phòng thí nghiệm bộ môn bệnh cây – khoa Nông học – Học viện Nông nghệp Việt Nam
- Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017
3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nấm gây bệnh đốm đen hoa hồng Marssonina rosae tại thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các mẫu bệnh đốm đen hoa hồng được thu thập trên các cây hoa hồng bị nhiễm bệnh tại thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái
- Vật liệu nuôi cấy: WA, PGA
- Dụng cụ thí nghiệm: que khêu nấm, hộp petri, dao, thớt, panh, lam kính, lamen, giấy đặt ẩm, kính hiển vi, kính lúp soi nổi và một số vật tư thiết yếu khác
- Một số thuốc BVTV phòng trừ nấm bệnh:
+ Ridomil Gold 68WG (Metalaxyl M 40g/L + Mancozeb 640g/L)
+ Anvil 5SC (50g/L Hexaconazole)
+ Daconil 75WP (Chlorothalonil (min 98%))
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra thành phần, mức độ phổ biến bệnh nấm hại hoa hồng
- Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố canh tác, giống, phân bón, thời vụ đến bệnh đốm đen hại cây hoa hồng
- Khảo sát khả năng phòng trừ bệnh đốm đen bằng thuốc hóa học trong điều kiện đồng ruộng
Trang 29- Ảnh hưởng của các môi trường nuôi cấy khác nhau đến sự sinh trưởng của nấm Marssonina rosae
- Khảo sát ảnh hưởng của một số thuốc trừ nấm đến sự phát triển của nấm Marssonina rosae trên môi trường PGA
- Lây bệnh nhân tạo
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp điều tra, thu thập mẫu ngoài đồng ruộng
3.5.1.1 Phương pháp điều tra tình hình canh tác hoa hồng và tình hình sử dụng thuốc BVTV của người dân
- Điều tra theo phương pháp sử dụng phiếu câu hỏi Số hộ nông dân tham gia tra lời phiếu là 30 nông dân, tại vùng trồng hoa Yên Bái
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc và các loại thuốc thường sử dụng của người dân
3.5.1.2 Phương pháp điều tra thành phần và đánh giá mức độ phổ biến bệnh
- Điều tra thành phần bệnh: Áp dụng phương pháp điều tra theo QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT Khi điều tra tiến hành thu thập mẫu bệnh hại mang về phòng thí nghiệm để ẩm sau đó giám định vi sinh vật gây bệnh
3.5.1.3 Phương pháp điều tra diễn biến bệnh
- Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 10 điểm chéo góc Mỗi điểm điều tra 5 cây, mỗi cây 1 cành cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra
- Tính TLB(%) và CSB(%)
Lưu ý: Các điều tra được tiến hành trên cây hoa hồng mới ( là cành hoa hồng xuất hiện sinh trưởng sau khi thu hoạch hoa lứa trước, trên một gốc hoa hồng), việc theo dõi cành hoa này được đánh dấu cố định theo dõi từ khi cành hoa mới xuất hiện được 5-7 ngày
Trang 303.5.1.4 Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát sinh phát triển của bệnh đốm đen hoa hồng trên đồng ruộng
a Ảnh hưởng của vùng trồng tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
Điều tra diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng tại 2 xã của thành phố Yên Bái là xã Tuy Lộc và xã Minh Bảo
Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 10 điểm chéo góc Mỗi điểm điều tra 5 cây, mỗi cây 1 cành cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
b Ảnh hưởng của giống hoa tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
Thí nghiệm gồm 3 giống:
CT1: Giống hồng đỏ Pháp
CT2: Giống hồng Tỉ muội
CT3: Giống hồng Trắng Trung Quốc
Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 10 điểm chéo góc Mỗi điểm điều tra 5 cây, mỗi cây 1 cành cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
c Ảnh hưởng của tuổi hoa tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
d Ảnh hưởng của mật độ trồng tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
Trang 31Giống điều tra: Trắng Trung Quốc
e Ảnh hưởng của nền đất canh tác tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
Giống điều tra: Giống hồng đỏ Pháp
f Ảnh hưởng của phương pháp tưới tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
Giống điều tra: Giống hồng đỏ Pháp
g Ảnh hưởng của việc cắt tỉa tới diễn biến bệnh đốm đen hại hoa hồng
Giống điều tra: Giống hồng đỏ Pháp
h Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm tới diễn biến bệnh đốm đen hoa hồng
Thí nghiệm gồm 3 công thức:
CT1: 110kg N/ha
CT2: 180kg N/ha
CT3: 260kg N/ha
Trang 32Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 10 điểm chéo góc Mỗi điểm điều tra 5 cây, mỗi cây 1 cành cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
i Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng
Thiết kế thí nghiệm theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), mỗi công thức nhắc lại 3 lần Mỗi lần nhắc lại có diện tích ô thí nghiệm 30m2
Thí nghiệm gồm 4 công thức (Các thuốc hóa học đều được xử lý ở nồng độ
và phương pháp khuyến cáo)
CT1: Anvil 5SC (50g/L Hexaconazole)
CT2: Ridomil Gold 68WG (Metalaxyl M 40g/L + Mancozeb 640g/L) CT3: Daconil 75WP (Chlorothalonil (min 98%))
CT4: Đối chứng không sử dụng thuốc hóa học
Điều tra trước phun 1 ngày, sau khi phun thuốc 7 ngày và 14 ngày, theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cây, mỗi cây 1 cành cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%).Tính hiệu lực thuốc (%) theo công thức Henderson – Tilton
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
3.5.2.1 Phương pháp điều chế môi trường
- Môi trường PDA
Thành phần: + Khoai tây : 200 gram
- Môi trường PCA và nước chiết lá hồng:
Trang 333.5.2.2 Phương pháp phân lập và nuôi cấy nấm trên môi trường nhân tạo
Các mẫu bệnh thu thập trong quá trình điều tra được sử dụng làm nguyên liệu để tiến hành phân lập nấm bệnh Chọn các mẫu bệnh đặc trưng còn tươi mới Tiến hành rửa sạch mẫu bệnh, rửa lại bằng nước cất vô trùng và thấm khô mẫu bệnh Cắt các mẫu bệnh kích thước 1 - 2 mm x 1 - 2 mm (lấy phần ranh giới giữa
mô bệnh và mô khoẻ) Khử trùng bằng cồn 700 trong 5-10 giây, thấm khô bằng giấy thấm vô trùng Dùng que cấy đã khử trùng cấy mô bệnh vào môi trường PGA và để ở điều kiện nhiệt độ thích hợp Sau khi sợi nấm đã mọc trên môi trường nuôi cấy, dùng que cấy đã khử trùng cắt phần đầu sợi nấm cấy chuyển sang môi trường PGA Cấy truyền 3 – 4 lần cho đến khi nhận được nấm thuần Dùng kính hiền vi để xác định những đặc điểm hình thái đặc trưng của nấm 3.5.2.3 Lây bệnh nhân tạo
Sau khi có nguồn nấm thuần khiết (isolate) nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo PGA, tiến hành tạo dung dịch bào tử bằng cách pha loãng bào
tử nấm với nước cất trong ống nghiệm hoặc hộp lồng petri Đảm bảo mật độ bào tử 104-105/ml
Thí nghiệm tiến hành với 3 công thức
Trang 34+ Công thức 1: Sát thương;
+ Công thức 2: Không sát thương;
+ Công thức 3: Đối chứng lây bệnh bằng nước cất
Dùng bông thấm nước vô trùng nhúng vào dung dịch bào tử đã chuẩn bị sẵn, đặt miếng bông có dung dịch bào tử lên lá khỏe trồng trong chậu, dùng bang dính nilon cố định miếng bông lại
Mỗi công thức lây 10 lá, 3 lần nhắc lại
3.5.2.4 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm
- Sử dụng nguồn nấm thuần khiết cấy vào giữa hộp petri với đường kính đục lỗ 5mm trên các môi trường PGA và WA
- 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại có 1 hộp petri
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Hình thái, màu sắc tản nấm + Đo đường kính tản nấm sau 1, 2, 3, 4, 5 ngày
+ Đơn vị đo: mm
3.5.2.5 Ảnh hưởng của thuốc hóa học đến sự phát sinh phát triển của nấm
- Tính toán nồng độ ( liều lượng ) và cân đủ trọng lượng thuốc hóa học cần thí nghiệm cho từng công thức
- Sau đó đổ môi trường PGA đã khử trùng vào các bình tam giác có vạch định mức để nguội dần
- Khi môi trường PGA đã nguội (600C) tiến hành cho thuốc thí nghiệm vào bình ( hoặc lượng dung dịch mẹ đã tính đủ cho từng công thức), lắc đều môi trường
- Sau đó đổ ra các hộp petri, để môi trường đông cứng, rồi cấy nguồn nấm thuần với đường kính đục lỗ 5mm vào giữa hộp petri đó
- Tiến hành thử 3 loại thuốc: Anvil 5SC, Daconil 75WP và Ridomil Gold 68WG
Thí nghiệm được tiến hành gồm 4 công thức:
+ Công thức 1: Anvil 5SC ở các nồng độ 200ppm, 600ppm và 800ppm + Công thức 2: Daconil 75WP ở các nồng độ 200ppm, 600ppm và 800ppm
Trang 35+ Công thức 3: RidomilGold 68WG ở các nồng độ 200ppm, 600ppm và 800ppm
+ Công thức 4: Đối chứng ( môi trường PGA không dùng thuốc)
- Mỗi công thức có 3 lấn nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 1 hộp petri
- Chỉ tiêu theo dõi: Đo kích thước tản nấm sau cấy 1, 2, 3, 4, 5 ngày ( đơn vị : mm)
3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá
- Tỷ lệ bệnh:
A TLB (%) = ( -) x 100
B Trong đó: