Sự phát triển của hình thức du lịch này góp phần nâng cao trình độ dân trí; phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; tạo điều kiện trao đổi và giao lưu văn hóa - xã hội giữa các dân tộc, các vù
Trang 1KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ THU THỦY
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH HOMESTAY
Ở THÔN LÔ LÔ CHẢI, XÃ LŨNG CÚ, HUYỆN ĐỒNG VĂN,
TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 2KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ THU THỦY
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH HOMESTAY
Ở THÔN LÔ LÔ CHẢI, XÃ LŨNG CÚ, HUYỆN ĐỒNG VĂN,
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Văn Hưng, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, bên cạnh sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp của các cá nhân, tập thể để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Văn Hưng đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý, chỉ bảo ân cần của các thầy, cô giáo Khoa Các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty BĐS Phù Đổng đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện
về mọi mặt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này
Mặc dù cũng đã có rất nhiều cố gắng song đây là đề tài nghiên cứu có phạm vi rộng, quá trình nghiên cứu, khảo sát và năng lực của bản thân còn hạn chế nên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành từ các Thầy, Cô giáo, đồng nghiệp và các bạn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ 5
DU LỊCH HOMESTAY 5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch homestay 5
1.1.1 Phát triển bền vững và tính bền vững 5
1.1.2 Phát triển bền vững du lịch 7
1.1.3 Phát triển bền vững du lịch homestay 9
1.1.4 Đặc điểm cơ bản của hoạt động du lịch homestay 10
1.1.5 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch homestay 11
1.1.6 Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững homestay 17
1.1.7 Nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững du lịch homestay 18
1.2 Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch homestay 19
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 25
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 26
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
1.3.3 Tài nguyên du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải 30
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp luận 33
Trang 6iv
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu áp dụng 34
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Đánh giá hiện trạng phát triển bền vững của hoạt động du lịch homestay tại Lô Lô Chải 42
3.1.1 Hiệu quả kinh tế từ hoạt động kinh doanh homestay 42
3.1.2 Vấn đề môi trường từ hoạt động kinh doanh du lịch homestay 49
3.1.3 Vấn đề xã hội từ hoạt động kinh doanh du lịch homestay 52
3.1.4 Kết quả đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch homestay tại Lô Lô Chải 55
3.2 Phân tích SWOT về tiềm năng, lợi thế, cơ hội, thách thức trong phát triển bền vững du lịch homestay ở Lô Lô Chải 60
3.3 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải 61
3.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế 61
3.3.2 Nhóm giải pháp phát triển bền vững về môi trường sinh thái 65
3.3.3 Nhóm giải pháp phát triển bền vững về Văn hóa - Xã hội 67
3.3.4 Nhóm giải pháp liên kết phát triển du lịch homestay bền vững 69
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
Kết luận 73
Khuyến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 1
Trang 7OECD Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (Organization for Economic
Cooperation and Development) PTBV Phát triển bền vững
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization )
UNWTO Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United
Nation World Tourism Organization Network )
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (United Nations
Environment Programme)
WCED Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission
on Environment and Development)
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững hoạt động du lịch homestay tại thôn Lô
Lô Chải, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 37 Bảng 2.2: Đánh giá tính bền vững dựa vào hoạt động du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (LSI) 40 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp kết quả định lượng các tiêu chí đánh giá tính bền vững về kinh
tế dựa vào hoạt động du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 56 Bảng 3.2: Kết quả đánh giá tính bền vững về môi trường trong kinh doanh du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, Hà Giang 57 Bảng 3.3: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá các tiêu chí đánh giá tính bền vững vấn đề
xã hội trong hoạt động kinh doanh du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải 58 Bảng 3.4: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá tính bền vững của hoạt động kinh doanh homestay 59 Bảng 3.5: Bảng phân tích SWOT của hoạt động du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải,
xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 60
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ làng văn hóa Lô Lô Chải 25
Hình 2.1: Đoàn nghiên cứu điều tra xã hội học người dân thôn Lô Lô Chải 35
Hình 3.1: Thu nhập bình quân của các hộ dân Lô Lô Chải 42
Hình 3.2: Hình ảnh phòng nghỉ của Lover Lô Lô Chải homestay 44
Hình 3.3: Biều đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh doanh du lịch giai đoạn 2015-2018 45
Hình 3.4: Nguồn vốn phát triển du lịch homestay của người dân Lô Lô Chải 49
Hình 3.5: Tỷ lệ mức độ sử dụng phân bón hóa học cho cây trồng của người dân 50
Hình 3 6: Cập nhật kiến thức về hoạt động du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải 53
Hình 3.7: Biểu đồ kết quả mức độ bền vững của hoạt động du lịch homestay theo 3 nhóm tiêu chí 59
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Việt Nam là nước nông nghiệp, tính đến hết năm 2019, khu vực nông thôn có khoảng 64.5% dân cư đang sinh sống; đa dạng về điều kiện sinh thái và đa dạng sinh học; đa dạng
về văn hóa truyền thống bao gồm 54 dân tộc; người dân nông thôn có truyền thống hiếu khách; Trong những năm gần đây, nắm bắt được xu thế phát triển du lịch trên thế giới, Việt Nam đã bắt đầu quan tâm phát triển hoạt động du lịch homestay ở khắp các tỉnh trên cả nước Sự phát triển của hình thức du lịch này góp phần nâng cao trình độ dân trí; phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; tạo điều kiện trao đổi và giao lưu văn hóa - xã hội giữa các dân tộc, các vùng miền trong và ngoài nước; tạo nhiều cơ hội việc làm, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho người dân bản địa,… Một số địa phương phát triển du lịch homestay từ lâu như Mai Châu ( tỉnh Hòa Bình), Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Vũ Linh (tỉnh Yên Bái)…và đặc biệt là Đồng Văn (tỉnh Hà Giang)
Huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với cao nguyên
đá, núi non hùng vĩ, đã được UNESCO công nhận là Công viên văn hoá địa chất thế giới, cần được bảo tồn như một di sản thiên nhiên Không những thế, huyện Đồng Văn còn là vùng đất nổi tiếng về văn hóa dân gian, lễ hội đặc sắc, ngành nghề thủ công truyền thống đậm đà văn hóa dân tộc của người Mông, người Lô Lô, Vì vậy, việc phát triển du lịch nói chung và du lịch homestay nói riêng là cần thiết và là thế mạnh của Đồng Văn trong quá trình phát triển kinh tế địa phương
Hiện nay, trên địa bàn huyện Đồng Văn có nhiều điểm du lịch như: Phố cổ Đồng Văn, Cột cờ Lũng Cú,…mỗi năm thu hút hàng nghìn du khách đến tham quan và khám phá Vì vậy rất nhiều địa điểm du lịch homestay được hình thành, trong đó có thôn Lô Lô Chải Quá trình hình thành ban đầu du lịch homestay ở xã Lũng Cú nói riêng và huyện Đồng Văn nói chung chủ yếu là tự phát, tự quản của người dân hoặc liên kết của một số công ty với một
số hộ dân để đầu tư cơ sở vật chất tối thiểu rồi tổ chức đón khách Do đó, không có sự thống nhất quản lý dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, chất lượng phục vụ không đảm bảo, trách nhiệm với môi trường không được quan tâm, gây nhiều hệ lụy không tốt, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và ô nhiễm môi trường, tài nguyên du lịch có
xu hướng bị cạn kiệt
Trang 11Trong chuỗi giá trị du lịch có hiện tượng phân chia lợi ích không hài hòa, các doanh nghiệp du lịch thu phần lớn lợi nhuận mà không đầu tư gì cho điểm du lịch Hoạt động du lịch cũng tách rời các hoạt động phát triển nông thôn mới do chưa có chính sách phù hợp
Vì vậy, nếu không khắc phục được các vấn đề tồn tại này thì sự phát triển du lịch homestay
ở Lô Lô Chải, xã Lũng Cú nói riêng, huyện Đồng Văn nói chung sẽ không bền vững Từ
những lý do trên, việc triển khai thực hiện đề tài “Giải pháp phát triển bền vững du lịch Homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang” là hết sức cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu và đề xuất được giải pháp phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn Lô
Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu cần thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá được tính bền vững của du lịch homestay trên các tiêu chí đánh giá đã được xây dựng
- Đề xuất được giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn
Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của phát triển bền vững
- Thực trạng phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng phát triển bền vững, các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển bền vững và các giải pháp phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang
Trang 12- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu du lịch homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu và sử dụng các số liệu liên quan đến vấn đề phát triển bền vững du lịch homestay tại Lô Lô Chải tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2015 - 2018, dữ liệu sử dụng phân tích được cập nhật đến hết năm 2018
4 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu của luận văn là:
- Hiện trạng phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang ?
- Giải pháp phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang là những giải pháp nào ?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện trạng phát triển bền vững du lịch homestay ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang đang phát triển bền vững trung bình
Thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang cần phải áp dụng thêm các giải pháp để khắc phục các vấn đề có mức phát triển bền vững thấp và trung bình, trong đó chú trọng đến các giải pháp về vấn đề môi trường
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
5.1 Về mặt lý luận
Luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu, phân tích và hệ thống hóa các khái niệm có liên quan đến phát triển bền vững du lịch nói chung và du lịch homestay nói riêng; Thu thập, phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến phát triển bền vững Xây dựng phương pháp đánh giá tính bền vững dựa trên bộ chỉ số đánh giá tính bền vững du lịch homestay
Trang 135.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ tiến hành khảo sát thực tiễn, đánh giá thực trạng phát triển bền vững du lịch homestay tại Lô Lô Chải là cơ sở để đưa ra các giải pháp PTBV trong giai đoạn tiếp theo Các nội dung này bao gồm:
- Đánh giá tính bền vững của hoạt động kinh doanh du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải;
- Phân tích SWOT hiện trạng phát triển bền vững du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải;
- Đề xuất giải phát triển bền vững du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải
5.3 Về mặt khoa học
Luận văn có thể góp phần làm phong phú thêm tài liệu tham khảo phục vụ các nhà quản lý địa phương, các nhà hoạch định chính sách, các học viên và các nhà nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về du lịch homestay
Chương 2: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ
DU LỊCH HOMESTAY 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch homestay
1.1.1 Phát triển bền vững và tính bền vững
Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo
ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Trần Ngọc Thêm, 1996)
Theo định nghĩa Triết học, trong phép duy vật biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen thì cho rằng phát triển là một phạm trù chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ
Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2018)
Trong bài giảng về “Các mô hình phát triển” của TS Lại Lâm Anh có trình bày “Phát triển được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất trong một khoảng thời gian nhất định Nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội
ở mỗi quốc gia Cần phải phân biệt phát triển với Tăng trưởng Tăng trưởng là sự gia tăng
về lượng còn phát triển là sự gia tăng cả về chất và về lượng trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm Khi nói đến sự phát triển là hàm ý nói đến cả sự tăng trưởng Phát triển là hướng tới yếu tố về con người” (Lại Lâm Anh, 2019)
Từ các khái niệm trên, có khái quát “Phát triển là quá trình vận động, biến đổi từ thấp đến cao cả về lượng và về chất trong một khoảng thời gian nhất định”
Ngày nay, ở khắp các quốc gia trên thế giới, hoạt động phát triển đang mang lại các tác động tiêu cực làm cạn kiệt tài nguyên, gây suy thoái môi trường Con người đã dần nhận thức được nguồn tài nguyên trên Trái đất là có hạn, phải được khai thác một cách hợp lý
Trang 15nhằm đảm bảo giảm thiểu tối đa các rủi ro có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của con người ở hiện tại và tương lai…Từ đây, xuất hiện khái niệm mới về hoạt động phát triển, đó
chính là “Phát triển bền vững”
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện lần đầu vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến
lược bảo tồn thế giới với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và
sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về
Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc, phát triển bề vững được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” (WCED, 1987)
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định phát triển bền vững “là quá trình phát triển có
sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục
ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)” (Nguyễn Quang Thái và nnk, 2007)
Trong thời gian gần đây, lý luận về phát triển bền vững được các nhà nghiên cứu lý luận quan tâm Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu về lý luận và các kinh nghiệm quốc tế liên quan đến phát triển bền vững, các nghiên cứu đã được triển khai phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể của nước ta Bên cạnh đó, Việt Nam là một quốc gia có diện tích tự nhiên 3/4 là địa hình núi đồi, núi với hơn 3.200km bờ biển, trải dài trên 15 vĩ tuyến, có tiềm năng tự nhiên và môi trường phong phú Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành du lịch nói riêng thì nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường nước ta đã bị khai thác cạn kiệt, không bền vững Do đó, việc nghiên cứu lý luận về phát triển bền vững làm cơ sở để phân tích đưa ra các giải pháp phù hợp và đảm bảo sự phát triển bền vững ở Việt Nam là hết sức cần thiết
Trang 16Trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, đã nêu rõ:
“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Nội dung của phát triển bền vững phải nhấn mạnh vào 3 vấn đề là: (1) Phát triển bền vững về kinh tế; (2) Phát triển bền vững về xã hội; (3) Phát triển bền vững về môi trường.”
Tính bền vững bắt nguồn từ khái niệm PTBV đã trở thành ngôn ngữ chung tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất đầu tiên trên thế giới ở Rio vào năm 1992 Trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, thuật ngữ tính bền vững được nhắc tới, trong đó nhấn mạnh việc phát triển nền kinh tế toàn cầu cần đảm bảo duy trì những hệ sinh thái cốt lõi (Brundtland, G.H., Khalid, M., 1987) Tính bền vững thường được sử dụng trong tiếp cận và nghiên cứu liên ngành nhằm đánh giá khả năng duy trì, phát triển của một hệ thống nhất định hoặc tích hợp các hệ thống Khái niệm về tính bền vững theo Đạo luật Chính sách Môi trường Mỹ, dựa trên một nguyên tắc đơn giản: Mọi thứ chúng ta cần cho sự tồn tại, phát triển hạnh phúc phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường tự nhiên của chúng ta Để theo đuổi tính bền vững việc cần làm là tạo ra và duy trì các điều kiện mà con người và thiên nhiên có thể tồn tại trong sự hài hòa sản xuất nhằm phục vụ cho nhu cầu của hiện tại và mà không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của thế hệ tương lai (USEPA, 1969)
1.1.2 Phát triển bền vững du lịch
Tùy theo mục đích nghiên cứu, quan điểm nghiên cứu, chúng ta có thể nhận định và đưa ra những khái niệm khác nhau về du lịch Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại có một số khái niệm về du lịch đang được chấp nhận và được sử dụng một cách rộng rãi như sau:
Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả
họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi lam việc cuả họ.Du lịch có thể bao gồm các khách du lịch, hoặc những gì khách du lịch làm, hoặc các
cơ quan mà phục vụ cho họ ( Nguyễn Đình Hòe, 2001)
Trang 17Du lịch là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống (UNESCO, 2003)
Du lịch là chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến (Phương Lựu, 1984)
Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (Luật
Phát triển bền vững du lịch là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai Bên cạnh đó,
sự quản lý của các ban ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ mà vẫn duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa và môi sinh ( Luật Du lịch Việt Nam, 2005)
Phát triển bền vững du lịch là tất cả hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng tất cả nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch mang lại các hiệu quả về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương (UNESCO, 2003)
Trang 18Từ những khái niệm đưa ra, ta có thể dễ dàng nhận thấy Phát triển bền vững du lịch là một trong các nội dung của phát triển bền vững chung đã được Hội nghị Uỷ ban Thế giới về Phát triển và Môi trường xác định năm 1987 Ở Việt Nam hiện nay, thông qua các bài học
và kinh nghiệm thực tế phát triển du lịch tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới,
bước đầu nhận thức được một phương pháp phát triển du lịch bền vững đó là: “Phát triển
du lịch phải có trách nhiệm với môi trường, trách nhiệm duy trí và bảo tồn các giá trị văn hóa của di tích,…” Mặc dù còn nhiều tranh cãi về khái niệm phát triển du lịch bền vững nhưng chúng ta có thể định nghĩa được: “Phát triển bền vững du lịch là hoạt động khai thác các giá trị tự nhiên và nhân văn một cách hiệu quả, nhằm thoả mãn các nhu cầu hợp lý của khách du lịch, trong đó có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn mà vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai”
1.1.3 Phát triển bền vững du lịch homestay
Khái niệm “Du lịch cộng đồng” (DLCĐ) đã được đề cập rộng rãi trong nhiều nghiên cứu của các tổ chức xã hội trên thế giới Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ (Pachamama) đã đưa ra quan điểm về DLCĐ là: “loại hình
du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương” Xem xét khái niệm DLCĐ hay Du lịch dựa vào cộng đồng, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên quốc tế (WWF, 2017) định nghĩa như sau: “Du lịch dựa vào cộng đồng là một hình thức du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có vai trò quan trọng trong kiểm soát và liên quan đến hoạt động du lịch Sự phát triển, quản lý du lịch và tỉ lệ của những lợi ích còn lại thuộc về cộng đồng”
Thuật ngữ “Homestay” xuất hiện lần đầu trong lĩnh vực giáo dục khi việc hợp tác quốc
tế về giáo dục trở nên cấp thiết và vấn đề du học trở nên phổ biến Khái niệm “Du lịch homestay” là một khái niệm mới, vẫn đang trong quá trình tranh luận để đi đến một định nghĩa tổng quát hơn, vì nó đã và đang được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều cách gọi khác nhau như “Du lịch nghỉ tại gia” hay “Du lịch ở nhà dân” Theo Thompson
Trang 19(1998), “Du lịch homestay là việc du khách tham gia vào đời sống gia đình của người dân bản xứ thông qua việc học tập, du lịch, tham quan, tìm hiểu văn hóa… Đặc biệt, theo hình thức này, du khách sẽ được “cùng ăn, cùng ở và cùng làm” với chủ nhà cũng như luôn được xem như là người nhà” Theo Haji Sahariman Hamdan - Chủ tịch Hiệp hội Homestay Malaysia: “Homestay là loại hình du lịch mà du khách sẽ được ở và sinh hoạt chung nhà với người dân bản xứ như thành viên trong gia đình, để khám phá phong cách sống của người dân, trải nghiệm cuộc sống thường ngày của họ để biết được văn hóa của người dân nơi đó” Theo Tổng cục du lịch Việt Nam (2006): “Homestay là nơi sinh sống của người sở hữu nhà hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú, có trang thiết bị tiện nghi cho khách
du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khách theo khả năng đáp ứng của chủ nhà”
Du lịch homestay có thể được nhìn nhận và hiểu theo nhiều góc độ khác nhau Trong
phạm vi nghiên cứu này, khái niệm du lịch homestay có thể được hiểu như sau: Du lịch homestay là một loại hình du lịch cộng đồng Khi tham gia hoạt động du lịch này, du khách được trải nghiệm cuộc sống thường ngày của người dân bản địa bằng cách cùng sinh hoạt
và lao động sản xuất với người dân bản địa, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu và khám phá các giá trị văn hóa bản địa
1.1.4 Đặc điểm cơ bản của hoạt động du lịch homestay
Hoạt động du lịch homestay phát triển dựa trên những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên
và đặc biệt là văn hóa bản địa, thông qua đó du lịch homestay góp phần chia sẻ lợi ích từ du lịch với cộng đồng địa phương
Du lịch homestay được bắt nguồn từ nhu cầu của du khách muốn tiếp cận gần gũi, được tìm hiểu rõ hơn về văn hóa, lịch sử, đời sống hàng ngày và con người hay ẩm thực tại nơi đến du lịch Với homestay, qua cách tiếp cận gần gũi nhất với văn hóa địa phương giúp các mọi người có ý thức trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của dân tộc, trải nghiệm sâu sắc hơn về cuộc sống địa phương
Du lịch homestay thường được hình thành ở những vùng không đủ điều kiện để xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, hay quán ăn phục vụ nhu cầu khách du lịch; và các khu vực có tài nguyên hoang dã đang bị hủy hoại cần phải bảo tồn, hay các khu vực dân cư có tài nguyên văn hóa đa dạng, có những nét đặc trưng cơ bản về văn hóa tộc người Địa điểm
Trang 20lưu trú cũng có thể gần với các làng truyền thống thú vị mà du khách có thể lưu lại và quan sát cũng như tham gia các hoạt động của hàng
Du lịch homestay được phát triển tại những điểm đang có sức hút khách du lịch tham quan Cộng đồng dân cư là người dân địa phương sinh sống, làm ăn trong hoặc liền kề các điểm tài nguyên Homestay là hình thức du lịch mà khách du lịch cùng ăn - ở - sinh hoạt cùng người dân bản địa để tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán của họ Chính vì thế, cộng đồng dân cư phải là người dân đại phương, sinh sống hoặc liền kề các điểm tài nguyên Phương thức tổ chức loại hình du lịch homestay là “3 cùng”: Cùng ăn - cùng ở - cùng sinh hoạt Đây là đặc trưng nổi bật nhất của loại hình du lịch này Khách du lịch tham gia được
bố trí đến ở tại nhà người dân và du khách được cùng ăn, cùng ngủ, cùng sinh hoạt và lao động sản xuất với người dân bản địa Du khách sẽ được tự khám phá nét đẹp của thiên nhiên
và tìm hiểu những nét văn hóa đặc sắc của văn hóa bản địa
Cách tiếp cận gần gũi nhất với văn hóa địa phương này giúp các khách du lịch có ý thức hơn trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc, trải nghiệm sâu sắc hơn
về cuộc sống Lựa chọn hình thức homestay, du khách được có những trải nghiệm đời thường, thực tế và thú vị khi tham gia vào từng hoạt động của người dân địa phương
Du lịch homestay với phương thức hoạt động kinh doanh mà cộng đồng dân cư là người cung cấp chính các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch Khi tham gia du lịch homestay khách du lịch sẽ được trải nghiệm cuộc sống của cư dân bản địa với các dịch vụ du lịch được cung cấp bởi chính những người dân nơi đây (Nguyễn Thị Quỳnh, 2015)
Du lịch homestay đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân địa phương Du lịch homestay chia sẻ lợi ích từ du lịch với cộng đồng địa phương, đảm bảo sự phân chia công bằng cho các bên tham gia, đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn các giá trị tài nguyên và phát triển cộng đồng
1.1.5 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch homestay
Các tiêu chí đánh giá tính PTBV đã được xây dựng và công bố bởi nhiều tổ chức và
dự án nghiên cứu trên thế giới Các tiêu chí đánh giá được phát triển nhằm đại diện cho các lĩnh vực hoặc đối tượng gì cần được duy trì, phát triển và duy trì bao lâu Các tiêu chí có sự khác nhau về thành phần, cấu trúc, chức năng và phương diện điều tra và giám sát Các chỉ
Trang 21số hoặc tiêu chí đánh giá định tính và định lượng PTBV cũng đã được nhiều tổ chức trên thế giới nghiên cứu và đề xuất như: Bộ 96 tiêu chí của Ủy ban PTBV (CDS) của Liên Hiệp Quốc, Bộ 46 tiêu chí của Nhóm tư vấn về tiêu chí PTBV (CGSDI),… Nhìn chung, các bộ tiêu chí đánh giá mức độ PTBV dựa trên cách tiếp cận của PTBV và dựa vào chủ yếu 4 trụ cột chính: xã hội, môi trường, kinh tế và thể chế chính sách
Các tiêu chí đánh giá mức độ PTBV nói chung, mức độ PTBV du lịch nói riêng được lựa chọn phụ thuộc vào các ưu tiên và mục đích của các quốc gia, tổ chức và khu vực Các tiêu chí này có thể phục vụ cho nhiều mục tiêu khác nhau, bao gồm là phương tiện để giải quyết vấn đề và hành động và phương tiện để trao đổi về các vấn đề liên quan PTBV Một trong những cơ sở đầu tiên cho việc đánh giá mức độ PTBV là Thước đo sự bền
vững (Barometer of Sustainability), được phát triển bởi Prescott-Allen và IUCN (1996),
thang đánh giá của công cụ này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Ko (2001), Tsaur (2005), Lin & Lu (2012) và các nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững ở nhiều lĩnh vực khác Các nhà nghiên cứu có các phương pháp khác nhau để đánh giá, trong đó có phương pháp giản đơn như sự áp dụng thang đo 5 điểm của D Rio (2012) đến các lý thuyết
và kỹ thuật khá phức tạp như Lý thuyết mờ (Lin, 2012), Lý thuyết hệ thống xám (Wang, 2014), Dấu chân sinh thái (LI, 2011)… Mặc dù có áp dụng cách đánh giá nào thì nhìn chung các nghiên cứu đều phải được thực hiện dựa trên một (hoặc nhiều) thang đo tính bền vững, được xác định rõ ràng các tiêu chí và các biến đo lường (biến thang đo) Cấu trúc của bộ tiêu chí đánh giá gồm 3 cấp bậc: Tiêu chí lớn/Khía cạnh bền vững/Khía cạnh (Dimension/Criteria/Components), tiêu chí thành phần (Sub-Criteria) và biến thang đo (Indicators); việc xác định các tiêu chí được thực hiện từ cấp lớn nhất (Criteria) đến các cấp nhỏ hơn
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về các khía cạnh phát triển
du lịch bền vững, các khía cạnh đó không chỉ còn bó gọn lại trong ba trụ cột lớn của PTBV
mà tùy thuộc vào trình độ phát triển và đặc trưng địa bàn nghiên cứu mà phát triển và lựa chọn đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau Các khía cạnh và các tiêu chí lớn (Dimension/Criteria) về đánh giá mức độ PTBV dịch vụ du lịch trong một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 22Quỹ tài trợ Liên hợp quốc (United Nations Foundation) cùng với Liên minh Rừng nhiệt đới, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức Du lịch Thế giới Liên hợp quốc (UNWTO) công bố tiêu chí du lịch bền vững toàn cầu lần đầu tiên tại Hội nghị Bảo tồn Thế giới của IUCN (2008) Bộ tiêu chí này được xây dựng dựa trên cơ sở hàng nghìn các tiêu chí đã được áp dụng thực tiễn hiệu quả trên khắp thế giới Các tiêu chuẩn này được phát triển để cung cấp một khung hướng dẫn hoạt động du lịch bền vững, giúp các doanh nhân, người tiêu dùng, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các cơ sở giáo dục bảo đảm rằng hoạt động du lịch là nhằm giúp đỡ chứ không làm hại cộng đồng và môi trường địa phương Bộ tiêu chuẩn này chỉ đưa ra những việc nên làm, song không chỉ ra cách thức thực hiện hay xác định tính khả thi của mục tiêu Ngoài ra, để phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, bộ tiêu chuẩn này không áp dụng hoàn toàn cũng như cần bổ sung những tiêu chuẩn mang tính đặc trưng vùng Các tiêu chuẩn được đưa ra bao gồm các nội dung chính:
- Quản lý hiệu quả và bền vững;
- Gia tăng lợi ích kinh tế xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương;
- Gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực;
- Gia tăng lợi ích môi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực.
Các nghiên cứu trong nước thường không sử dụng thang đo rõ ràng để đo lường mức
độ bền vững mà chỉ dừng lại ở phân tích mô tả và đưa ra đánh giá dựa trên một số tiêu chí
để kết luận về mức độ bền vững (Bạch Thị Lan Anh, 2011; Trịnh Kim Liên, 2013; Châu Quốc Tuấn, 2014) Trong nghiên cứu của La Nữ Ánh Tuyết (2011), tác giả đã xác định được
bộ tiêu chí đánh giá có cơ sở và sử dụng thang đo khách quan, tuy nhiên chỉ áp dụng thang đánh giá cho từng tiêu chí và kết luận được mức độ bền vững cho từng tiêu chí đó
Trang 23Phát triển bền vững du lịch là một trong những nội dung mới trong chiến lược phát triển ngành du lịch ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Do đó, việc đưa ra bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững ngành du lịch là hết sức quan trọng và cần thiết Dựa vào các tiêu chí đánhh giá, các nhà quản lý có thể chủ động triển khai đánh giá, nhằm nắm bắt nhanh chóng hiện trạng của các hoạt động để kịp thời điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được tới trạng thái bền vững hơn cho quá trình phát triển của địa phương trong mỗi giai đoạn nhất định Cụ thể, tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch đã đưa ra như sau:
1.1.4.1 Tiêu chí về kinh tế
Theo “ Bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch” của tác giả Nguyễn Văn
Thanh năm 2016, phát triển du lịch bền vững khía cạnh kinh tế phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, ổn định trong khoảng thời gian dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch bao gồm:
+ Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh du lịch: Thu nhập từ hoạt động kinh doanh
du lịch bao gồm tất cả các khoản tiền thu được từ khách du lịch chi trả cho các dịch vụ như: Lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch, các dịch vụ vui chơi giải trí, mua săm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ sung khác Thu nhập càng cao, ổn định và tăng trưởng theo thời gian thì ngành du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững
+ Chỉ tiêu số lượng khách du lịch: Số lượng khác du lịch được mô tả bao gồm: số lượng tuyệt đối về khách, số khách quay trở lại, số ngày lưu trú trung bình, khả năng thanh toán, mức độ hài lòng của khách về chất lượng dịch vụ của cơ sở lưu trú…
+ Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở lưu trú du lịch và địa phương: Chỉ tiêu này mô tả hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của cơ sở lưu trú và địa phương bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các phương tiện vận chuyển, văn phòng
lữ hành… Đây là thước đo phản ánh trình độ phát triển du lịch của địa phương
+ Chỉ tiêu chất lượng nguồn nhân lực: Chỉ tiêu này mô tả chất lượng đội ngũ lao động, phục vụ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và cuối cùng Chỉ tiêu này là chỉ tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, sự tăng trưởng của các chỉ tiêu du lịch khác
Hiện nay, xu thế phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới, các chỉ tiêu về kinh
tế được phát triển liên tục trong nhiều năm liên tiếp ở mức bình quân khoảng 7 – 10%/ năm
Trang 24thì được coi là phát triển bền vững về kinh tế Tuy nhiên tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, mức khởi điểm của các chỉ tiêu kinh tế ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương là khác nhau Mức độ tăng trưởng cao hay thấp mà tiêu chí phù hợp được lựa chọn để đánh giá tính bền vững về kinh tế (Nguyễn Văn Thanh, 2006)
Theo “Bộ 19 tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số : 1980/2016/QĐ-TTg” phát triển du lịch bền vững khía cạnh kinh tế phải đảm bảo
thu nhập bình quân hộ gia đình, sự tăng trưởng về du lịch và quá trình đánh giá chất lượng
cơ sở dịch vụ,…
Theo “Bộ 10 tiêu chí của Tuyên bố Panhow” của UBND tỉnh Hà Giang năm 2012 đã
nhấn mạnh phát triển du lịch bền vững khía cạnh kinh tế phải đảm bảo sự tăng trưởng về thu nhập, sự mở rộng đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao trang thiết bị trong quá trình kinh doanh,…
1.1.4.2 Tiêu chí về tài nguyên môi trường
Theo “ Bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch” của tác giả Nguyễn Văn
Thanh năm 2016, Tiêu chí tài nguyên môi trường bao gồm các chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu áp lực lên môi trường - tài nguyên tại các khu, điểm du lịch: Chỉ tiêu này
mô tả rõ mục tiêu phát triển bền vững là bảo vệ môi trường Quá trình phát triển quá nhanh các hoạt động du lịch tại các địa phương không quan tâm đến công tác quản lý, đánh giá các tác động đến môi trường tại địa phương phát triển du lịch là nguyên nhân chính gây ra các hậu quả nghiêm trọng về vấn đề môi trường, ảnh hưởng đến các tài nguyên, ô nhiễm môi trường Kết quả là phát triển du lịch thiếu bền vững
+ Chỉ tiêu về số lượng các điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: Chỉ tiêu này
mô tả phát triển bền vững du lịch, trong đó tài nguyên du lịch tại địa phương đóng vai trò trung tâm Quá trình phát triển cho thấy tài nguyên du lịch của địa phương càng đặc sắc, càng phong phú thì sức hấp dẫn, hiệu quả du lịch của địa phương đó càng cao Theo nghiên cứu của một số tổ chức du lịch thế giới, nếu tỷ lệ này lớn hơn 50%/ năm thì hoạt động du lịch được đánh giá là phát triển bền vững
+ Chỉ tiêu mức độ đóng góp cho công tác bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường: Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ du lịch không chỉ mang lại nguồn thu cho ngành du lịch mà còn đóng góp cho cộng đồng địa phương, cơ quan chủ quản tài nguyên
Trang 25du lịch Đây là tiêu chí không thể thiếu trong việc đánh giá sự phát triển du lịch bền vững về mặt tài nguyên - môi trường
Theo “Bộ 19 tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số : 1980/2016/QĐ-TTg” phát triển du lịch bền vững khía cạnh môi trường cần phải
đảm bảo các vấn đề về bảo vệ môi trường như: Thu gom rác thải, xử lý chất thải,…; Các vấn đề về bảo tồn tài nguyên như: Tài nguyên đất, Tài nguyên rừng,
Theo “Bộ 10 tiêu chí của Tuyên bố Panhow” của UBND tỉnh Hà Giang năm 2012 đã
nhấn mạnh phát triển du lịch bền vững khía cạnh môi trường phải đảm bảo các vấn đề về suy thoái tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học; Các vấn đề về thu gom và xử lý chất thải,…
1.1.4.3 Tiêu chí về xã hội
Theo “ Bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch” của tác giả Nguyễn Văn
Thanh năm 2016, Tiêu chí về xã hội gồm các chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu xóa đói, giảm nghèo từ hoạt động kinh doanh du lịch: Chỉ tiêu này mô tả rõ các vấn đề liên quan đến tạo việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sự công bằng trong phát triển và hỗ trợ các ngành kinh tế khác cùng phát triển
+ Chỉ tiêu về các tác động đến xã hội từ hoạt động kinh doanh du lịch: Chỉ tiêu này mô
tả rõ sự tác động mạnh mẽ của du lịch lên lên nhiều mặt của đời sống xã hội trong đó bao gồm cả 2 mặt tích cực và tiêu cực Do đó, để đảm bảo phát triển du lịch bền vững, các địa phương cần chủ động phát huy các mặt tích cực và kiểm soát, hạn chế những tiêu cực nhằm hoàn thành các mục tiêu cho sự phát triển bền vững
+ Chỉ tiêu xung đột lợi ích trong quá trình kinh doanh: Chỉ tiêu này mô tả sự ủng hộ, hợp tác của cộng đồng, chính quyền địa phương Số lượng vụ xung đột trong cộng đồng là
mô tả rõ nét cho chỉ tiêu này Số lượng vụ xung đột càng thấp, sự ủng hộ của cộng đồng dân
cư địa phương càng cao thì mức độ bền vững của du lịch trong quá trình phát triển càng cao Dựa vào các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch, khi triển khai đánh giá phát triển bền vững của du lịch homestay có thể sử dụng các tiêu chí trên để đánh giá Các tiêu
Trang 26chí xây dựng đánh giá mỗi địa phương có thể điều chỉnh, bổ sung phù hợp với quy mô, kinh nghiệm,…triển khai du lịch homestay tại địa phương (Nguyễn Văn Thanh, 2006)
Theo “Bộ 10 tiêu chí của Tuyên bố Panhow” của UBND tỉnh Hà Giang năm 2012 đã
nhấn mạnh phát triển du lịch bền vững khía xã hội bao gồm chính sách hỗ trợ người dân; các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống; Mức độ tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường của cộng đồng,…
1.1.6 Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững homestay
Hoạt động kinh doanh du lịch có tính định hướng tài nguyên rõ nét, nội dung văn hóa sâu sắc Hoạt động này có tính liên ngành, liên vùng cao Phát triển du lịch bền vững có vai trò quan trọng trong chính sách phát triển bền vững ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, đảm bảo thực hiện và hoàn thành 3 mục tiêu là: Kinh tế, Xã hội, Môi trường Mục tiêu của phát triển bền vững du lịch như sau:
- Mục tiêu 1: Phát triển bền vững du lịch giúp bảo vệ môi trường sống Hoạt động này không chỉ bảo vệ các loài động, thực vật quý hiếm mà còn góp phần bảo vệ môi trường sống cho con người Cụ thể như sau: Nước không bị nhiễm độc, không khí trong lành và tài nguyên đất không bị xói mòn
- Mục tiêu 2: Phát triển bền vững du lịch góp phần giúp phát triển kinh tế Hoạt động khai thác các đặc sản văn hóa vùng miền, người dân tại địa phương đó có thể nâng cao đời sống nhờ khách du lịch đến thăm quan và sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩm đặc trưng của vùng miền đó Qua đó giúp người dân địa phương làm du lịch, cơ quan địa phương
và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, người dân có công ăn việc làm nâng cao thu nhập
- Mục tiêu 3: Phát triển bền vững du lịch phải đảm bảo các vấn đề về xã hội Quá trình phát triển phải đảm bảo giảm bớt các tệ nạn xã hội thông qua cung cấp việc làm cho người dân trong vùng Không những vậy, du lịch bền vững giúp các nhà quản lý khai thác và quản
lý nguồn tài nguyên khoa học hơn, có ý thức hơn, đảm bào các nguồn tài nguyên phát triển
để thế hệ tương lai được tiếp nối và tận dụng
Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải có sự chung tay nỗ lực, triển khai đồng bộ của toàn xã hội Phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào công tác bảo vệ môi trường
mà phải tập trung vào quá trình duy trì những nét văn hóa của địa phương, đảm bảo phát
Trang 27triển kinh tế, mang lại những lợi ích, sự công bằng cho các đối tượng tham gia Do đó, phát triển du lịch bền vững phải luôn hướng tới việc đảm bảo, duy trì được 03 mục tiêu sau:
- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế
- Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường
- Khía cạnh Môi trường: Đảm bảo sử dụng hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên, môi trường có vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch Đảm bảo duy trì các quá trình sinh thái thiết yếu giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên
- Khía cạnh xã hội và văn hóa: Phải đảm bảo tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa Các mục tiêu về phát triển bền vững du lịch được hoạch định chung cho các loại hình
du lịch Trên cơ sở đó, hoạt động du lịch homestay cần phải đáp ứng được các mục tiêu về kinh tế - xã hội – môi trường đã được nhận định trong mục tiêu phát triển bền vững du lịch Tùy thuộc vào địa phương, căn cứ vào nguồn lực, thực tiễn mà ưu tiên thực hiện các mục tiêu còn nhiều tồn đọng, nhằm đảm bảo sự hài hòa các khía cạnh KT – XH – MT (Nguyễn Đình Hòe, 2001)
1.1.7 Nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững du lịch homestay
Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc năm 1991 đã đưa ra 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững như sau:
(1) Phải tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng;
(2) Không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của con người;
Trang 28(3) Luôn luôn bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất;
(4) Hạn chế đến mức thấp nhất các hoạt động có khả năng làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo;
(5) Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái đất;
(6) Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân, loại bỏ những thói quen xấu ảnh hưởng đến môi trường, xã hội;
(7) Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình;
(8) Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ;
(9) Xây dựng khối liên minh toàn cầu
Phát triển du lịch bền vững là sự hoà hợp và kết hợp hiệu quả đồng bộ 3 yếu tố kinh
tế, tự nhiên và văn hoá xã hội Vì vậy, để phát triển bền vững du lịch phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Phải đảm bao tăng lợi ích kinh tế, xã hội cho cộng đồng địa phương và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh
Nguyên tắc 2: Gia tăng lợi ích với các di sản văn hóa; đảm bảo giảm thiểu các tác động tiêu cực đến các giá trị văn hóa, xã hội
Nguyên tắc 3: Tối đa hóa lợi ích đối với môi trường và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực
Các nguyên tắc phát triển bền vững du lịch homestay cần phải đáp ứng đươc 3 nguyên tắc đã được nhận định, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững (Đinh Trung Kiên, 2006)
1.2 Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch homestay
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, hoạt động du lịch đang giữ vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu nền kinh
tế của mỗi quốc gia Du lịch hiện nay được biết đến không chỉ ở khía cạnh văn hóa - xã hội
mà còn trên quan điểm về kinh tế, du lịch Nhiều quốc gia trên thế giới coi việc phát triển
du lịch là bước đi chiến lược đúng đắn, là chính sách phát triển chủ lực của quốc gia trong
Trang 29quá trình thúc đẩy nền kinh tế đi lên Tuy nhiên, bên cạnh sự đầu tư phát triển du lịch thì vấn
đề được quan tâm hiện nay là làm thế nào để có thể tận dụng hiệu quả tất cả các tiềm năng sẵn có của các khu du lịch trên cơ sở đạt được sự cân bằng về hệ sinh thái và con người, đó chính là du lịch bền vững Sự cân bằng này góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương
Năm 1993, tờ báo “Journal of Sustainable Tourism” (Du lịch bền vững) của Anh ra đời, đã từng bước đưa công tác nghiên cứu về hoạt động du lịch bước vào một trang mới Năm 1995, tổ chức UNESCO phối hợp với Tổ chức du lịch thế giới, chương trình môi trường Liên Hợp Quốc tiến hành tổ chức Hội nghị du lịch bền vững thế giới tại Tây Ban Nha Hội nghị này đã thông qua “Hiến chương phát triển du lịch bền vững” và “Kế hoạch hành động phát triển du lịch bền vững” Sự ra đời của hai văn kiện này đã trở thành hệ thống chuẩn, cung cấp cho các nước tất cả các nội dung cụ thể trong việc phát triển du lịch bền vững Quan điểm phát triển bền vững ngành du lịch được công nhận về bản chất đó chính là phải hài hòa với tự nhiên, xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt, chỉ trong một thời gian ngắn, ngành du lịch đã trở thành ngành thu hút được nhiều lao động, đóng tỉ trọng cao trong GDP của quốc gia và có ảnh hưởng lớn tới kinh tế Chính vì vậy, trong thời gian gần đây, khái niệm “du lịch bền vững” đã và đang được nhắc đến rất nhiều trên các hội nghi và thông tin đại chúng Bên cạnh việc mang đến cho con
người cuộc sống tốt hơn, tiện nghi hơn “du lịch bền vững” còn cam kết đảm bảo việc giữ
gìn và bảo tồn những tài nguyên sẵn có này đến thế hệ mai sau
Những nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch nói chung và du lịch homestay nói riêng, đều mang lại những kết quả, đóng góp cho hoạt động phát triển bền vững ngành du lịch của các quốc gia trên toàn thế giới Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu có thể ứng dụng các kết quả thu được từ hoạt động nghiên cứu phát triển bền vững du lịch cho PTBV du lịch homestay Từ thực tiễn đó, những nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững đã trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Một số công trình tiêu biểu về nghiên cứu du lịch bền vững trên thế giới như:
“Sustainable Rural Tourism: Lesson for Rural Development” ( Du lịch homestay bền vững, bài học cho phát triển nông thôn) Dấu ấn mạnh mẽ của công trình nghiên cứu này là
đã viết về một số trường hợp điển hình của vùng nông thôn Bắc Ireland với dặc thù du lịch
Trang 30của một vùng miền cụ thể Qua đó, cho thấy ý nghĩa của việc phát triển du lịch bền vững nông thôn gắn liền với việc phát triển nông thôn (Ruth McAreavey, 2011)
“Cultural tourism and sustainable development” (Du lịch văn hóa và phát triển bền vững vùng miền): Nội dung nghiên cứu nhấn mạnh ảnh hưởng của các loại hình du lịch văn
hóa đối với sự phát triển của vùng miền Phụ thuộc vào từng loại hình du lịch mà sự ảnh hưởng này theo hướng tích cực hay tiêu cực Tùy thuộc vào việc tổ chức tốt hay không tốt, cân đối giữa khai thác và bảo tồn giá trị văn hóa, mà khi các yếu tố văn hóa được bảo tồn và mang lại giá trị về kinh tế, xã hội của địa phương, vùng miền thì sự đóng góp của du lịch văn hóa đó mang tính bền vững ( Elena, 2007)
“Indicators of Sustainable Development for Tourism Destinasions” (Bộ chỉ số phát triển bền vững cho các điểm đến du lịch) Đây là kết quả của một công trình nghiên cứu sâu,
rộng phục vụ cho các sáng kiến về du lịch trên toàn thế giới Nghiên cứu là chìa khóa cho
sự phát triển du lịch, qua đó triển khai quản lý một điểm đến nhất định Không chỉ vậy, nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị cho các quốc gia thành viên trong việc lựa chọn thường xuyên một công cụ cần thiết trong quá trình lập, quản lý kế hoạch và triển khai hoạch định chính sách tại các điểm đến du lịch Bộ tài liệu không chỉ ý nghĩa tham khảo thiết thực vể mặt lý thuyết mà còn trong quá trình thực hành phát triển bền vững du lịch của các quốc gia, khu vực, địa phương (UNWTO, 2013)
“Sustainable Tourism for Development Guidebook” (Sách hướng dẫn du lịch bền vững cho sự phát triển) Nội dung tài liệu này đã khái quát, hệ thống các vấn đề lý luận
chung về phát triển bền vững du lịch như: Định nghĩa, quan điểm, nguyên tắc chung liên quan đến phát triển bền vững du lịch Bên cạnh đó, nó còn cung cấp khuôn khổ có tính phương pháp luận cho quá trình triển khai đánh giá về sự phát triển ngành du lịch ở các quốc gia Từ đó, đưa ra được mức độ hiệu quả mà du lịch đó cần đạt được với ý nghĩa như một công cụ để phát triển bền vững (UNWTO, 2013)
Bên cạnh những nghiên cứu tổng thể, tác giả đã tìm hiểu một số nghiên cứu mang tính nhấn mạnh đến chiến lược sinh kế của người dân khu vực
“Tourism as a sustainable livelihood strategy” (Du lịch như một chiến lược sinh kế bền vững): Nội dung nghiên cứu này nhấn mạnh đến việc phát triển bền vững du lịch có sự
Trang 31thiếu hụt cả về khái niệm và thực tế làm cho tính ứng dụng gặp nhiều khó khăn Thông thường các cá nhân và cộng đồng sẽ đa dạng hóa sinh kế hơn là triển khai bám trụ vào một nghề Vì vậy, khi du lịch xâm nhập vào một cộng đồng thì nó mang tính chất bổ sung chứ không thay thế các hoạt động sịnh kế hiện có (Teresa C.H Tao, 2009)
“Rural tourism and livelihood strategies in the world” của tác giả Monica Ioriom
Andrea Corse, 2019 đã viết về vùng nông thôn trên thế giới với những biến đổi mạnh mẽ
Sự biến đổi đó đã đi kèm với nhu cầu tăng cường các hoạt động kinh tế dẫn đến một số hộ tham gia vào các hoạt động du lịch như một hình thức đa dạng sinh kế của một số nước như:
Ở Pháp, hoạt động du lịch nông nghiệp là hoạt động du lịch quan trọng, chiếm đến 50% thu nhập của nông dân Hiện nay, có 300 điểm du lịch nông nghiệp, nhiều mạng lưới
du lịch nông nghiệp như: “Nhà ở nước Pháp” (Gites de France), “Chào đón ở nông trại” (Bienvenue a la ferme), “Đón tiếp của nông dân” (Accueil paysan), …
Ở Nhật Bản, năm 1994 đã ban hành Luật giải trí ở những vùng nông thôn, vùng biển, vùng núi Từ năm 1995 Bộ nông - lâm - thủy sản đã thiết lập chương trình nhà nghỉ nông thôn khắp đất nước, chủ yếu do nông hộ và trang trại làm chủ Sự ban hành các bộ luật về
du lịch nông thôn là hết sức cần thiết Qua đó, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các hộ dân trong quá trình kinh doanh du lịch nông thôn
Ở Trung Quốc, từ năm 2000, chính phủ Trung Quốc đã triển khai xây dựng chương trình du lịch nông nghiệp nhằm mục đích chống đói nghèo tại các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, vùng ven đô Thượng Hải…Các điểm du lịch nông nghiệp, trong đó có dịch vụ kinh doanh homestay của Trung Quốc mua hàng năm tiếp đón 300 triệu du khách, đạt doanh thu
40 tỉ nhân dân tệ (5,13 tỷ USD) Sự phát triển của du lịch nông nghiệp bước đầu thành công, làm nền tảng để phát triển du lịch nông nghiệp ở khắp các vùng miền trên cả nước
Ở Hàn Quốc, từ một dự án của chính phủ nhằm tăng thu nhập cho nông dân năm 1984,
du lịch nông nghiệp ở Hàn Quốc đã phát triển nhanh, xóa nghèo ở làng quê, tăng thu nhập đáng kể cho nông dân
Cũng từ nhiều năm trước, Thái Lan đã có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển
du lịch nông nghiệp theo mô hình trang trại hoặc khu làng khép kín, có đầy đủ tiện nghi,
Trang 32dịch vụ phục vụ khách Từ năm 1997, du lịch nông nghiệp của Thái Lan phát triển rất nhanh (Monica I Andrea, 2019)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, hiện nay, hoạt động du lịch homestay ở nước ta đã phát triển rộng rãi nhưng chủ yếu là tự phát Tiềm năng của hoạt động du lịch homestay ở nước ta rất lớn, đặc biệt về du lịch nông nghiệp và du lịch đón tiếp, do là nước nông nghiệp, có khoảng hơn 70% dân cư đang sinh sống ở nông thôn Nông thôn chúng ta đa dạng về điều kiện sinh thái và sinh học rất được du khách quan tâm, đa dạng về văn hóa truyền thống với 54 dân tộc, người dân nông thôn lại có truyền thống hiếu khách
Du lịch homestay ở nước ta từ lâu đã có 3 hình thức du lịch phổ biến là du lịch đón tiếp tại hộ nông dân: du khách tham gia, chia sẻ với cuộc sống thường ngày và các hoạt động của cư dân nông thôn và du lịch nông nghiệp: Du khách tham gia vào các hoạt động nông nghiệp truyền thống, thưởng thức các nông sản và mua bán sản phẩm bản địa (có từ lâu đời), sản phẩm địa phương thì hầu như chưa có, hoặc tự phát
Một số đề tài nghiên cứu về PTBV du lịch ở nước ta là:
“ Phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh khủng hoảng tài chính công và suy thoái kinh tế ở châu Âu hiện nay” Nghiên cứu này đã đi vào chi tiết vấn đề phát triển bền vững
đặt trong tình hình cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đang lan rộng ở các nước châu Âu Nghiên cứu đã chỉ ra được những thách thức, khó khăn, những mặt tiêu cực của
nó Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp để có thể đưa du lịch ngày càng phát triển bền vững hơn trong bối cảnh nhiều khó khăn như hiện nay (Dương Văn Sáu, 2016)
“Xây dựng năng lực cho phát triển Du lịch ở Việt Nam”: Nghiên cứu này đã hệ thống
hoá được cơ sở lý thuyết về du lịch và phát triển bền vững du lịch, đưa ra được thực trạng phát triển du lịch hiện nay ở Việt Nam Từ đó, khái quát được những vấn đề đặt ra, trên cơ
sở đó chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để hướng du lịch đến phát triển bền vững (Nguyễn Đình Hòa, 2007)
“Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” Nghiên cứu
đã thực hiện hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững và xác định những vấn đề trọng tâm như sau: (1) Xác định những vấn đề cơ bản đặt ra đối với phát triển
Trang 33du lịch bền vững thông qua phân tích thực trạng phát triển du lịch từ năm 1992 đến nay; (2) Xác định những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch từ góc độ khai thác sử dụng tài nguyên và thực trạng môi trường du lịch; (3) Tổng quan một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch bền vững; (4) Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam; (4) Triển khai thử nghiệm nghiên cứu đề xuất mô hình phát triển du lịch bền vững ở khu vực cụ thể (Phạm Trung Lương, 2002) Đào Thế Anh (2013) đã nêu rõ đặc điểm và nguyên tắc của du lịch homestay: “Nền tảng của du lịch homestay là nông nghiệp và nghề truyền thống Mô hình có thể thay đổi theo thời gian và không gian cho phù hợp; thay đổi từ tham quan đến tham gia Du lịch homestay không chỉ cạnh tranh mà còn bổ sung cho các loại hình du lịch khác Du lịch homestay có tính liên ngành, không tách rời các hoạt động phát triển nông thôn (nông nghiệp
- du lịch - xã hội) và có tính liên vùng (mạng lưới - hợp tác) Vì thế, chúng ta cần phải giữ vững các nguyên tắc trong phát triển du lịch homestay nói riêng và du lịch nông thôn nói chung đó là: Phải đảm bảo công bằng cho các chủ thể tham gia; đem lại lợi ích cho người dân địa phương và phát huy nội lực; Luôn luôn bảo tồn, phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường; luôn đổi mới và tạo sự khác biệt, liên kết làm phong phú sản phẩm; giữ gìn bản sắc, xây dựng hình ảnh đẹp trong lòng du khách; đóng góp vào phát triển nông thôn bền vững” (Đào Thế Anh, 2013)
Hội thảo quốc tế đầu tiên ở Việt Nam về Du lịch nông nghiệp và đón tiếp tổ chức tại
Ba Bể năm 2012 đã khẳng định sự cần thiết phải thành lập mạng lưới, tổ chức tập thể về du lịch nông nghiệp và đón tiếp để phát triển một cách chuyên nghiệp với sự trợ giúp của các
tổ chức Phi chính phủ, Nghiên cứu trong và ngoài nước,… Nếu được sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, giới khoa học, các doanh nghiệp du lịch và các gia đình nông dân biết chủ động kết hợp với nhau trên nguyên tắc cùng có lợi sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm, nhiều địa chỉ
du lịch nghỉ dưỡng cộng đồng, sinh thái hấp dẫn, đa dạng, chất lượng tốt với giá cả hợp lý
Từ đó sẽ làm tăng lợi thế cạnh tranh, thu hút du khách cho ngành du lịch ở các tỉnh nông thôn, miền núi và cả nước nói chung
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển bền vững về du lịch nói chung và du lịch homestay nói riêng Các nghiên cứu này đã tổng quan được các nội dung về nghiên cứu du lịch, du lịch homestay ở nhiều quốc gia, địa phương trên cả nước
Trang 34Những nội dung nghiên cứu về du lịch homestay còn thiếu và phụ thuộc nhiều vào định hướng chung của ngành du lịch, nên đôi khi bỏ qua các đặc trưng riêng của du lịch homestay
đó chính là sự định hướng về trải nghiệm văn hóa Bên cạnh đó, xét trên khu vực nghiên cứu
là Lô Lô Chải thì chưa có nghiên cứu cụ thể nào Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu thực hiện luận văn là hết sức cần thiết
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Xã Lũng Cú là một xã thuộc huyện Đồng Văn, nằm trên đỉnh cao nguyên Đồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang, Việt Nam Xã Lũng Cú cách thành phố Hà Giang khoảng 200 km Lũng Cú là điểm cực Bắc của Việt Nam Lũng Cú nằm ở khu vực có độ cao từ 1600m đến 1800m trên mực nước biển Lũng Cú có 9 thôn bản là nơi sinh sống của các dân tộc H'Mông,
Lô Lô, Tày, Pu Péo,…
Làng văn hóa Lô Lô Chải nằm ngay dưới chân núi Rồng (đỉnh cực Bắc Tổ quốc) thuộc
xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn Đây là nơi sinh sống của người Lô Lô và người Mông, trong
đó người Lô Lô chiếm khoảng 90% Làng văn hóa Lô Lô Chải không chỉ nổi tiếng với phong cảnh hữu tình, mộc mạc, nguyên sơ, đây còn là nơi lưu giữ vẹn nguyên những nét văn hóa độc đáo của người Lô Lô trên Cao nguyên đá Đồng Văn Đến Lô Lô Chải, du khách sẽ có
cơ hội chiêm ngưỡng một bản làng tuyệt đẹp với những ngôi nhà trình tường, mái lợp ngói máng…; được tham quan các nghề truyền thống như nghề thêu, nghề làm ngói máng, nghề mộc… Gặp đúng dịp, du khách có thể được hòa mình vào các lễ hội, như lễ cúng thần rừng,
lễ mừng lúa mới, lễ mừng nhà mới, các điệu múa dân gian , ngoài ra du khách còn có thể chứng kiến người Lô Lô sử dụng bộ đôi trống đồng - một đực, một cái - được coi là nơi duy nhất và nền văn hóa duy nhất trên thế giới (UBND xã Lũng Cú, 2019)
Hình 1.1: Vị trí làng văn hóa Lô Lô Chải
Trang 351.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Thôn Lô Lô Chải thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, Hà Giang Lô Lô Chải nằm trong tọa độ 20o25’ – 20o29’ vĩ độ Bắc, 105o18’ – 105o21’ kinh độ Đông, nằm ở biên giới Việt - Trung Thôn Lô Lô Chải tiếp giáp với một số xã như Mà Lé, Lũng Thầu, Lũng Táo,…cách trung tâm huyện lỵ là thị Đồng Văn khoảng 20km về phía Nam, cách Hà Nội khoảng 300 km (UBND xã Lũng Cú, 2019)
- Vùng thấp: Bao gồm các dãy đồi núi cao hai bên của vùng cao, tạo nên khu vực tương đối bằng phẳng, trong đó thôn Lô Lô Chải ngay dưới chân cột cờ Lũng Cú Đây là khu vực sản xuất và sinh sống chính của người dân trong xã
- Vùng cao: Bao gồm các vùng đồi núi của thôn chủ yếu ở phía Tây Bắc và phía Đông Nam Địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi cao liên tiếp có độ dốc lớn xen giữa các thung lũng nhỏ nằm rải rác (UBND xã Lũng Cú, 2019)
1.3.1.3 Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn
Thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn chịu ảnh hưởng rõ rệt của chế độ gió mùa Tây Bắc, mang sắc thái riêng của khí hậu nhiệt đới núi cao Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa động lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23°C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29°C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5°C Thường có gió mùa từ tháng 6 đến tháng 9 Tuy
nhiên nhiệt độ lại ấm hơn trong thời gian này, giao động từ 25°C đến 35°C
Trang 36+ Về lượng mưa: Thôn Lô Lô Chải nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ
rệt (mùa mưa và mùa khô) Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ cuối tháng
10 đến hết tháng 3 năm sau Trong mùa mưa, lượng mưa bình quân 1900 – 2100mm (có năm thấp nhất là 1700mm) Tổng số ngày mưa là 115 ngày tập trung vào tháng 7 đến tháng
10 Mùa khô lượng mưa chỉ đạt 10 – 15% tổng lượng mưa của cả năm
+ Về độ ẩm và chế độ bốc hơi nước: Hàng năm bình quân độ ẩm là 82% cao nhất là
99% vào cuối xuân đầu hè và thấp nhất là 69% vào mùa khô Lượng bốc hơi nước hàng năm 618,4mm, cao nhất là 819,6mm, thấp nhất là 442,8mm, các tháng khác nhau thì lượng bốc
hơi nước khác nhau từ 17,1mm vào tháng 3 lên 111,2mm vào tháng 6
+ Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân năm là 22.9 0C, cao nhất là vào tháng 6 đạt 33,8 0C, thấp nhất là 10,8 0C vào tháng 1 Vùng cao nhiệt độ tháng lạnh có nhiệt độ thấp hơn vùng thấp 2 đến 3 0C và mùa đông đến sớm và kết thúc muộn (nhiệt độ trung bình vào mùa đông của vùng này là 13 0C có thể xuống tới 3 – 4 0C
+ Sương muối và sương mù: Sương mù xuất hiện vào khoảng tháng 11 đến tháng 3
năm sau, tập trung nhiều nhất là từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Hàng năm, thường có 38 ngày xuất hiện sương mù Tháng xuất hiện nhiều sương mù nhất là tháng 1 (có thể có từ 5 đến 18 ngày) Khu vực vùng cao xuất hiện sương mù dày hơn kéo dài 6 đến 9 giờ/ngày Sương muối xuất hiện trung bình mỗi năm 1 đến 3 ngày, năm cao nhất là 8 ngày chủ yếu
trong khoảng từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau
+ Chế độ chiếu sáng: Tổng số giờ chiếu sáng trung bình trong năm là 1850 giờ, thấp
nhất là 158 giờ vào tháng 1, cao nhất là 242 giờ vào tháng 5 Riêng vùng núi cao do ảnh
hưởng của mây mù nên chế độ chiếu sáng bị hạn chế
Khí hậu nơi đây mát mẻ ôn hòa mát mẻ quanh năm, lại có nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình nên rất thích hợp cho việc nghỉ dưỡng, tham quan du lịch (UBND xã Lũng Cú, 2019)
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế
Theo UBND xã Lũng Cú, đến năm 2018, thôn Lô Lô Chải có 96 hộ dân với 453 nhân khẩu, trong đó dân tộc Lô Lô có 86 hộ, với 371 người Tăng trưởng kinh tế đạt mức khá cao,
Trang 37các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội đạt được mức cao, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên Cơ cấu kinh
tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng khối ngành dịch vụ, du lịch tăng lên Cụ thể tình hình kinh
tế năm 2018 tại thôn Lô Lô Chải như sau:
a Nông nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 96 ha, trong đó Diện tích gieo trồng cây hàng năm 74,1ha; Diện tích gieo trồng cây lâu năm 3,5ha
Tổng sản lượng lương thực (thóc, ngô) cả năm đạt: 198.6/ 190 tấn, đạt 104,5 % so với
kế hoạch; giảm 20 tấn so với năm 2017 và vượt 8.6 tấn so với kế hoạch năm đề ra Lương thực bình quân 438,37kg /người/năm Trong số các cây trồng tại địa phương, đáng chú ý có cây tam giác mạch Ngoài việc trồng để phục vụ các hoạt động như : làm thức ăn cho gia súc, cho người, nấu rượu,… Tam giác mạch còn được mở rộng diện tích để phục vụ các hoạt động du lịch, do đó diện tích tam giác mạch tại thôn Lô Lô Chải năm 2018 tăng 2 ha so với năm 2017 và có xu hướng ngày càng mở rộng trong tương lai
Bên cạnh trồng trọt, công tác chăn nuôi, chăm sóc đàn vật nuôi được thôn quan tâm chỉ đạo sát sao, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc triển khai các chương trình dự án và các nhà hảo tâm hỗ trợ con giống, vật nuôi cho hộ nghèo, cùng với nội lực của xã Trong năm 2018, thôn đã phối hợp với xã phát triển đàn gia súc, gia cầm ổn định, không có dịch bệnh xảy ra Thôn Lô Lô Chải đã phối hợp tốt với xã Lũng Cú trong công tác phòng chống rét, phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm Thực hiện công tác phòng chống dịch cúm gia cầm theo chỉ đạo của huyện, kiểm soát tình hình mua bán vận chuyển gia cầm và các sản phẩm từ gia cầm vào địa bàn thôn
b Lâm nghiệp
Diện tích cây lâu năm được được triển khai mở rộng trong năm 2018 là 3,5 ha Trong đó: Cây Lê ăn quả trồng mới: 2 ha thuộc nguồn vốn Đề án 04 và trồng cây đầu xuân: thực hiện 1,5 ha gồm cây đào, mận, lê…, nhìn chung cây sinh trưởng tốt, tỉ lệ sống đạt 98% Bên cạnh việc mở rộng cây lâu năm, công tác bảo vệ rừng luôn được cấp ủy, chính quyền, các ngành quan tâm chỉ đạo sát thực với tình hình thực tế, vào đầu mùa khô thôn đã phối hợp với xã đã chủ động kiện toàn lại Ban chỉ huy, Tổ, Đội PCCR và BVR, xây dựng
Trang 38kế hoạch, phương án đến các thôn bản trên địa bàn Thường xuyên kiểm tra đôn đốc các thành viên Ban chỉ đạo tăng cường tuyền truyền thực hiện tốt công tác PCCCR và bảo vệ rừng Trong đó: Tuyên truyền Luật bảo vệ và phát triển rừng Tổ chức ký cam kết với các thôn bản trên địa bàn xã Tổng diện tích rừng khoanh nuôi và bảo vệ: 33,8 ha/ 20 hộ đượ giao khoán trong thôn Với việc thực hiện tốt giao cho các nhóm hộ và hộ gia đình tự quản, công tác bảo vệ rừng đạt 100% kế hoạch năm đề ra
c Thương mại, du lịch
Trong năm 2018, thôn Lô Lô Chải đã phối hợp với xã Lũng Cú và thôn Thèn Pả, bước đầu thực hiện sản xuất nông nghiệp gắn với chăn nuôi và phát triển du lịch với tổng số xã viên tham gia của thôn là 13 người Đến nay, thôn Lô Lô Chải đã thực hiện 2 ha hộ cây rau
vụ đông tại cánh đồng thôn Hoạt động du lịch ngày càng được quan tâm mở rộng, và có xu hướng mở rộng hơn trong giai đoạn 2019-2020 Quá trình làm việc tại địa phương vào tháng 11/2019, số lượng hộ dân tham gia đã là 16 hộ (UBND xã Lũng Cú, 2019)
1.3.2.2 Điều kiện xã hội
Thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú là vùng đất đa dân tộc, bao gồm người Lô Lô, Người Mông và người Kinh, cùng chan hoà sống bên nhau, xây đắp và sáng tạo nên những giá trị văn hoá đặc sắc Trên địa bàn thôn có 90% là dân tộc Lô Lô còn lại là dân tộc Kinh, Mông Mật độ dân số của số hộ nghèo chiếm 35% Làng văn hóa Lô Lô Chải là điểm du lịch lớn nhất của xã Lũng Cú và cũng là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng của huyện Đồng Văn Du lịch Lô Lô chải bắt đầu phát triển một cách tự phát vào những năm 2014, khi tỉnh
Hà Giang xây dựng đề án phát triển du lịch vùng cao và với những nét văn hóa đó, Lô Lô Chải được xem là một trong những điểm sáng của du lịch tỉnh Hà Giang
Đảng bộ thôn đạt danh hiệu đảng bộ trong sạch vững mạnh nhiều năm liền Chính quyền thôn đạt chính quyền vững mạnh nhiều năm liên tục; Mặt trận các ngành, đoàn thể
nhiều năm đạt vững mạnh
Tính đến hết năm 2018, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn thôn đạt 28.04 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn 11.82%; 100% hộ gia đình được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và điện lưới quốc gia (UBND xã Lũng Cú, 2019)
Trang 391.3.3 Tài nguyên du lịch homestay tại thôn Lô Lô Chải
Thôn Lô Lô Chải, nằm ngay cạnh chân núi Rồng, cách cột cờ Lũng Cú 2km và gần khu du lịch tâm linh Lũng Cú đang xây dung Phong cảnh ở Lô Lô Chải rất đẹp và hài hòa, gần thôn có một hồ nước tự nhiên rộng khoảng 2.000 m2 Đặc biệt, kiến trúc nhà cửa ở đây vẫn giữ nguyên vẹn được nét văn hóa truyền thống đó là nhà trình tường, mái lợp ngói máng Với địa hình vùng cao đường xá đi lại khó khăn và khí hậu khắc nghiệt, nhất là vào mùa đông nên đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây sinh sống chủ yếu theo phương thức tự cung tự cấp bằng các nghề trồng ngô, lúa và rau màu Do đó, dịch vụ homestay phát triển, các du khách có thể sinh sống và trải nghiệm các văn hóa của người Lô Lô
Đến với Lô Lô Chải, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một bản làng tuyệt đẹp trên Cao nguyên đá Đồng Văn mà còn được đắm mình trong một không gian xanh nằm giữa vùng núi đá tai mèo sắc nhọn Đến với Lô Lô Chải, du khách được tận mắt chứng kiến phong cảnh sinh hoạt truyền thống của người dân tộc Lô Lô, dân tộc Mông, tham gia các lễ hội truyền thống của người Lô Lô như: lễ cúng thần rừng, lễ mừng lúa mới, lễ mừng nhà mới
và đặc biệt là các điệu múa dân gian,…trong đó Lễ cúng tổ tiên được coi là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của tỉnh Hà Giang Bên cạnh những lễ hội truyền thống, các nghề truyền thống như thêu, nghề làm ngói máng, nghề mộc vẫn được bà con nơi đây duy trì và phát triển Trải qua nhiều thời gian cho tới ngày nay, trống đồng luôn được bà con dân tộc
Lô Lô xem như một báu vật thiêng liêng mà cha ông truyền lại, là biểu tượng sức sống của dân tộc Chiếc trống đồng có niên đại hàng trăm năm vẫn đang được lưu giữ tại đây
Không chỉ tham quan kiến trúc nhà ở, nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số,
mà đến với Lô Lô Chải du khách còn được dân bản mời uống nước chè, hút thuốc lào, thưởng thức những chén rượu ngô men lá truyền thống hay thưởng thức những món ẩm thực độc đáo Đặc biệt, du khách đến với Lô Lô Chải còn được mặc thử, chiêm ngưỡng sự cần
cù, chịu khó của người dân tộc Lô Lô trong việc may, thêu dệt công phu những bộ váy rực
rỡ tuyệt đẹp
Định hướng trong tương lai, Lô Lô Chải được đầu tư xây dựng sẽ trở thành làng văn hóa du lịch hàng đầu cả nước với trải nghiệm văn hóa tạo ra phần lớn doanh thu trong đó trọng tâm là kinh doanh homestay, đem lại lợi nhuận đầu tư tốt Năm 2019 và những năm tiếp theo, UBND tỉnh sẽ tiếp tục triển khai các cơ chế, chính sách tạo điều kiện để phát triển
Trang 40du lịch một cách đồng bộ, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng hạ tầng để khai thác tiềm năng phát triển du lịch; tăng cường đầu tư phát triển đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch, các loại hình du lịch homestay (UBND xã Lũng Cú, 2019)