Trong lĩnh vực thương mại điện tử, nhà nước ta đã tập chung xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy sự phát triển giao lưu thương mạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VƯƠNG THANH THÚY
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
NGƯỜI CAM ĐOAN
HOÀNG THỊ HÀ MY
Trang 4DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
(ASEAN) Liên hiệp các nước Đông Nam Á
(BLDS) Bộ luật dân sự
(TMĐT) Thương mại điện tử
(UNECE) Ủy ban Kinh tế Châu âu của Liên hợp quốc
(UNCITRAL) Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ 9 1.1 Khái niệm 9
1.2 Đặc điểm của hợp đồng điện tử 11
1.3 Vai trò của hợp đồng điện tử 15
1.4 So sánh hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống 18
1.4.1 Sự giống nhau 19
1.4.2 Sự khác nhau: 20
1.5 Pháp luật về hợp đồng điện tử của một số quốc gia trên thế giới 23
1.5.1 Pháp luật quốc tế về hợp đồng điện tử 23
1.5.2 Pháp luật về hợp đồng điện tử của một số quốc gia trên thế giới 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 31
2.1 Thực trạng pháp luật về hợp đồng điện tử tại Việt Nam 31
2.1.1 Giao kết hợp đồng điện tử 32
2.1.2 Hình thức của hợp đồng điện tử 45
2.1.3.Nội dung của hợp đồng 46
2.1.4 Về vấn đề chữ ký trong hợp đồng điện tử 51
2.2 Những rủi ro thường gặp trong hợp đồng điện tử 54
2.2.1 Thiếu những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh, hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử qua website theo mô hình C2C 55
2.2.2 Thiếu những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh, hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử theo mẫu trên website 56
2.2.3 Rủi ro về công chứng hợp đồng điện tử 58
2.2.4 Khách hàng bị lộ thông tin cá nhân trong khi giao kết hợp đồng điện tử 60 2.2.5 Chưa có quy định cụ thể về giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài 63
2.2.6 Chưa có quy định cụ thể hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử 64
2.2.7 Những quy định hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử chưa đầy đủ, chưa cụ thể 66
2.2.8 Quyền lợi của người tiêu dùng có nguy cơ bị vi phạm – thế yêu của một bên trong giao kết hợp đồng điện tử 67
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM 73
3.1.Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử tại Việt Nam 73
Trang 63.1.1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, hướng dẫn cụ thể
viêc giao kết hợp đồng điện tử qua website theo mô hình C2C 74
3.1.2 Xây dựng và ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh, hướng dẫn cụ thể việc giao kết hợp đồng điện tử theo mẫu trên website 75
3.1.3 Xây dựng thiết chế công chứng hợp đồng điện tử 78
3.1.4 Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật riêng về bảo vệ dữ liệu cá nhân, kết hợp tăng cường bảo đảm an toàn thông tin trong giao kết hợp đồng điện tử 79
3.1.5 Ban hành hướng dẫn cụ thể về giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài 81
3.1.6 Bổ sung các quy định cụ thể hơn về giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng 82
3.1.7 Bổ sung thêm các quy định cụ thể hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử 85
3.1.8 Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử 86
3.2 Những kiến nghị đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam trong giao kết hợp đồng điện tử 90
3.2.1 Giải pháp đối với doanh nghiệp 90
3.2.2 Giải pháp đối với người tiêu dùng 96
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bước vào thế kỷ thứ XX cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet
và những ứng dụng của nó đã đưa loài người bước sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức Sự ra đời và phát triển của thương mại điện tử đã khiến các giao dịch thương mại ngày càng phát triển, mở rộng và tự do bởi sự tiện lợi của nó Sự tự do ở đây không phải là thiếu tính kiểm soát mà nó thể hiện ở sự vượt qua những rào cản về không gian, thời gian của các quy trình giao kết hợp đồng truyền thống, đẩy nhanh tốc độ, khối lượng giao dịch cũng như nhanh chóng nắm bắt cơ hội thiết lập các mối quan hệ đa phương của thương mại quốc tế
Cùng với những tiện ích to lớn mà việc ứng dụng công nghệ tin học vào các hoạt động thương mại cũng đã đặt ra nhiều các vấn đề ở cả phạm vi các quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế về việc hình thành cơ sở pháp lý, tạo môi trường thuận lợi, thúc đấy sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động thương mại điện tử hướng tới mục tiêu vì con người, đồng thời hạn chế, khắc phục những mặt trái của
nó mang lại hoặc giải quyết những tranh chấp của nó trong quá trình ứng dụng và phát triển Điều đó đã đặt ra cho mỗi quốc gia phải từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử, đáp ứng được sự phù hợp với những đặc trưng vốn có của loại hình thương mại luôn có
xu hướng vượt qua những rào cản về không gian địa lý, thu hẹp toàn cầu thành một thị trường chung, phi biên giới
Ở các quốc gia phát triển, trước những yêu cầu đòi hỏi mạnh mẽ của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại, với bề dày truyền thống trong lĩnh vực thương mại điện tử, không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn hướng mạnh ra thị trường quốc tế đã từng bước xây dựng cho quốc gia mình những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử Vì vậy cho đến nay các nước này các quốc gia nay đã có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh các vấn đề thương mại và thương mại
Trang 82
điện tử nói riêng Ngoài ra những nước phát triển cũng đa góp phần quan trọng cùng với các quốc gia khác xây dựng và hoàn thành các hệ thống pháp luật quốc tế có liên quan đến các lĩnh vực thương mại điện tử, tạo ra khuôn khổ pháp lý thống nhất trên phạm vi quốc tế, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của thương mại toàn cầu
Đối với nước ta, thực hiện chủ trương đổi mới tòan diện đất nước, trong những năm qua kể từ khi nước ta ra nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm
2006, nhà nước ta đã thực hiện chuyển đối mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng linh hoạt, mềm dẻo, cạnh tranh hiệu quả đáp ứng yêu cầu và thách thức của nền kinh tế quốc tế và khu vực khi tham gia vào thị
trường kinh tế quốc tế với những “ luật chơi chung” Các hoạt động thương mại
được chú trọng và phát triển mạnh mẽ đối với cả các giao lưu trong nước và quốc
tế Vì vậy trong thời gian qua nhà nước ta đã nỗ lực, sửa đổi, bổ sung, xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý đáp ứng yêu cầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
sâu rộng theo hướng “hội nhập, hợp tác, phát triển, cùng có lợi”
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, nhà nước ta đã tập chung xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy sự phát triển giao lưu thương mại như: Bộ Luật Dân sự năm 2015; Luật Thương mại năm 2005; Luật Giao dịch điện tử năm 2005; Luật công nghệ thông tin năm 2006; Nghị định số 57/2016/NĐ – CP ngày 09/6/2016 của Chính phủ về thương mại điện
tử và Nghị định số 71/2007/NĐ – CP ngày 03/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin… Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay đã từng bước đặt nền móng cơ sở pháp lý điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử
Công nghệ thông tin đã có mặt ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong lĩnh vực hành chính công với Chính phủ điện tử, trong lĩnh vực báo chí là báo điện tử, trong lĩnh vực giáo dục người ta nhắc nhiều đến đào tạo trực tuyến, trong
Trang 93
lĩnh vực ngân hàng phải kể đến ngân hàng điện tử, hay việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại hàng hóa…và trong đó có sự hiện diện của các quan hệ hợp đồng mua bán
Tuy nhiên tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành có thể thấy, các nội dung quy định về hợp đồng điện tử - một trong những nội dung cốt yếu của vấn đề thương mại điện tử chưa được đề cập một cách đầy đủ, cụ thể Sự thiếu vắng những quy định này trong hệ thống pháp luật làm cho hoạt động thương mại điện tử bị hạn chế rất lớn, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển mạnh mẽ của loại hình thương mại này Một trong những lý do được nêu trên là nước ta đang ở giai đoạn đầu của quá trình tiếp cận và phát triển thương mại điện
tử, vấn đề hợp đồng điện tử còn khá mới mẻ đối với Việt Nam những vấn đề này còn đang trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm Do đó các chế định pháp lý về vấn đề này còn hạn chế, cần phải được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan của hoạt động thương mại khi chúng
ta đang trên tiến trình hội nhập kinh tế, quốc tế
Với nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng đã và đang nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của những ứng dụng thương mại điển tử trong các lĩnh vực, đặc biệt là thương mại quốc tế Vận dụng được thương mại điện tử trong phát triển giao dịch thương mại sẽ là bàn đạp giúp Việt Nam phát triển kinh tế nhanh hơn, mạnh hơn, nắm bắt được cơ hội thiết lập các mối quan hệ thương mại quốc tế tốt hơn
Sử dụng phương tiện điện tử để giao kết hợp đồng luôn là vấn đề có tính hai mặt Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận như giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, tạo nhiều cơ hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, thì giao kết hợp đồng điện tử cũng có nhiều rủi ro tiềm ẩn, nảy sinh những rủi ro hết sức phức tạp mà việc thiếu hiểu biết về những rủi ro này sẽ đem lại những khó khăn, tổn thất, hậu quả khó khắc phục đối với các bên tham gia giao dịch
Trang 104
Trong kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử nước ta giai đoạn
2016 – 2020 vừa được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt ngày 08/8/2016, một trong những mục tiêu được đặt ra là tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý thương mại điện tử nhằm thúc đẩy giao lưu thương mại, hạn chế thấp nhất các rủi ro trong giao dịch điện tử trong nước và ngoài nước, phục vụ đắc lực cho quá trình hội nhập kinh
tế, quốc tế Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Những rủi ro trong giao kết hợp đồng
điện tử tại Việt Nam và giải pháp phòng ngừa” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc
sĩ, qua đó góp phần tìm ra các nguyên nhân, đưa ra giải pháp hạn chế các rủi ro và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Mạng Internet được đưa vào Việt Nam từ năm 1997 Chỉ trong một thời gian ngắn phạm vi ảnh hưởng của nó đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là các giao dịch về hợp đồng, kéo theo đó là nhiều vấn đề pháp lý nảy sinh liên quan đến việc điều chỉnh các giao dịch này cũng như hoạt động của các chủ thể tham gia và đồng thời thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu luật học
và kinh tế
Trước khi có luật Giao dịch điển tử năm 2005 các bài viết về hợp đồng điện
tử được công bố rất ít, liên quan trực tiếp đến hợp đồng điện tử có đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004 của Ths Trần Đình Toản
với đề tài “một số vấn đề pháp lý về hợp đồng trong lĩnh vự thương mại điện tử tại
Việt Nam” , đề tài này nghiên cứu trong bối cảnh hợp đồng điện tử chưa được pháp
luật thừa nhận tại nước ta, khi đó các văn bản pháp lý tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động giao kết hợp đồng điện tử chưa được ban hành Như vậy, luận văn mới chỉ dừng lại ở lý luận tiền năng mà chưa có sự nghiên cứu đầy đủ có hệ thống về hợp đồng điện tử cũng như thực thực trạng hợp đồng điện tử tại Việt Nam
Sau khi Quốc hội ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 Hợp đồng điện
tử đã chính thức được thừa nhận ở nước ta, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng điện tử, quan trọng kể đến:
Trang 115
Thứ nhất, nhóm cấp độ luận án tiến sĩ: có các đề tài nghiên cứu chuyên sâu
về hợp đồng điện tử của TS Nguyễn Văn Thoan (2010) “Ký kết và thực hiện hợp
đồng điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án Tiến sĩ
kinh tế, Đại học Ngoại Thương Hà Nội, công trình này được triển khai nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học Tiếp theo cần kể đến là công trình nghiên cứu của TS Trần
Văn Biên (2011) “Hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật
học, Trường Học Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Hà Nội, đây là luận án tiến sỹ đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và chuyên sâu về hợp đồng điện tử tại Việt Nam Mới
gần đây có luận án tiến sĩ của TS Lê Văn Thiệp (2016) “Pháp luật thương mại điện
tử ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học,Trường Học Viện Khoa Học Xã
Hội Việt Nam, Hà Nội, nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về thương mại điện tử
Thứ hai, nhóm cấp độ luận văn Thạc sĩ: tìm hiểu các công trình nghiên cứu ở
cấp độ này tiêu biểu có công trình của ThS Đỗ Thị Thu Hằng (2009), “Hợp đồng
điện tử theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Khoa Luật,
Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, luận văn tập chung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về thương mại điện tử và hợp đồng điện tử và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
Thứ ba nhóm sách, tạp chí nghiên cứu: tiêu biểu phải kể đến cuốn sách của
GS.TS Nguyễn Thị Mơ (2006) “Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện
tử”, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội; TS Trần Văn Biên (2010) “Hợp đồng điện
tử theo pháp luật Việt Nam”, NXB Tư Pháp, Hà Nội Tiếp đó là các bài viết của
GS.TS Nguyễn Thị Mơ (2006), “ Luật giao dịch điện tử năm 2005 và những quy
định về giao kết hợp đồng điện tử”, tạp chí Kinh tế đối ngoại số 19; TS Trần Văn
Biên, “Về khái niệm hợp đồng điện tử”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2010;
TS Trần Văn Biên, “Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng điện tử qua mạng
Internet”, Tạp chí nhà nước và luật, số 10/2010; TS Trần Văn Biên, “Pháp luật và hợp đồng điện tử”, tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2010; TS Trần Văn Biên,
“Khung pháp lý cơ bản về giao dịch điện tử của Việt Nam”, tạp chí thông tin khoa
học xã hội, số 1/2011
Trang 12Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu trên có thể khẳng định, việc lựa chọn
đề tài: “Những rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử tại Việt Nam và giải pháp
phòng ngừa” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học là cần thiết và đề tài
này không bị trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã thực hiện trước đó
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
a) Mục đích
Luận văn tập chung nghiên cứu những vấn đề lý luận về đồng điện tử qua mạng Internet – phương tiện điện tử được sử dụng phổ biến và có tầm ảnh hưởng, chi phối lớn nhất trong giao kết hợp đồng điện tử hiện nay mà không mở rộng nghiên cứu hợp đồng được giao kết thông qua các phương tiện điện tử khác như điện thoại, điện tín, điện báo hay fax Từ nền tảng lý luận về giao kết hợp đồng điện
tử và những rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử, tác giả sẽ đi sâu phân tích những vấn đề lý luận về hợp đồng điện tử, thực trạng khung pháp lý và những rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam từ đó đưa ra các biện pháp giúp phòng ngừa các rủi ro này
b) Phạm vi
Xuất phát từ mục đích nêu trên luận văn sẽ tập chung nghiên cứu những nội dung cụ thể sau: (i) một số vấn đề lý luận chung về hợp đồng điện tử; (ii) thực trạng pháp luật về hợp đồng điện tử và những rủi ro pháp lý thường gặp trong giao kết hợp đồng điện tử; (iii) kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử
và các giải pháp đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 137
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, diễn giải, tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần được nghiên cứu Trong số các phương pháp sử dụng luận văn đặc biệt lưu ý tới phương pháp so sánh vì nó cho phép nhìn nhận vấn đề một cách đầy đủ, khách quan trên có sở đối chiếu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, điều này là hết sức cần thiết trong điều kiện hiện nay của Việt Nam vì đây là lĩnh vực còn khá mới mẻ trong khi đó chúng ta cần thiết phải nỗ lực nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại điện tử đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật quốc
tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
5 Điểm mới của luận văn
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau liên quan đến hợp đồng điện tử, tuy nhiên mỗi bài viết lại đề cập đến các khía cạnh, cung như
có cách tiếp cận khác nhau về hợp đồng điện tử Theo quan điểm cá nhân của tác giả, đa phần các bài viết đều nhìn nhận và tiếp cận hợp đồng điện tử dưới góc độ
kinh tế học Thông qua đề tài "Những rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử tại Việt
Nam và giải pháp phòng ngừa" tác giả muốn tiếp cận vấn đề hợp đồng điện tự dưới
góc độ luật dân sự Theo đó:
Thứ nhất, luận văn sẽ nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận
chung về hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam
Thứ hai, luận văn sẽ đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng điện tử
tại Việt Nam và đi sâu phân tích việc sử dụng phương tiện điện tử để giao kết hợp đồng là vấn đề có tính hai mặt, bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, thì giao kết hợp đồng điện tử cũng có nhiều rủi ro tiềm ẩn gây thiệt hại về mặt kinh tế cho các bên tham gia hợp đồng cũng như khó khăn cho cơ quan tài phán trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh Luận văn sẽ đưa ra sự nhận diện và kiểm soát vấn đề rủi ro có thể phát sinh khi giao kết hợp đồng
Trang 148
Thứ ba, Luận văn sẽ đưa ra sự nhận diện vấn đề rủi ro có thể phát sinh khi giao
kết hợp đồng, để từ đó thấy được những khó khăn, vướng mắc, kết hợp với sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về việc xây dựng và ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng điện tử từ đó rút ra bài học kinh nghiệm nhằm định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về giao dịch điện tử trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
` Luận văn nghiên cứu tương đối có hệ thống về những rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử, kết quả nghiên cứu luận văn có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Hoàn thành luận văn này, tác giả hy vọng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện quy định của pháp luật hợp đồng điện tử; Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập, là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này về giao dịch điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói chung
Một trong những ý nghĩa mà tác giả thấy tâm đắc nhất đó là luận văn sẽ nâng cao nhận thức của người đọc về hợp đồng điện tử, những rủi ro thường gặp và các biện pháp phòng ngừa các rủi ro này để từ đó có các biện pháp phòng tránh rủi ro bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia giao dịch
7.Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày gồm các nội dung chủ yếu sau:
Mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng điện tử
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng điện tử và nhhững rủi ro thường gặp trong giao kết hợp đồng điện tử tại Việt Nam
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử và các giải pháp đối với Doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam
Trang 159
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm
Hợp đồng điện tử (Tiếng Anh là e-contracts hay on-line contracts) là một loại hình cơ bản của giao dịch điện tử Theo Điều 11 Luật Mẫu về Thương mại điện
tử của UNCITRAL năm 1996 “Hợp đồng điện tử được hiểu là hợp đồng được hình
thành thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền dữ liệu”.[13, Điều 11]
` Theo Ủy ban Kinh tế Châu âu của Liên hợp quốc (UNECE), hợp đồng điện tử là hợp đồng nhằm đáp ứng các yêu cầu của các đối tác thương mại điện tử Hợp đồng bao gồm các điều khoản cơ bản có thể đảm bảo rằng một hay nhiều giao dịch thương mại điện tử, sau này có thể được ký kết giữa các đối tác thương mại trong khuôn khổ pháp lý cho phép Hợp đồng điện tử nhằm đề cập tới mọi hình thức liên lạc điện tử có thể để ký kết các giao dịch thương mại điện tử [26, tr.183-184]
Ở Việt Nam, hợp đồng điện tử là một thuật ngữ pháp lý mới, chính thức xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 2005, sau khi Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005 Mặc dù được xây dựng trên cơ sở tham khảo Luật mẫu về thương mại điện tử năm 1996 của UNCITRAL, nhưng khác với luật mẫu và pháp luật của nhiều nước trên thế giới, Luật giao dịch điện tử năm 2005 của
Việt Nam đưa ra định nghĩa chính thức về hợp đồng điện tử tại Điều 33 như sau: “
Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”[21,
Điều 33], trong đó thông điệp dữ liệu được hiểu là “ thông tin được tạo ra, gửi đi,
được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”[21,Điều 4(2)] Thông điệp
dữ liệu được thể hiện dưới hình thức: trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax, và các hình thức tương tự khác [21, Điều 10]
Trang 1610
Nếu như pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước đều không đưa ra định nghĩa chính thức về hợp đồng điện tử, thì ngược lại định nghĩa về hợp đồng điện tử được một số nhà nghiên cứu khoa học hoặc hoạt động thực tiễn pháp lý đưa ra trong các công trình nghiên cứu, bài viết hay hội thảo khoa học, trong đó:
Theo Luật sư Oliver Iteanu – Đoàn Luật sư Paris:
Hợp đồng điện tử là sự gặp gỡ trên mạng viễn thông quốc tế giữa một lời đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện bằng phương tiện nghe nhìn và một lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Sự gặp gỡ này có thể được thực hiện một cách tức thời, nhờ sự trao đổi tương
tác [17, tr.106]
Hoặc là “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp
dữ liệu, hay nói cách khác là hợp đồng có sử dụng thông điệp dữ liệu”.[11, tr.367]
Đây là định nghĩa được đưa ra trong cuốn chuyên khảo Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư – những vấn đề pháp lý cơ bản do TS Nguyễn Thị Dung chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2008
Trong tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2010, TS Trần Văn Biên cũng đã
phân tích, tìm hiểu và đưa ra khái niệm về hợp đồng điện tử “Tóm lại, nói đến hợp
đồng điện tử là nói đến một phương thức thiết lập hợp đồng chứ không phải là một loại hợp đồng dựa trên một đối tượng cụ thể nào” [1,tr.36]
Ngày nay người ta hiểu khái niệm hợp đồng điện tử thông thường là những hợp đồng được giao kết thông qua phương tiện điện tử mà trong đó internet đóng vai trò cơ bản và được coi là điều kiện tiên quyết Như vậy, Luật giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam định nghĩa hợp đồng điện tử theo cách khái quát Sự liệt kê thường không bao giờ đầy đủ, cách định nghĩa này là hợp lý, nó dự liệu được tất cả các phương tiện điện tử được sử dụng để giao kết hợp đồng và giúp tránh khỏi sự lạc hậu trước sự phát triển của công nghệ thông tin, bởi rất có thể trong tương lai sẽ
có thêm những phương tiện điện tử khác được phát minh, sáng chế mà được sử dụng làm phương tiện điện tử
Trang 1711
Qua những phân tích ở trên có thể kết luận hợp đồng điện tử là những hợp đồng được giao kết qua mạng Internet - phương tiện điện tử được sử dụng phổ biến
và có tầm ảnh hưởng, chi phối nhất trong giao kết hợp đồng điện tử hiện nay
1.2 Đặc điểm của hợp đồng điện tử
Xét về bản chất hợp đồng điện tử cũng có những đặc điểm chung cơ bản giống với hợp đồng truyền thống và đều phải tuân theo những quy định chung về giao kết hợp đồng được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015
Tham gia vào hợp đồng điện tử có ít nhất hai bên (có thể là hai doanh nghiệp ký hợp đồng với nhau hoặc có thể là doanh nghiệp ký hợp đồng với người tiêu dùng)
Về cơ sở hình thành hợp đồng điện tử cũng xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấp dứt quyền và nghĩa vụ như các hình thức hợp đồng phổ biến mà chúng ta đang áp dụng, chỉ khác là chúng được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu Dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, dù được giao kết bằng lời nói, hành vi, bằng văn bản hay bằng các phương tiện điện tử thì điều quan trọng là hợp đồng chỉ hình thành nếu các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện, đạt được sự thỏa thuận rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với nhau Trong đó sự thống nhất và tự do ý chí giữa các bên – cơ sở triết học của hợp đồng là điều quan trọng nhất dù là loại hợp đồng gì
Hợp đồng điện tử khi giao kết hay thực hiện đều phải tuân thủ những chuẩn mực chung nhất của hợp đồng nói chung liên quan tới hình thức của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, chế độ trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có
Khi giao kết hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống các bên đều phải tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Bộ luật Dân sự đó là nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã
Trang 18luật điều chỉnh “Khía cạnh kỹ thuật làm cho quá trình giao kết hợp đồng điện tử
phát sinh nhiều vấn đề chưa từng gặp trong giao kết hợp đồng bằng phương thức truyền thống và đây cũng chính là đặc điểm riêng của hợp đồng điện tử” [6, tr.24-
25] Sự khác biệt này sẽ khiến cho hợp đồng điện tử mang một số tính riêng biệt cơ bản sau đây:
- Về phương tiện ký kết: “Hợp đồng điện tử được ký kết thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, điển hình là mạng Internet Chính các công cụ này đã giúp mở rộng phạm vi ký kết hợp đồng điện tử ra khắp thế giới” [27,
tr.19] Đặc biệt là việc sử dụng mạng Internet trong quá trình ký kết hợp đồng điện
tử đã giúp các bên có thể ký kết hợp đồng điện tử với mọi đối tác từ mọi nơi trên thế giới mà không bị rào cản về biên giới quốc gia hạn chế Với hợp đồng truyền thống các bên sau khi gặp gỡ, trao đổi, thống nhất với nhau bằng các tài liệu giấy tờ và ký bằng tay Hợp đồng điện tử thì lại có một phương thức giao kết khác, các bên sẽ không mất thời gian gặp gỡ, trao đổi và ký tay mà thực hiện việc giao kết trên các phương tiện điện tử và hợp đồng sẽ được ký bằng chữ ký điện tử
Một thương nhân, dù ở đâu, ở từng địa phương trong một quốc gia hay ở phạm vi quốc tế, dù vào thời điểm nào cũng có thể giao dịch với đối tác của mình
mà không có bất kỳ trở ngại nào Tuy nhiên việc xác định vị trí, địa điểm, nơi mà thương nhân này tiến hành giao dịch trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống, thậm chí đôi khi là không thể thực hiện Điều này sẽ dẫn đến rất nhiều các vấn đề pháp lý phức tạp khi phải xác định địa điểm giao kết hợp đồng, đặc biệt là khi giao kết với thương nhân nước ngoài
Trang 1913
- Về chủ thể: Hợp đồng điện tử ngoài các chủ thể là người mua và người bán,
thì khi giao kết hợp đồng điện tử còn có một chủ thể khác không kém phần quan trọng là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký
- Về vấn đề nội dung hợp đồng: hợp đồng điện tử có một số điểm khác biệt
với hợp đồng truyền thống như địa chỉ pháp lý, ngoài các địa chỉ pháp lý thông thường hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi
và ngày giờ gửi
- Tính vô hình, phi vật chất: môi trường điện tử là môi trường số hóa, môi
trường ảo, vì vậy các hợp đồng điện tử mang tính chất vô hình, nghĩa là hợp đồng điện tử được tồn tại, được chứng minh, được lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử, điện từ chứ không nhận biết một cách vật chất được Tính vô hình và phi vật chất này, khiến cho việc xác định một số yếu tố của hợp đồng trở nên khác, và khó khăn hơn
so với hợp đồng bằng giấy truyền thống Ví dụ như: vấn đề bản gốc, vấn đề chữ ký của hai bên, vấn đề bằng chứng của hợp đồng để làm cơ sở pháp lý khi tranh tụng trước tòa…
- Tính rủ ro: Phương thức giao kết hợp đồng điện tử cũng có nhiều rủi ro
Với sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử, người ta cũng đang phải đối mặt với những rủi ro phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử mà nguyên nhân phát sinh rủi ro là do chính tính vô hình và tính hiện đại về mặt kỹ thuật của hợp đồng điện tử mang lại Trong một môi trường ảo, đôi khi rất khó khăn
để xác định năng lực pháp lý của đối tác giao kết hợp đồng, xác định xem đơn hàng
trên internet là đơn hàng thật hay đơn hàng giả Tính “vô hình” khiến cho việc lưu
trữ hợp đồng nhằm đảm bảo bằng chúng về hợp đồng trong trường hợp xảy ra tranh chấp cũng là điều không đơn giản
Làm thế nào để có một chữ ký điện tử đáng tin cậy? làm thế nào để bảo mật hợp đồng điện tử và chữ ký điện tử? làm thế nào để hạn chế rủi ro chống phá sự tấn công của các hacker… Đó là những câu hỏi làm đau đầu không chỉ các nhà kinh doanh mà còn cả những nhà làm luật khi giao dịch điện tử phát triển trên toàn thế giới
Trang 2014
Trên thực tế nhiều người đã phải chịu thiệt thòi do những rủi ro này mang lại Nhiều khách hàng bị mất tiền do bảo mật thẻ tín dụng không tốt, nhiều doanh nghiệp không lấy được tiền hàng do hợp đồng bị giả mạo chữ ký điện tử, nhiều vụ tranh chấp rơi vào bế tắc khi cơ quan giải quyết tranh chấp không tìm được cơ sở pháp lý để bảo về quyền lợi của các bên có lợi ích bị xâm phạm v.v
- Luật điều chỉnh: Với tính đặc thù về mặt kỹ thuật công nghệ như đã phân
tích, hợp đồng điện tử một mặt chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật về hợp đồng như Bộ Luật Dân sự năm 2015, mặt khác, việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử còn cần phải tuân theo một quy đình và thủ tục đặc biệt nhằm phòng tránh rủi ro do chính yếu tố kỹ thuật đem lại Vì vậy bên cạnh pháp luật về hợp đồng, hợp đồng điện tử còn chịu sự điều chỉnh của một số văn bản pháp luật riêng
Đặc biệt là việc giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, một vấn đề thường phát sinh khi nghiên cứu về nội dung pháp luật điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử nói riêng và hợp đồng nói chung Vấn đề mấu chốt là ở chỗ, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng cho phép các bên tham gia trong hợp đồng, dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, được quyền thỏa thuận, lựa chọn thống nhất luật áp dụng mà các bên cho là thích hợp để điều chỉnh hợp đồng của mình Tuy nhiên, nếu các bên không thống nhất được vấn đề này, việc xác định luật nào sẽ
áp dụng cho hợp đồng trở nên khó khăn Với các hợp đồng được giao kết với các quốc gia khác nhau cũng vậy, mặc dù trong quan hệ hợp đồng không có ranh giới quốc gia, các giao dịch được tiến hành một cách phi biên giới Song trên thực tế sẽ
có những giao dịch mà chủ thể ở các nước khác nhau, và các chủ thể này có quốc tịch khác nhau với nơi họ cư trú hoặc có trụ sở
Một giao dịch như vậy có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống luật khác nhau Trong những trường hợp như vậy, việc xác định luật pháp của quốc gia nào điều chỉnh hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là vấn đề hết sức phức tạp
Rõ ràng những quy định về giao kết hợp đồng điện tử, không thể hoàn toàn giống những quy định về giao kết hợp đồng truyền thống Chính vì vậy luật điều
Trang 2115
chỉnh hợp đồng điện tử trong đó có hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài sẽ phải
có những điểm riêng biệt nhất định để điều chỉnh cho phù hợp
1.3 Vai trò của hợp đồng điện tử
Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy việc sử dụng hợp đồng điện
tử trong đời sống hàng ngày cũng như trong thương mại đem lại nhiều lợi ích, đặc biệt là cho các nhà kinh doanh Những lợi ích này có thể thấy được thông qua vai trò của hợp đồng điện tử Theo đó, hợp đồng điện tử có những vai trò chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng điện tử giúp các bên giao kết tiết kiệm được thời gian đàm phán, giao kết hợp đồng
Quá trình giao kết hợp đồng gồm nhiều bước, từ tìm hiểu đối tác, giới thiệu sản phẩm dịch vụ, gửi đơn chào hàng, gửi chấp nhận chào hàng, đàm phán các điều khoản của hợp đồng, ký kết, sửa đổi, lưu trữ…Nếu tất cả những công việc ấy đều diễn ra bằng giấy trắng, mực đen thì thời gian để các bên soạn thảo, in ấn giấy tờ, thời gian gửi và chờ nhận thư liên lạc giữa các bên là không ngắn
Các cuộc điều tra cho thấy 80% thời gian để ký hợp đồng sẽ được tiết kiệm bằng việc sử dụng hợp đồng điện tử Việc sử dụng Internet sẽ giúp người tiêu dùng, giúp các bên giao kết, kể cả bên giao kết là doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian giao dịch Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện
Thứ hai, bằng việc giao kết các hợp đồng điện tử, các doanh nghiệp giảm được chi phí giao dịch, bán hàng
Chỉ bằng một vài “click” trên máy tính, một nhà kinh doanh, ngồi tại văn phòng của mình (hay thậm chí ngồi tại nhà riêng) cũng có thể cùng lúc giao dịch cùng lúc với nhiều khách hàng, giao kết được nhiều hợp đồng với những đối tác ở nhiều nơi khác nhau Điều này không thể có được đối với hợp đồng truyền thống Bằng phương thức điện tử, nhất là thông qua mạng Internet, các bên tham gia giao dịch, cùng với việc giảm thời gian giao kết hợp đồng, cũng sẽ giảm một cách đáng
kể chi phí để thực hiện điều đó
Trang 2216
Trước hết là giảm chi phí giao dịch Chi phí giao dịch qua Internet rẻ hơn phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh Các ứng dụng Internet sẽ thay thế các cuộc gặp gỡ trực tiếp với các nhà cung cấp và khách hàng, từ đó trợ giúp việc trao đổi thông tin và ký kết hợp đồng Thư điện tử, hội thoại qua video và thảo luận trên mạng xã hội trở nên rẻ hơn và dễ sử dụng hơn đối với các bên giao kết ở xa nhau, so với việc sử dụng điện thoại, fax và gửi thư thông thường Hợp đồng điện tử có thể làm giảm chi phí giấy tờ do tất cả các thông tin đều được gửi và nhận trực tiếp mà không cần được thể hiện bằng bất kỳ hình thức giấy tờ nào Đồng thời việc lưu trữ các hợp đồng điện tử nói riêng và các thông tin điện tử nói chung, xét về mặt kỹ thuật của công nghệ thông tin, đều có thể được thực hiện rất nhanh chóng mà không tốn kém chi phí giấy tờ
Thứ ba, thực hiện hợp đồng điện tử sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ “số hóa” đối với một số sản phẩm và dịch vụ
Các giao dịch thương mại điện tử thường được chia thành hai nhóm sau:
Một là, giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ thông thường
Trong nhóm này Internet hay các mạng mở khác được sử dụng như một phương tiện cho các giao dịch chào hàng, giao kết hợp đồng, thậm chí cả thanh toán, nhưng việc giao hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng vẫn phải được thực hiện một cách vật chất thông qua những phương tiện truyền thống
Giao dịch điện tử thuộc nhóm này có sự kết hợp giữa giao dịch truyền thống với giao dịch điện tử Các quy trình giao kết hợp đồng điện tử được phối kết hợp, đan xen giữa các bước, các quy trình truyền thống với các bước, các quy trình giao dịch điện tử Cách thức này tạo ra những ưu việt và thuận lợi cho một hợp đồng hợp đồng điện tử nói riêng và giao dịch điện tử nói chung
Hai là, giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ “số hóa” Việc giao dịch,
việc thực hiện giao kết hợp đồng, thanh toán và cung ứng hàng hóa, dịch vụ đều được thực hiện thông qua việc truyền các thông điệp dữ liệu đã được số hóa Giao dịch điện tử thuộc nhóm số hai này sẽ được thực hiện theo quy trình điện tử một cách toàn diện
Trang 2317
Công nghệ thông tin bản thân nó đang xâm nhập vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội và cho ra đời một số sản phẩm đặc thù là những sản phẩm số (digital products) Đây là các sản phẩm phi vật thể như: các trương trình phần mềm, các website, nhạc, phim truyện, sách điện tử…các sản phẩm này có đặc điểm là có thể giao hàng qua mạng Thực chất của việc mua bán, trao đổi các sản phẩm này là việc trao dổi dung liệu hàng hóa Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa, mà không phải là bản thân vật mang nội dung đó; ví dụ như: tin tức, nhạc phim, các trương trình phát thanh, truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn…
Trước đây dung liệu được thay đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng cách đưu vào đĩa, vào băng in thành sách, báo, thành văn bản, đóng gói thành bao bì chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến đại lý phân phối (cửa hàng, quầy báo…) để người sử dụng mua và nhận trực tiếp Ngày nay dung liệu được số hóa và truyền gửi
qua mạng, gọi là “giao gửi số hóa” (digital delivery) Các tờ báo, các tư liệu của
các công ty, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ lần lượt được đưa lên website Các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể truyện cũng được số hóa, truyền tải qua Internet, người sử dụng tải xuống sử dụng thông qua màn hình
và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử Các sản phẩm số này (hàng hóa thông tin phi vật thể mà công nghệ thông tin mang lại) sẽ thực sự tạo ra các sản phẩm mới, các kênh tiêu thụ lớn có giá trị cao
Đối với việc giao dịch mua bán các sản phẩm đặc thù, hợp đồng điện tử sẽ là phương thức phù hợp, tiện lợi và nhanh chóng nhất
Thứ tư, sử dụng hợp đồng điện tử giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ nhanh chóng và sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thế giới diễn ra ngày càng khốc liệt, việc tìm kiếm được nhiều đối tác khách hàng, tìm kiếm được thị trường mới, tìm kiếm được kênh cung ứng linh hoạt, gọn nhẹ, nhanh chóng với chi phí giảm cũng như khả năng phản ứng nhanh hơn với các cơ hội trong guồng quay của thế giới kinh doanh là những lợi thế không thể thiếu đối với một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triền
Trang 2418
theo kịp với thị trường thế giới Thương mại điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng chính là chiếc chìa khóa dẫn doanh nghiệp đến với những cơ hội, thử thách, cũng như đưa doanh nghiệp doanh nghiệp tới khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trước hết nói về việc tìm kiếm đối tác, khách hàng, lợi ích thương mại điện
tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng là rất quan trọng vì nó giúp các doanh nghiệp cùng một lúc và trong thời gian ngắn có thể tiếp cận, giao dịch và trao đổi thông tin với rất nhiều đối tác Thông qua sự kết nối điện tử doanh nghiệp có thể liên lạc một cách hiệu quả, nhanh chóng, với các nhà cung cấp, với khách hàng của mình, thậm chí nếu họ ở các nước khác nhau với múi giờ khác nhau và ngôn ngữ khác nhau
Giao kết hợp đồng điện tử thông qua mạng Internet/web sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể, dù họ là doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, người tiêu dùng, dù họ ở trong nước hay ở nước ngoài vẫn có thể giao tiếp trực tiếp (liên lạc trực tuyến) và liên tục mà không bị cản trở bởi khoảng cách về thời gian, về địa lý… Điều này sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể giao kết hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng thương mại điện tử sẽ có thể hợp tác, quản lý, tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh trong phạm
vi quốc gia cũng như ở khu vực hay ở môi trường kinh doanh quốc tế
Việc tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng như đã phân tích ở trên là yếu tố quan trọng làm giảm chi phí kinh doanh nói chung của doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hơn nữa trong môi trường điện tử thông tin được truyền dẫn từ người khởi tạo và người nhận hầu như, là ngay lập tức Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp nhờ vào các phương tiện điện tử, có thể tiếp cận và nắm bắt được một cách kịp thời những cơ hội kinh doanh mới, ký kết được hợp đồng một cách rất nhanh chóng
1.4 So sánh hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống
Hợp đồng truyền thống là những hợp đồng được ký kết theo những phương thức truyền thống như các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán và giao kết hợp đồng trực
Trang 2519
tiếp bằng văn bản, thậm chí bằng hành vi cụ thể hoặc giao kết hợp đồng thông qua trao đổi thư từ, tài liệu giao dịch bằng đường bưu điện Còn hợp đồng điện tử là hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử
Về mặt pháp lý, hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp đồng được thiết lập dựa trên các quy định chung của Bộ luật Dân sự Vì vậy chúng có những điểm giống nhau và cũng có những điểm khác nhau
1.4.1 Sự giống nhau
Thương mại điện tử không làm thay đổi khái niệm thương mại truyền thống thương mại điện tử là một hình thức kinh doanh mới, kinh doanh qua một phương tiện, một cách thức mới trên cơ sở áp dụng các công nghệ hiện đại Vì vậy hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống có những điểm giống nhau cơ bản
- Điểm giống nhau thứ nhất: chúng đều là hợp đồng, mà hợp đồng được hiểu
là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự [25, Điều 385] Dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử,
dù là hợp đồng được giao kết bằng lời nói, bằng hành vi, bằng văn bản hay các phương tiện điện tử thì điều quan trọng là hợp đồng chỉ hình thành nếu các bên giao kết đạt được sự thỏa thuận, sự thỏa thuận cụ thể, rõ ràng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau Sự tự do và thống nhất ý chí giữa các bên đương sự là điều quan trọng nhất làm nên hợp đồng, dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử
- Điểm giống nhau thứ hai: Cả hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống,
khi giao kết và thực hiện chúng đều phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định và tuân thủ những quy định liên quan đến hình thức của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, quy trình giao kết hợp đồng, trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh, nếu có
- Điểm giống nhau thứ ba: khi giao kết hợp đồng dù là hợp đồng điện tử hay
hay hợp đồng truyền thống, các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ nguyên tắc
giao kết hợp đồng đó là “ tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” và nguyên tắc “
thiện trí, trung thực” Hai nguyên tắc này được quy định tại Điều 3 BLDS năm
2015 Hai nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng, dù đó là hợp
Trang 2620
đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống, là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại
- Điểm giống nhau thứ tư: là cả hai hợp đồng này đều phải tuân theo những
quy định có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng Trước hết khi thực hiện hợp đồng, dù là hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống, các bên trong hợp đồng phải tuân theo ba nguyên tắc thực hiện hợp đồng: Nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng: đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác; Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và các bên cùng có lợi, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; và nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
1.4.2 Sự khác nhau:
Bên cạnh nhưng điểm giống nhau cơ bản như trên, hợp đồng điên tử và hợp đồng truyền thống cũng có nhiều điểm khác nhau Được giao kết qua việc sử dụng các phương tiện điện tử hiện đại, với tính chất phi biên giới hợp đồng điện tử có rất nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống Nhiều quy định được áp dụng đối với hợp đồng truyền thống trở nên không phù hợp với hợp đồng điện tử (như quy định về hình thức viết, chữ ký tay…) Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện các hợp đồng điện tử mẫu Những hợp đồng điện tử mẫu này khẳng định một lần nữa là,
về mặt nội dung cũng như về mặt pháp lý, hợp đồng điện tử có những điểm khác biệt so với hợp đồng thông thường Những điểm khác biệt đó là:
- Về chủ thể: Các chủ thể tham gia vào việc giao kết hợp đồng điện tử: Trong
giao dịch điện tử ngoài các chủ thể tham gia giao kết như đối với thương mại truyền thống (người bán, người mua) đã xuất hiện các bên thứ ba có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng điện tử Đó là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và chứng thực chữ ký điện
tử Những bên thứ ba này có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng có thể đóng vai trò trong việc xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử
Trang 2721
Với đặc thù đuộc giao kết dươi dạng phi giấy tờ, việc giao kết hợp đồng điện
tử sẽ gặp rủi ro nếu không có các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ qua chứng thực chữ ký điện tử Các nhà cung cấp dịch vụ mạng có trách nhiêm duy trì hệ thống mạng (mạng nội bộ của doanh nghiệp cũng như mạng quốc gia) luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt Hệ thống mạng trục trặc ngay lập tức sẽ ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng điện tử ở phạm vi từng đơn vị, doanh nghiệp … cũng như ở phạm vi quốc gia Còn cơ quan chứng thực chữ ký điện tử đóng vai trò quang trọng trong việc xây dựng và tạo được một cơ chế sao cho các hợp đồng điện tử không thể
bị giả mạo và không thể bị phủ nhận khi tranh chấp phát sinh
Chính vì vậy đối với hợp đồng điện tử, chừng nào hệ thống mạng có trục trặc chừng nào các cơ quan chứng thực chữ ký chưa được thành lập, thậm chí được thành lập nhưng chưa hoạt động thì chừng đó, việc giao kết hợp đồng điện tử cũng như việc thực hiện hợp đồng điện tử sẽ khó có thể thành công Rủi ro sẽ là rất lớn nếu không có những người thứ ba này tham gia vào quy trình giao kết hợp đồng điện tử
Những người thứ ba này không tham gia vào quy trình đàm phán, giao kết hay thực hiện hợp đồng Họ chỉ tham gia với tư cách là các cơ quan hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
Địa vị pháp lý của họ với tư cách là chủ thể tham gia vào một khâu, hoặc một số khâu của quá trình giao kết hợp đồng điện tử cần phải được quy định như thế nào? Đây là điểm làm nên sự khác biệt của giao kết hợp đồng điện tử
-Về nội dung: Hợp đồng điện tử có một số điển khác biệt so với hợp đồng
truyền thống Những điểm khác biệt đó là:
+ Địa chỉ pháp lý: ngoài địa chỉ pháp lý thông thường (địa chỉ bưu điện) hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e –mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày giờ gửi fax…Những địa chỉ điện tử này có ý nghĩa rất lớn để xác định tính hiện hữu, sự tồn tại thật sự của các bên giao kết hợp đồng với tư cách là chủ thể của việc giao kết hợp đồng điện tử
Trang 2822
+ Các quy định về truy cập, cải chính thông tin điện tử (ví dụ như việc thu hồi hay hủy một đề nghị giao kết hợp đồng trên mạng Internet…)
+ Các quy định về chữ ký điện tử hay một cách thức khác ( như mật khẩu,
mã số…) để xác định được các thông tin có giá trị về các chủ thể giao kết hợp đồng
+ Về thanh toán trong các hợp đồng điện tử cũng thường được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Vì vậy trong hợp đồng điện tử thường có các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử, ví như thanh toán bằng thẻ tín dụng, việc bảo mật các thông tin liên quan đến thẻ tín dụng cho khách hàng
-Về quy trình giao kết hợp đồng điện tử: Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa
hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống Một hợp đồng truyền thống sẽ được giao kết bằng việc các bên trực tiếp gặp nhau hay trao đổi với nhau bằng các
phương tiện “ giấy tờ”, “ vật chất” và ký bằng chữ ký tay Còn một hợp đồng điện
tử sẽ được giao kết bằng phương tiện điện tử và hợp đồng sẽ được ký bằng chữ ký điện tử Hai phương thức giao kết hoàn toàn khác nhau sẽ làm phát sinh những điểm khác biệt lớn liên quan đến quy trình giao kết: việc xác định thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng điện tử sẽ trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống vì
thời điểm “gửi” và “nhận” một thông điệp dữ liệu (chính là một chào hàng hay
chấp nhận chào hàng) trở nên khó xác định trong môi trường điện tử Việc tạo lập
một “ chữ ký” trong môi trường điện tử hay việc áp một “con dấu” sẽ không thể
được thực hiện như đối với hợp đồng truyền thống
- Về pháp luật điều chỉnh: Về mặt pháp lý, ngoài các quy định chung về hợp
đồng trong Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng cho các hợp đồng truyền thống và hợp đồng điện tử, do tính chất đặc thù cảu hợp đồng điện tử và do những vấn đề pháp lý đặc biệt (hay chính các rủi ro về mặt pháp lý) nảy sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử mà loại hợp đồng này thường còn phải được đặc biệt điều chỉnh bởi một hệ thống quy phạm pháp luật đặc thù, dành riêng cho hợp đồng điện tử Điều đó giải thích tại sao để phát triển hoạt động thương mại điện tử nói chung và tăng cường giao kết hợp đồng điện tử nói riêng, ở phạm vi quốc gia hay quốc tế, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xây dựng một khung pháp lý giành
Trang 2923
riêng cho hoạt động thương mại điện tử trong đó có những quy định về hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng điện tử Ví dụ như các quy định về giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, của chữ ký điện tử, của một bản gốc hợp đồng, các quy định về việc chứng thực chữ ký điện tử …Và vì vậy ngày nay ở nhiều nước, bên cạnh các đạo luật về hợp đồng truyền thống người ta phải ban hành Luật giao dịch điện tử, luật về giao kết hợp đồng điện tử, luật về thương mại điện tử, luật về chữ ký điện tử…
1.5 Pháp luật về hợp đồng điện tử của một số quốc gia trên thế giới
1.5.1 Pháp luật quốc tế về hợp đồng điện tử
Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết một số Điều ước quốc
tế như TPP, đang quan tâm để tham gia Công ước về giao dịch điện tử của Liêp hợp quốc năm (Công ước 2005) Trên thực tế, khi xây dựng khung pháp luật về TMĐT nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng, Việt Nam đã tiếp thu các nguyên tắc, nội dung cơ bản của Luật Mẫu về thương mại điện tử cũng như Luật Mẫu về chữ ký điện tử Cả hai Luật Mẫu này đều do Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban hành
a Công ước Liên hợp quốc về sử dụng truyền thông điện tử trong hợp đồng quốc tế
Với mục đích áp dụng một cách thống nhất và hài hòa trong các giao dịch thương mại điện tử của các quốc gia thành viên, Công ước Liên hợp quốc về sử dụng truyền thông điện tử trong hợp đồng quốc tế (Công ước TMĐT) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 23/11/2005 tại New York, Hoa Kỳ, Công ước này mới có hiệu lực kể từ ngày 1/3/2013 khi có 3 nước phê chuẩn là Dominican, Honduras và Singapore Hiện nay Công ước này đã được18 quốc gia tham gia ký kết và một quốc gia gia nhập.Công ước 2005 về TMĐT bao gồm 4 chương và 25 điều quy định về việc sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế, công nhận giá trị pháp lý cho hợp đồng điện tử, các yêu cầu về hình thức, thời gian và địa điểm liên quan đến chứng từ điện tử, lời đề nghị giao kết hợp đồng hay sử dụng hệ thống thông tin tự động hay tình huống lỗi nhập thông tin Hiện nay Việt Nam chưa ký kết
Trang 3024
hay gia nhập Công ước Liên hiệp quốc về sử dụng truyền thông điện tử trong hợp đồng quốc tế ngày 23/11/2005 nhằm ràng buộc các trách nhiệm pháp lý trong hệ thống pháp luật của mình trong lĩnh vực thương mại điện tử, tuy nhiên việc gia nhập
sẽ giúp Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực pháp lý quốc tế cũng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
b.Luật Mẫu về thương mại điện tử
Để hạn chế các xung đột khi các cá nhân tổ chức ở các quốc gia khác nhau thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa dịch vụ, Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã ban hành Luật Mẫu về thương mại điện tử ngày 12/6/1996 (Sửa đổi năm 1998) với hai phần gồm 17 điều Luật mẫu được soạn thảo dựa trên các nguyên tắc cơ bản như:
- Tương đương thuộc tính, hay công nhận giá trị pháp lý như văn bản
- Tự do thoả thuận hợp đồng
- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Xác định thời điểm, nơi gửi và nhận thông điệp dữ liệu
- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợp đồng: những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng được thi hành phải được tôn trọng
Việc xây dựng, ban hành Luật Mẫu về thương mại điên tử được nhiều Quốc gia thành viên tiếp thu những nguyên tắc, nội dung cơ bản để xây dựng pháp luật về thương mại điện tử cho riêng mình
c Luật Mẫu về chữ ký điện tử
Để bảo đảm an toàn cho các giao dịch điện tử, việc xây dựng Luật Mẫu về chữ ký điện tử đã đươc Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban hành ngày 5 tháng 7 năm 2001 nhằm mục đích khuyến nghị các quốc gia thành viên xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến sử dụng chữ ký điện tử một cách thống nhất hoặc ít có khác biệt
Trang 3125
Luật Mẫu về chữ ký điện tử với 12 điều, với các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc tương đương chức năng, nguyên tắc không phân biệt và trung lập về công nghệ Ngoài các nguyên tắc, Luật Mẫu về chữ ký điện tử còn quy định một số nội dung cơ bản như sau:
- Công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử
- Những điều kiện để chữ ký điện tử đảm bảo độ an toàn và tin cậy v.v Việc xây dựng Luật Mẫu về chữ ký điện tử đã đưa ra các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và các điều kiện đảm bảo giá trị hiệu lực của chữ ký điện tử Hiện nay, nhiều quốc gia thành viên đã tiếp thu những nguyên tắc và nội dung cơ bản của Luật Mẫu
về chữ ký điện tử trong pháp luật của mình
1.5.2 Pháp luật về hợp đồng điện tử của một số quốc gia trên thế giới
a Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nước đi đầu trong lĩnh vực thương mại điện tử, tháng 7 năm 1999, Hiệp hội các thanh tra viên về pháp luật các tiểu bang Hoa Kỳ đã thông qua Luật mẫu về các giao dịch điện tử và gửi cho các cơ quan lập pháp ở từng bang để thông qua và ban hành dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là: (i) Các bên được tự do xác lập quan hệ hợp đồng với nhau khi thấy phù hợp; (ii) Các quy định phải có tính chất trung lập về mặt công nghệ và phải có tính mở cho tương lai, có nghĩa là không được quy định về một loại công nghệ cụ thể nào đó và không được hạn chế việc sử dụng hay phát triển của các công nghệ tương lai; (iii) Các quy định hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới trong trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho việc sử dụng công nghệ điện tử; (iv) Các quy định phải công bằng cho cả các doanh nghiệp đã áp dụng rộng rãi các công nghệ mới và các doanh nghiệp còn chưa áp dụng Nhằm tạo lập một khung pháp lý thống nhất cho giao dịch thương mại điện tử
ở Hoa Kỳ Ngày 30/6/2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký Luật Thương mại quốc gia và quốc tế về chứ ký điện tử E-Sign thừa nhận chữ ký điện tử có giá trị pháp lý tương đương giá trị chữ ký truyền thống trong ký kết hợp đồng và không thể bị phủ nhận hay từ chối chỉ vì lý do đó là chữ ký điện tử Luật E-Sign của Hoa
Kỳ ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng về mặt pháp lý cho các giao dịch điện tử
Trang 3226
nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng Riêng đối với doanh nghiệp Hoa Kỳ, Sign được ban hành đã tạo môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ sử dụng chữ ký số hoá trong các giao dịch điện tử Luật thống nhất về Giao dịch điện
E-tử là một văn bản ngắn gọn, quy định về sự công nhận giá trị pháp lý của các dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử và các văn bản điện tử khác Văn bản này không quy định bất kỳ ưu thế nào cho bất kỳ một phương thức hay công nghệ nào
Luật mẫu về các giao dịch điện tử là một văn bản có tính linh hoạt cao có thể tồn tại lâu dài và là cơ sở pháp lý phù hợp cho các giao dịch thương mại điện tử trong suốt một giai đoạn dài
b Canada
Để tạo một môi trường pháp lý hoàn chỉnh cho các giao dịch thương mại điện tử, Chính phủ Canada đã tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản hiện hành đồng thời ban hành các văn bản mới liên quan đến thương mại điện tử như luật về chữ ký điện tử, chứng cứ điện tử v.v Luật về Chữ ký điện tử của Canada cho phép các cơ quan liên bang quyền quyết định các yêu cầu của pháp luật hiện hành về hình thức giao dịch có thể được thoả mãn bằng các phương tiện điện tử như thế nào Chữ ký điện tử có thể được sử dụng trong các giao dịch thương mại điện tử
Vấn đề đặt ra là phải xác định được mối liên hệ giữa chữ ký điện tử với người ký tài liệu điện tử Hiện nay, Canada đã có các quy định pháp luật về thu thập, sử dụng và tiết lộ thông tin về cá nhân do các cơ quan nhà nước quản lý Luật
bí mật cá nhân liên bang có hiệu lực từ năm 1982, được áp dụng đối với tất cả các
cơ quan nhà nước cấp liên bang và một số doanh nghiệp có quy mô liên bang
Gần đây, Canada đã ban hành Luật Bảo vệ thông tin cá nhân và tài liệu điện
tử Đây là một bước tiến mới trong việc bảo vệ thông tin cá nhân Ngoài ra các cơ quan nhà nước còn phải tuân thủ luật về quyền riêng tư (the Privacy Act)
Về vấn đề thuế, hiện nay Canada đang cùng một số thành viên khác của OECD phát triển chiến lược quốc tế trong đó có các hiệp ước về thuế đối với thương mại điện tử, hướng dẫn xử lý việc chuyển giá, về việc áp dụng thuế tiêu thụ
và về hàng rào thuế quan cửa khẩu
Trang 3327
c Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, ngay từ năm 1999, Chính phủ đã xây dựng “Đạo luật cơ bản về thương mại điện tử” và chuẩn bị một loạt các đạo luật liên quan đến thương mại điện tử, liên tục nâng cao khuôn khổ pháp lý thương mại điện tử bằng cách chỉnh sửa luật hiện hành, ban hành luật mới Các đạo luật chính đã được ban hành bao gồm: Luật khung về thương mại điện tử được ban hành năm 1999, sửa đổi năm
2002, 2005 đã tạo khung pháp lý trụ cột vững chắc cho các bộ luật khác về thương mại điện tử ở Hàn Quốc Luật Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử được ban hành năm 2002 và sửa đổi năm 2005 Luật Chữ ký điện tử được ban hành năm 1998, sửa đổi năm 2001, 2005 Luật Phát triển ngành đào tạo điện tử được ban hành năm 2004 Luật Phát triển ứng dụng mạng công nghệ thông tin và truyền thông và bảo vệ thông tin được ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2002, 2004 và
2005 Bên cạnh đó là một số đạo luật khác như: Luật Kinh doanh tài chính về tín dụng; Luật Khuyến khích ngành nội dung số trực tuyến; Luật Sản phẩm trò chơi, sản phẩm hình ảnh và âm thanh; Luật về các nguồn địa chỉ Internet; Luật Bản quyền; Luật Chính phủ điện tử; Luật Bảo vệ chương trình máy tính; Luật Hóa đơn điện tử cũng đƣợc ban hành nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thương mại điện tử
Mục tiêu của đạo luật là thiết lập một quy tắc thực hành (Code of Conduct) chung để hỗ trợ cho các giao dịch thương mại điện tử; xây dựng cơ sở hạ tầng về công chứng; cho phép nộp đơn, hồ sơ và cấp phép điện tử ở các cơ quan quản lý
Trang 3428
nhà nước; đồng thời, làm rõ trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ mạng đối với nội dung thông tin của bên thứ ba Luật Giao dịch điện tử của Singapore đã đưa ra những quy tắc thương mại nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong một giao dịch thương mại điện tử Những quy tắc nằm trong đạo luật này mang các tính chất đặc trưng của những quy định mẫu quốc tế, đặc biệt là các quy định của Luật mẫu UNCITRAL về thương mại điện tử Quy tắc thực hành chung trong Luật Giao dịch điện tử của Singapore cũng chứa đựng các điều khoản điều chỉnh việc ký kết hợp đồng qua các phương tiện điện tử thông qua việc quy định về thời gian, địa điểm gửi và nhận thông tin điện tử Đạo luật này còn quy định về giá trị pháp lý của các bản ghi và chữ ký điện tử, cùng với độ an toàn của chúng Mặt khác, để hỗ trợ cho việc sử dụng chữ ký điện tử, một cơ sở hạ tầng về công chứng
đã được xây dựng Theo đó, cơ quan công chứng sẽ xác nhận một mã khoá chứng thực có mối liên hệ với một cá nhân nhất định Một cơ quan công chứng có thể xác minh về một cá nhân nào đó trước khi cấp một chứng thực dưới dạng giấy chứng nhận kỹ thuật số Giấy chứng nhận này có thể dùng để xác minh chữ ký của cá nhân
đó
Luật Giao dịch điện tử của Singapore đã tạo một môi trường pháp lý khá phù hợp cho các giao dịch điện tử và thương mại điện tử nói chung, trong đó có hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử nói riêng Đạo luật này đã xoá bỏ được những trở ngại trong các quy định pháp luật hiện hành và tạo được lòng tin cho các doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào thương mại điện tử cũng như giao kết hợp đồng điện tử
đ.Lược sử pháp luật về hợp đồng điện tử trong pháp luật Việt Nam
Trước năm 2000, Thương mại điện tử ở Việt Nam còn là thuật ngữ pháp lý mới Hệ thống pháp luật Việt Nam có quy định nhưng chưa thể hiện được bản chất
và tầm quan trọng của thương mại điện tử Luật thương mại năm 1997 nhắc tới hình thức hợp đồng bằng phương tiện điện tử như fax, telex, thư điện tử và coi chúng là văn bản (Điều 49) Quy định này chỉ mang tính hình thức và chưa cụ thể hoá các khía cạnh kỹ thuật đủ cho việc áp dụng một cách có hiệu quả Trong một số vụ án
Trang 35Những yêu cầu của thực tiễn giao dịch thương mại trong nước cũng như những yêu cầu từ các cam kết ở phạm vi khu vực và quốc tế đồi hỏi Việt Nam phải xây dựng hệ thống các quy tắc giành riêng cho thương mại điện tử và cho việc giao kết các hợp đồng điện tử Tháng 01/2002 Chính phủ đa giao cho Bộ Thương mại chủ trì xây dựng pháp lệnh Thương mại điện tử nhằm hình thành cơ sở pháp lý đầu tiên cho thương mại điện tử
Do tầm quan trọng của giao dịch điện tử đối với mọi mặt của kinh tế xã hội nên Quốc hội đã quyết định xây dựng Luật giao dịch điện tử để thay thế cho pháp lệnh Thương mại điện tử nói trên Luật giao dịch điện tử năm 2005 đã được Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI thông qua vào ngày 9/11/2005 có hiệu lực từu ngày 01/3/2006 Sự ra đời của Luật giao dịch điện tử năm 2005 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng khung pháp lý cho thương mại điện tử, cho giao dịch điện tử, trong đó có hợp đồng điện tử Đây là đạo luật đầu tiên điều chỉnh trực tiếp việc sử dụng các phương tiện điện tử trong trao đổi, giao dịch Luật giao dịch điện tử năm 2005 có phạm vi điều chỉnh khá bao quát, bao gồm các giao dịch điên tử trong lĩnh vực hành chính, dân sự và thương mại
Việc ban hành Luật giao dịch điện tử năm 2005 là hợp lý và phù hợp với xu hướng chung của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về thương mại điện tử và hợp đồng điện tử Trên thực tế hầu hết các nước như Hoa Kỳ, Singapore, Philippines…đều xây dựng Luật giao dịch điện tử Phạm vi điều chỉnh các luât này rất rộng, gồm cả các giao dịch thương mại và phi thương mại
Trang 3630
Đặc biệt Luật giao dịch điện tử năm 2005 cũng đưa ra một số quy định liên quan đến giao kết hợp đồng điện tử như: quy định về khái niệm hợp đồng điện tử (Điều 33); khẳng định giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử (Điều 34); nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử (Điều 36); khái niệm giao kết hợp đồng điện tử (Điều 37); Ngoài ra luật còn quy định về chữ ký điện tử; nguyên tắc sử dụng chữ ký điện tử; nghĩa vụ của người ký chữ ký điện tử và bên chấp nhận chữ ký điện tử v.v… tuy chưa thật là đầy đủ và cụ thể nhưng những quy định này là những quy tắc pháp luật đầu tiên hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử Những quy định này do Luật Giao dịch điện tử năm 2005 – đạo luật dầu tiên của Việt Nam điều chỉnh giao kết hợp đồng điện tử - đưa ra sẽ có ý nghĩa như những quy định cơ bản, nền tảng để điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử Với quy tắc pháp luật này có thể thấy rõ Luật giao dịch điện tử năm 2005 chính là đạo luật khung điều chỉnh giao dịch điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói riêng Từ đạo luật khung này đã có nhiều văn bản dưới luật được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định về giao kết hợp đồng điện tử hiện nay
Như vậy cho đến thời điểm năm 2006 đã có rất nhiều văn bản pháp luật ra đời, thể hiện rõ chính sách phát triển thương mại điện tử và đề cập đến các khía cạnh pháp lý liên quan đến giao dịch điện tử và ký kết hợp đồng điện tử …những văn bản này đã tạo cơ sở bước đầu để hình thành khung pháp lý cho giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử ở Việt Nam
Qua việc nghiên cứu Chương 1 về những vấn đề lý luận chung về hợp đồng điện tử, tác giả đã phân tích và hệ thống một cách tương đối đầy đủ những vấn đề lý luận chung về hợp đồng điện tử làm rõ được khái niệm hợp đồng điện tử, cũng như đặc điểm, vai trò của hợp đồng điện tử Có thể thấy rằng, hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập thông qua việc sử dụng phương tiện điện tử, khi nói đến hợp đồng điện tử là nói đến một phương thức thiết lập hợp đồng chứ không phải một loại hợp đồng dựa trên một đối tượng cụ thể nào Ngoài những đặc điểm chung cơ bản giống với hợp đồng truyền thống, thì hợp hợp đồng điện tử còn mang những đặc điểm riêng nổi bật do chính yếu tố hiện đại khi giao kết tạo nên Với những lợi
Trang 3731
ích mà hợp đồng điện tử mang lại, thì ngày nay hợp đồng điện tử ngày càng thể hiện vai trò to lớn đối với doanh nghiệp và ngươi tiêu dùng Việt Nam
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ TẠI
VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật về hợp đồng điện tử tại Việt Nam
Tuy nước ta đã có Luật Giao dịch điện tử năm 2005 để điều chỉnh các quan
hệ dân sự, thương mại và thậm chí là hành chính công sử dụng môi trường điện tử
là phương tiện truyền dẫn, nhưng Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chỉ mới chú trọng đến phương thức điện tử của giao dịch và bước đầu đề cập đến hình thức vật
Trang 3832
lý của hợp đồng điện tử chứ chưa có các quy định cụ thể về vấn đề hợp đồng như xác định thời điểm và địa điểm hợp đồng có hiệu lực, năng lực chủ thể của các bên tham gia hợp đồng điện tử, các nội dung bắt buộc của một hợp đồng điện tử Điều này là một trong các hạn chế để phát triển thúc đẩy các giao dịch thương mại điện
tử
2.1.1 Giao kết hợp đồng điện tử
a) Về yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng điện tử
Xét về bản chất, hợp đồng điện tử cũng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ như các hình thức hợp đồng phổ biến
mà chúng ta đang áp dụng, chỉ khác là chúng được xác lập thông qua các phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu
Trong giao kết hợp đồng điện tử, việc trao đổi thông tin đa phần được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử và chính yếu tố kỹ thuật công nghệ này đã làm thay đổi cách thức, quy trình, thủ tục ký kết hợp đồng điện tử và hệ quả tiếp theo là làm thay đổi cách thức thực hiện hợp đồng điện tử và ít nhiều chi phối cả Luật điều chỉnh Khía cạnh kỹ thuật làm cho quá trình giao kết hợp đồng điện tử phát sinh nhiều vấn đề chưa từng gặp trong giao kết hợp đồng bằng phương thức truyền thống, và đây cũng chính là đặc điểm riêng của hợp đồng điện tử
Nghiên cứu về hợp đồng điện tử có một vấn đề quan trọng cần bàn là: Thông qua những công cụ và giao thức mà mạng Internet cung cấp, liệu các chủ thế có biểu hiện được ý chí của mình hay không? Khi các bên nhấp chuột vào biểu tượng được chỉ định trên màn hình máy tính hay gõ bàn phím máy tính, thì đã đủ rõ ràng thể hiện sự thống nhất ý chí giữa các bên hay chưa, đã cấu thành nên thảo thuận giữa các bên - một trong những yếu tố cơ bản của hợp đồng chưa, để tư đó đi đến thiết lập một hợp đồng có hiệu lực pháp lý
Mạng Internet đưa ra bốn công cụ chính mà các bên có thể sử dụng khi tham gia giao kết hợp đồng là: Thư điện tử (Email), công cụ tán gẫu (chat), trang thông tin điện tử (website) và trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) Các công cụ đó đều có những nét giống và khác nhau, đòi hỏi pháp luật phải có những sự lưu tâm khác nhau Bên
Trang 3933
cạnh đó, các bên có thể kết hợp các công cụ này trong quá trình thương thảo và hình thành hợp đồng Do vậy việc phân tích, đánh giá về các công cụ cơ bản này là việc cần thiết nhằm xem xét xem các bên có thể biểu hiện sự thỏa thuận của mình thông qua các công cụ sử dụng trong giao dịch điện tử không? Vấn đề là phải xác định được quy trình giao dịch trên mạng diễn ra như thế nào và những thỏa thuận đó được hoàn tất ra sao
* Thư điện tử (Email):
Thư điện tử là công cụ cơ bản nhất để thiết lập hợp đồng Nói một cách đơn giản,thư điện tử cho phép các chủ thể gửi thư bằng đường điện tử cho người khác hoặc một nhóm người khác Tuy nhiên ẩn sau định nghĩa đơn giản này là cả một quá trình phức tạp Để tạo một thư điện tử đầu tiên chúng ta phải viết một bức thư
và máy tính sẽ phân nhỏ thành dãy số và dãy số này sẽ được modem của máy tính chia tách thành các tín hiệu giống nhau Các tín hiệu này sẽ được truyền đi thông qua đường truyền Internet đến một mạng máy tính và ở đó các tín hiệu này sẽ kết hợp trở lại thành một "bưu kiện" số mà mỗi bưu kiện sẽ là những thông tin liên quan tới nội dung mà bức thư đã được viết, mức độ bảo mật, thời gian và thông tin của người gửi và người nhận
Sau đó bưu kiện sẽ trở lại hình dạng tương tự ban đầu Các bưu kiện được các phương tiện điện tử truyền đi và cuối cùng đến máy tính của người nhận Ở đây chúng được kết hợp lại và chuyển thành dạng ký hiệu mà người nhận có thể đọc được
Cũng giống như những lá thư gửi bằng đường bưu điện, thư điện tử thường dưới dạng viết và gửi đi bởi một chủ thể cho một cá nhân hoặc một nhóm người khác
Nội dung của bức thông điệp này nói chung mang tính cá nhân và giao tiếp chỉ giữa người gửi và người nhận Những bức thư điện tử dạng này có thể được ký bằng chữ ký số nhằm mục đích xác thực và bảo đảm an toàn.Thêm vào đó người gửi có thể gửi kèm các tệp tin mà người nhận có thể đọc hoặc sử dụng lại sau khi
mở thư
Trang 4034
Các bên có thể sử dụng thư điện tử cho mục đích giao lưu dân sự hay kinh doanh và thương mại theo nhiều cách khác nhau Một bức thư điện tử có thể bao gồm thông tin liên quan đến những cuộc thương thảo, lời chào hàng và sự chấp nhận chào hàng hay là một bản dự thảo hợp đồng Thêm vào đó những giao dịch liên quan đến những sản phẩm số hóa như phần mềm máy tính, âm nhạc, trò chơi thì những tập tin đính kèm theo thư điện tử có thể là đối tượng của giao dịch
* Công cụ tán gẫu:
Các bên có thể sử dụng công cụ tán gẫu để tiến hành giao dịch Công cụ tán gẫu cho phép các chủ thể hội thoại trong thời gian thực vì khi một người gõ tin nhắn thì người kia trong phòng tán gẫu có thể xem được tin nhắn đó ngay lập tức
Giao tiếp mang lại cơ hội kinh doanh cho mỗi doanh nghiệp và cá nhân Hiển nhiên các chủ thể có quyền theo đuổi các cơ hội kinh doanh thông qua công cụ tán gẫu Các cá nhân trong một phòng tán gẫu có thể trao đổi thông tin với tốc độ nhanh chóng cho mục đích thương lượng hay soạn thảo hợp đồng Cũng giống như nói chuyện qua điện thoại hay đối thoại trực tiếp, thông tin gửi qua phòng tán gẫu cũng tạo nên một cuộc hội thoại tức thời cho phép các bên tham gia vào các cuộc thương lượng, đưa ra lời đề nghị và chấp nhận lời đề nghị đó, gửi mẫu hợp đồng và gửi tài liệu để thực thi điều khoản trong hợp đồng
* Trang thông tin điện tử
Công cụ thứ ba dùng cho giao dịch Internet đó là các website trong đó có tích hợp chức năng đặt hàng trực tuyến hoặc chứa đựng những hợp đồng theo mẫu Ngày nay Internet trở nên phổ biến phần lớn là nhờ các trang website Website là phần dễ truy cập nhất của Internet Nó dựa trên nguyên tắc liên kết siêu văn bản, công nghệ này cho phép kết nối các văn bản với nhau bất luận vị trí của nó ở đâu trong không gian Internet
Hợp đồng có thể được giao kết từ sự tương tác giữa khách hàng và chức năng đặt hàng trực tuyến tự động trên website, người mua tiến hành các bước đặt hàng tuần tự trên website của người bán theo quy trình đã được tự động hóa Quy trình này thông thường gồm các bước từ tìm kiếm sản phẩm, lựa chọn, đặt hàng,