1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hà nội trong phim mùa hè chiều thẳng đứng và mùa ổi dưới góc nhìn văn hóa

101 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải mã bằng văn hóa, người viết đặt hai bộ phim nêu trên vào bối cảnh của văn hóa - xã hội, dựa vào tác động ảnh hưởng qua lại của điện ảnh với những hiện tượng văn hóa xã hội khác, từ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ NGỌC

HÀ NỘI TRONG PHIM MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG VÀ MÙA ỔI

DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận & Lịch sử,

phê bình Điện ảnh - Truyền hình

Mã số: 60210231

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phương Liên

Hà Nội-2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy

cô của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô khoa Văn học đã dạy cho tôi những kiến thức rất đỗi thiết thực trong những năm học qua và luôn tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt công việc học tập cũng như luận văn tốt nghiệp này Và tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc đến TS Nguyễn Phương Liên, người đã hướng dẫn, quan tâm và tận tình

chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong thực hiện đề tài và nhận được sự hỗ trợ từ nhà trường, các thầy cô và gia đình, song bản thân còn hạn chế trong nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 04 năm 2020

Học viên

Phạm Thị Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Mối quan hệ giữa văn hóa – điện ảnh nhìn từ hai hiện tượng tiếp cận 13

1.1 Văn hóa và một số khái niệm về văn hóa 13

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và điện ảnh 17

1.3 Phương pháp tiếp cận điện ảnh từ văn hóa học 23

1.4 Hai hiện tượng điện ảnh tiếp cận 27

Chương 2 Không gian văn hóa Hà Nội quan Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng 36

2.1 Không gian đô thị 36

2.2 Văn hóa ẩm thực 46

2.3 Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng 55

2.4 Trang phục 63

Chương 3 Chủ thể văn hóa trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng 69

3.1 Con người trong giao tiếp 69

3.2 Con người với những giá trị về gia đình 74

3.3 Sự va đập giữa những giá trị tinh thần truyền thống và văn hóa ngoại lai 82

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Cuối năm 1895 ghi dấu sự

khởi thủy của nền điện ảnh thế giới với buổi công chiếu phim của hai anh em Auguste và Louis Lumiere tại Paris Và chỉ sau đó ít năm, năm 1899, bộ phim đầu tiên đã được chiếu tại Hà Nội bởi Gabriel Veyre - một trong những học viên đời đầu của anh em nhà Lumiere Tuy nhiên, phải đến năm 1923, bộ phim đầu tiên do Việt Nam sản xuất mới xuất hiện Cho đến nay, hơn 100 năm điện ảnh đặt bước chân tới Việt Nam, song vốn tài sản kể đến về điện ảnh nước nhà lại còn khiêm tốn Trước năm 1986, điện ảnh chủ yếu tập trung vào các để tài chiến tranh, nông thôn

và cuộc sống nông nghiệp Việt Nam Sau Đổi Mới năm 1986, đất nước đã đạt được

sự phát triển ổn định, kinh tế tăng trưởng có tích lũy, đảm bảo an ninh lương thực, bước đầu xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, những mặt trái của kinh tế thị trường đã bắt đầu lộ diện, xã hội Việt Nam đương đại bị phân hóa sâu sắc với rất nhiều bất ổn Vào thời điểm này, các bộ phim với các đề tài cũ đã mất vai trò dẫn đầu do không thích ứng được với nhu cầu thị hiếu khán giả, phim thương mại hồi sinh nhưng vẫn còn rất yếu ớt Những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam tăng dần cả về số lượng và chất lượng, đội ngũ làm phim cũng phong phú hơn bao giờ hết, song về đề tài, nội dung còn rất nhiều hạn chế Đây chính là một trong những lý do kéo lùi bước tiến của điện ảnh Việt trong khu vực cũng như trên thế giới

1.2 Với bề dày về văn hóa cùng lịch sử ngàn năm dựng nước, đây hoàn toàn

có thể được coi là một trong những đề tài “màu mỡ” để các đạo diễn tìm tòi và khai thác Một quốc gia với 54 dân tộc anh em, đa dạng về địa hình, khí hậu, lại gắn liền với văn hóa nông nghiệp đã cho ra một tổng hòa văn hóa vô cùng đa dạng Sự đa dạng này xứng đáng đưa điện ảnh Việt Nam tiến bước sánh cùng điện ảnh chung thế giới

1.3 Hà Nội – mảnh đất 1000 năm văn hiến với bao trầm tích văn hóa từ thuở

kinh kì Thăng Long đã mang đến cho Hà Nội một diện mạo với những nét đặc trưng riêng biệt Vốn là trung tâm văn hóa lớn của đất nước với các di tích văn hóa vật thể và phi vật thể, Hà Nội mang trong mình những nét đẹp hiện đại mà cổ kính,

Trang 6

sôi động mà thâm trầm, lặng lẽ 36 phố phường tấp nập, tháp Rùa nghiêng nghiêng

cổ kính rêu phong, Hoàng thành đứng lặng im, tĩnh mịch chỉ vài nét thôi đã thấy một Hà Nội thật thơ Những năm gần đây, dòng người nhập cư ồ ạt tiến vào các cửa ngõ, các con hẻm Hà Nội khiến cho nơi đây nhanh chóng biến thành một vùng tập hợp văn hóa Cái riêng của người Hà Nội bắt gặp những “mảnh vụn” văn hóa tứ phương đã cho ra một Hà Nội đầy lạ lẫm

Được coi là một trong những đô thị xuất hiện sớm và gắn liền với sự phát triển của văn hóa Việt Nam, Hà Nội đã “trở mình” chuyển từ làng tới phố, bởi vậy, chất đô thị của Hà Nội không đơn thuần như những đô thị lớn thường thấy trên thế giới Ở Việt Nam, đô thị được hình thành bắt nguồn từ làng xã, từ những cộng đồng dân cư làm nông nghiệp quần cư bên các đồng bằng ven sông lớn, Hà Nội cũng vậy Mang vị trí trung tâm thuận lợi, lại là vùng đồng bằng màu mỡ, chủ nhân Hà Nội từ những nông dân làng xã chuyển dần thành những tiểu thương đô thị Bởi vậy bên cạnh sự hào hoa, phong nhã, lịch thiệp, người Hà Nội còn mang theo sự ân cần, mộc mạc, ân tình… Cùng với lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với các trung tâm chính trị trọng yếu qua nhiều thời kỳ, Hà Nội khoác lên mình khí chất hào hoa của chốn

đô thị và vẻ thâm trầm của vùng đất ghi dấu bao lần chuyển mình cùng lịch sử

Trong nỗ lực đô thị hóa, hiện đại hóa, Hà Nội đang dần gột đi những điều xưa cũ để tiếp nhận lấy những điều mới Nhưng trong số những điều bị trút bỏ, lại

có những nét văn hóa tưởng chừng như làm nên hồn cốt thủ đô Những năm gần đây, theo làn sóng nhập cư, Hà Nội tiếp tục mở rộng thành phố của mình đón nhận những trào lưu văn hóa, những cách sống mới Người Hà Nội co cụm lại với mong muốn giữ lại những nét đẹp cho mảnh đất nghìn năm văn hiến

1.4 Có lẽ vì Hà Nội đẹp và riêng đến vậy, nên biết bao hồn thi sĩ gửi gắm nơi

đây Một chàng thi nhân vì mùi hương hoa sữa nồng nàn, vì hương cốm Vòng thoang thoảng trong tiết lạnh chiều thu, vì cô gái Hà Nội nhẹ nhàng thanh lịch mà phải lòng, mà say đắm Và rồi hết thảy cái đẹp ấy đi vào thơ ca, âm nhạc như một lẽ tất yếu Những thước phim về Hà Nội có lẽ cũng vì hồn cốt Hà Nội mà trở nên thật khác biệt

Trang 7

Có lẽ bởi chất riêng đặc biệt ấy, mà không ít đạo diễn Việt Nam đã chọn Hà Nội là đề tài cho riêng mình Trong số các bộ phim về đề tài Hà Nội, với phạm vi

công trình, người viết chọn tìm hiểu về Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Trần Anh Hùng và Mùa ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh

Mỗi cá nhân, dựa vào vốn sống, các tác nhân về lịch sử xã hội, sẽ có những cách đọc, nhìn và hiểu về văn hóa khác nhau Chọn hai bộ phim với hai đạo diễn có xuất phát điểm khác nhau, người viết mong muốn tìm ra sự đa dạng, phong phú của văn hóa Hà Nội dưới những cảm nhận chủ quan Mỗi tín hiệu văn hóa mang tới trong bộ phim là một dấu ấn văn hóa riêng của đạo diễn

Giải mã bằng văn hóa, người viết đặt hai bộ phim nêu trên vào bối cảnh của văn hóa - xã hội, dựa vào tác động ảnh hưởng qua lại của điện ảnh với những hiện tượng văn hóa xã hội khác, từ đó làm nổi bật những sắc thái văn hóa phong phú được thể hiện trong tác phẩm điện ảnh Cũng từ đó giải mã khám phá những biểu tượng hàm ẩn và lớp nghĩa trầm tích trong nội dung tác phẩm Trên cơ sở bóc tách lớp văn hóa, công trình mong muốn đóng góp những góc nhìn đánh giá mới, đưa vẻ đẹp văn hóa Hà Nội trở thành một đối tượng riêng để gìn giữ và phát triển Với đặc trưng về tính tổng hợp, các giá trị văn hóa len lỏi trong từng khung hình, từng lời thoại, cử chỉ của nhân vật Chính điều này tạo nên một địa hạt rộng lớn để các đạo diễn thể hiện cách nhìn, cách đọc văn hóa của riêng mình

từ hướng tiếp cận này

Thứ hai, chúng tôi xin điểm đến những công trình nghiên cứu về hai bộ phim

được lựa chọn là Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng

Trang 8

2.1 Nghiên cứu nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa

Lịch sử nghiên cứu văn học đã chỉ ra rằng: Có nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau để tiếp cận một tác phẩm văn học như: nghệ thuật học, phân tâm học, xã hội học, thi pháp học, văn hóa học… Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt, mỗi góc nhìn đều có giá trị bình đẳng, cần thiết, bổ sung cho nhau và không loại trừ nhau Tính hiệu quả, tính ưu việt của mỗi cách tiếp cận được quy định bởi người nghiên cứu có xác định đúng đối tượng, phạm vi nghiên cứu thích hợp và vận dụng, xử lý mối quan hệ giữa chúng với mục tiêu đặt ra Do vậy cần có một cái nhìn toàn diện về góc nhìn văn hóa xuất phát từ yêu cầu của thời đại, đáp ứng và thừa nhận tác phẩm văn học như một bộ phận của văn hóa

Nghệ thuật là một thành tố quan trọng cấu thành nên văn hóa, nên từ thở sơ khai, chúng đã gắn liền và có nhiều tác động qua lại Chính bởi vậy, soi chiếu nghệ thuật từ văn hóa, có thể xem như một cuộc “giải phẫu” tìm về với căn nguyên, là một cuộc bóc tách để hiểu rõ hơn về sự vận động trong các mối quan

hệ của nghệ thuật Có rất nhiều khái niệm về văn hóa, nhưng ta có thể thấy mẫu số chung của các định nghĩa này chính là văn hóa được coi như một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có nghệ thuật Nghệ thuật ngay từ thuở sơ khai đã tồn tại và phát triển trong sự gắn bó mật thiết với đời sống lao động Từ triệu năm trước, khi con người thoát thai khỏi dáng vóc động vật, có thể đi hai chân, thì một xã hội loài người gắn liền với lao động sản xuất đã bắt đầu Từ việc chế tạo công cụ, với xuất phát điểm thô sơ, con người ngày càng biết cải thiện để chúng hữu ích và đẹp hơn Chính nhu cầu về cái đẹp đầy tính sơ khai ấy đã ươm mầm cho các loại hình nghệ thuật được phát triển Không ai có thể khẳng định chắc chắn rằng nghệ thuật tạo hình được bắt đầu từ bao giờ, họ chỉ có thể lần theo những dấu khắc trên những hang đá, những bức tượng nhỏ bằng các chất liệu ngà, xương hay cách ăn mặc mà cho rằng nghệ thuật ra đời như thế - sự ra đời gắn liền với con người từ thuở sơ khai

Nảy sinh từ và gắn liền với quá trình phát triển lao động của con người, các loại hình nghệ thuật có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới hiện thực hiện hữu xung

Trang 9

nào, văn nghệ thế ấy” – Quan niệm chung của Hồ Chí Minh về văn hóa Những biến động trong đời sống kinh tế, chính trị thường dẫn đến những biến đổi trong lĩnh vực văn nghệ Hay nói theo cách khác, mỗi sự kiện lịch sử đều có ý nghĩa kết thúc hay mở đầu cho một giai đoạn phát triển nghệ thuật Có thể nói, hiện thực là một trong những chất liệu của nghệ thuật

Hiện thực là tất cả những gì đang hiện diện trong thế giới xung quanh được tác động tới các giác quan của con người Bởi vậy mỗi cá nhân lại có cách tiếp nhận hiện thực khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng từ vốn sống, kinh nghiệm, kiến thức hoặc phụ thuộc vào nhận thức của từng người

Điều đặc biệt của nghệ thuật chính là: nó không chụp ảnh lại hiện thực, tái hiện trần trụi nó mà được phản ánh qua lăng kính của văn hóa, thông qua bộ lọc của các giá trị văn hóa Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho nghệ thuật một lối phản ánh đặc trưng Điều chúng ta đặt ra ở đây chính là, việc phản ánh qua lăng kính văn hóa của mỗi cá nhân liệu có tạo ra những khúc xạ đặc biệt nào không? Bởi lẽ, mỗi nghệ

sĩ đều sinh ra từ cộng đồng, vậy nên dù muốn hay không, cá nhân đó vẫn luôn chịu ảnh hưởng từ các thành tố văn hóa của cộng đồng mình, lối tư duy và mô thức ứng

xử với môi trường tự nhiên – môi trường xã hội Hay nói theo cách khác, những chủ thể sáng tạo nghệ thuật luôn chịu ảnh hưởng trong khuôn khổ văn hóa và sáng tạo ra những thành quả phù hợp Như một công cụ, nghệ thuật giúp cho người nghệ sĩ phản ánh được cái nhìn hiện thực của mình thông qua lăng kính văn hóa

Có rất nhiều các chia các loại hình nghệ thuật, trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa theo các chia 7 loại hình của nghệ thuật của Ricciotto Canudo gồm: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn học, múa và điện ảnh

Trong quá trình tìm hiểu về các công trình nghiên cứu các đối tượng nghệ

thuật từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi có tiếp cận cuốn Từ cái nhìn văn hóa của tác

giả Đỗ Lai Thúy Tác phẩm là tập hợp các bài viết nghiên cứu về văn học, triết học, các tác giả từ góc nhìn văn hóa với bốn phần như sau:

Phần I: Văn hóa nhìn từ… văn hóa

Phần II: Văn học nhìn từ văn hóa

Phần III: Tiếp xúc với những nhà văn hóa

Trang 10

Phần IV: Tranh ghép mảnh

Nếu như ở phần I của cuốn sách, Đỗ Lai Thúy tập trung vào những bài viết giải thích, phân tích, đánh giá một số khía cạnh của văn hóa, thì ở phần II, tác giả đã đưa ra nhiều đánh giá rất đáng lưu tâm khi nghiên cứu văn học từ văn hóa Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra rằng, trước đây khi quan hệ văn hóa và văn học được coi là tương

hỗ, thì việc nghiên cứu coi việc soi chiếu vào văn học từ văn hóa như một dạng tài liệu hoặc ngược lại Nhưng khi định nghĩa văn hóa được mở rộng và phát triển hơn, đặc biệt coi văn hóa là một động lực phát triển, thì văn hóa được xem như một yếu

tố chi phối văn học Nhiều nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước đều đi theo hướng nghiên cứu này, có thể kể đến như: Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn,… hay công trình nước ngoài như của M.Bakhtin Tuy nhiên, việc nghiên cứu chưa thực sự có một hệ thống lý thuyết rõ ràng, mạch lạc về mối quan hệ và tác động qua lại giữa văn hóa – văn học Trong các bài viết của mình, Đỗ Lai Thúy cũng đã chỉ ra rằng, văn học là một bộ phân rất năng động trong các thành tố cấu thành nên văn hóa Vì thế, một mặt văn học nằm trong một sự chi phối mang tính hệ thống, nhưng ở mặt khác, nó luôn có những khoảng trượt ra khỏi

hệ thống Điều này có thể lý giải cho việc, văn chương không thể tùy ý phản ánh một hiện thực “tưởng tượng”, huyễn hoặc, mà chỉ có thể phản ánh thông qua "lăng kính" văn hóa, thông qua "bộ lọc" của các giá trị văn hóa Tiếp đó, ở khoảng không năng động của mình, văn chương luôn biết cách tìm đến cho mình cách tiếp cận mới, những sáng tạo độc đáo

Từ những bài viết của cuốn sách, cũng như những công trình được nhắc đển,

có thể thấy rất khả thi khi xây dựng một cách tiếp cận văn học mới: Phê bình văn học

từ văn hóa Cách tiếp cận này không chỉ giải nghĩa văn chương từ lớp vỏ ngôn từ, mà còn đặt nó vào các điều kiện văn hóa, lịch sử để khám phá hết nội hàm ý nghĩa

Cùng với đó, trong công trình Giải mã văn học từ văn hóa, nhà nghiên cứu

Trần Lê Bảo đã chỉ ra rằng: Văn học là sự tự ý thức văn hóa Điều này có thể hiểu

rằng, văn học không chỉ là một một phận của văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa, mà mặt khác, nó chính là một trong những phương tiện bảo

Trang 11

một cộng đồng, vì vậy dù muốn hay không, anh ta sẽ luôn bị chi phối bởi cách thành tố văn hóa, lối tư duy, tâm lý của thời đại anh ta sinh sống Chính điều đó khiến nhà văn dù có sáng tạo đến đâu vẫn mang dấu ấn bản sắc của một dân tộc trong bản sắc cá nhân

Điều này đã được tác giả chứng minh qua quá trình tìm hiểu một tác phẩm văn học nước ngoài Trần Lê Bảo đã nhấn mạnh rằng, sự cản trở trong tìm hiểu một nền văn học khác không chỉ nằm trong sự cản trở về mặt một ngữ, mà quan trọng chính là sự khác biệt trong văn hóa Bởi lẽ, khi xuyên qua được lớp vỏ ngôn ngữ, người nghiên cứu mới chỉ nắm được nội dung tác phẩm anh ta tiếp cận, nhưng phải xuyên qua cả các địa tầng văn hóa, người nghiên cứu mới chạm đến được ý nghĩa của tác phẩm đó

Nghiên cứu văn học từ văn hóa đã giúp đặt đối tượng vào một bối cảnh rộng hơn rất nhiều so vỏ ngôn ngữ Nó không chỉ giúp người nghiên cứu nhìn ra các vấn

đề mang tính chất thời đại, mà còn giải mã khám phá những phù hiệu, biểu tượng hàm ẩn muôn vàn lớp nghĩa trầm tích của văn hóa, xuyên qua những lớp bề mặt của ngôn ngữ tác phẩm để đi sâu khám phá nội hàm tâm lý văn hóa và hạt nhân văn hóa tiềm ẩn trong nhiều lớp trầm tích của tác phẩm, đối chiếu tổng thể trên nhiều bình diện, nhiều góc độ để đánh giá hết cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học và ý nghĩa quan trọng của văn học đối với cuộc sống của nhân loại

Ngoài hai công trình trên, còn một số bài viết có tính chuyên môn khác có

nhiều đóng góp về mặt lý thuyết như: Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học

Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa, Hà Nội; Trần Nho Thìn (2007), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa – Phùng

Phương Nga; Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) - Trương Tửu; Truyện ngắn Trần

Thùy Mai từ góc nhìn văn hóa – Tác giả Phạm Thị Thu Hương; Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn Văn hóa – Tác giả Đỗ Thị Ngọc Chi; Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa qua trường hợp tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh – Tác giả

Nguyễn Quang Huy,… Có thể thấy việc nghiên cứu văn học từ văn hóa không phải

Trang 12

là sự nỗ lực "phá cũ xây mới", mà là một sự vận động nội tại Trong tình hình sáng tác và nghiên cứu mới, việc xác lập lại lý thuyết một cách hệ thống là cần thiết

Các công trình trên đã chỉ ra một yêu cầu tất yếu trong nghiên cứu văn học chính là: cần đặt tất cả những gì thuộc về tác phẩm văn học (trong đó có chủ thể sáng tác) vào mối quan hệ với văn hóa để giải mã hiện thực được phản chiếu trong tác phẩm Thông qua văn hóa, các hình ảnh biểu tượng được bóc dần lớp nghĩa, người đọc như tham gia vào một cuộc giải mã các tín hiệu của tác giả mà ở đó, mỗi một tín hiệu được phát hiện lại đưa người thường thức nghệ thuật đến gần hơn với nghệ sĩ Có thể nói, tác phẩm kể trên là một trong số nhiều công trình góp cho phần

hệ thống lý thuyết nghiên cứu văn học từ văn hóa tại Việt Nam Công trình của chúng tôi không nghiên cứu đối tượng văn học, song nhận thấy, giữa điện ảnh và văn học có một số điểm tương đồng vì chúng đều thuộc nhóm thành tố nghệ thuật

và chịu tác động từ văn hóa Vì vậy, dù không có bất cứ bài viết nào đề cập đến điện ảnh, song những lý thuyết được đưa ra hoàn toàn giúp người viết xây dựng một cách tiếp cận điện ảnh mới trong bối cảnh hệ thống lý thuyết chưa được tạo dựng một cách chặt chẽ

Về việc nghiên cứu điện ảnh có thể điểm đến một số bài viết có tính chuyên

môn trên Tạp chí văn hóa nghệ thuật như: Một vài ý kiến về tính dân tộc trong

phim truyện Việt Nam (Trần Ngọc Thanh, số 6/1992); Vấn đề bản sắc dân tộc trong điện ảnh (Lê Châu, số 1/1995); Bản sắc văn hóa từ góc nhìn của người làm phim (Lê Ngọc Minh, số 3/2010)… Trong só nhiều công trình nghiên cứu về tác

động giữa văn hóa và điện ảnh, có thể kể đến Tính dân tộc và tính hiện đại trong

điện ảnh Việt Nam (Nxb Văn hóa thông tin 2005) của Ngô Phương Lan Công

trình đã khảo sát tính hiện đại và tính dân tộc của điện ảnh Việt Nam qua một số

bộ phim tiêu biểu cho các thế hệ đạo diễn, cho từng thời kì của lịch sử điện ảnh để

đi đến khái quát thành quy luật phát triển chung và gợi mở những định hướng cho những chặng đường kế tiếp của điện ảnh dân tộc Ở đề tài của chúng tôi, có sự tham khảo và rút kinh nghiệm trực tiếp từ chính công trình nghiên cứu này với mong muốn bổ sung, đóng góp thêm một cách nhìn khác, một góc độ tiếp cận

Trang 13

khác đối với mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa từ việc giải mã hiện thực Hà

Nội được phản chiếu trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng Chúng tôi hy

vọng có thể đóng góp cho điện ảnh trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đang ồ ạt xuất khẩu văn hóa thông qua điện ảnh Vậy nên, việc Việt Nam làm thinh trước làn sóng đó không hề là một lợi thế Thiếu các công trình nghiên cứu về văn hóa đồng nghĩa với việc thiếu quan tâm đến tính chất phản ánh văn hóa trong nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng Đặc biệt với một quốc gia có bản sắc văn hóa độc đáo như Việt Nam, việc không thể quảng bá và lan tỏa là một điều vô cùng đáng tiếc Và đáng tiếc hơn cả là Thăng Long – ngàn năm văn hiến

2.2 Lịch sử nghiên cứu về “Mùa hè chiều thẳng đứng” và “Mùa ổi”

Mùa ổi - bộ phim Việt Nam duy nhất dự Liên hoan Phim quốc tế tổ chức tại

Hà Nội năm 2001 - của đạo diễn Đặng Nhật Minh đã được không ít các bài báo, các nhà phê bình trong và ngoài nước quan tâm Các đánh giá chủ yếu tập trung vào sự sâu sắc về ý tưởng, sự chặt chẽ và tinh tế về hình thức cùng với nghệ thuật tạo hình

và diễn xuất của diễn viên Tác giả Nhật Lam trong bài viết Mùa ổi – Dịu dàng một

khoảng sáng tuổi thơ nhận định: “Hình ảnh chiếc lưỡi cưa máy chạm vào gốc cây ổi

ở cuối phim là một cái kết đầy ấn tượng, khiến người xem có cảm giác như nó đang cưa chính trái tim mình Nhưng biết sao được, cuộc sống là vậy Những cái gì cũ rồi

sẽ phải được thay đổi, chỉ có tình cảm con người là không bao giờ cũ đi Những gì trải nghiệm trong đời đều vẫn sống như chính họ đang sống”.[39] Nhà phê bình Đức, tổng biên tập tạp chí điện ảnh Shomingeki – Rudiger Tomczack – trong bài

viết Nỗi lo âu về thế giới mà tất cả chúng ta đang sống – Về phim của Đặng Nhật

Minh đã viết: “Tình yêu của Đặng với mọi sinh thể cũng biểu hiện qua tính trực

cảm phi thường của phim Con người, muông thú, cây cối và cảnh quan hiển lộ gần

như đến mức người xem phải sởn mình” [15; tr 229] Hay khi nhận xét về Mùa ổi,

Rudiger Tomczack đã viết “Trong những năm gần đây tôi không được xem một bộ phim nào mà tác giả đã bày tỏ một mối loa âu sâu sắc về thế giới mà tất cả chúng ta

đang sống như trong Mùa ổi” [15; tr 233] Cũng giống như tác giả trên, các nhà

Trang 14

nghiên cứu, phê bình khác cũng bị cuốn vào những hình ảnh phim giàu ý nghĩa của

Mùa ổi Thật tiếc khi chưa có công trình nào bàn đến tính văn hóa, các biểu tượng

văn hóa trong tác phẩm thật sâu sắc

Mùa hè chiều thẳng đứng là một trong ba bộ phim về đề tài Việt Nam của

đạo diễn Trần Anh Hùng Trưởng thành và tạo tiếng vang tại Pháp, Trần Anh Hùng trở về Việt Nam, đem hết những kí ức và ấn tượng của ông về Hà Nội và gửi gắm

vào Mùa hè chiều thẳng đứng Có thể nói, bộ phim là một hiện tượng được các nhà

nghiên cứu và các nhà phê bình quan tâm Được chọn tham dự Liên hoan phim quốc tế Cannes cùng với những ấn tượng trong khuôn hình, màu sắc, góc quay, lời thoại, sản phẩm về Hà Nội của Trần Anh Hùng đã tạo cho người xem nhiều cảm

xúc và thu hút quan tâm của báo giới, nghiên cứu Trong Xem Mùa hè chiều thẳng

đứng: Bản giao hưởng sắc màu, tác giả Nguyễn Hải đã nhận xét “Có thể nói đây là

một bữa tiệc ngon về hình ảnh và màu sắc” Hình ảnh phố phường bình dị, những con người nhẹ nhàng và tinh tế quả thực đã tạo nên một hình ảnh đẹp về Việt Nam

và văn hóa Hà Nội Ngoài ra còn nhiều bài báo khác đánh giá về anh như: Trần Anh

Hùng: Tôi rất tin vào linh cảm và bản năng của mình (trên trang vietbao.vn), Đạo diễn Trần Anh Hùng: Khán giả không phải là số đông (trên trang giaoduc.edu.vn), Trần Anh Hùng: Điện ảnh phải chạm đến da thịt người xem (trên trang

tuoitre.vn)… Những bài viết đã phác họa được ở một vài phương diện phong cách nghệ thuật đặc trưng của Trần Anh Hùng, tuy nhiên, các tìm hiểu về bộ phim này dừng lại chủ yếu ở các bài phê bình và đánh giá Các bài viết này cũng chỉ tập trung chủ yếu ở nghệ thuật quay phim và tạo hình của đạo diễn Trần Anh Hùng Vấn đề

về văn hóa chưa được nhắc tới trong công trình nào

Như đã trình bày trong phần Điểm qua những nghiên cứu về văn hóa và nghệ

thuật, nghiên cứu nghệ thuật dưới lăng kính văn hóa không phải là một phương

pháp mới Tuy nhiên phương pháp này chỉ mới được sử dụng nhiều trong nghiên cứu văn học Xuất phát điểm này có thể là nền tảng để nghiên cứu các loại hình nghệ thuật khác Việc nghiên cứu điện ảnh dưới góc nhìn văn hóa có thể “mở ra” một hướng đề tài mới cho điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng về ý

Trang 15

kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, cuộc sống của con người Việt Nam –

Hà Nội trong giai đoạn cuối thế kỷ XX đầu thế kỉ XXI Lựa chọn hai bộ phim làm

về Hà Nội nhưng lại còn ít công trình nghiên cứu về tính văn hóa của nó, chúng tôi

đã bắt tay vào thực hiện luận văn này

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chọn tìm hiểu về Mùa hè chiều thẳng đứng và Mùa ổi người viết đưa ra

hướng tiếp cận địa văn hóa Vì vậy, công trình tập trung làm rõ một số nét văn hóa của người Hà Nội được các đạo diễn tái hiện và sử dụng trong hai bộ phim để thấy được nội dung được truyền tải tới người xem, đồng thời nhìn nhận nó ở những lăng kính mới, đưa ra những đánh giá khách quan và mới mẻ hơn Đồng thời, công trình mong muốn mở ra một hướng đi mới cho đề tài điện ảnh Việt Nam, góp phần đưa

văn hóa Việt bước ra khu vực và thế giới

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài Hà Nội trong hai phim “Mùa ổi” và “Mùa hè chiều thẳng đứng”

dưới góc nhìn văn hóa trước hết, đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu là hai bộ phim Mùa ổi, Mùa hè chiều thẳng đứng và Văn hóa Hà Nội

Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn

đề: Hà Nội trong hai phim “Mùa ổi” và “Mùa hè chiều thẳng đứng” dưới góc nhìn

văn hóa trên các bình diện:

- Mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa thể hiện qua hai phim Mùa ổi và

Mùa hè chiều thẳng đứng

- Đặc sắc văn hóa Hà Nội được tái hiện trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Do sự hạn chế về nguồn tài liệu và thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã

giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hai bộ phim: Mùa ổi (2000) của đạo diễn Đặng Nhật Minh và Mùa hè chiều thẳng đứng (2000) của Đạo diễn Trần Anh Hùng

4 Phương pháp nghiên cứu

Lựa chọn nghiên cứu về văn hóa, hướng tiếp cận chủ yếu của chúng tôi là văn hóa học để cung cấp một cái nhìn đa diện Bởi văn hóa là một hệ thống bao

Trang 16

gồm đời sống con người như ăn, ở, mặc, đi lại, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa

Từ các hình ảnh mang tính chất thẩm mĩ, chúng tôi đưa ra các biểu tượng văn hóa dược đạo diễn lựa chọn Trong đó, chúng tôi xem xét văn hóa Hà Nội trong mối quan hệ với thời gian, đời sống sinh hoạt, tập quán của nhân vật Ngoài ra, chúng tôi

sẽ phân tích văn hóa Hà Nội trong sự tương tác với các hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, để thấy được nét riêng trong văn hóa Hà Nội và bản sắc chung của dân tộc Đồng thời chỉ ra sự thay đổi của căn tính con người Việt Nam trong thời đại mới

Trong công trình này, chúng tôi kết hợp sử dụng thao tác phân tích – tổng hợp, so sánh, đối chiếu để phân tích, tổng hợp, so sánh các tác phẩm điện ảnh có cùng đề tài và các tác phẩm khác của đạo diễn

Ngoài ra, trong công trình, chúng tôi kết hợp sử dụng thêm phương pháp thi pháp học giúp phân tích những phương tiện hình thức đặc thù của điện ảnh trong việc thể hiện nội dung của tác phẩm

5 Cấu trúc luận văn

Với đề tài Hà Nội trong hai phim “Mùa ổi” và “Mùa hè chiều thẳng đứng”

dưới góc nhìn văn hóa ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung

của Luận văn được triển khai thành ba chương:

Chương 1 Mối quan hệ giữa văn hóa – điện ảnh nhìn từ hai hiện tượng tiếp cận

Chương 2: Không gian văn hóa Hà Nội qua Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng Chương 3: Chủ thể văn hóa trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng

Trang 17

Chương 1 Mối quan hệ giữa văn hóa – điện ảnh nhìn từ hai hiện tượng tiếp cận

1.1 Văn hóa và một số khái niệm về văn hóa

Nhà bác học Issac Newton trong bức thư năm 1675 có viết: “Tôi có thể nhìn được xa hơn nhờ đứng trên vai những người khổng lồ” Từ quan điểm của Newton,

ta có thể thấy rằng, mỗi đóng góp cho khoa học hôm nay đều không thể bỏ qua những đóng góp của các nhà khoa học đi trước Xét về nghiên cứu văn hóa, thật khó

để khảo sát chính xác số lượng những công trình nghiên cứu bàn luận đến vấn đề này, bởi văn hóa là một khái niệm đã có từ lâu đời với nội hàm rất rộng Theo

A.L.Kroeber và C.L.Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: Cái nhìn phân tích, có khoảng

hơn 200 định nghĩa về văn hóa Số lượng định nghĩa văn hóa rộng như vậy là một minh chứng rất rõ cho phạm trù rộng lớn của văn hóa Hơn nữa, xuất phát từ những mục đích và phương pháp khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra một định nghĩa thích hợp

Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thế giới, 2017, đã chỉ ra rằng “Người ta cho rằng văn hóa là chỉ những học thuật tư

tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy […] Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất

cả những phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa

tức là sinh hoạt.” [1;tr 11] Và cũng từ định nghĩa này, nhà nghiên cứu Đào Duy

Anh đã khẳng định rằng, Văn hóa tức là sinh hoạt, thì mọi dân tộc không kể trình độ văn minh đều có văn hóa của riêng mình Mỗi dân tộc với lối sống sinh hoạt khác nhau được truyền từ đời này qua đời khác đã tạo ra sự khác biệt trong văn hóa

Với nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, trong cuốn Tìm về bản sắc Văn hóa

Việt Nam, Nxb TP HCM, 1997, đã khẳng định: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ

các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [37; tr 27]

Trang 18

Theo Trần Quốc Vượng trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2013,

thì “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã

hội loài người” [38; tr.16] Bởi vậy mà từ văn hóa đã sớm xuất hiện trong đời sống

ngôn ngữ của con người, đặc biệt là người Phương Đông

Theo Đỗ Lai Thúy trong Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa thì:

“Văn hóa là tất cả những gì phi tự nhiên” [43; tr 16] Tác giả cũng cho rằng, đây

là định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất

Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc cho

rằng: "Văn hóa là quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ" [ 31, tr.17]

UNESCO - Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra định

nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi

là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.” [38; tr23]

Với giới hạn của công trình, chúng tôi đã đưa ra một số định nghĩa về văn hóa trong rất nhiều các định nghĩa được đưa ra trong các công trình để thấy được sự phong phú và nội hàm của khái niệm Tựu chung lại có thể hiểu rằng: Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người, nó song hành cùng sự phát triển của các cộng đồng người và chỉ con người mới có Văn hóa được tạo thành trong quá trình con người ứng xử với tự nhiên – xã hội và con người – con người Có thể thấy rằng, trong dòng chảy của thời gian, văn hóa như một sự nối tiếp liền mạch giữa quá khứ

và hiện tại, giữa biểu tượng và thực tế tạo ra sự khác biệt mang ý nghĩa đặc trưng cho mỗi cộng đồng người Văn hóa từ chung nhất đến rẽ nhánh nhỏ dần tương ứng với những cộng đồng lớn đến các nhóm nhỏ nhất Văn hóa chính là sự phân biệt từ quốc gia, đến vùng và đến cá nhân Như vậy có thể thấy văn hóa như một “mã gen” phân biệt do chính con người tạo ra với sự lưu truyền cùng thời gian

Trang 19

Dù hiểu theo cách nào thì văn hóa cũng đều là sản phẩm độc đáo của quá trình lịch sử do cá nhân và cộng đồng người tạo nên Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi nghiêng về cách định nghĩa ngắn gọn của Đào Duy Anh và Trần Ngọc

Thêm Tức là, Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong sinh hoạt Nó được sao lưu và biến đổi theo

tính lịch sử để tạo ra một mã gen phân biệt theo các cộng đồng Chính bởi vậy, văn hóa được xem như một diện mạo của cộng đồng – cá nhân

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái Đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng Song hành cùng quá trình đó chính là

sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới

và làm giàu tích lũy Sự chia cắt, sáp nhập, di rời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng động người Để

có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển Ở phần trình bày thêm này, chúng tôi muốn chỉ ra rằng, văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc

Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi không bàn nhiều đến căn tính dân tộc như một khái niệm riêng biệt Chúng tôi cho rằng: Căn tính dân tộc là một phạm trù

có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định Như vậy, văn hóa chính là

Trang 20

một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy

Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên một mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể Nhà nghiên

cứu Trần Đình Hượu trong bài viết Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên,

tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần

cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc, … mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc” Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa

Như vậy, khi đi sâu vào nghiên cứu văn hóa, ta sẽ thấy nảy sinh những khái niệm mới và nó thực sự là một vấn đề vô cùng rộng lớn Ở phạm vi luận văn, chúng tôi không đưa ra nghiên cứu cụ thể và sâu rộng về các khái niệm nảy sinh từ văn

Trang 21

coi là sự phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác, dân tộc này với dân tộc khác Đó không chỉ là một cách thức để nhận dạng một dân tộc với những đặc sắc văn hóa riêng mà đó còn là một nhu cầu khẳng định cái riêng, cái độc đáo, cái đẹp của dân tộc trong tương quan so sánh với các dân tộc khác Khác với văn minh vốn dùng để chỉ ra sự khác biệt trong trình độ phát triển cao – thấp của mỗi dân tộc, văn hóa hay cụ thể là bản sắc văn hóa ở đây không cầu tiến một cái đích thật cao, thật xa

để vươn tới Văn hóa càng ăn sâu, bám chắc vào cội rễ truyền thống thì càng tạo được điểm tựa cũng như cơ sở vững chắc để làm nên cái riêng, cái độc đáo, đồng hành cùng dân tộc trên mọi chặng đường phát triển

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và điện ảnh

“Chủ nghĩa hiện thực duy nhất trong nghệ thuật là của trí tưởng tượng” Trong thế giới của mỗi loại hình nghệ thuật, ở khoảng không riêng, các loại hình xoay chuyển và thể hiện sự giàu có, đặc sắc của mình, nhưng tất cả đều tựu chung lại ở trí tưởng tượng Có lẽ bởi vậy mà mỗi tác phẩm nghệ thuật đều giàu có sự sáng tạo của trí tưởng tượng Đứng trước mỗi hiện thực, từng loại hình nghệ thuật lại có các xử lý riêng biệt Nếu như văn học phản ánh hiện thực bằng ngôn ngữ, âm nhạc dùng giai điệu, nốt nhạc, thì điện ảnh mang hiện thực vào từng thước phim, từng chuyển động Là loại hình nghệ thuật ra đời muộn nhất trong bảy loại hình của nghệ thuật, điện ảnh mang tính chất tổng hợp nhất Nó kết hợp giữa tính chất tạo hình của hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc; nghệ thuật biểu diễn với rung động từ thính giác của

âm nhạc và những đặc điểm về ngôn ngữ của văn học Chúng ta gọi điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp không có nghĩa là nó vay mượn đặc điểm của các loại hình khác để tồn tại Mỗi sự vật trong thế giới đều có lý do tồn tại của nó và ra đời từ chính mục đích sử dụng của con người

ElieEaure, nhà phê bình điện ảnh người Pháp đã nhận xét: “Điện ảnh là thứ

âm nhạc mà chúng ta cảm nhận thông qua mắt” Một tác phẩm điện ảnh là sản phẩm không thể của một cá nhân, bởi vậy cái tính chất tổng hợp ta nói, không đơn giản chỉ là sự tổng hợp về mặt chất liệu, mà nó còn là sự tổng hợp về mặt nhân lực trong quá trình tạo nên một bộ phim Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác, song

Trang 22

hành với nhu cầu giải trí, một tác phẩm điện ảnh luôn hướng đến cái chân – thiện –

mỹ, coi nó như thước đo của sự phát triển

Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, văn hóa là một hệ thống được tạo thành bởi nhiều thành tố khác nhau Mỗi thành tố mang những đặc điểm chung của văn hóa và cũng chính nó lại mang những đặc điểm riêng

Ảnh 1: Sơ đồ các thành tố văn hóa – Theo sơ đồ của nhà nghiên cứu Trần

Quốc Vượng

Theo sơ đồ trên, có 15 thành tố tạo nên văn hóa trong đó có điện ảnh Như vậy có thể hiểu mối quan hệ giữa các thành tố và văn hóa là sự tác động mang tính chất hai chiều, qua lại với nhau

Thứ nhất, điện ảnh với tư cách là một bộ phận của văn hóa, nó sẽ mang những màu sắc văn hóa vào từng thước phim và tái hiện lại một cách sinh động và sắc nét Nó được hiện lên không chỉ qua những tái hiện hiện thực cuộc sống như phong tục, tập quán, nghi lễ, hội hè, cách sinh hoạt mà nó còn thể hiện trong tâm thức cộng đồng, qua cách ứng xử, qua tính cách con người (mà như chúng tôi đã trình bày ở trên, căn tính cá nhân chịu ảnh hưởng từ căn tính dân tộc),… Như vậy

có thể thấy rõ một điều rằng, điện ảnh hay các thành tố khác cấu thành nên văn hóa

Trang 23

đều chịu sự chi phối trực tiếp từ môi trường văn hóa của thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện tâm lý văn hóa của cả một cộng đồng Một thước phim về cuộc sống và con người Nam Bộ không thể đi ngoài những đặc điểm văn hóa về vùng này, bởi lẽ, văn hóa là dấu ấn sáng tạo riêng biệt của từng vùng, một đạo diễn làm phim không thể tùy tiện làm méo mó nó so với hiện thực Và đương nhiên, nếu đạo diễn cố tình

“sáng tạo văn hóa” ngay lập tức thước phim sẽ khiến người xem hoài nghi về những

gì đã được tái hiện Điều này cũng chính là sự giải thích phần nào cho những thất bại của phim cổ trang, dã sử tại Việt Nam

Với các tác phẩm điện ảnh, trong quá trình sáng tạo, dù muốn hay không đạo diễn luôn phải gắn mình với các hệ giá trị Đặc biệt những giá trị này luôn luôn được đặt trên sự soi chiếu của những giá trị truyền thống Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác, một bộ phim được công nhận ở mọi thời đại không nằm ở sự quyết định về trình độ hay sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà nằm ở những giá trị

nó lưu dấu lại được Những giá trị về văn hóa đó nằm ngoài quy luật đào thải, lựa chọn của mỗi thời đại Văn hóa là toàn bộ những gì con người sáng tạo ra, bởi vì vậy nó cũng phản chiếu nhận thức chung và trình độ phát triển Với điện ảnh, văn hóa là “bộ chỉnh” để điều chỉnh sự sáng tạo sao cho phù hợp với những giá trị truyền thống và không “vượt ngưỡng” trong tâm thế đón nhận của cộng đồng Không chỉ vậy, văn hóa còn là dấu chỉ phân biệt điện ảnh giữa các vùng miền, cao hơn là giữa các dân tộc, quốc gia Điện ảnh có thể trùng lặp về mặt ý tưởng giữa các quốc gia nhưng không thể sao chép về mặt văn hóa Bởi sự sao chép đó không chỉ phá hủy một bộ phim mà nó còn làm gia tăng nguy cơ biến đổi văn hóa dân tộc, trực tiếp gây ra những ảnh hưởng trầm trọng đến những giá trị truyền thống Điều này có thể thấy rất rõ trong trào lưu làm phim remake trên toàn cầu Một kịch bản gốc xuất sắc có thể được đón nhận ở nhiều quốc gia, vậy điều gì thu hút người xem khi kịch bản phần nhiều không thay đổi? Đó chính là dấu ấn quốc gia hay rõ hơn chính là dấu ấn về văn hóa dân tộc Kịch bản làm tại Việt Nam phải mang dấu ấn khác với Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,… Sự thất bại không nằm ở chỗ đạo diễn biến đổi kịch bản không đủ hấp dẫn, mà một phần nó nằm ở việc, người xem thấy một sự

Trang 24

sao chép y hệt không hợp lý về mặt văn hóa trong những thước phim Sự điều chỉnh của văn hóa là một bộ đo giá trị với điện ảnh

Ở chiều thứ hai, điện ảnh với đặc trưng tổng hợp đã góp phần tái hiện và quảng bá các giá trị văn hóa Cũng chính bởi điều này, mà những thước phim ngoài giá trị về mặt chân – thiện – mỹ, nó còn như một “di sản văn hóa” bởi nó chứa trong mình những giá trị bền vững cùng thời gian Có thể nói, một thước phim có giá trị một phần chính là nó tái hiện lại cho những người thường thức một không gian được lưu trữ nguyên vẹn qua các thước phim mà nay đã không còn nữa Hầu hết trong các công trình trước đây, điện ảnh thường không chiếm vị trí quan trọng trong các thành tố cấu thành nên văn hóa như ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, lối sống, văn học,…; nhưng với đặc trưng tính tổng hợp của điện ảnh, trong nghiên cứu này, chúng tôi mạnh dạn đề cao vai trò của điện ảnh trong sự cấu thành nên văn hóa Có thể nói điện ảnh là một bộ phận quan trọng của văn hóa, là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Đồng thời, nó cũng là phương tiện lưu giữ, bảo lưu và kiến tạo văn hóa thời đại với những nét độc đáo của văn hóa dân tộc, văn hóa vùng miền Điều đó được thực hiện bởi đạo diễn – người giữ vai trò lớn nhất trong sáng tạo điện ảnh – không ai khác cũng chính là một cá nhân trong cộng đồng – mang những căn tính cá nhân ảnh hưởng từ căn tính dân tộc Dù muốn hay không, mỗi đạo diễn trong quá trình sáng tạo, cũng đều tiếp nhận những thành

tố văn hóa của cộng đồng mình, những tư duy và mô thức ứng xử của cộng đồng mình Bằng sức mạnh của hình ảnh với tính tổng hợp, điện ảnh đã tại hiện lại những lát cắt văn hóa

Mỗi tác phẩm điện ảnh bên cạnh là một “di sản văn hóa”, nó còn là dấu ấn cá nhân Trước mỗi một hiện thực, mỗi cá nhân sẽ có cách ứng xử và lưu trữ nó theo cách riêng, vì vậy cách thể hiện cũng khác biệt Không khó để thấy rằng, từ lâu các tác giả văn học hay các đạo diễn điện ảnh thường xây dựng các nhân vật của mình theo một chuẩn mực văn hóa đã được thừa nhận bởi cộng đồng Căn tính văn hóa Việt Nam qua cái nhìn chủ quan của nhiều cá nhân trong một cộng đồng có thể đưa

ấn tượng của mình như: Người Hà Nội thanh lịch, nhẹ nhàng trong lời ăn tiếng nói

Trang 25

Những quan sát tưởng chừng rất cộng đồng ấy vốn dĩ đến từ sự quan sát, lăng kính phản ánh của cá nhân tích trữ, lưu truyền, ăn sâu vào lối đánh giá, vào vô thức cộng đồng Vì vậy, vô hình chung, trong xây dựng các hình tượng nhân vật tại một địa phương (trong bài viết này chúng tôi đề cập đến người Hà Nội và văn hóa Hà Nội) các tác giả, đạo diễn, người tiếp xúc nhiều hay ít tiếp xúc, người trong nước hay Việt kiều thường mặc định tin người Hà Nội thanh lịch, cầu kì, và kiểu cách Nói đến điều này để chúng tôi muốn đề cập đến dấu ấn cá nhân trong việc tái hiện lại văn hóa Dấu ấn cá nhân này ảnh hưởng đầu tiên từ cách tiếp nhận Cá nhân đón nhận văn hóa từ đâu? Truyền miệng, sách vở hay từ thực tế quan sát được? Chính vì vậy, ở phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi lựa chọn hai đạo diễn với điểm nhìn về văn hóa khác nhau: Một người Việt Nam sinh sống và làm việc đã lâu tại nước ngoài và một người sinh sống tại Việt Nam cùng nhìn về Hà Nội với cách tiếp cận văn hóa như thế nào? Lựa chọn hai đạo diễn được cho là có điểm nhìn khác nhau, chúng tôi muốn làm rõ hơn mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa, đặc biệt thấy được dấu ấn cá nhân trong sự phản chiếu và quảng bá văn hóa trong điện ảnh

Ảnh 2: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa

Trang 26

Trong phần lịch sử nghiên cứu, chúng tôi đã chỉ ra rằng, các nhà nghiên cứu

đã dành tâm huyết cho rất nhiều các công trình về văn hóa trong các thành tố khác như ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, lối sống, văn học nhưng còn ít công trình chỉ ra mối quan hệ giữa văn hóa và điện ảnh Vì vậy ở công trình này, chúng tôi, những người cho rằng điện ảnh là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa, hiện thân của văn hóa, là sản phẩm của văn hóa xin đặt ra một số yêu cầu trong nghiên cứu tác phẩm điện ảnh:

1/ Khi nghiên cứu một tác phẩm điện ảnh, phải đặt tác phẩm trong mối liên

hệ với văn hóa và trên bối cảnh rộng của văn hóa Xem điện ảnh là một thành tố cấu thành nên văn hóa, một sản phẩm của văn hóa, vì vậy cần giải mã nó trong ngữ cảnh về mặt văn hóa

2/ Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật mang đặc trưng tổng hợp, vì vậy nó thể hiện khả năng huy động vốn văn hóa của tác giả trên mọi chất liệu từ hình ảnh,

âm thanh, ngôn ngữ Vì vậy nó có khả năng tái hiện được cách đón nhận văn hóa của của tác giả, đồng thời phản chiếu và quảng bá văn hóa Có thể coi việc tiếp nhận văn hóa của tác giả như một sự đa dạng văn hóa trong bộ chỉnh văn hóa

Như vậy, văn hóa như một tấm lọc, nó giữ lại cho điện ảnh những gì hợp lý, chuẩn mực, nhân đạo; sau đó những tác phẩm điện ảnh làm tiếp công việc giữ gìn, bảo lưu qua nhiều thế hệ, góp phần làm giàu thêm những giá trị đẹp đẽ của văn hóa truyền thống Trong quá trình đó, những thứ kệch cỡm, kém giá trị tất yếu sẽ bị đào thải Văn hóa chính là trung ương thần kinh chỉ đạo những mạch máu thành tố trong

đó có văn hóa len sâu vào đời sống con người, khẳng định giá trị của văn hóa trong mỗi cộng đồng Tuy nhiên văn hóa không phải là cái bất biến, nó được lọc thải và tiếp nhận thường xuyên giống như cơ chế hô hấp của một cơ thể sống Nó loại ra những giá trị đã không còn phù hợp và nhận vào những giá trị mới Tất cả những giá trị này sẽ được sàng lọc cho phù hợp rồi đưa tới các thành tố cấu thành văn hóa Soi chiếu một tác phẩm điện ảnh từ văn hóa sẽ giúp nghiên cứu tránh được những cái nhìn thiển cận trong việc đánh giá và bình luận Hơn nữa, nó còn làm cho đời sống một bộ phim trở nên phong phú hơn

Trang 27

1.3 Phương pháp tiếp cận điện ảnh từ văn hóa học

Để giải thích các nền văn hóa có chức năng khác nhau, trong công trình Lý

thuyết khoa học về văn hóa (1944), Malinowski xây dựng học thuyết về các “nhu

cầu” gây nhiều tranh cãi Các yếu tố cấu thành một nền văn hóa có chức năng thỏa mãn các nhu cầu chủ yếu của con người Đối tượng của nghiên cứu không phải là các đặc trưng văn hóa vô nghĩa, cũng không phải các sự kiện văn hóa riêng rẽ, mà là các thiết chế (kinh tế, chính trị, pháp luật, giáo dục ) và quan hệ giữa các thiết chế trong tương quan của một hệ thống văn hóa

Từ những năm 1930, các nhà nghiên cứu đã nỗ lực để đi đến một hướng mới trong để giải thích cho các khác biệt văn hóa giữa các nhóm người Những nghiên cứu đã giúp họ chỉ ra rằng văn hóa vẫn là một khái niệm trừu tượng, mối quan hệ giữa cá nhân và văn hóa còn chưa được bàn đến Điểu này sẽ khiến các nghiên cứu

về văn hóa mất đi giá trị của nó, bởi lẽ văn hóa không thể tồn tại như một thực thể, nằm ngoài mối quan hệ với các thành tố chưa trong nó, nằm ngoài mối quan hệ với con người Vấn đề cần làm sáng tỏ là văn hóa đã hiện diện trong cá thể như thế nào, thúc đẩy họ hành động ra sao và tạo nên cách ứng xử nào

Trong mấy thập niên gần đây, nghiên cứu văn hóa được ứng dụng rộng rãi

Có khuynh hướng sử dụng từ văn hóa thay thế cho các từ khác như trí tuệ, tinh thần, truyền thống hoặc ý thức hệ Văn hóa trở nên phổ biến trong từ vựng chính trị: văn hóa chính quyền, văn hóa giải trung ương hóa, hoặc rất thông dụng vì ở mỗi lĩnh vực xã hội đều muốn có văn hóa của mình như văn hóa hip hop, văn hóa bóng đá, văn hóa điện thoại Các điển hình trên cho thấy xu hướng ngày càng cấp thiết ứng dụng các lý thuyết khoa học về văn hóa vào các hoạt động của tư tưởng và đời sống

xã hội

Để giải mã những tri thức của mình, mỗi ngành khoa học lại có những phương pháp riêng để tiếp cận nó Mỗi phương pháp đó tuỳ thuộc vào đặc thù riêng của mỗi ngành khoa học Nghệ thuật là một ngành khoa học gắn liền với cảm xúc nhưng không thể chỉ dùng cảm xúc để giải mã Mỗi loại hình nghệ thuật đều là những dấu hỏi lớn thu hút nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Ra đời muộn hơn các loại hình nghệ thuật khác, điện ảnh mang những đặc điểm của một loại hình

Trang 28

nghệ thuật tổng hợp và liên quan chặt chẽ với các loại hình ra đời sớm hơn như văn học, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn,… Để nghiên cứu một loại hình nghệ thuật tổng hợp không thể chỉ có một phương pháp nghiên cứu mà cần nhiều phương pháp để

có thể nhìn nhận vấn đề một các đa diện và sâu sắc

Nghiên cứu về nghệ thuật nói chung và nghiên cứu về điện ảnh nói riêng, luôn phải xem xét nó trong các mối quan hệ với hoàn cảnh xã hội, lịch sử, kinh tế, chính trị,… Xem xét điện ảnh trong các mối quan hệ đó cũng là một trong những

cách có thể tiếp cận với một tác phẩm điện ảnh Trong cuốn Hướng dẫn viết về

phim của Timothy Corrigan đã chỉ ra sáu cách tiếp cận để viết phê bình phim:

- Lịch sử điện ảnh: Đây là phương pháp đặt tác phẩm điện ảnh vào mối quan

hệ với lịch sử, với điều kiện sản xuất phim và với việc tiếp nhận Tiếp cận điện ảnh bằng phương pháp tìm hiểu lịch sử là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất Không chỉ điện ảnh mà nhiều loại hình nghệ thuật khác cũng sử dụng phương pháp này để tiếp cận bởi đây là một phương pháp phản ánh được sự ảnh hưởng trong các tác phẩm dưới sự soi sáng của lịch sử

- Những nền điện ảnh dân tộc: đây là phương pháp tiếp cận vào đặc tính văn hoá và dân tộc Cách tiếp nhận này chỉ ra rằng, cách nhìn và tái hiện lại thế giới thông qua điện ảnh là khác nhau tuỳ theo từng dân tộc và nền văn hoá, việc tìm hiểu những không gian văn hoá và bối cảnh của dân tộc xung quanh tác phẩm là điểu vô cùng cần thiết nếu muốn hiểu được tác phẩm đó

- Thể loại: Đây là phương pháp tiếp cận vào những đặc trưng của từng thể loại, chỉ ra sự chi phối của nó tới cốt truyện, chủ đề, kỹ thuật làm phim,… Chỉ ra sự chi phối của lịch sử tới quá trình phát triển của thể loại Việc nghiên cứu thể loại có thê dựa vào hai phương pháp chính: Phương pháp mô tả và phương pháp chức năng Phương pháp mô tả phân chia và định nghĩa từng thể loại theo các đặc điểm chung Phương pháp chức năng liên hệ bộ phim với bối cảnh lịch sử, xã hội của nó để khẳng định các phim theo thể loại chứa đựng những vấn đề xã hội khác nhau

- Tác giả: Phê bình tác giả là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhưng lại thường bị sử dụng một cách vô thức Tìm hiểu về tác giả để chỉ ra

Trang 29

nhất trong phong cách không chỉ ở tác giả mà ở cả những diễn viên Tuy nhiên, khi thực hiện một tác phẩm nghệ thuật, cần sự góp sức của nhiều người, vì vậy đi tìm hiểu và nghiên cứu về dấu ấn cá nhân trong một tác phẩm sẽ dễ đưa ra những nhận định chưa chuẩn xác Vì lẽ đó, khi sử dụng phương pháp này luôn phải đi cùng với thái độ hoài nghi không thể tách rời

- Các dạng của chủ nghĩa hình thức: Đây là phương pháp nghiên cứu điện ảnh thông qua việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến cấu trúc, phong cách, tự sự,… Phương pháp này không chú trọng đến những vấn đề ngoài quy cách của phim, những vấn đề không thể hiện rõ trên màn hình Tuy nhiên, ngày nay rất khó thấy một bài phê bình thuần tuý theo phương pháp hình thức Thường thì dạng phê bình này sẽ trở thành một phần quan trọng trong các bài phê bình về tác giả, lịch sử điện ảnh, thể loại,…

- Ý thức hệ: Đây là phương pháp nghiên cứu điện ảnh từ góc nhìn của chính trị, đức tin hay ý niệm Bởi ý thức hệ chính là cách diễn đạt mở rộng và tế nhị của

từ chính trị Bài phê bình xoay quanh vấn đề ý thức hệ khẳng định bất cứ sản phẩm

sáng tạo nào cũng chuyên chở những ý tưởng về thế giới, hoặc về cách nhìn nhận thế giới, về những giá trị xã hội

Trên đây là sáu cách tiếp cận điện ảnh mà Timothy Corrigan đã chỉ ra trong cuốn sách của mình Ngoài sáu cách tiếp cận trên ra còn những cách tiếp cận khác, tuy nhiên những phương pháp đó không được sử dụng phổ biến Một bài nghiên cứu phim có thể sẽ sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận bên cạnh một cách tiếp cận chính Điều đó tạo nên sự chuyên sâu cho bài phê bình

Nếu nhìn vào cách chia trên có thể thấy rằng, việc đưa các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải một tác phẩm điện ảnh thuộc vào phương pháp tiếp cận dựa vào đặc điểm của những nền điện ảnh dân tộc Tuy nhiên chúng tôi không chỉ

đi giải mã văn hóa qua các tác phẩm điện ảnh, bởi nếu muốn tìm hiểu về văn hóa (phạm vi đề tài là Văn hóa Hà Nội) thì việc dễ dàng hơn là tìm đến các công trình nghiên cứu đã công bố Việc giải mã các bộ phim từ góc nhìn văn hóa hy vọng mở

ra những hướng giải mã phim mới, đặc biệt là tìm hiểu về những “khúc xạ văn hóa” qua những lăng kính khác nhau khi cùng soi chiếu một chủ thể Vì vậy, trong quá

Trang 30

trình nghiên cứu không sử dụng đơn điệu một phương pháp mà có sự soi chiếu từ những cách tiếp cận khác nhau

Xét về xu hướng nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa, có thể kể đến các thành tựu trong giải mã văn chương Không thể phủ nhận rằng, văn học là loại hình nghệ thuật sử dụng phương pháp nghiên cứu này một cách rộng rãi hơn cả Trong khi đó, điện ảnh và một số loại hình khác còn ít các công trình sử dụng đến tiếp cận văn hóa Bởi chủ yếu, các công trình thường quan tâm nhiều hơn đến sự tác động qua lại của từng loại hình nghệ thuật với văn hóa hơn là việc soi xét, giải mã các tác phẩm này dưới góc nhìn văn hóa Dựa vào các khái niệm, định nghĩa về văn hóa cũng như mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa chúng tôi đã trình bày ở trên, việc tiếp cận điện ảnh từ phương pháp tiếp cận văn hóa được coi là việc giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nét thời đại của bộ phim

Văn hóa học (culturology) là khoa học nghiên cứu về văn hóa Văn hóa có thể xem xét ở nhiều hướng và vì vậy văn hóa học có thể được nghiên cứu và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau Những thành tựu của văn hóa học ngày nay đã chỉ ra văn hóa như một tổng thể được cấu thành bởi các thành tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn…, trong đó có điện ảnh Đã là một thành tố cấu thành thì một mặt, nó mang những đặc điểm của riêng nó để không nhầm lẫn với các thành tố khác; một mặt khác, nó lại bị hệ thống chi phối, điều chỉnh, gọt giũa để không tách khỏi nó Các hệ thống để có thể duy trì được luôn có những giá trị để đảm bảo tính ổn định,

hệ thống văn hóa cũng không nằm ngoài điều kiện đó

Điện ảnh với sự ra đời sau cuối nhưng phát triển vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ, những năm gần đây đã khẳng định vị trí và sự ảnh hưởng của mình trong

hệ thống văn hóa Điện ảnh một mặt không ngừng tiếp thu các loại hình nghệ thuật khác, mặt kia nó không ngừng mở rộng các đề tài, các vấn đề khác nhau của cuộc sống Nghệ thuật từ thuở sơ khai của những nét vẽ trên hang đá đã khẳng định vai trò của mình trong xã hội loài người Một mặt nó mang tính chất giải trí, mặt khác

nó thể hiện nhu cầu phản ánh hiện thực của nghệ thuật Tuy nhiên, điện ảnh hay bất

Trang 31

phản ánh trực tiếp mà nó đã khúc xạ qua một lăng kính khác, đó chính là: Văn hóa

và các địa tầng của giá trị văn hóa Vì thế, hiện thực trong nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng không phải là một tấm gương trần trụi, mà nó chứa trong đó những giá trị Chân – thiện – mỹ

Như vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi coi việc đánh giá tác phẩm điện ảnh từ góc nhìn văn hóa như một phương pháp tiếp cận độc lập so với sáu phương pháp tiếp cận được nêu ra phía trên Nghiên cứu, phê bình một tác phẩm điện ảnh, một tác giả hay một trào lưu trước tiên cần đặt nó về đúng hệ thống sản sinh ra nó –

hệ thống văn hóa

1.4 Hai hiện tƣợng điện ảnh tiếp cận

Trong suốt chặng đường dài phát triển của lích sử điện ảnh Việt Nam, các đạo diễn đã không ngừng tìm tòi, học hỏi và sáng tạo để kể những câu chuyện đầy sống động bằng các thước phim 60 năm chặng đường phát triển, các thế hệ đạo diễn đã nối tiếp nhau khẳng định vị trí của điện ảnh nước nhà trên trường quốc tế Trong đề tài của mình, chúng tôi chọn Đặng Nhật Minh và Trần Anh Hùng là những “hiện tượng” đại diện tiêu biểu cho các lớp thế hệ đạo diễn của điện ảnh Việt Nam từ thế kỉ trước cho đến nay

1.4.1 Đạo diễn Đặng Nhật Minh và Mùa ổi

Đặng Nhật Minh là một trong số ít những đạo diễn đã tạo được tên tuổi riêng của mình trong nền điện ảnh nước nhà suốt mấy chục năm qua Nói đến những bộ phim của ông khán giả thường nghĩ ngay đến tác phẩm nghệ thuật điện ảnh chứa đựng những điều còn lớn lao hơn cả một tác phẩm bình thường Những triết lí, giá trị sống, những dòng cảm xúc và hoài niệm được ông thể hiện khéo léo và tinh tế, bằng một chất liệu ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất gợi cảm

Đặng Nhật Minh sinh năm 1938, tại Huế, trong một gia đình có cha là bác sĩ Đặng Văn Ngữ Tuy vậy ông không chọn đi theo con đường y khoa như truyền thống của gia đình mà bước vào đời với công việc của một biên dịch viên cho các phim tiếng Nga Sau này, Đặng Nhật Minh chuyển qua phụ trách biên dịch cho các lớp đào tạo điện ảnh của Liên Xô dành cho người Việt Và đó chính là sự khởi đầu cho một mối lương duyên kéo dài cả nửa thế kỷ giữa ông và điện ảnh Đặng Nhật

Trang 32

Minh không nằm trong số những đạo diễn đầu tiên được đào tạo điện ảnh chuyên nghiệp dưới sự bảo trợ của nhà nước Việt Nam như Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi, Phạm Kỳ Nam, cũng không theo học những khóa học chuyên môn về điện ảnh như các đạo diễn đời đầu khác Đó có thể là lí do vì sao thành công không đến với ông

ngay từ những tác phẩm đầu tay Chỉ đến Thị xã trong tầm tay (1982), tên tuổi ông

mới được biết đến với lối làm phim dung dị nhưng độc đáo, kết hợp được chất trí tuệ và cảm xúc trong cách thể hiện

Có một điều ở đạo diễn Đặng Nhật Minh giúp cho ông trở nên đặc biệt hơn

so với tên tuổi những đạo diễn khác trong làng điện ảnh Việt Nam đó là: rất nhiều những bộ phim tạo được sự chú ý của ông lúc bấy giờ phần lớn được chuyển thể từ

chính truyện ngắn do ông viết như Thị xã trong tầm tay, Bao giờ cho đến tháng

Mười, Cô gái trên sông và Mùa ổi Cũng chính bởi vậy mà ngay cả khi phim đã lên

sóng thì dư âm cùng những cảm xúc của những câu chuyện đó vẫn luôn tươi mới và đọng lại nguyên vẹn cảm xúc của người đã viết ra nó

Đạo diễn Đặng Nhật Minh chia sẻ rằng ông ham viết văn cũng như việc làm phim Khi có bất cứ điều gì băn khoăn, hay tâm sự ông thường trút lên những trang giấy của mình và ông cho đó là những thứ cục “nợ” mà ông phải viết ra và

phải trải lòng cùng với nó Viết truyện ngắn và được đăng lên báo Văn nghệ là một

niềm vui sướng đối với ông Bởi vậy, ông luôn viết bằng tất cả sự say mê, háo hức của mình, ông luôn cố gắng làm sao thể hiện tất cả những gì là đẹp nhất của văn chương, của nghệ thuật ngôn từ Những trang văn do ông viết có thể đơn giản về mặt từ ngữ hay câu chữ, nhưng luôn luôn chứa đựng một ám ảnh, thể hiện bằng tình cảm lớn lao thông qua những câu chuyện giàu cảm xúc với những ý vị sâu xa

Ngôi nhà xưa là một trong những tập truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách

của ông Toàn bộ truyện ngắn là tập hợp những câu chuyện gắn bó với những biến

cố của ông cùng gia đình vào những năm 80, 90 của thế kỉ XX - giai đoạn đầy biến

cố trong một gia đình tiểu tư sản tri thức Mỗi câu văn đều thấm đượm những tình cảm lớn lao mang đầy những giá trị nhân văn Cách viết của ông cũng rất đặc biệt bởi truyện ngắn của ông không bao giờ có sự rào trước đón sau, quanh co, lý giải

Trang 33

ngắn gọn, súc tích trong những câu chuyện chân thực, đầy ám ảnh về con người tại

những khoảnh khắc của cuộc sống hàng ngày Ngôi nhà xưa lấy cảm hứng đề tài là

những người tiểu tư sản tri thức của Hà Nội những năm 50, khi chính phủ về tiếp quản Thủ đô, những người này được gọi bằng cái tên chung là những “người trong thành”, hoặc là “công chức lưu dung” nếu trước đây có làm việc cho chế độ cũ Những nhà tư sản thì được học tập cải tạo để từ bỏ lối sống bóc lột, ai có nhà cho thuê thì phải giao nhà cho nhà nước quản lý Bà con tiểu thương thì được đưa vào các hợp tác xã để làm ăn tập thể Những người trí thức ngoài bác sĩ được nhà nước

sử dụng lại, hầu hết đều không có việc làm, nhất là các luật sư Chế độ mới, có hệ thống luật pháp mới, không cần đến các luật sư của chế độ cũ Lúc bấy giờ, khi chủ nghĩa lý lịch còn rất nặng nề, con cái tư sản, trí thức cũ học xong trung học chỉ được thi vào các trường trung cấp nông nghiệp, thủy lợi hoặc cao đẳng sư phạm Sau khi

ra trường họ được phân công đi nhận công tác ở miền núi hoặc các tỉnh xa, không được ở Hà Nội Tuy bị phân biệt đối xử như vậy, nhưng những người trí thức cũ của

Hà Nội vẫn luôn mong muốn được đóng góp công sức cho sự nghiệp chung, bù lại những ngày đã không làm gì cho kháng chiến

Ngôi nhà xưa là truyện ngắn dựa trên những sự việc có thật liên quan đến

ngôi nhà số 43 Hàng Chuối trong một gia đình có người cha làm nghề luật sư Thoạt đầu vì muốn góp phần vào sự nghiệp chung, ông đồng ý cho cơ quan bưu điện của nhà nước thuê tầng dưới để làm việc Dần dần cơ quan vận động ông cho thuê nốt

cả tầng hai Ông vui lòng dọn đi ở nơi khác Đến khi có chính sách cải tạo nhà cửa, ông được mời đi học tập cải tạo Đến lúc này ông mới biết rằng ai có diện tích nhà cho thuê trên 120m2 đều bị liệt vào diện phải cải tạo, phải tự nguyện giao nhà cho nhà nước quản lý, từ bỏ lối sống bóc lột Phải từ bỏ ngôi nhà của chính mình xây cất lên, nơi gắn bó với biết bao kỷ niệm buồn vui của gia đình là một điều vô cùng đau

xót Trong lời đề từ của truyện ngắn Ngôi nhà xưa, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã viết: “một chất trữ tình dẫn dắt người đọc bằng những hình ảnh giàu chất điện ảnh

mà tất cả chúng dường như đều được tắm trong cảm xúc nhân hậu, để cho họ được đồng cảm với số phận Những câu chuyện mộc mạc nhưng đầy sự ám ảnh về sự hi sinh chịu đựng, về cái xấu không lộ mặt… về cái hèn Cuộc diễu hành chầm chậm

Trang 34

của những điều gai góc mời gọi người đọc phải nhập cuộc” Truyện ngắn Ngôi nhà

xưa sau khi đăng trên Tuần báo Văn nghệ vào năm 1993 lập tức được nhiều độc giả

chú ý, đặc biệt là những người Hà Nội cũ Đài Tiếng nói Việt Nam đọc lại trong mục “Đọc chuyện đêm khuya” Chính ông cũng đã không ngờ câu chuyện riêng trong gia đình vợ mình lại nhận được sự quan tâm của rất nhiều người Những gì xảy ra với ngôi nhà được miêu tả trong truyện ngắn, rất phổ biến ở Hà Nội trong

thời kỳ cải tạo nhà cửa vào những năm 60

Mùa ổi được đạo diễn Đặng Nhật Minh chuyển thể từ chính truyện ngắn Ngôi nhà xưa Đây là một trong những bộ phim đã thoát ra khỏi đề tài về nỗi cô đơn

của con người hiện đại, những cám dỗ tha hóa, mất phương hướng trong công cuộc

mở cửa và những vấn đề cần đối mặt thời hậu chiến mà các bộ phim giai đoạn này

đang khai thác triệt để để “cởi trói” Mùa ổi khắc họa khá rõ cuộc sống của người

dân Thủ đô khi hòa bình vừa lập lại với rất nhiều những biến đổi khác nhau trong giai đoạn từ những năm 1954 – 1980 Tất cả những sự thay đổi đó được nhìn nhận thông qua lăng kính và con mắt con nhân vật chính là Hòa - một người “không bình thường” theo cách nghĩ của những nhân vật khác trong phim

Hòa là người đàn ông hơn 40 tuổi hiền lành, tốt bụng có phần ngốc nghếch, nhưng lại luôn luôn sống trong kí ức và những kỉ niệm của một cậu bé 13 tuổi từ sau lần bị tai nạn Tất cả những sự kiện, những biến cố của gia đình với Hòa là nhân vật chính trong phim xảy ra trong một ngôi nhà biệt thự Ngôi biệt thự tuy đã không còn là của gia đình, nhưng Hòa vẫn luôn trở về ngôi nhà với những kỉ niệm trong quãng tuổi thơ của mình, mặc cho những lời đe dọa ngăn cấm của những người

“bình thường” khác Câu chuyện được đẩy lên cao trào khi gã chủ nhà vì muốn tránh phiền phức đã đưa Hòa vào viện tâm thần Nhưng chỉ với một liều thuốc an thần đã biến Hòa thành một người mất hết trí nhớ, quên hết tất cả những kỉ niệm gắn bó với mình, thậm chí còn không biết mình là ai

Nhưng có một chi tiết đặc biệt là ít người biết đến là những chi tiết thật,

những góc khuất trong truyện ngắn Ngôi nhà xưa và bộ phim Mùa ổi này Đạo diễn

Đặng Nhật Minh đã xây dựng nhân vật chính trong phim được lấy nguyên mẫu từ

Trang 35

đã viết về Mùa ổi như sau: “Phim dựa trên những câu chuyện có thật liên quan đến

số nhà 43 Hàng Chuối (Hà Nội) của ông bố vợ, luật sư cũ” [27; tr.148] Với một con người luôn sống trong kí ức của trẻ thơ như Hòa thì việc phải từ bỏ ngôi nhà – gắn bó với những kỉ niệm của mình dường như là một điều vô cùng đau xót đớn

Với những dấu ấn riêng biệt, Mùa ổi đã đạt được những thành công vang dội

với những giải thưởng lớn trong làng điện ảnh trong nước cũng như thế giới như: Bông sen vàng tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIII Giải Don Quichote của Hiệp hội các Câu lạc bộ Điện ảnh thế giới, và Giải nhì của Ban Giám khảo trẻ, giải đặc biệt của Hiệp hội phê bình Phim quốc tế, liên hoan phim Oslo tại Nauy năm

2001 Bằng khen đặc biệt tại LHP Namur (Bỉ) năm 2000; giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Bùi Bài Bình, giải nữ diễn viên xuất sắc nhất trong liên hoan phim Singapo lần thứ 14 – 2001 cho diễn viên Lan Hương và rất nhiều những giải thưởng cao quý khác Như chính nhưng lời chia sẻ của đạo diễn Đặng Nhật Minh trong

“Hồi kí điện ảnh”, báo Nouvel Obsevateur nhận định: phim Mùa ổi có nội dung đề

cao nhân cách và phẩm giá Thật vậy trong phim này tôi muốn nói đến nhân cách của những con người Hà Nội gốc (qua gia đình luật sư Bách và các con ông) hơn là việc nói về ngôi nhà đã mất Lần đầu tiên trên đường phố lớn ở Paris xuất hiện

những tấm áp phích của một bộ phim Việt Nam, một sự kiện được báo Tuổi trẻ Chủ

nhật số ra ngày 28-4-2002 cho là sự kiện lịch sử đối với điện ảnh Việt Nam”

Việc chuyển thể từ chính sáng tác văn học của mình, kết hợp với những sự đầu tư, phát hiện và tim tòi những yếu tố mới trong quá trình tái sáng tạo lại tác phẩm đã giúp cho đạo diễn Đặng Nhật Minh xây dựng lại tác phẩm của mình rất thành công trên phương diện ngôn ngữ điện ảnh Tại thời điểm đó tuy rằng nguồn kinh phí đầu tư không nhiều và bộ phim cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất, nhưng chính những thành công của bộ phim đã giúp cho nó có một sức ảnh hưởng lớn, mang đến những tín hiệu tích cực cho điện ảnh Việt Nam

Nói về đạo diễn Đặng Nhật Minh, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mệnh danh một trong những đạo diễn thuộc thế hệ đầu của điện ảnh Việt Nam là “người

kể sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh” [27;tr 5]

Trang 36

1.4.2 Đạo diễn Trần Anh Hùng và Mùa hè chiều thẳng đứng

Nếu như Đặng Nhật Minh là một đại diện tiêu biểu cho thế hệ đạo diễn thuộc nền điện ảnh bao cấp thời xã hội chủ nghĩa thì Trần Anh Hùng có thể coi là một đại diện đầy triển vọng của thế hệ đạo diễn về sau này Trần Anh Hùng (1962) di cư sang Pháp cùng gia đình từ sau 1975 và được theo học trong một trường Đại học danh tiếng của Pháp về điện ảnh Chính điều đó đã làm nên một phong cách làm phim khác hẳn với Đặng Nhật Minh cũng như với các đạo diễn Việt Nam trước đó Sớm được tiếp xúc và học tập dưới nền giáo dục Âu Châu tiến bộ, cởi mở, Trần Anh Hùng cũng như một vài đạo diễn Việt Kiều đương đại đã nhanh chóng lĩnh hội được những tư tưởng đổi mới, những phong cách làm phim hiện đại cả về kỹ thuật lẫn hình thức thể hiện Những thước phim trong vắt như được bọc trong bầu không khí vô trùng, đẹp đến hoàn hảo đã cho thấy sự tỉ mỉ và cầu kì trong từng khuôn hình của Trần Anh Hùng Đó là một ý thức mới trong việc sáng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chứ không đơn thuần là kể một câu chuyện lên phim

Trần Anh Hùng một đạo diễn điện ảnh người Pháp gốc Việt, người được biết tới nhiều nhất qua các tác phẩm về chủ đề Việt Nam Sinh ra tại Đà Nẵng nhưng chủ yếu sống ở Pháp, Trần Anh Hùng để lại ấn tượng với người xem về phong cách làm phim hết sức độc đáo, mang đậm vẻ đẹp của Việt Nam Anh là đạo diễn của

Mùi đu đủ xanh (L’Odeur de la papaye verte), bộ phim duy nhất cho đến nay của

điện ảnh Việt Nam lọt vào danh sách đề cử rút gọn của Giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất Phim đã gặt háithành công tại Liên Hoan Phim Cannes với giải Caméra d’Or 1993, César Best First Feature 1994, và cũng được chọn tranh giải Oscar của Mỹ về thể loại phim nước ngoài xuất sắc nhất (1993 Academy Award Nominee for Best Foreign Language Film) Bên cạnh đó, Trần Anh Hùng còn là

đạo diễn của các bộ phim Xích lô (Cyclo) giành giải thưởng Sư tử vàng cho phim

hay nhất tại liên hoan phim Venezia 1995, giải phim hay nhất trong liên hoan phim

quốc tế tại Flander (Vương quốc Bỉ) năm 1995; I Come with the rain năm 2008 bộ

phim tiếng Anh đầu tiên Cùng năm 2008, Trần Anh Hùng được mời làm đạo diễn

chuyển thể điện ảnh bộ tiểu thuyết Rừng Nauy của Haruki Murakami

Trang 37

Ngoài ra, Trần Anh Hùng còn được biết đến với Mùa hè chiều thẳng đứng

(À la verticale de l’e’té) là bộ phim được chọn tham gia Liên hoan phim Canes năm

2000 Nhìn chung, các sản phẩm của anh luôn tạo được dấu ấn rất riêng, lặng lẽ thâm trầm nhưng ẩn sâu bên trong là những làn sóng đang xô Toàn bộ kiến thức cũng như kinh nghiệm điện ảnh mà anh có được đều được học từ nền điện ảnh Pháp

và chịu ảnh hưởng từ một số nghệ sĩ điện ảnh châu Âu và Nhật Bản như Bergman, Bresson, Kurosawa, Ozu Tuy nhiên, phim của anh cũng mang đậm bản sắc Việt Nam riêng biệt

Đạo diễn Trần Anh Hùng đã từng nói “nghệ thuật điện ảnh có ngôn ngữ riêng của nó mà người xem phải học để hiểu cách bộ phim diễn đạt chứ không phải xem điện ảnh là công cụ giải lao một cách thụ động”[19] Phim của anh đã mang đến cho khán giả một không gian điện ảnh tràn ngập những cảm xúc khó gọi thành lời, nhưng là rất riêng mà người ta chưa từng gặp gỡ ở bất cứ nơi đâu Bởi khi làm phim, Trần Anh Hùng khước từ cách làm phim kể chuyện, lối mòn kiểu truyền thống, đi theo kiểm làm phim mới với ngôn ngữ điện ảnh mới: đánh mạnh vào cảm giác của người xem khiến họ thưởng thức chúng không phải bằng cái đầu duy lý nữa mà bằng cảm giác của ngôn ngữ cơ thể Có thể thấy, Trần Anh Hùng chọn cách

kể chuyện không hướng nhiều đến nội dung mà hướng nhiều đến cảm giác, "những cảm giác riêng tư có hơi thở rộng rãi, khó nắm bắt" [19] nhưng chính cái đó khiến người ta se lòng và nó đi vào lòng người một cách chậm rãi

Trần Anh Hùng đã từng nói “khi làm phim, tôi luôn trở lại với cái căn bản và cảm xúc tinh tế ban đầu của chính mình Tôi cũng rất tự tin vào linh cảm và bản

năng của mình” Có lẽ vì vậy mà anh chọn làm Mùa hè chiều thẳng đứng! Bộ phim

là cảm hứng của Trần Anh Hùng trong những ngày anh cùng vợ - diễn viên Trần

Nữ Yên Khê - dạo bước lang thang phố cổ của Hà Nội những năm 90 của thế kỷ 20 Trong bộ ba tác phẩm của mình, Trần Anh Hùng vẽ lại những nét bạo lực nhuốm

máu trong Xích Lô (1995), cuộc sống đầy chất thơ của những con người Sài Gòn những năm 1950 trong tác phẩm đầu tay Mùi đu đủ xanh (1993), và cuối cùng là

Mùa hè chiều thẳng đứng (2000) với cuộc sống thanh bình, những thói quen sinh

hoạt cùng cái tình người của một gia đình người Hà Nội Giống như đa phần các

Trang 38

sáng tác khác của Trần Anh Hùng, Mùa hè chiều thẳng đứng là một bộ phim rất

kiệm lời, sử dụng những khuôn hình để kể chuyện về những con người sống trong hoài niệm của văn chương, nhiếp ảnh và nhạc Trịnh Cách Trần Anh Hùng làm phim tỉ mỉ như vẽ tranh, mỗi khung hình là một bức họa, đúng như đạo diễn Đặng Nhật Minh đã từng nhận xét: “Tôi ấn tượng đặc biệt về mặt hình ảnh trong phim của Hùng Mỗi khuôn hình đẹp như một bức hoạ vậy… Sự cầu kỳ đó đã đem lại vẻ đẹp thẩm mỹ cho những bộ phim của Trần Anh Hùng Phim của đạo diễn Trần Anh Hùng là một bữa tiệc có đầy đủ mùi vị, màu sắc và âm thanh Ở mỗi cảm giác, người ta đều có thể gắn vào đó một xúc cảm, một tình cảm được minh chứng bằng mỗi hình ảnh, để truyền tải được tất cả ý nghĩa của mình, cần có một phần chiêm bao, một yếu tố biểu tượng mà đạo diễn luôn dày công theo đuổi khai thác” [14]

Mùa hè chiều thẳng đứng kể lại câu chuyện về gia đình gồm bốn chị em

Sương, Khanh, Hải, Liên sống tại Hà Nội Phim được mở đầu bằng cảnh sum họp gia đình gồm 4 chị em và Quốc (chồng Sương), Kiên (chồng Khanh) trong buổi giỗ

mẹ Những câu chuyện trong đám giỗ là những đối thoại ngắn, tập trung vào việc làm sao để có mâm cỗ bày đẹp và ngon Ngoài ra họ nói về ông Toàn – một người được cho là mối tình thuở trẻ thơ của mẹ Trong câu chuyện đó người cha được nhắc đến – người vì cái chết của người vợ mà đau khổ chết sau đó một tháng Vì người mẹ sinh sớm hơn cha họ một tháng, nên Liên xem cái chết của cha là mảnh ghép hoàn hảo trong mối nhân duyên của họ

Sau ngày giỗ, Khanh tiết lộ mình có thai cùng Kiên, nhưng đề nghị anh giữ kín thêm một vài tháng nữa Khi gặp bế tắc trong đoạn kết của quyển tiểu thuyết đầu tay, Kiên bỏ vào Sài Gòn một tuần lễ cho khuây khỏa Trong chuyến đi, anh gặp gỡ một người phụ nữ quý phái tên Ngân Tìm thấy mảnh giấy của Ngân trong túi Kiên, Khanh nghi ngờ sự trung thực của chồng mình

Về gia đình Sương – Quốc, Trong lúc Quốc thường xuyên đi khắp nơi để chụp ảnh các loài thực vật, Sương lén lút chồng mình quan hệ cùng Tuấn - một chàng doanh nhân người Sài Gòn mà cô gặp ở quán nước Trong một lần trở về, Quốc công bố với Sương về một người vợ khác và đứa con trai của họ tại Hạ Long,

Trang 39

Quảng Ninh Đau khổ, Sương chấp nhận gia đình nhỏ của Quốc, chỉ cần anh vẫn là chồng của cô Sau chuyện đó, Sương chấm dứt quan hệ cùng Tuấn

Người em út, Liên làm việc tại quán nước của Sương và ở cùng một căn hộ với Hải - người anh ruột sống bằng nghề diễn viên Dù được Toàn để ý, song Liên lại thích thú với việc hay bị người ngoài nhìn nhầm cô và anh trai là vợ chồng Cô phải lòng Hòa, một chàng sinh viên trường Kiến trúc hơn cô 1 tuổi Liên cũng khiến các chị của mình sửng sốt khi thông báo mình mang thai với Hòa Cả ba chị em sau

đó kể cho nhau nghe mọi chuyện, cùng nhau khóc nhưng lại mau chóng cười đùa vì biết Liên nhầm tưởng về cái thai Phim khép lại tại căn hộ của Liên và Hải, lúc họ thức dậy và chuẩn bị cho ngày giỗ của người cha

Đặng Nhật Minh và Trần Anh Hùng có thể được kể đến như hai đại diện quan trọng của điện ảnh Việt Nam đương đại Họ thuộc hai thế hệ đạo diễn khác nhau, tiếp thu nền giáo dục và kỹ thuật làm phim từ những điều kiện khác nhau nhưng tinh thần chung dễ thấy ở họ vẫn là thái độ trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống và ý thức dân tộc sâu sắc Đặng Nhật Minh – người sống qua hai thế

kỉ với phong cách làm phim trí tuệ, giàu cảm xúc và tính triết luận là đại diện cho thế hệ đạo diễn thứ nhất, trưởng thành từ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa và nền điện ảnh bao cấp của nhà nước Trần Anh Hùng là một Việt kiều di dân, có những năm tháng sống xa quê hương cũng đã tạo cho những thước phim của mình một phong cách riêng, tinh tế và hoàn hảo như được lọc qua màn kí ức với những ký thuật làm phim tân tiến, hiện đại Họ có thể coi là những hiện tượng nổi bật nhưng không nằm ngoài nét đặc trưng của điện ảnh dân tộc Những tác phẩm của họ với phong vị và nét đẹp Việt Nam sẽ là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài ở những chương tiếp theo

Trang 40

Chương 2:

Không gian văn hóa Hà Nội qua Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng

2.1 Không gian đô thị

Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, việc tổ chức đời sống tập thể tại Việt Nam được chia theo ba lĩnh vực lớn: quốc gia – nông thôn – đô thị Tuy nhiên, với một nền văn hóa gốc nông nghiệp điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn là lĩnh vực quan trọng nhất Nó chi phối cả truyền thống tổ chức quốc gia lẫn tổ chức

đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người Như vậy, muốn nắm rõ được văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam thì cần nắm vững những đặc thù của tổ chức nông thôn Bởi sau làng thì mới tới nước, tổ chức đô thị xuất hiện sau cuối và còn mờ nhạt

Đô thị chính là thước đo trình độ văn minh của nhân loại Các ngành khoa học cũng phát triển định nghĩa riêng về đô thị, đô thị hóa sát với nhu cầu nghiên cứu của họ Ngành Dân số định nghĩa đô thị dựa trên các tiêu chí: Quy mô dân số; Mật

độ dân số; Tỷ lệ dân số tham gia hoạt động sản xuất phi nông nghiệp; Chức năng hành chính của địa phương Ngành Xã hội học đô thị định nghĩa đô thị hóa là sự di dân từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị

Đô thị tại Việt Nam xuất hiện chậm và ít nhưng nó mang những đặc trưng khác hoàn toàn với các đô thị khác của cả Phương Đông và phương Tây Đô thị truyền thống Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi từ đó mới là kinh tế và văn hóa, cho đến thế kỷ XVI, Đại Việt chỉ có một đô thị, một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa là Thăng Long (Kẻ Chợ) mà vị trí chính trị đảm bảo cho kinh tế

Từ sau thế kỷ XVI, xuất hiện thêm một số đô thị mà chủ yếu gắn với ngoại thương (phố Hiến, Thanh Hà, Hội An, Sài Gòn,…) Xét về mặt nguồn gốc, phần lớn đô thị Việt Nam là do nhà nước sinh ra Quá trình hình thành một đô thị cổ ở Việt Nam diễn ra như sau: Nhà nước khi có nhu cầu lập kinh đô, hoặc trung tâm tỉnh thành, sẽ phái thầy địa lý đi tìm đất Cắm đất xong, nhà nước cho xây dựng cung điện, dinh

Ngày đăng: 20/03/2021, 19:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w