1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chợ vùng biên và những năng động kinh tế xã hội ở vùng biên giới việt trung từ 1990 đến nay

253 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 8,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua luận án, tôi muốn phác thảo hệ thống chợ ở vùng biên giới Việt - Trung như một không gian tương tác, giao lưu kinh tế - xã hội giữa các tộc người ở trong vùng, liên/xuyên biên giới,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Tạ Thị Tâm

CHỢ VÙNG BIÊN VÀ NHỮNG NĂNG ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VÙNG BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG TỪ 1990 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Tạ Thị Tâm

CHỢ VÙNG BIÊN VÀ NHỮNG NĂNG ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VÙNG BIÊN GIỚI

VIỆT - TRUNG TỪ 1990 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Nhân học

Mã số: 62 31 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Chính

2 TS Nguyễn Thị Thanh Bình

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Chủ tịch hội đồng đánh giá

Luận án Tiến sĩ

Người hướng dẫn khoa học

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những quan điểm mà luận án kế thừa của các nhà nghiên cứu đi trước đều được trích dẫn nguồn chính xác, cụ thể

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Tạ Thị Tâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận án “Chợ vùng biên và những

năng động kinh tế - xã hội ở vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay”,

Nghiên cứu sinh (NCS) đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các cơ quan, tập thể

và cá nhân

Trước tiên, NCS xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Chính và TS Nguyễn Thị Thanh Bình, hai người thầy đã tận tình hướng dẫn NCS từ bậc học thạc sỹ đến tiến sỹ tại Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

NCS cũng trân trọng cảm ơn tới: (i) Khoa Nhân học, trước đó là Bộ môn Dân tộc học thuộc Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng niềm say mê nghiên cứu dân tộc học của NCS từ khi chập chững bước chân vào cánh cổng trường Đại học; (ii) Ban lãnh đạo Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nơi NCS đang công tác, đã tạo điều kiện tốt nhất để NCS học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án; (iii) Công an huyện Si Ma Cai, Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai, Công an tỉnh Lạng Sơn, Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái đã tận tình giúp NCS trong thời gian ở thực địa; (iv) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thành phố: Cán Cấu, Cốc Lếu, Lộc Bình, Móng Cái đã giúp NCS về các thủ tục hành chính ở thực địa; (v) Ban quản lý, những người buôn bán ở các chợ Cán Cấu, Cốc Lếu, Lộc Bình, Móng Cái đã dành thời gian chia sẻ với NCS về cuộc sống và công việc hàng ngày của mình

Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè trong và ngoài cơ quan đã luôn khích lệ, động viên NCS vượt qua nhiều trở ngại để hoàn thành luận án

Lời biết ơn sâu nặng nhất xin được gửi tới đấng sinh thành, đã tận tuỵ và dành

sự hy sinh cả đời cho con ăn học thành người như ngày hôm nay

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

NCS Tạ Thị Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9

5 Bố cục luận án 10

Chương 1 CHỢ VÙNG BIÊN: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 11

1.1 Vấn đề nghiên cứu 11

1.2 Lịch sử nghiên cứu 12

1.2.1 Vùng biên và biên giới Việt - Trung 12

1.2.2 Nghiên cứu chợ và chợ vùng biên 22

1.2.3 Các vấn đề còn đang thảo luận 26

1.3 Cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận 26

1.3.1 Vùng biên giới từ góc nhìn chính trị - dân tộc 26

1.3.2 Tiếp cận chợ vùng biên từ những gợi mở của lý thuyết không gian xã hội và mạng lưới xã hội 29

1.4 Phương pháp nghiên cứu 34

1.4.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 34

1.4.2 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 40

1.4.3 Các phương pháp thu nhập thông tin 41

Tiểu kết chương 1 42

Trang 6

Chương 2 VÙNG BIÊN GIỚI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA MẠNG LƯỚI CHỢ

Ở VÙNG BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG 43

2.1 Vùng biên giới Việt - Trung từ sau 1990 43

2.1.1 Đặc điểm địa hình của vùng biên giới Việt - Trung 43

2.1.2 Giao thông và cơ sở hạ tầng 44

2.1.3 Vùng biên giới Việt - Trung từ sau 1990 45

2.1.4 Tình hình dân cư và dân tộc 48

2.1.5 Chính sách phát triển vùng biên từ sau 1990 50

2.2 Một số đặc điểm của mạng lưới chợ ở vùng biên giới Việt - Trung 51

2.2.1 Hệ thống chợ 51

2.2.2 Đặc điểm phân bố và loại hình 52

2.2.3 Tên chợ, địa điểm và thời gian họp 52

2.2.4 Hàng hoá và phương thức thanh toán 53

2.2.5 Giao tiếp ở chợ 55

2.3 Nhận dạng các chợ được nghiên cứu 56

2.3.1 Chợ Cán Cấu 56

2.3.2 Chợ Cốc Lếu 57

2.3.3 Chợ Lộc Bình 58

2.3.4 Chợ Móng Cái 60

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3 HOẠT ĐỘNG BUÔN BÁN Ở CÁC CHỢ VÙNG BIÊN 62

3.1 Các dòng hàng hoá được mua bán ở chợ vùng biên 62

3.1.1 Cơ cấu hàng hoá 62

3.1.2 Nguồn gốc hàng hóa ở chợ 67

3.1.3 Tính chất hàng hóa của các dòng sản phẩm 70

3.1.4 Đặc điểm tộc người của hàng hoá và buôn bán tại chợ 76

3.2 Dòng tiền ở chợ vùng biên 78

3.3 Dòng người ở chợ vùng biên 81

3.3.1 Người bán hàng do gia đình sản xuất 81

3.3.2 Người buôn bán chuyên nghiệp 83

3.3.3 Người mua hàng và sử dụng dịch vụ 91

Tiểu kết chương 3 93

Trang 7

Chương 4 QUAN HỆ XÃ HỘI VÀ TIẾP XÚC VĂN HOÁ

Ở CHỢ VÙNG BIÊN 94

4.1 Chợ vùng biên như một không gian xã hội 94

4.1.1 Quan hệ thân tộc 94

4.1.2 Quan hệ thân hữu 100

4.1.3 Quan hệ hôn nhân 103

4.1.4 Quan hệ làm ăn 106

4.2 Tiếp xúc văn hoá 108

4.2.1 “Đi chơi chợ”: Chợ như là nơi giao tiếp văn hoá 109

4.2.2 Chợ như một không gian văn hoá 111

4.2.3 Văn hoá ẩm thực ở chợ 112

4.2.4 Vấn đề chợ tình 114

4.2.5 Văn hoá chợ vùng biên và những thách thức đang đặt ra 115

4.3 Tiếp xúc xã hội 116

4.3.1 Mạng lưới thương nhân ở chợ vùng biên 116

4.3.2 Quan hệ xã hội giữa người mua và người bán 119

4.3.3 Xã hội vùng biên nhìn từ chợ 121

Tiểu kết chương 4 124

Chương 5 CHỢ VÙNG BIÊN TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÙNG BIÊN GIỚI 125

5.1 Chợ và phát triển kinh tế địa phương 125

5.1.1 Chợ với đời sống kinh tế của hộ gia đình và địa phương 125

5.1.2 Chợ với phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp vùng biên 129

5.1.3 Chợ với phát triển thương mại và dịch vụ vùng biên 132

5.1.4 Chợ vùng biên và sự hình thành những nguồn sinh kế mới 136

5.2 Chợ và mối quan hệ xã hội ở vùng biên 140

5.2.1 Chợ như một điểm kết nối kinh tế - xã hội ở vùng biên 140

5.2.2 Quan hệ xã hội 141

5.2.3 Phân hoá giàu nghèo 146

Trang 8

5.3 Chợ vùng biên trong đời sống văn hóa 147

5.3.1 Nghề thủ công truyền thống 147

5.3.2 Các hoạt động văn hoá 148

5.4 Chợ vùng biên và chính sách phát triển thương mại vùng biên giới 150

5.4.1 Chương trình phát triển thương mại vùng biên 150

5.4.2 Chính sách phát triển chợ vùng biên 151

5.4.3 Chính sách biên mậu của Trung Quốc và tác động của nó đến cư dân vùng biên 160

5.4.4 Chiến lược sinh tồn của cư dân ở chợ vùng biên 163

5.4.5 Vấn đề buôn lậu và gian lận thương mại ở chợ vùng bên 165

5.5 Dự báo xu hướng phát triển chợ vùng biên 166

5.6 Những ngụ ý thực tiễn cho chính sách phát triển chợ vùng biên 169

Tiểu kết chương 5 171

KẾT LUẬN 172

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 178

TÀI LIỆU THAM KHẢO 180

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các thị trấn vùng biên giới Việt - Trung từ năm 1991 - 2011 46

Bảng 2.2 Các đô thị vùng biên giới trong hệ thống hành chính các tỉnh biên giới Việt - Trung hiện nay 47

Bảng 2.3 Dân số người Kinh ở các tỉnh biên giới Việt - Trung 49

Bảng 3.1 Thống kê ngành hàng và thành phần tộc người ở chợ Cán Cấu 62

Bảng 3.2 Thống kê ngành hàng và thành phần tộc người ở chợ Cốc Lếu 63

Bảng 3.3 Thống kê ngành hàng và thành phần tộc người ở chợ Lộc Bình 64

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vùng biên giới Việt - Trung được coi phên giậu, có vị trí chiến lược quan trọng

về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái, của quốc gia Vì vậy, đây là vùng đất luôn được Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đặc biệt quan tâm trên tất cả các mặt Trong đó, sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội chiếm một vị trí rất quan trọng, tác động lớn đến vấn đề xây dựng ý thức quốc gia cho các tộc người, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tộc người

Từ Đổi Mới đến nay, nhất là khi hai nước Việt Nam - Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, sự mở cửa trở lại và phát triển vùng biên giới Việt - Trung đã tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng này nói riêng, cả nước nói chung Các chợ vùng biên chính là sự thu nhỏ mối quan hệ thương mại, văn hoá, xã hội của cư dân các tộc người ở hai bên biên giới và rộng hơn là mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc

Trong đời sống của các tộc người, chợ là bộ phận chủ chốt đầu tiên, được coi

là tiêu chí chủ đạo, có ảnh hưởng lớn và toàn diện đến sự phát triển kinh tế, ổn định

xã hội Sự phát triển của hệ thống chợ góp phần khuyến khích các hoạt động trao đổi hàng hoá trong vùng, các vùng khác trong cả nước với các hoạt động giao thương xuyên biên giới Điều đó, đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, các vùng lân cận và trong cả nước, đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh và những “đối sánh” nhất định về kinh tế với Trung Quốc

Vùng biên giới Việt - Trung là địa phương đa tộc người, trong đó nhiều tộc người có đồng tộc sinh sống ở Trung Quốc Hơn nữa, các tộc người ở hai bên đường biên có yếu tố tương đồng về lịch sử, văn hóa - xã hội Vì vậy, sự phát triển của hệ thống chợ vùng biên với việc trao đổi hàng hoá và giao lưu văn hóa - xã hội

là một trong những yếu tố quan trọng gắn kết nội bộ tộc người, kết nối các tộc người và tộc người với quốc gia Việt Nam

Trang 12

Dưới tác động ngày càng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, khu vực hóa, các tương tác, giao lưu kinh tế - xã hội giữa các tộc người và quốc gia láng giềng trở nên phổ biến, hệ thống chợ ở vùng biên giới Việt - Trung là một trong những hướng chính đón nhận sự giao lưu này Trong quá trình tương tác đó, sự năng động về kinh tế, văn hoá - xã hội của các tộc người được thể hiện qua các tương tác, trao đổi hàng hóa, giao dịch thương mại và giao lưu văn hóa - xã hội ở trong vùng, liên/xuyên biên giới

Từ những lý do và ý nghĩa nêu trên, nghiên cứu năng động kinh tế - xã hội của các tộc người ở chợ vùng biên giới Việt - Trung là rất cần thiết Nghiên cứu này góp phần giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới Việt - Trung cũng như trong quá trình ổn định và phát triển chung của đất nước

Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài Chợ vùng biên và những năng động kinh tế - xã

hội ở vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay làm chủ đề luận án Qua luận án,

tôi muốn phác thảo hệ thống chợ ở vùng biên giới Việt - Trung như một không gian tương tác, giao lưu kinh tế - xã hội giữa các tộc người ở trong vùng, liên/xuyên biên giới, cũng như chức năng, vai trò và tác động của chợ tới đời sống kinh tế - xã hội của cư dân địa phương trong không gian xã hội vùng biên, dưới tác động của chính sách phát triển vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là nghiên cứu chuyên sâu về những năng động kinh tế - xã hội ở chợ vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay Từ đó, luận án chỉ ra những đặc điểm của hệ thống chợ vùng biên giới Việt - Trung trên cơ sở tìm hiểu các tương tác, trao đổi kinh tế - xã hội và giao lưu văn hóa trong không gian xã hội vùng biên giới cũng như vai trò và tác động của chợ trong đời sống kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển vùng biên giới Việt - Trung Cụ thể làm rõ ba mục tiêu: 1) Chỉ ra đặc điểm của chợ ở vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay 2) Làm rõ sự năng động kinh tế - xã hội ở chợ vùng biên giới Việt - Trung 3) Nhận diện vai trò, tác động của chợ tới đời sống kinh tế, văn hoá - xã hội của

cư dân địa phương, với các mối liên kết về kinh tế, các quan hệ tộc người (QHTN) và

xã hội thông qua chợ và những ngụ ý cho chính sách phát triển ở vùng biên

Trang 13

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1) Làm rõ các đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống chợ ở vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay

2) Nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch, trao đổi và giao lưu về kinh tế, văn hoá -

xã hội của các tộc người ở chợ vùng biên, trong đó, tập trung vào những mối liên kết vùng, quan hệ tộc người, các yếu tố văn hoá - xã hội thông qua sự tương tác ở chợ vùng biên từ 1990 đến nay

3) Phân tích vai trò và tác động của chợ trong đời sống sinh kế các tộc người, dưới tác động của chính sách phát triển biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chợ vùng biên giới Việt - Trung và các hoạt động về kinh tế, văn hoá - xã hội của các tộc người ở chợ vùng biên

Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là những năng động về kinh tế - xã hội ở chợ vùng biên, với các tương tác, trao đổi hàng hoá và các giao lưu văn hóa - xã hội của các tộc người ở chợ vùng biên giới Việt - Trung

Địa bàn nghiên cứu của luận án là 4 chợ thuộc vùng biên giới Việt - Trung là: Cán Cấu (huyện Si Ma Cai), Cốc Lếu (TP Lào Cai) tỉnh Lào Cai; Lộc Bình (huyện Lộc Bình) tỉnh Lạng Sơn; chợ tiền Móng Cái (TP Móng Cái) tỉnh Quảng Ninh Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài từ 1990 đến nay

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu về vùng biên và những vấn đề biên giới đã nhận được sự quan tâm của giới học thuật trên thế giới từ nửa sau thế kỷ XX Ở Việt Nam, vùng biên giới mới chỉ bắt đầu được quan tâm nghiên cứu trong vài chục năm trở lại đây với những đề tài thuộc Viện Dân tộc học, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Học viện Biên phòng, Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về chợ ở Việt Nam và hoạt động buôn bán của các tộc người thiểu số (TNTS) ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) nước ta, trong đó có một số nghiên cứu về chợ từ những góc nhìn khác nhau Song vẫn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu từ góc nhìn Nhân học về tính năng động của chợ đối với phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá tại các địa bàn biên giới nước ta trong bối cảnh cơ

Trang 14

chế thị trường, ngày càng gia tăng các mối quan hệ tộc người xuyên biên giới Do vậy, nghiên cứu này đặt chợ trong không gian xã hội vùng biên giới Việt - Trung để thấy được sự năng động kinh tế - xã hội của cư dân vùng biên và các yếu tố tác động đến sự năng động này Từ đó, làm rõ vai trò và tác động của chợ đối với đời sống kinh tế - xã hội tộc người ở vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay Vì vậy, nghiên cứu này rất có ý nghĩa khoa học, là nguồn tài liệu tham khảo để thảo luận với các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự năng động của kinh tế - xã hội các tộc người ở chợ vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay

ở các địa phương thuộc vùng biên giới nước ta

Chương 3: Hoạt động buôn bán ở các chợ vùng biên

Chương 4: Quan hệ xã hội và tiếp xúc văn hoá ở chợ vùng biên

Chương 5: Chợ vùng biên trong đời sống kinh tế - xã hội địa phương và chiến

lược phát triển vùng biên giới

Trang 15

Chương 1 CHỢ VÙNG BIÊN: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

Đến nay, đã có khá nhiều nghiên cứu về vùng biên và chợ vùng biên dưới góc nhìn của các ngành khoa học như Kinh tế học, Văn hoá học, Sử học Song, vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu về tính năng động của chợ đối với phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá tại các địa bàn biên giới nước ta trong bối cảnh cơ chế thị trường, ngày càng gia tăng các mối quan hệ tộc người xuyên biên giới Hơn nữa, chợ vùng biên là một dạng không gian xã hội, một điểm quan trọng đón nhận những biểu hiện về quan hệ kinh tế, văn hóa - xã hội của hai quốc gia có chung đường biên giới Điều này đã mở ra hướng nghiên cứu thú vị về chợ vùng biên trong không gian kinh tế, văn hoá - xã hội ở vùng biên giới Việt - Trung

1.1 Vấn đề nghiên cứu

Luận án này nghiên cứu đặc điểm của hệ thống chợ ở vùng biên giới Việt - Trung, kết hợp với phân tích những năng động về kinh tế, văn hóa và xã hội ở chợ (thực chất là sự tương tác của con người liên quan đến chợ) từ năm 1990 đến nay trong mối liên hệ với nội địa và xuyên biên giới

Trên cơ sở mô tả những đặc điểm, tính năng động của chợ thông qua các hoạt động mua bán, các mối quan hệ thân tộc, đồng tộc, thông gia, láng giềng ở trong và ngoài nước trong quá trình tương tác kinh tế, văn hoá - xã hội ở chợ Đồng thời, làm rõ thêm vấn đề bản sắc tộc người trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa của các cộng đồng cư dân qua mối liên hệ với chợ trong bối cảnh kinh tế - xã hội ở vùng biên giới Việt - Trung hiện nay

Qua đó, tìm hiểu vai trò và tác động của chợ đối với đời sống kinh tế, văn hoá

- xã hội các tộc người ở vùng biên

Như vậy, vấn đề nghiên cứu chính của luận án này là đưa ra một phác thảo về mạng lưới chợ vùng biên trong không gian kinh tế, tiếp xúc và tương tác về xã hội và văn hóa giữa các cộng đồng cư dân cũng như đặc điểm, vai trò và tác động của chợ trong không gian kinh tế - xã hội vùng biên

Trang 16

1.2 Lịch sử nghiên cứu

1.2.1 Vùng biên và biên giới Việt - Trung

Các nghiên cứu về vùng biên bắt đầu từ năm 1976, với sự xuất hiện của Hội

Nghiên cứu vùng biên (Asociation for Borderlands Studies, ABS) được thành lập

trên cơ sở một nhóm các nhà nghiên cứu về biên giới Mỹ - Mexico Hiệp hội này đã

tổ chức các hội nghị khoa học thường niên về vùng biên và năm 1986 cho ra đời

Tạp chí Nghiên cứu vùng biên (Journal of Borderlands Studies) Từ năm 1990 trở

đi, các nghiên cứu về vùng biên mới thực sự bùng nổ, do những biến động lớn về chính trị trên thế giới trong mấy thập kỷ qua Đó là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, quá trình hội nhập của cộng đồng chung châu Âu, sự kiện khủng bố ngày 11/9 ở Mỹ và quan trọng hơn nữa là sự thúc đẩy mạnh mẽ của tiến trình toàn cầu hóa trên thế giới Kể từ đó, những khẩu hiệu mang tính chính trị

và lý tưởng như “thế giới vô biên”, “hồi kết của quốc gia dân tộc”, “thế giới của các dòng chảy” hay “xã hội dân sự toàn cầu”, thường được nhắc đến, nhấn mạnh sự thay đổi ý nghĩa của biên giới quốc gia truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa và

sự nổi lên của thời hậu hiện đại mới (Liikanen, 2016, tr.18; Wolputte, 2013, tr 5) Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, sự quan tâm của các học giả đối với vùng biên không chỉ bởi những biến động chính trị nêu trên mà còn bởi họ chứng kiến biên giới toàn cầu không những giảm đi mà còn gia tăng Toàn cầu hóa kinh tế làm gia tăng các dòng chảy về con người, tài chính, công nghệ, ý tưởng và các nguồn lực nhưng

cũng tạo ra những bất bình đẳng mới (Wolputte, 2013, tr.5-6)

Dưới tác động của quá trình hội nhập chung châu Âu và nhờ cảm hứng từ các thảo luận về vùng biên khu vực Bắc Mỹ, một mạng lưới nghiên cứu về vùng biên

chuyển đổi (Border Regions in Transition) ở châu Âu được hình thành, làm xuất hiện

một loạt các hội thảo và ấn phẩm về chủ đề này Từ hội thảo đầu tiên tổ chức ở Berlin năm 1994, đã có 10 hội thảo về vùng biên tổ chức ở nhiều nước trong khối Cộng đồng chung châu Âu, tập hợp các nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới Có thể kể

đến một số ấn phẩm như: Borders and Border Regions in Europe and North America [Biên giới và các vùng biên giới ở châu Âu và Bắc Mỹ] (1997); Curtains of Iron and

Gold Reconstructing Borders and Scales of Interaction [Bức rèm sắt và vàng Tái

Trang 17

cấu trúc biên giới và quy mô tương tác] (1999); Cooperation, Environment and

Sustainability in Border Regions [Hợp tác, môi trường và bền vững ở các vùng biên]

(2001); Mapping Borders between Territories, Discourses and Practices [Vạch ra đường biên giữa các lãnh thổ, diễn ngôn và thực hành] (2003); Enlargement, Region

Building and Shifting Borders of Inclusion and Exclusion [Sự mở rộng, xây dựng

vùng và dịch chuyển các biên giới] (2006); Đặt trong bối cảnh các quốc gia châu

Âu hội nhập chung vào một cộng đồng, mối quan tâm chính của các học giả tại các hội nghị, những công trình này là xem xét các vùng biên, sự phát triển vùng, những vấn đề của hợp tác xuyên quốc gia và tương tác xuyên biên giới Ngoài ra, vấn đề tồn tại dai dẳng của cách phân chia các quốc gia, đế chế cũ hay quá trình phân chia ranh giới ở các cấp độ vùng, quốc gia, siêu quốc gia cũng được đặt ra (trích trong Liikanen, 2016, tr.19-20)

Theo đánh giá của Baud và Van Schendel, các nghiên cứu về vùng biên từ trước đến cuối những năm 1990 chủ yếu tập trung vào các khía cạnh mang tính pháp lý, địa chính trị và địa lý học trong việc tạo ra vùng biên và hậu quả của nó (Baud và Van Schendel, 1997, tr.212) Điều này cũng dẫn tới việc trước kia các

nghiên cứu thường tiếp cận theo trường phái khởi nguyên luận (Primordial), cho

rằng các đường biên lãnh thổ xoay chuyển giữa các nhà nước một cách hiển nhiên (Zhang Juan, 2011, tr.52) và theo hướng lấy nhà nước là trung tâm (Baud và Van Schendel, 1997, tr.212) Các nhà nghiên cứu về sau này đã kêu gọi cần có sự chuyển hướng theo tiếp cận từ ngoại vi Thay vì tập trung vào diễn ngôn, ý đồ của Nhà nước Trung ương, các nghiên cứu nên xem xét thực tế đời sống bị tác động bởi Nhà nước Người dân địa phương, giới lãnh đạo địa phương cũng như các chủ thể trong sự tương tác ở vùng biên cần được đặt trong phân tích với vai trò quan trọng như Nhà nước Nghiên cứu vùng biên không chỉ là vấn đề về chính trị hay kinh tế

mà còn là vấn đề văn hóa và xã hội Cũng từ cuối thập niên 1990, ngày càng nhiều học giả bắt đầu nhìn nhận biên giới như một sự kiến tạo lãnh thổ - xã hội, nơi thể hiện những mâu thuẫn, đối nghịch giữa sự đòi hỏi nguyên tắc, cứng nhắc về biên giới quốc gia và dòng chảy con người vốn mềm dẻo, linh hoạt (Zhang, 2011, tr.52) Gần đây, hai công trình được xem là có ảnh hưởng trong giới nghiên cứu về vùng

Trang 18

biên trên thế giới là The Ashgate research companion to border studies (Cẩm nang

nghiên cứu biên giới của Ashgate) (Wastl-Walter, 2011) và A companion to border studies [Cẩm nang nghiên cứu biên giới] (Wilson & Donnan chủ biên, 2012)

Nghiên cứu thứ nhất là sự tập hợp các nghiên cứu từ nhiều ngành khác nhau như Nhân học, Nghiên cứu phát triển, Địa lý học, Sử học, Khoa học chính trị và Xã hội, tìm hiểu quá trình chuyển đổi bản sắc văn hóa và quốc gia do sự năng động, dịch chuyển của biên giới Nghiên cứu đã đưa ra một cái nhìn mang tầm quốc tế, trở thành cẩm nang cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về vùng biên; phản ánh sự cần thiết phải hiểu được các đặc điểm riêng của biên giới và vùng biên như hợp tác xuyên biên giới, an ninh và kiểm soát, di cư và biến động dân số, chủ nghĩa xuyên quốc gia Nghiên cứu thứ hai cho rằng trải qua lịch sử, chức năng và vai trò của biên giới đã liên tục thay đổi Vùng biên chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh thực tế, được định hình bởi lịch sử, chính trị và quyền lực cũng như các vấn đề văn hóa, xã hội Vì vậy, biên giới là hiện tượng xã hội và không gian phức hợp không hề tĩnh tại, mà là trung tâm kinh tế - xã hội năng động

Điểm lại các nghiên cứu trên thế giới cho thấy sự hình thành mối quan tâm, lĩnh vực nghiên cứu biên giới, vùng biên gắn liền với những biến động về chính trị trên thế giới Những chuyển hướng trong cách tiếp cận, khái niệm, chủ đề nghiên cứu về vùng biên trên thế giới rất có giá trị tham khảo đối với đề tài luận án này, đặc biệt là phần thảo luận về khái niệm và lý thuyết tiếp cận - sẽ được trình bày ở mục sau

Ở khu vực châu Á, mối quan tâm về vùng biên giới giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á cũng được thể hiện ở một số hội thảo và công trình

lớn Có thể kể đến Where China Meets Southeast Asia: Social and Cultural Change

in the Border Regions [Nơi Trung Quốc gặp gỡ Đông Nam Á: Biến đổi văn hóa xã

hội ở các vùng biên giới] do Evans, Hutton, Eng chủ biên (2000) Cuốn sách cung cấp cho người đọc các điều kiện xã hội từ sau mở cửa biên giới đầu thập niên 1990 như là sự tiếp nối của những thay đổi trong chính sách kinh tế của nhiều nước trong khu vực như: Trung Quốc, Việt Nam và Lào Mỗi chương trong cuốn sách giới thiệu

về nghiên cứu một vùng biên, một vấn đề cụ thể, từ đó đưa ra một bức tranh về biến đổi văn hóa, xã hội ở các vùng biên giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á

Trang 19

Gần đây, một hội thảo tiếp cận từ góc nhìn Dân tộc học về sinh kế và mạng lưới xuyên quốc gia ở Lào và Việt Nam được tổ chức ở Hà Nội, đã xuất bản một số chuyên đề về kinh tế hàng hóa ở vùng biên các nước xã hội chủ nghĩa hậu kỳ ở

Đông Nam Á trên tạp chí Asia Pacific Viewpoint (số 57, vol 2, 2016) Các bài viết

này tập trung tìm hiểu quá trình tham gia vào kinh tế hàng hóa của các cư dân vùng biên của Việt Nam và Lào, sự hội nhập của các tộc người vùng biên vào các dòng chảy hàng hóa, mạng lưới quy mô nhỏ Các tác giả cho thấy, vai trò quan trọng của các dòng chảy hàng hóa quy mô nhỏ này đối với sinh kế cũng như các vấn đề và thách thức đang đặt ra đối với cư dân địa phương (Taylor, 2016)

Chủ đề vùng biên của khu vực Châu Á cũng đã được chọn làm luận án tiến sĩ

và xuất bản như The Legend of the Golden Boat: Regulation, Trade and Traders in

the Borderlands of Laos, China, Thái Land and Burma [Truyền thuyết về con

thuyền vàng: Quy định, thương mại và người buôn bán ở vùng biên giới Lào, Thái Lan và Miến Điện] (Walker, 1999) Trong công trình này, tác giả đã xem xét lịch sử chi tiết về thương mại tại vùng biên của Lào từ thế kỷ XVIII đến đương đại và nhận định rằng vùng biên của Lào không phải là những vùng bị tách biệt về kinh tế, thay vào đó là những năng động trong hoạt động thương mại Qua nghiên cứu, tác giả cũng chỉ ra rằng, với việc nghiên cứu kỹ lịch sử địa phương vùng ngoại vi cho thấy một bức tranh sinh động về kinh tế - xã hội hơn là những nghiên cứu theo hướng tiếp cận trung tâm trước đó mang lại

Xu hướng xem xét vùng núi Đông Nam Á và Nam Trung Quốc như một khu

vực “Phi nhà nước” (Non-state space), gọi là “Zomia” (Van Schendel, 2002) trở thành

chủ đề quan tâm của giới học thuật trong nhiều thập kỷ qua Jean Michaud (2010) là một trong số các học giả về châu Á hưởng ứng tích cực khái niệm Zomia Ông đã có một xuất bản gần đây thảo luận về khái niệm Zomia - vùng núi cao Đông Nam Á Tác giả cho rằng con người và không gian luôn giao nhau bằng nhiều hình thức rất đa dạng Khoảng cách địa lý tương đương với sự cô lập về kinh tế và chính trị Chính sự

cô lập đó trở thành một công cụ phân loại quyền hạn của con người mà theo James Scott (2009), các nhóm cư dân như vậy ẩn náu ở những vùng hẻo lánh để thoát khỏi

sự đồng hoá, tiêu diệt, hoặc thậm chí loại bỏ ý thức “tiểu bang” Do đó, Michaud

Trang 20

muốn xem xét lại sự thật trong một số nghiên cứu ở vùng cao nguyên Đông Nam Á, dưới ánh sáng của các cuộc tranh luận hiện tại về khái niệm gây tranh cãi: Zomia Michaud cũng muốn đóng góp cho các nghiên cứu về DTTS từ phương diện quốc gia, nên mở rộng vô hạn chứ không thể bó hẹp trong những ranh giới lịch sử, hệ tư tưởng

và chính trị của các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc và bán đảo Đông Nam Á

Trong hội thảo Asian Borderlands: Enclose, Interaction and Transformation

[Vùng biên châu Á: Sự bao gồm, tương tác và chuyển đổi] tổ chức từ ngày 7/11/2010 tại Chiangmai (Thái Lan), nhiều học giả đã đóng góp, thảo luận làm sáng tỏ hơn về khái niệm Zomia Sara Shneiderman (2010) trong bài “Cao nguyên Himalaya có thuộc Zomia? Một số cân nhắc trên phương diện học thuật và chính trị, theo thời gian và không gian”, đã xem xét khả năng áp dụng khái niệm Zomia cho nghiên cứu khoa học xã hội ở vùng Himalaya Mặc dù trên cả lý do thực tế lẫn chính trị, thuật ngữ Zomia có thể không hoàn toàn phù hợp với cao nguyên Tây Tạng, song như cách mà James Scott đã sử dụng, tính “lưu thông” về dân tộc, quốc gia và tôn giáo của các cộng đồng vùng cao có liên quan mật thiết đến nhà nước mà họ tham gia Điều này có thể là có ý nghĩa lớn đối với vùng Tây Tạng Sarah Turner (2010) cũng là một trong số các học giả áp dụng khái niệm Zomia trong nghiên cứu thực nghiệm của mình Trong nghiên cứu Biên giới và định hướng vùng biên: đường biên giới Việt - Trung hình thành như thế nào? Thách thức và cơ hội cho tiểu thương vùng cao, đã phân tích sự hình thành, củng cố đường biên cũng như các phân tích lịch đại về tộc người và các giao dịch về thương mại ở vùng biên giới quốc gia giữa các tỉnh Vân Nam, Tây Nam Trung Quốc và Lào Cai, miền Bắc Việt Nam thể hiện cả những thách thức và cơ hội cho phát triển sinh kế người dân địa phương ở hai bên, gồm người Kinh (Việt Nam), người Hán và các DTTS khác

5-Các nghiên cứu về vùng biên Đông Nam Á có xu hướng cho rằng khu vực rộng lớn này có những đặc trưng khác biệt, trong đó cư dân thích ứng với lối sống

và hệ canh tác nông nghiệp ở vùng núi, rất đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ nhưng

có điểm chung là nhiều tộc người đến định cư ở khu vực này do phải trốn tránh sự bành trướng của các nhà nước dân tộc, nhất là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán Các

Trang 21

cư dân đó có xu hướng thiên về cố kết tộc người thay vì hội nhập vào quốc gia dân tộc mà mình đang sinh sống Các nhà nghiên cứu như Michaud và Turner (2008) đã nhấn mạnh luận điểm cho rằng các tộc người xuyên biên giới, tiêu biểu như người Hmông, quan tâm nhiều hơn đến các mối liên hệ nội tộc của mình thay vì hội nhập sâu vào quốc gia dân tộc mà họ đang sinh sống Phân tích của các nhà nghiên cứu này dường như đang cổ súy cho một cách nhìn khu vực biên giới như những dòng chảy năng động của dân số và xã hội thay vì nhìn nó như những rào cản Khái niệm Zomia, dù còn nhiều tranh cãi nhưng cũng được xem như một cách tiếp cận bổ sung trong việc nghiên cứu về các xã hội vùng cao ở khu vực Đông Nam Á

Chính sách vùng biên, ngay sau khi bình thường hóa quan hệ, nhiều chính sách

và chương trình phát triển vùng biên của Việt Nam được thực hiện Các chính sách dân tộc của Việt Nam thời hiện đại đã được triển khai trên cơ sở tổng kết một số chính sách và giải pháp có hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội vùng biên, đặt trong sự so sánh với các chính sách dân tộc của Trung Quốc thời hiện đại (Đằng Thành Đạt, 2006, tr.11) Nghiên cứu của Đằng Thành Đạt mang lại một cái nhìn so sánh về chính sách dân tộc, nhưng nó không tập trung vào vấn đề vùng biên Hơn nữa, nghiên cứu này chủ yếu phân tích chính sách mà không quan tâm nhiều đến quá trình thực hiện và tác động của chính sách tới đời sống kinh tế - xã hội của cư dân Về mặt lý luận, các chương trình phát triển ở vùng biên giới Việt - Trung của Việt Nam

từ sau 1990 tập trung vào việc khuyến khích cư dân định cư ổn định, quy hoạch vùng biên giới, nhấn mạnh vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khu kinh tế cửa khẩu và các

đô thị, tăng cường giao thương xuyên biên giới, đồng thời phát triển dự án xóa đói giảm nghèo ở các xã khó khăn theo Chương trình 134,135 và một số chương trình dự

án khác Bên cạnh đó, chương trình phát triển vùng biên của Trung Quốc lại tập trung vào chính sách “Hưng biên phú dân” và tăng cường cơ sở vật chất, vốn ưu đãi để phát triển kinh tế vùng biên (Vương Xuân Tình, 2010, tr.36-38) So với chính sách dân tộc của Trung Quốc, chính sách dân tộc của Việt Nam còn chưa cụ thể hoá xuống từng địa phương, thiếu trọng tâm và chính sách đặc thù, chưa tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, trong khi đó chính sách dân tộc của Trung Quốc lại mang tính chiến lược, tập trung vào xoá đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội với nội dung cụ thể

Trang 22

và nguồn vốn tập trung, có trọng tâm, trọng điểm đã giải quyết triệt để các khó khăn ở vùng biên giới (Trần Thị Mai Lan, 2011, tr.122-123) Tuy nhiên, kết quả thực hiện chính sách dân tộc đã có tác động tích cực tới kinh tế - xã hội của vùng biên giới Tây

Bắc (Trần Văn Hà, 2014, tr.92)

Kinh tế biên mậu, các hoạt động buôn bán ở biên giới Việt - Trung có từ rất

sớm, được tạo nên bởi các yếu tố lịch sử, tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa, tộc người (Nguyễn Minh Hằng, 2003) Các hoạt động buôn bán thời kỳ này diễn ra tại các “bác dịch trường” (trung tâm trao đổi hàng hóa) đã được chính quyền nhà Lý và triều Tống mở ra trên biên giới Đại Việt - Tống để phục vụ nhu cầu trao đổi sản vật, vàng bạc và các mặt hàng quý hiếm (Nguyễn Hữu Tâm, 2011) Sự phát triển của các chợ biên giới, cửa khẩu đã tác động tới nền kinh tế hàng hóa cũng như thúc đẩy các hoạt động giao thương trong cả nước (Phạm Văn Linh, 2001) Các tộc người ở hai bên đường biên giới có những tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, đây là điều kiện thuận lợi để tăng cường các trao đổi và giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội (Đặng Thanh Phương, 2009) Hơn nữa, con đường buôn bán qua biên giới giữa Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) có từ rất sớm trong lịch

sử, tác động tới sự hình thành và phát triển của các đô thị vùng biên Lào Cai Từ khi quan hệ Việt -Trung bình thường hóa, các hoạt động buôn bán giữa Lào Cai và Vân Nam ngày càng tăng cường, kim ngạch thương mại không ngừng gia tăng, tác động đến quan hệ dân tộc, phân hóa giàu nghèo (Trần Hữu Sơn, 2009, tr.58) Từ 1990 đến nay, các khu cửa khẩu và kinh tế cửa khẩu phát triển tác động tới kinh tế - xã hội của các tộc người ở hai bên biên giới, đặc biệt là sự năng động về dân số của người Hoa cũng như những tác động kinh tế biên mậu tới đời sống của các tộc người (Nguyễn Thị Hiên, 2014) Sự phát triển của kinh tế biên mậu thu hút sự tham gia của các tộc người vào các hoạt động ở chợ biên giới, lao động làm thuê và các dịch vụ khác, nổi lên vai trò của người Kinh ở các chợ cửa khẩu và các TNTS ở khu vực dịch vụ, đồng thời, tăng cường giao lưu hàng hóa, sự gắn kết các tộc người thông qua mối quan hệ thân tộc, đồng tộc của cư dân vùng biên (Trần Hồng Thu, 2013, tr.24-25)

Với các nghiên cứu về vùng biên, Sarah Turner (2010) và Zhang Juan (2011) đề cập đến những trải nghiệm hàng ngày của tiểu thương vùng cao, qua đó cho thấy cách

Trang 23

thích nghi với những thay đổi kinh tế, chính sách lớn của Nhà nước So với trước năm

1979, biên giới Việt - Trung đã có rất nhiều thay đổi, điều này tạo nên cả cơ hội lẫn thách thức cho các tiểu thương và kinh nghiệm trên 3 phương diện: cảm thức không gian - thời gian, chiến lược thích nghi và các hoạt động cụ thể Hoạt động kinh tế biên mậu của cư dân Việt Nam gồm mậu dịch chính ngạch, tiểu ngạch và buôn bán của các

cư dân biên giới, các dạng dịch vụ xuất nhập khẩu khác như chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, (Hoàng Thanh Vân, 2003) Kinh tế biên mậu của các tộc người ở biên giới Việt - Trung rất sôi động, với các hoạt động buôn bán tại chợ biên giới và cửa khẩu cùng với dịch vụ như lưu trú, vận chuyển hàng hóa, bưu chính viễn thông, đổi tiền, ăn uống, đã thu hút hầu hết các tộc người trong vùng và người Kinh ở các vùng miền trong cả nước, tạo động lực phát triển cho hoạt động kinh tế biên mậu, nhất là từ 1990 đến nay (Bùi Xuân Đính, Nguyễn Ngọc Thanh, 2013) Cùng với các TNTS trong vùng, người Tày đã tham gia vào quá trình phát triển kinh tế biên mậu với các hoạt động buôn bán tại chợ cửa khẩu, phát triển các dịch vụ cho thuê phòng trọ, cửu vạn, bốc vác, hàng ăn, Những hoạt động kinh tế này đã có tác động tới quá trình chuyển đổi kinh tế của người Tày ở tỉnh Lạng Sơn từ Đổi Mới đến nay (Phạm Thị Thu Hà, 2012) Bên cạnh đó, người Kinh cũng từng bước thích nghi với nền nông nghiệp ở vùng biên giới Việt - Trung (Bùi Xuân Đính, 2009b) và có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững các tỉnh biên giới ở khu vực phía Đông Bắc (Bùi Xuân Đính, 2009a) Người Kinh là lực lượng chủ đạo tại các trung tâm thương mại, cửa khẩu và chợ biên giới, thúc đẩy ngành dịch vụ và du lịch phát triển, đồng thời là động lực trong phát triển kinh tế vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay (Tạ Thị Tâm, 2018)

Trong cuốn Sinh kế ở vùng biên: Người Hmông ở biên giới Việt - Trung

(Turner, Bonnin & Michaud, 2015) đã giới thiệu nét cơ bản về hoạt động sinh kế của người Hmông ở vùng biên giới Việt - Trung, nhấn mạnh luận điểm cho rằng các tộc người xuyên biên giới, tiêu biểu như người Hmông, quan tâm nhiều hơn đến các mối liên hệ nội tộc người thay vì hội nhập sâu vào quốc gia dân tộc mà họ đang sinh sống Như đã trình bày, phân tích của các nhà nghiên cứu này dẫn tới việc cổ súy cho một cách nhìn khu vực biên giới như những dòng chảy năng động của dân số và

xã hội thay vì nhìn nó như những thách thức đối với phát triển kinh tế

Trang 24

Tiếp mạch nghiên cứu về sinh kế, bài viết Sinh kế nơi biên cương: Sự thích

ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt - Trung (Turner và Michaud, 2016) đề

cập đến những cơ hội khác nhau của người Hmông ở vùng biên giới Việt - Trung đã nắm bắt để tạo ra các sinh kế thích ứng Họ đã lựa chọn sinh kế cho mình không chỉ làm theo mà còn biết phản kháng sự hội nhập thị trường quá nhanh và những ý tưởng hiện đại đều mang tính trao đổi Điều đặc biệt, nghiên cứu còn chỉ ra, cộng đồng người Hmông vùng biên giới Việt - Trung đang lựa chọn và tạo ra sinh kế phù hợp với văn hóa, xã hội địa phương trong quá trình hiện đại hoá

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Endres (2016, 2017, 2019) cũng đề cập đến những tương tác ở vùng biên giới Việt - Trung, qua phân tích các hoạt động trao đổi, buôn bán ở khu vực chợ, cửa khẩu, quan hệ giữa người dân và chính quyền thông qua các tương tác ở vùng biên giới

Quan hệ tộc người xuyên biên giới, với nghiên cứu trường hợp người Hà Nhì

ở xã Y Tý, Bát Xát, Lào Cai trong bối cảnh lịch sử tộc người, kinh tế - xã hội của vùng biên giới Việt - Trung nổi lên trên các phương diện quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội, có tính chất tất yếu, đó là quan hệ gia đình dòng họ xuyên biên giới, hôn nhân xuyên biên giới, quan hệ bạn bè xuyên biên giới chủ yếu với đồng tộc, quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở chiều cạnh kinh tế diễn ra trong trao đổi, mua bán hàng hóa Hơn nữa, mối quan hệ giữa các thương nhân, người mua và người bán trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường đã khiến cho việc sử dụng hàng hóa của người dân khá đa dạng (Vương Xuân Tình, 2010) Cùng với đó, quan hệ dân tộc của người Lô Lô cũng diễn ra ở chiều cạnh kinh tế, văn hóa - xã hội và có tác động tới sự phát triển của vùng biên giới Việt - Trung (Phạm Đăng Hiến, 2008)

Gần đây, đề tài Quan hệ dân tộc xuyên quốc gia của một số tộc người vùng

miền núi phía Bắc (Lý Hành Sơn và Trần Thị Mai Lan, Chủ biên, 2017), đã khái

quát về các dân tộc miền núi phía Bắc, nhận diện thực trạng quan hệ dân tộc xuyên quốc gia của một số tộc người trong vùng Các quan hệ này được biểu hiện qua hoạt động kinh tế (quan hệ trao đổi giống cây trồng, vật nuôi; mua bán qua đường biên giới; làm thuê qua đường biên giới; xâm canh, thuê đất sản xuất qua đường biên giới), quan hệ tộc người (họ hàng, láng giềng và hôn nhân) và văn hóa tộc người, an ninh quốc phòng,

Trang 25

Bên cạnh đó, vấn đề di cư ở vùng biên giới Việt - Trung được một số nhà

nghiên cứu nước ngoài quan tâm, cụ thể Kinh nghiệm di cư qua biên giới ở tỉnh Lạng

Sơn, Bắc Việt Nam (Donald Hickerson, 2012) Nghiên cứu này đã đề cập đến hoạt

động xuyên biên giới đem lại nhiều cơ hội, cũng như rủi ro cho phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển trong việc tìm kiếm sinh kế và những rào cản chính sách đang hạn chế những dòng di cư này Do vậy, phụ nữ nghèo thường phải nhờ đến các mối quan hệ xã hội để giúp họ đi qua biên giới, tìm kiếm việc làm, tránh bị lừa đảo và ổn

định cuộc sống Với Nghiên cứu trường hợp lao động nam di cư xuyên biên giới Việt

- Trung: Động năng, trải nghiệm và các vấn đề về sức khoẻ (Nguyễn Song, 2017), đã

đề cập tới hiện tượng nam di cư lao động xuyên biên giới Việt - Trung không có giấy phép, những nguy cơ tiềm ẩn mà họ phải đối mặt, quá trình kết nối xã hội và sự hoà nhập cuộc sống

Vấn đề hôn nhân xuyên biên giới Việt - Trung, được một số học giả trong và ngoài nước quan tâm như Caroline (2012), nghiên cứu hôn nhân xuyên biên giới ở

TP Móng Cái và TP Lào Cai thông qua nghiên cứu một số gia đình tiểu thương ở vùng biên giới Việt - Trung Qua nghiên cứu của Caroline thấy rằng có sự tương đồng giữa các thành phố vùng biên Việt Nam và Trung Quốc, ví dụ như Móng Cái và Đông Hưng, Lào Cai và Hà Khẩu Bên cạnh đó, hôn nhân xuyên biên giới xuất hiện nhiều ở các gia đình buôn bán Các mối quan hệ trong hôn nhân đã phản ánh không gian xã hội và sự đa dạng văn hoá ở vùng biên giới Việt - Trung Hơn nữa, hôn nhân xuyên biên giới gắn với vấn đề phát triển xã hội ở các địa bàn vùng biên giới nước ta (Đặng Thị Hoa, 2017)

Bên cạnh đó, văn hóa và các yếu tố tộc người là trụ cột thứ 4 trong phát triển bền vững ở các vùng biên giới của Việt Nam Đặc biệt là những tác động của yếu

tố văn hóa tộc người đến phát triển kinh tế, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng và tác động của toàn cầu hóa và quan hệ dân tộc xuyên biên giới (Vương Xuân Tình, Chủ biên, 2014)

Như vậy, các nghiên cứu về vùng biên kể đến ở trên đã tập trung đến các vấn

đề lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, quan hệ tộc người, văn hóa trong phát triển,…

Trang 26

1.2.2 Nghiên cứu chợ và chợ vùng biên

Ở đồng bằng, chợ có từ rất sớm, gắn với mỗi đơn vị làng xã cụ thể và đặt trong không gian kinh tế - xã hội của làng Bằng tiếp cận Dân tộc học/Nhân học cùng với cách tiếp cận liên ngành, các nhà nghiên cứu đã có các phát hiện khoa học giá trị, nhất là lý giải về mối quan hệ chợ làng với xã hội, tôn giáo và hoạt động buôn bán giao lưu trao đổi hàng hóa ở nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Đức Nghinh 1979; 1980; 1981; Nguyễn Đức Nghinh, Trần Thị Hòa, 1981; Diệp Đình Hoa, Bùi Xuân Đính, 1983) Sự gắn kết của làng ở đồng bằng Bắc Bộ với buôn bán, là phương thức mưu sinh của các làng ở đồng bằng Bắc Bộ, với mô hình làng đi buôn, lấy việc buôn bán làm nghề và nguồn sống chính (Nguyễn Quang Ngọc, 1993)

Từ khi Đổi Mới, chợ ở châu thổ sông Hồng có sự chuyển đổi, gắn với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, thu hút các thành phần kinh tế tư nhân tham gia vào thị trường Điều đó cho thấy, mạng lưới chợ quê đang có những thay đổi, tạo đột phá trong chuyển đổi nền kinh tế hàng hoá ở nông thôn Việt Nam (Lê Thị Mai, 2004) Bên cạnh đó, sức sống và năng động của nền kinh tế hàng hóa cùng với truyền thống thương nghiệp của một làng phi nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ, tiêu biểu cho sức sống và sự năng động của nền kinh tế hàng hóa và quá trình chuyển đổi thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa (Nguyễn Giáo, 2016) Dưới góc nhìn Lịch

sử, công trình Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia (Trịnh Khắc Mạnh, Chủ

biên, 2016), sưu tầm và dịch các văn bia ghi lại thời gian thành lập, đặc điểm của các chợ truyền thống ở Việt Nam Sự phát triển của kinh tế hàng hóa cùng với sở hữu tư nhân là những hạt giống đầu tiên cho sự phát triển kinh tế thị trường, kinh doanh quy

mô nhỏ và chuyển đổi đô thị cùng với sự tái cấu trúc không gian đô thị kể từ Đổi Mới đến nay Tuy nhiên, một số tiểu thương đã bị lề hoá ngay trên chính không gian sinh tồn và đang thích nghi với những vấn đề chuyển đổi, đồng thời chỉ ra vai trò của chợ truyền thống với hoạt động buôn bán nhỏ và tác động của nó tới cấu trúc không gian

đô thị (Kirsten, 2014) Hơn nữa, tư nhân hóa và tính năng động của thị trường mang tính chất giới thể hiện ở sự phát triển và quá trình chuyển đổi thị trường sâu sắc đang diễn ra nhanh chóng ở một làng phi nông nghiệp, từ đó cho thấy mối quan hệ của chợ làng với kết cấu kinh tế, xã hội tiểu nông cùng với vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cộng đồng (Esther, 2014)

Trang 27

Ở vùng biên giới Việt - Trung, các hoạt động trao đổi hàng hóa của cư dân trong vùng, và với bên kia biên giới được tiếp nối từ lịch sử đến hiện nay (Nguyễn Minh Hằng, 2003) Với cơ cấu đa dạng, phong phú thể hiện qua các đặc trưng của hàng hoá

ở chợ vùng biên cùng với những chính sách Đổi Mới kinh tế đã tạo luồng gió mới thúc đẩy kinh tế hàng hóa ở chợ vùng biên phát triển đồng thời, tác động tới hệ thống chợ trong vùng (Lê Đức Hùng, 2000) Chợ là nơi hội tụ, trao đổi hàng hóa của các tộc người trong vùng, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đang tạo động lực cho sản xuất và các trao đổi xã hội (Bế Văn Hậu, 2005, tr.151) Ngoài ra, chợ vùng biên còn

là không gian thị trường và sự tiếp nối của các siêu thị hiện đại trong bối cảnh thương mại hóa vùng biên (Nguyễn Hồng Thái, 2004) Tương tự với tiếp cận về chợ vùng biên đã nói ở trên, Schoenberger and Tunner (2008) đã thảo luận về mạng lưới và hoạt động buôn bán xuyên biên giới của cư dân miền núi phía Bắc Việt Nam Nghiên cứu này đã chỉ ra các quan hệ xã hội và cách mà người dân vùng biên giới thỏa thuận với các thể chế thị trường vùng biên một cách thực tế, để tăng cường buôn bán với cư dân vùng Tây Nam Trung Quốc, vốn là nguồn sinh kế quan trọng họ Thông qua các nguồn hàng cụ thể, mỗi mặt hàng có quy định riêng, cách điều phối và thỏa hiệp riêng, thực hiện bởi các nhóm người khác nhau, chợ vùng biên và các hoạt động buôn bán thương mại được tiếp cận bởi một tập hợp các cấu trúc xã hội đa dạng và phức tạp, bao gồm không chỉ chính sách của Nhà nước mà còn các quan hệ xã hội của các tộc người và những biến đổi theo vùng địa lý, cơ hội về kinh tế Hơn nữa, mạng lưới chợ không chỉ thúc đẩy lưu thông hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà còn củng cố mối liên hệ dân tộc (Ngô Thị Cẩm Thương, 2015)

Luận án tiến sĩ của Christine Bonnin Markets in the Mountains: Upland

Trade - scapes, Trader Livelihoods, and State Development Agendas in Northern Vietnam (2011), đã nghiên cứu tại 15 chợ của 5 huyện thuộc tỉnh Lào Cai Nghiên

cứu này chỉ ra rằng, trái với định kiến về vị thế ngoại vi của các tộc người vùng cao, người Hmông và Dao ở Lào Cai rất năng động trong việc biến các sản phẩm hàng hóa truyền thống của mình trở thành các mặt hàng trao đổi, phát triển sinh kế của

họ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, chính sách phát triển chợ vùng cao của Nhà nước gần đây lại áp dụng mô hình chợ đồng bằng, chú trọng phát triển du lịch,

Trang 28

song chưa chú ý tới giá trị văn hoá tộc người của người dân địa phương nên chỉ mang lại lợi ích cho những người đã có lợi thế ở chợ từ trước Nghiên cứu của Bonnin cũng nhấn mạnh đến cách tiếp cận mạng lưới vốn xã hội và sự trợ giúp lẫn nhau trong buôn bán của người dân địa phương Những hoạt động này chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống trao đổi và là những cách tiếp cận cần được quan tâm nhiều hơn trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội ở vùng cao (Bonnin, 2014) Các hoạt động buôn bán ở chợ Móng Cái đặt các tiểu thương phải vượt qua thách thức và cho thấy sức sống và tính năng động của các hoạt động thương mại ở vùng biên này (Caroline, 2014) Tuy nhiên, sự chuyển đổi từ mô hình chợ truyền thống sang mô hình chợ hiện đại hoặc các Trung tâm thương mại có nhiều điểm chưa phù hợp với sinh hoạt văn hoá cũng như tập quán của các TNTS, dẫn đến hàng loạt chợ xây dựng kiên cố rơi vào tình trạng bỏ hoang (Trần Hữu Sơn, 2014)

Những năm gần đây, chợ vùng biên nhận được sự quan tâm nhiều hơn của giới Dân tộc học/Nhân học trong và ngoài nước Đặc biệt, các nghiên cứu đã xem xét chợ vùng biên trong quá trình chuyển đổi, dưới tác động của các chính sách nhà nước và trong sự tương tác với các tác nhân khác ở vùng biên Nghiên cứu của Endres (2010, 2011), tại Lào Cai đã tập trung tìm hiểu các quan hệ xã hội trong bối cảnh các hoạt động thị trường và giao dịch kinh tế ở vùng biên Cụ thể là xem xét các thực hành văn hóa giúp cho các tiểu thương tạo dựng và định hình các quan hệ xã hội của mình trong kinh doanh Bằng cách tiếp cận theo quan điểm tiến trình lịch sử về biến đổi kinh tế - xã hội, tác giả đã cố gắng làm rõ các khía cạnh bất biến và dễ biến đổi của các ý nghĩa và thực hành văn hóa ở các quan hệ xã hội trong bối cảnh trao đổi kinh tế tại vùng biên giới Việt Nam Một số công bố khác của tác giả về quan hệ buôn bán giữa tiểu thương ở Việt Nam với các đối tác Trung Quốc, vấn nạn buôn lậu

ở vùng biên hay cách thức các tiểu thương tìm kiếm lợi nhuận cũng như các mối quan

hệ xã hội, vận may trong kinh doanh, điều đó cho thấy tính năng động cũng như thách thức mà những người buôn bán nhỏ vùng biên cần vượt qua (Endres, 2014b, 2015a, 2015b, 2019) Vượt qua những thách thức của quá trình chuyển đổi và thích nghi với nền kinh tế hàng hóa ở chợ vùng biên, các tiểu thương đã xây dựng mạng lưới quan hệ xã hội dựa trên yếu tố thân tộc, họ hàng và các mối quan hệ khác cùng với những trao đổi, liên hệ ở chợ vùng biên (Tạ Thị Tâm, 2013, 2016, 2017a, 2017b)

Trang 29

Chợ vùng biên còn hàm chứa những giá trị văn hóa tộc người độc đáo, là trung tâm văn hóa ở vùng cao, với nhu cầu và hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của các tộc người ở chợ (Lý Hải, 1995) Nghiên cứu của Lê Đức Hùng xem xét mô hình văn hóa chợ vùng cao, các nhu cầu về văn hóa của đồng bào vùng cao mà các nhu cầu này được thể hiện ở chợ, đây không chỉ là trung tâm kinh tế mà là một không gian sinh hoạt văn hóa của các tộc người trong vùng (Lê Đức Hùng, 2000) Chợ ở miền núi phía Bắc có sự giao thoa kinh tế, văn hóa với nét đặc thù riêng so với nhiều vùng văn hóa khác, đi chợ như đi hội, không chỉ thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cộng đồng mà còn là nơi gặp gỡ nhau để trao đổi thông tin, tình cảm

và thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của con người (Phan Thị Đém, 2002) Hơn nữa, từ lễ hội đến chợ hội không chỉ thoả mãn nhu cầu sinh hoạt văn hóa như vui chơi, gặp gỡ, làm quen, thăm hỏi mà còn đáp ứng được nhu cầu mua bán hàng hóa (Hoàng Nam, 2003) Chợ vùng cao còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả vùng, với các thực hành văn hóa vật chất và tinh thần rất phong phú, đây là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của các tộc người ở trong vùng (Trần Hữu Sơn, 2004)

Chợ tình là nét văn hóa độc đáo của các tộc người ở vùng cao, bên cạnh không

gian văn hóa đặc trưng, đây là nơi trao đổi tâm tư, tình cảm, tìm về hạnh phúc và tình yêu của những chàng trai cô gái sống ở vùng biên cương Chợ tình giống như chất xúc tác làm nên tính độc đáo trong tâm hồn của các tộc người vùng cao (Hà Thị Kim Oanh, 1997) Chợ tình là phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống của tộc người Hmông, Dao cũng như nhiều tộc người khác, đây cũng là nét văn hóa tộc người cần được lưu giữ và có những nhận thức đúng đắn về vấn đề này (Vương Duy Quang, 1993) Một số chuyên khảo khác cũng tập trung mô tả, phân tích về “chợ tình” và các hoạt động văn hóa ở chợ, là những gợi mở cho các nghiên cứu sau này Nhìn chung, các nghiên cứu về chợ vùng biên vẫn còn những khoảng trống, đó

là chưa nhìn ra đặc điểm chung của chợ truyền thống ở vùng biên, cũng như những năng động kinh tế - xã hội và vai trò của chợ như một không gian tiếp xúc của các mạng lưới xã hội trong vùng và xuyên quốc gia Vì vậy, kế thừa kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, luận án này sẽ tiếp tục làm sáng tỏ những vấn

đề mà nghiên cứu trước còn chưa có điều kiện để khám phá

Trang 30

1.2.3 Các vấn đề còn đang thảo luận

Chợ vùng biên giới Việt - Trung đã được các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và chủ yếu tập trung vào 3 xu hướng sau:

Thứ nhất, chợ vùng biên là mạng lưới quan hệ xã hội và không gian xã hội

xuyên biên giới, đây còn là địa điểm diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa liên vùng, xuyên vùng và liên biên giới Song, các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào chợ ở cửa khẩu và các hoạt động thương mại của người Kinh

Thứ hai, chợ vùng biên là dòng chảy về hàng hóa xuyên biên giới Các học giả

thường tập trung tìm hiểu các kinh nghiệm hợp tác của thương nhân Trung Quốc với đối tác Việt Nam và sự trao đổi các dòng hàng hóa xuyên biên giới Đặc biệt là nghiên cứu nhiều về dòng chảy hàng hóa và những vấn đề liên quan đến người Kinh, người Hmông, trong khi vùng biên giới Việt - Trung là khu vực đa tộc người

Thứ ba, chợ vùng biên như một trung tâm giao lưu văn hóa - xã hội Các học

giả cho rằng, chợ vùng biên là nơi giao lưu, tiếp xúc của các tộc người ở trong vùng, liên vùng và xuyên biên giới Chính hoạt động này là cơ sở của các quan hệ

về kinh tế Tuy nhiên, những vấn đề năng động dân số, dòng chảy về kinh tế và mạng lưới quan hệ xã hội vẫn chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích các nghiên cứu đã có và bổ sung vào những thiếu khuyết chưa được nghiên cứu sâu, luận án này sẽ tập trung tìm hiểu đặc điểm, vai trò và tác động của chợ vùng biên qua các tương tác kinh tế, văn hoá - xã hội trong không gian xã hội vùng biên giới Việt - Trung

1.3 Cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận

1.3.1 Vùng biên giới từ góc nhìn chính trị - dân tộc học

- Vùng biên giới nhìn từ quan điểm trung tâm - ngoại vi

Thuyết “trung tâm” trong nghiên cứu văn hóa đã được các nhà nghiên cứu thuộc

trường phái “truyền bá luận” (diffusionism) Tây Âu đưa ra vào cuối thế kỷ XIX, tiêu

biểu là các học giả Đức và Áo như Frobenius, F.Raatsel, Grabner, W.Schmidt Nội dung của thuyết này cho rằng, các sáng tạo văn hóa của nhân loại bao giờ cũng xuất phát điểm từ một nơi sau đó truyền đi các nơi khác và chính sự lan truyền ấy tạo nên động lực của sự phát triển văn hóa nói riêng và của xã hội nói chung Tiếp thu mặt tích cực của truyền bá luận về trung tâm sáng tạo văn hóa và sự lan truyền văn hóa từ

Trang 31

trung tâm, các nhà Nhân học Mỹ mà đại diện tiêu biểu là Boas, Wissler đã phát triển

lý thuyết trung tâm trong việc hình thành các “vùng văn hóa” của người Indian ở Bắc

Mỹ Như vậy, vào đầu thế kỷ XX, các nhà nhân học Mỹ đã chọn cách đưa ra một tập hợp các đặc trưng văn hóa tiêu biểu đóng vai trò là trung tâm của việc hình thành vùng văn hóa và bước đầu đưa ra những dự cảm về mối quan hệ hai chiều giữa trung tâm và ngoại vi vùng văn hóa (Ngô Đức Thịnh, 2006, tr.1-2)

Ở Việt Nam, thuyết “trung tâm và ngoại vi” được vận dụng trong nghiên cứu không gian văn hóa Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong quá trình hình thành một không gian địa văn hóa, vai trò trung tâm là hết sức quan trọng, chứa đựng các đặc trưng văn hóa của vùng, tạo nên động lực phát triển, có sức thu hút, lan tỏa văn hóa và quy định xu hướng phát triển của toàn bộ vùng văn hóa Quan điểm lý thuyết này cũng cho rằng điều kiện cần để trở thành một trung tâm văn hóa, điều quan trọng là sự phụ thuộc vào địa lý tự nhiên để định hình một hay nhiều hướng khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế, là đầu mối các con đường giao thông thủy và bộ, nơi tập trung dân

cư và động năng lớn trong phát triển dân số, là trung tâm chính trị và quyền lực Đặc biệt, lý thuyết này còn cho rằng, vùng biên thuộc phạm trù ngoại vi và chịu ảnh hưởng của khu vực trung tâm, nơi được xem là tạo ra những ảnh hưởng và lan tỏa cả về văn hóa, kinh tế, chính trị đến vùng ngoại vi Cư dân vùng biên viễn phụ thuộc vào nhà nước và không có tính chủ động, năng động trong đời sống kinh tế - xã hội Vì vậy, cách tiếp cận vùng biên viễn qua lăng kính trung tâm - ngoại vi dường như đã phủ định những năng động vốn có của cư dân địa phương Mặt khác, nó có xu hướng xem xét các nền văn hóa của cư dân địa phương từ nhãn quan có thiên kiến chính trị trong giới hạn của đường biên giới chính trị của quốc gia Thực ra, nhiều tộc người vùng biên viễn đã tạo được các trung tâm văn hóa riêng của họ, có lịch sử, bản sắc riêng và trung tâm này có thể không phụ thuộc vào sự chia cắt đường biên giới quốc gia vốn hình thành muộn và không ổn định Phân tích các năng động kinh tế, xã hội của cư dân vùng biên và mối liên hệ của nó với trung tâm hành chính quốc gia có ý nghĩa giúp khám phá sâu hơn mối quan hệ trung tâm - ngoại vi, những năng động, di động của cư dân vùng biên và những yếu tố nào, hướng nội hay hướng ngoại đang chi phối nhận thức, làm nên khác biệt văn hóa ở vùng biên

Trang 32

- Vùng biên giới như một khu vực lịch sử - dân tộc học

Khu vực lịch sử - dân tộc học là những phần của miền đất đai có loài người cư trú, ở đó, có cộng đồng phát triển kinh tế - xã hội, những quan hệ lâu dài và ảnh hưởng lẫn nhau, hình thành những đặc thù văn hóa - sinh hoạt giống nhau Những đặc thù này biểu hiện qua văn hóa vật chất: nhà ở, phương tiện di chuyển, thức ăn

và đồ uống, quần áo, bao gồm một số hiện tượng thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần,

ít nhiều có liên quan đến kinh tế và sinh hoạt văn hóa (Tsêbôxarốp và Tsêbôxarôva,

1975, tr.87-100; tr.110-125; tr.112-124)

Trong một khu vực lịch sử - dân tộc học có thể tồn tại nhiều loại hình cộng đồng người khác nhau như chủng tộc, ngôn ngữ, tộc người, tôn giáo nhưng điều quan trọng nhất không phải là sự trùng khớp về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo hay loại hình kinh tế - văn hóa, mà là sự tương đồng về môi trường địa lý, mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa họ trong quá trình lịch sử, để giữa họ hình thành nên những đặc trưng về văn hóa và lối sống Đặc trưng văn hóa của vùng là những yếu tố văn hóa gắn bó hữu cơ với nhau, thể hiện rõ trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các tộc người

Ở Việt Nam, khái niệm vùng văn hóa được hiểu là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa

họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân Vùng văn hóa được hình thành và tồn tại là kết quả tác động của nhiều nhân tố tự nhiên, xã hội và lịch sử, trong đó quan hệ giao lưu và ảnh hưởng qua lại có vai trò rất quan trọng với khu vực này (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.64-65)

Trong vùng văn hóa có một hoặc nhiều tộc người cùng sinh sống, giữa các tộc người luôn có sự giao lưu về văn hóa dẫn tới sự biến đổi một số đặc điểm, thậm chí

là cả tổng thể văn hóa của các cộng đồng Thực tế cho thấy, bất kì một cộng đồng tộc người nào cũng có mối quan hệ qua lại với các cộng đồng tộc người xung quanh Tiếp xúc và giao tiếp văn hóa là tác động tới sự phát triển và nhờ đó nảy sinh các hiện tượng văn hóa mới Khi yếu tố nội sinh đủ mạnh, nó sẽ tự lựa chọn và

Trang 33

bản địa hoá những yếu tố mới tiếp thu được từ cộng đồng khác làm phong phú thêm văn hóa của cộng đồng (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.18-22)

Ở Việt Nam, vùng biên giới cũng có thể được xem là một vùng lịch sử - dân tộc học Đây là nơi cư trú của các tộc người có những quan hệ lâu dài và ảnh hưởng lẫn nhau nên đã hình thành đặc thù dân tộc học giống nhau của cư dân ở hai bên biên giới giữa hai quốc gia láng giềng Với nhiều tương đồng về cả mặt tộc người, ngôn ngữ, văn hóa và quá trình giao tiếp văn hóa mạnh mẽ trong lịch sử, đường biên tộc người

và văn hóa của cư dân dọc biên giới Việt - Trung luôn trở nên mong manh bên cạnh đường biên giới chính trị đã thiết lập từ lâu Nghiên cứu này sẽ vận dụng lý thuyết khu vực lịch sử - dân tộc học để giải thích dòng người và các mối quan hệ xã hội của

cư dân ở chợ vùng biên với chợ các chợ trong vùng, liên vùng và xuyên biên giới trong không gian xã hội vùng biên giới Việt - Trung

1.3.2 Tiếp cận chợ vùng biên từ những gợi mở của lý thuyết không gian xã hội

Henri Lefebvre, nhà khoa học người Pháp dựa trên quan điểm duy vật Mác-xít cho rằng, nếu không gian tự nhiên là một “tác phẩm” do thiên nhiên “sáng tạo ra”, thì không gian xã hội là do con người “sản xuất ra” Theo ông, một vật được sáng tạo là một “tác phẩm” mang tính độc nhất, không lặp lại Thế giới vật chất là thế giới của những sự vật được thiên nhiên sáng tạo Còn thế giới xã hội là thế giới của những sự vật do con người làm ra Chúng được sản sinh ra bởi các lực lượng và phương tiện, thông qua phương thức sản xuất, bởi vậy, những “sản phẩm” có thể lặp lại (tức có thể được “sản xuất hàng loạt”) Tương tự, không gian xã hội cũng là những không gian do con người sản sinh ra bởi các lực lượng sản xuất, bằng các

Trang 34

phương tiện sản xuất và thông qua các phương thức sản xuất Theo Lefebvre, không gian xã hội là một sản phẩm xã hội (Lefebvre, 1991, tr.26)

Lefebvre còn chỉ ra rằng “không gian xã hội liên quan chặt chẽ đến sự xuất hiện của tri thức và văn hóa, của tích lũy tư bản” Như thế, không gian xã hội trong quan niệm của ông có cả đặc tính văn hóa, đó là không gian văn hóa - xã hội Theo Lefebvre, mỗi xã hội đều sản xuất cho mình một không gian riêng Trong không gian xã hội tư bản, có sự phân biệt giữa không gian đô thị như là trung tâm và không gian nông thôn là các khu vực ngoại vi Đô thị là nơi có sự phát triển mạnh của các lực lượng sản xuất dưới sự cai quản của các lực lượng chính trị, đồng thời

có sự tích lũy cao các nguồn lực tri thức, nguồn lực công nghệ và văn hóa nghệ thuật, là trung tâm của cải và quyền lực, chi phối những không gian chế ngự - đó là các không gian ngoại vi Theo tinh thần của Lefebvre, không gian ngoại vi là những không gian phụ thuộc, bị chế ngự bởi không gian trung tâm Theo ông, mỗi xã hội

có một không gian riêng, mỗi khu vực, mỗi địa phương, mỗi đô thị cũng có một không gian riêng biệt Những yếu tố quan trọng làm cho các không gian khác nhau

là các mối quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất, các lực lượng sản xuất, (Lefebvre, 1991, tr.86)

Năm 1977, Condominas định nghĩa “Không gian xã hội là cái không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nào đó” (Condominas, 1997, tr.16), được xác định qua một số khía cạnh đặc trưng của không gian xã hội như sau:

1) Những mối liên hệ với không gian và thời gian, được hiểu là không gian và thời gian sinh thái Đây là cơ sở của không gian xã hội, có sự gắn kết với nhau trong văn hóa của cộng đồng người trong một không gian chứ không tồn tại độc lập Đặc biệt, Condominas lưu ý đến quan niệm của nhiều dân tộc về các phương: ngoài 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, người ta còn nói đến một phương trung tâm, tổng hợp các đặc tính của cả 4 phương kia

2) Những quan hệ với môi trường, đó là quan hệ giữa con người với hệ sinh thái, một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của không gian xã hội Trong mối quan hệ này, con người khai thác thiên nhiên để làm nên không gian xã hội

Trang 35

3) Những mối quan hệ trao đổi của cải Của cải trao đổi của một cộng đồng người trong một vùng cũng là một đặc điểm làm nên đặc trưng cho một không gian xã hội 4) Những mối quan hệ giao tiếp: Ngôn ngữ và chữ viết là những yếu tố giúp cho việc thiết lập và thúc đẩy các mối quan hệ trong không gian xã hội

5) Những mối quan hệ họ hàng và xóm giềng: Đây là các mối quan hệ thực thi cuộc sống của một cộng đồng người trong một không gian xã hội Quan hệ họ hàng như thế nào, ví dụ phụ hệ hay mẫu hệ, làm thành một đặc trưng của không gian xã hội (Condominas, 1997, tr.22-54)

Cả Lefebvre lẫn Condominas đều quan niệm về không gian văn hóa - xã hội theo cấu trúc ba chiều khép kín chứ chưa nhìn từ góc độ mở rộng của toàn cầu hóa Với tư cách một nhà dân tộc học, Condominas chỉ quan niệm không gian văn hóa -

xã hội ở một dân tộc, một tộc người Vì thế cả hai ông không lý giải được những không gian văn hóa - xã hội siêu quốc gia và những không gian văn hóa - xã hội toàn cầu của các mối quan hệ hợp tác liên quốc gia, mà đây lại là một đặc điểm quan trọng của mối quan hệ trung tâm - ngoại vi trong thời đại “thế giới phẳng” Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, đặc tính thứ 3 của không gian văn hóa

- xã hội trong lý thuyết của Condominas có vai trò quan trọng, đó là quan hệ trao đổi của cải Ngoài ra, không gian văn hóa - xã hội thời đại toàn cầu hóa còn có thêm một đặc tính rất quan trọng nữa là quan hệ liên không gian Đó chính là nét đặc thù của không gian văn hóa - xã hội thời đại toàn cầu hóa mà chúng ta cần chú

ý khi nghiên cứu vấn đề quan hệ trung tâm - ngoại vi trong không gian văn hóa -

xã hội

Luận án này vận dụng quan điểm của Lefebvre lẫn Condominas về không gian

xã hội để giải thích dòng hàng hóa cũng như dòng người và các mối quan hệ xã hội

ở chợ trong không gian kinh tế, văn hóa - xã hội vùng biên Tuy nhiên, chợ không phải là một không gian xã hội tĩnh, mà ngược lại, nó giống như một đầu mối của các mối liên kết kinh tế và xã hội, chợ có thể được xem xét như một mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết của vùng Qua đây, tôi cũng đã thấy ở lý thuyết về mạng lưới xã hội một cơ sở để luận giải vai trò của chợ vùng biên trong dòng chảy hàng hóa và giao lưu con người xuyên biên giới

Trang 36

Trong những người đi tiên phong nghiên cứu mạng lưới xã hội của ngành nhân học nói riêng và khoa học xã hội nói chung phải kể đến Barnes (1954), Mitchell (1974, 1986), Wolfe (1978), đã đưa ra khái niệm về mạng lưới xã hội

(Social network) là những mối quan hệ, những kết nối giữa các cá nhân, cộng đồng

và thậm chí quốc gia (quan hệ quốc tế) Người ta sử dụng lý thuyết phân tích mạng

lưới xã hội (Social Network Analysis Theory) để phân tích các vấn đề về mạng lưới

xã hội Mạng lưới xã hội là một cấu thành của hệ thống xã hội với các thành phần

cơ bản của mạng lưới: Các nút (nodes) hay các actor, bao gồm các cá nhân, nhóm

xã hội, các tổ chức và những sợi dây ràng buộc (ties) tạo ra các liên kết (connection), các mối quan hệ tương tác (social relation and interaction) Các mối

liên hệ giữa nút và dây nối này tạo thành một mạng lưới liên kết xã hội

Do đó, lý thuyết của Mark S Granovetter về sức mạnh của những kết nối yếu

(the strength of weak ties) ngay sau khi ra đời đã trở thành một chủ đề bàn cãi sôi

nổi trong giới khoa học Khi nói về sức mạnh trong các mối quan hệ xã hội, ta thường nghĩ đến tần suất thời gian (số lần gặp gỡ), mức độ tình cảm, tính thân mật (Granovetter, 1973, tr.1361) Các yếu tố này theo Granovetter có thể độc lập hoặc tương quan với nhau Khái niệm và chủ đề sức mạnh đó không quá trừu tượng trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, nhất là ở khu vực nông thôn, khi mà những mối quan

hệ làng xóm vẫn được xem là yếu tố rất quan trọng trong mối quan hệ xã hội của người nông dân Do vậy, những kết nối xã hội mạnh, theo Granovetter là mức độ hiểu biết giữa các chủ thể với nhau và mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó giữa các thành

viên trong cộng đồng Đối lập với những kết nối mạnh là những kết nối yếu (weak

ties) hoặc không tồn tại các mối liên hệ (absent ties) Những kết nối yếu hoặc không

tồn tại các kết nối được thể hiện thông qua khái niệm cầu nối (bridge), những mối

liên hệ gián tiếp bên ngoài cộng đồng của cá thể (Granovetter, 1973, tr.1364) Các kết nối yếu hoặc không tồn tại các mối liên hệ, quan hệ lỏng lẻo giữa các thành viên trong cộng đồng, thay vào đó là những kết nối bên ngoài cộng đồng

Tiếp đó, Nan Lin (2001) đã đưa ra lý thuyết về di động xã hội Ông chỉ ra rằng, các cá nhân tìm kiếm lợi nhuận trong mạng lưới xã hội thông qua sự di động

xã hội Các cá nhân giống nhau thường xảy ra khả năng liên kết cao hơn so với các

Trang 37

cá nhân khác nhau Do vậy, vai trò trung gian này còn gọi là sự môi giới tạo ra các dòng chảy thông tin, gắn kết mọi người lại với nhau và loại bỏ những nguồn thông tin không cần thiết (Ronald Burt, 2000, tr.35) Người nắm giữ vị trí trung gian ấy

tạo ra các mối liên kết và các mối liên kết này trở thành nguồn vốn xã hội (Social

capital) của chính chủ thể đó Lý thuyết về di động xã hội có liên hệ trực tiếp đến

việc bán hàng qua mạng, các mối quan hệ của người buôn bán,

Để thực hiện nghiên cứu này, tôi vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội để hiểu các mối quan hệ xã hội ở chợ vùng biên và vai trò của mạng lưới xã hội với sinh kế tộc người ở vùng biên giới

- Vận dụng cách tiếp cận hệ thống khu vực và phân tích tổ chức không gian của Skinner trong nghiên cứu chợ vùng biên:

Từ việc nghiên cứu hệ thống chợ nông thôn miền nam Trung Quốc, William

Skinner (1925-2008) đã phát triển một cơ cấu phân tích hệ thống khu vực (Regional

Systems Analysis) và phân tích mạng lưới xã hội (Social Network Analysis) vào

phân tích các vùng biên giới Trong đó, Skinner sơ đồ hóa cách phân tích tổ chức không gian của hệ thống chợ phiên nông thôn Những luận điểm của Skinner đã được phát triển thành các cơ cấu lý thuyết phân tích khu vực, gọi tắt là RSA và SNA (William Skinner, 1964, 1965a, 1965b)

Theo quan điểm của Skinner, tiếp cận hệ thống khu vực (RSA) cần tập trung vào quan hệ giữa không gian và nhà nước để từ đó giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc không gian và những năng động của các thực hành văn hóa, xã hội và kinh tế ở khu vực nông thôn Theo ông, tổ chức không gian của hệ thống chợ là nền tảng kinh

tế, xã hội và văn hóa cơ bản của xã hội nông thôn truyền thống Trung Quốc Bên cạnh tiếp cận không gian xã hội, có thể vận dụng phương pháp phân tích mạng lưới

xã hội (SNA) vào nghiên cứu vùng biên Khái niệm mạng lưới xã hội cũng được Skinner phát triển trên cơ sở nghiên cứu hệ thống chợ ở các vùng nông thôn Trong nghiên cứu thực nghiệm của mình, Skinner đã sơ đồ hóa được một hệ thống chợ làng và chợ vùng theo các phiên họp không trùng nhau để người dân trong vùng có thể tham gia vào các hoạt động trao đổi trong vùng Ông cho rằng các chợ thường đóng vai trò trung tâm mà xoay quanh nó là một hệ thống các làng và các cộng

Trang 38

đồng cư dân khác nhau Từ quan sát này, Skinner sử dụng thuật ngữ mạng lưới để

mô tả cấu trúc của hệ thống chợ Theo ông, các cấu trúc của hệ thống chợ không giống như cấu trúc của các cấp chính quyền (phân cấp từ trên xuống dưới) mà có hình thức của các mạng lưới đan cài vào nhau, giúp cho sự giao lưu trong vùng được gắn kết hơn Lý luận của Skinner về mạng lưới xã hội xoay quanh hệ thống chợ phiên có thể vận dụng vào phân tích các quan hệ tương tác giữa những cộng đồng cư dân ở vùng biên, trên quan điểm cho rằng các đường biên không phải là những rào chắn hay bình phong ngăn trở mà là không gian của sự tiếp xúc (Nguyễn Văn Chính, 2018, tr 45)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận án

Nghiên cứu này đề cập đến một số khái niệm như vùng biên, chợ vùng biên, năng động kinh tế - xã hội, không gian văn hóa - xã hội

- Khái niệm vùng biên

Biên giới, đường biên và vùng biên là những sáng tạo của con người dựa trên các truyền thống đạo lý khác nhau (Brunet-Jaily, 2010, tr.1) Mặc dù trải qua các thời

kỳ - từ thời cổ đại, trung đại và cho đến ngày nay, xã hội loài người đã phát triển khái niệm biên giới để chỉ phạm vi khu vực nằm trong quyền hạn của một cộng đồng chính trị trong mối quan hệ với cộng đồng khác, nhưng phải từ thế kỷ XVIII trở đi thuật ngữ này mới thực sự được dùng để chỉ sự phân chia về mặt chính trị, như là kết quả của sự hình thành các nhà nước hiện đại (Baud, Schedel, 1997, tr.214; Olujimi, 2010) Với mỗi quốc gia, lãnh thổ được xác định bằng những đường biên giới, được các quốc gia liên quan ký kết và được quốc tế công nhận Đường biên này chỉ có giá trị pháp lý về mặt chính trị và hành chính giống như bức tường để phân chia ranh giới giữa hai quốc gia, còn các hoạt động kinh tế và giao lưu văn hóa - xã hội của cư dân ở hai bên đường biên diễn ra từ rất sớm và tiếp tục đến ngày nay

Biên giới (border) hay đường biên giới (borderline) là ranh giới địa lý của các

thực thể chính trị hoặc quyền tài phán hợp pháp, chẳng hạn như vùng lãnh thổ, các quốc gia có chủ quyền, các quốc gia liên hiệp và các thực thể địa phương (đơn vị hành chính quốc gia như tỉnh, bang, ) Như vậy, đường biên giới quốc gia được xem

Trang 39

là ranh giới phân định lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khác hoặc với những vùng mà quốc gia có chủ quyền trên biển, bao gồm biên giới quốc gia trên đất liền,

biên giới, chúng tôi sử dụng khái niệm đã được khẳng định trong điều 1, bộ Luật Biên

giới Quốc gia do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua

ngày 17/6/2003, theo đó “biên giới quốc gia là đường và mặt thẳng đứng theo đường

đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, vùng biển, lòng đất, vùng trời của một quốc gia” Khái niệm “đường biên” được hiểu là đường ranh giới của quốc gia thực hiện chủ quyền của mình trong phạm vi lãnh thổ mà đường ranh giới đó đã phân định, đồng thời là sự xác lập chế độ chính trị, quản lý đất đai, dân cư

và tất cả các nguồn tài nguyên trong phạm vi lãnh thổ đó Đường biên chính là cơ sở

tự nhiên để đảm bảo duy trì lãnh thổ của quốc gia và sự ổn định của đất nước

Vùng biên giới (border regions) hay khu vực biên giới (borderlands) là bộ

phận nhất định của lãnh thổ tiếp giáp biên giới quốc gia, có quy chế riêng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định để bảo vệ biên giới quốc gia Ở Việt Nam

có nhiều định nghĩa khác nhau về vùng biên giới nhưng chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích theo đơn vị hành chính Luật Biên giới Quốc gia năm 2003 quy định khu vực biên giới (trên đất liền) của Việt Nam bao gồm các xã, phường, thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền và trên sông, suối Trong Quyết định 120/2003 của Thủ tướng Chính phủ, thuật ngữ “Tuyến biên giới Việt - Trung” được sử dụng phổ biến còn khái niệm vùng biên giới chưa được nhắc đến Theo Quyết định số 1151/2007 ngày 30/8/2007, của Thủ Tướng Chính phủ, thuật ngữ “Vùng biên giới Việt - Trung”, chính thức được sử dụng để chỉ khu vực địa

lý gồm 7 tỉnh2

có đường biên giới với Trung Quốc, có tổng diện tích 5.126.329 ha

Biên giới lỏng (Fluil border) là loại hình biên giới có tính lỏng, dễ biến đổi

trong quan hệ và quản lý ở vùng biên, không trùng với biên giới quốc gia mà được

mở ra hay bị co lại theo thế nước (Thôi Húc Thần, 1992)

Trang 40

Biên giới mềm (Soft border) là biên giới sức mạnh, biên giới vô hình và thay

đổi theo thế nước, có thể tương ứng, lớn hay nhỏ hơn biên giới quốc gia Để mở rộng khái niệm này, Thôi Húc Thần cho rằng trước hết cần phải phát triển kinh tế, với quan điểm “hàng hóa đi đến đâu, biên giới mở rộng đến đó” và phát triển tư tưởng “going out”, phát triển biên giới (Thôi Húc Thần, 1992) Vì vậy, Trung Quốc tập trung đầu tư mở rộng biên giới mềm, mở rộng đường biên và vận chuyển hàng hóa từ nội địa ra vùng biên giới để thực hiện chính sách biển hàng hóa nhằm tạo ra ảnh hưởng về kinh tế, cơ sở hạ tầng ở vùng biên, đặc biệt là trao đổi hàng hóa ở vùng biên, lấy hàng hoá như một lực hút tạo nên sự phụ thuộc từ các nước láng giềng Từ đó, Trung Quốc đưa ra hàng loạt các chính sách phát triển vùng biên, trong đó có chính sách “Hưng biên phú dân” và những lan toả về hàng hoá, tư tưởng

và con người với các nước láng giềng (dẫn theo Vương Xuân Tình, 2016)

Không gian xã hội, là không gian được xác định bởi một tập hợp các hệ thống

quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nào đó (Georges Codominas, 1997, tr.16) Quan niệm của Codominas thiên về văn hóa, cho nên thực chất không gian xã hội chính là không gian văn hóa - xã hội theo cấu trúc ba chiều chứ chưa nhìn từ góc độ

mở rộng của toàn cầu hóa Nhà dân tộc học Codominas lại quan niệm không gian văn hóa - xã hội trong phạm vi dân tộc, tộc người

Khái niệm biên giới là không gian xã hội (Social Space) là quá trình được mở

rộng bằng chia sẻ cộng đồng, sự tương tác với tác nhân khác, thiết lập hậu chính trị của khu vực, lãnh thổ và quan hệ cộng đồng nhằm quản lý mâu thuẫn lãnh thổ của tư bản toàn cầu (Scott, 2014) Việc buôn bán xuyên biên giới không bị giới hạn bởi chính trị

mà còn dựa vào mối quan hệ văn hóa xuyên biên giới, quan hệ xã hội như dòng họ và hôn nhân, di động xuyên biên giới, trao đổi kinh tế (Turner, 2010, tr.265-267) Không gian xã hội xuyên quốc gia không chỉ đề cập đến quan hệ nhà nước với nhà nước mà

còn gồm quan hệ phi chính phủ Đó là sự liên kết xã hội (social ties) như liên kết giữa

các cá nhân, nhóm, tôn giáo Loại hình của không gian xuyên quốc gia có mức thấp như mạng lưới (người buôn bán, trí thức, luật sư), mức cao là thiết chế (nhóm họ hàng, gia đình, cộng đồng, tổ chức tôn giáo) (Vương Xuân Tình, 2019, tr.120)

Ngày đăng: 20/03/2021, 19:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm