1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực ba cửa sông văn úc, ba lạt, cửa đáy thuộc bốn tỉnh hải phòng, thái bình, nam định và ninh bình

109 49 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo không gian lấy mẫu thì nồng độ pH và DO tăng dần từ cửa sông ra phía biển còn các chỉ tiêu như Fe, NH4+ ,COD, BOD, dầu mỡ đều có xu hướng giảm, cụ thể: - Tại cửa Văn Úc: Hàm lượng c

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN ANH TUẤN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT KHU VỰC BA CỬA SÔNG VĂN ÚC, BA LẠT, CỬA ĐÁY THUỘC BỐN TỈNH HẢI PHÒNG, THÁI BÌNH,

NAM ĐỊNH VÀ NINH BÌNH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Thành

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, Ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Thành đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban quản lý đào tạo, Khoa Môi Trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Trung tâm Quy hoạch và Quản lý tổng hợp vùng duyên hải khu vực phía Bắc Xin cảm ơn các hộ gia đình và người dân đã tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu, điều tra phỏng vấn cũng như những đóng góp ý kiến đánh giá thực trạng môi trường trên địa bàn 6 huyện (Kiến Thụy, Tiễn Lãng, Thái Thụy, Tiền Hải, Giao Thủy, Kim Sơn) chọn nghiên cứu, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, Ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Lờı cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Dach mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu 2

Phần 2 Tổng quan nghiên cứu 3

2.1 Khái niệm về lưu vực sông và cửa sông 3

2.1.1 Thuật ngữ về lưu vực sông, cửa sông 3

2.1.2 Các nghiên cứu về khu vực cửa sông ở việt nam 6

2.2 Hiện trạng chất lượng nước mặt khu vực cửa sông việt nam 9

2.3 Hiện trạng chất lượng nước mặt khu vực cửa sông ven biển trên thế giới 14

2.4 Các nghiên cứu ứng dụng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt cửa sông ven biển trên thế giới và việt nam 17

2.4.1 Nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm cửa sông ven biển trên thế giới 17

2.4.2 Nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm cửa sông ven biển ở việt nam 20

2.5 Kết quả nghiên cứu, đánh giá về chất lượng môi trường nước khu vực 3 cửa sông văn úc, ba lạt, cửa đáy trước năm 2015 23

Phần 3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

3.2 Nội dung nghiên cứu 26

3.2.1 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 26

Trang 5

3.2.2 Thực trạng quản lý môi trường nước vùng cửa sông văn úc, ba lạt, cửa

đáy và nhận thức cửa người dân địa phương 26

3.2.3 Điều tra nguyên nhân gây ô nhiễm và các nguồn xả thải từ đất liền và nuôi trồng thủy sản đến khu vực 3 cửa sông nghiên cứu 26

3.2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt vùng cửa sông văn úc, ba lạt, cửa đáy (kết quả quan trắc phân tích chất lượng nước mặt 2 mùa: mùa khô, mùa mưa) 26

3.2.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường nước mặt khu vực 3 cửa sông văn úc, ba lạt, cửa đáy 27

3.3 Phương pháp nghiên cứu 27

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 27

3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 27

3.3.3 Phương pháp lấy mẫu nước mặt theo sơ đồ lấy mẫu 27

3.3.4 Phương pháp phân tích nước mặt 27

3.3.5 Xử lý số liệu thống kê 28

Phần 4 Kết quả và thảo luận 32

4.1 Giới thiệu khu vực 3 cửa sông: văn úc, ba lạt, cửa đáy thuộc bốn tỉnh hải phòng, thái bình, nam định và ninh bình 32

4.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 32

4.1.2 Đặc điểm ktxh của vùng nghiên cứu 38

4.2 Thực trạng quản lý môi trường vùng ba cửa sông văn úc, ba lạt, cửa đáy và nhận thức của người dân địa phương 41

4.2.1 Thực trạng quản lý môi trường vùng ba cửa sông 41

4.2.2 Nhận thức của người dân địa phương về vấn đề môi trường vùng 3 cửa sông văn úc, ba lạt và cửa đáy 49

4.3 Các nguồn thải và ảnh hưởng của hoạt động kinh tế tới môi trường nước vùng cửa sông ba lạt, văn úc và cửa đáy 50

4.3.1 Ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy, hải sản 51

4.3.2 Ảnh hưởng của rác thải công nghiệp và sinh hoạt 52

4.3.3 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát 53

4.3.4 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch và dịch vụ tại vùng cửa sông và khu du lịch ven biển 54

Trang 6

4.3.5 Hoạt động khai thác rừng ngập mặn 55

4.4 Đánh giá hiện trạng môi trường nước vùng 3 cửa sông văn úc, ba lạt và cửa đáy 59

4.4.1 Hiện trạng môi trường nước cửa sông văn úc 59

4.4.2 Hiện trạng môi trường nước cửa sông ba lạt 64

4.4.3 Hiện trạng môi trường nước cửa sông đáy 70

4.4.4 Đánh giá chung chất lượng nước cửa sông ba lạt, văn úc và cửa đáy 74

4 5 Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực ba cửa sông văn úc, ba lạt, cửa đáy 78

4.5.1 Giải pháp về quản lý tổng hợp vùng cửa sông 78

4.5.2 Giải pháp về quản lý các nguồn thải ra các sông lớn 78

4.5.3 Giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng 79

4.5.4 Giải pháp về công trình 80

4.5.5 Giải pháp về đầu tư tài chính 80

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Kiến nghị 82

Tài liệu tham khảo 83

Phụ lục 86

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng việt

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

BĐKH Biến đổi khí hậu

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc RAMSAR Công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và

thích đáng các vùng đất ngập nước GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế

CN – TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

NTTS Nuôi trồng thủy sản

BTNMT Bộ tài nguyên môi trường

BOD Nhu cầu ô xy sinh học

COD Nhu cầu ô xy hóa học

Trang 8

DACH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tính chất hình thái động lực đặc trưng các thủy vực ven bờ biển Việt

Nam 4

Bảng 2.2 Một số cửa sông tiêu biểu ven bờ miền Trung Việt Nam 6

Bảng 3.1 Thời gian lẫy mẫu nước cửa song đợt 2 28

Bảng 3.3 Chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích các mẫu nước vùng ba cửa sông nghiên cứu 28

Bảng 4.1 Mật độ dân số vùng ba cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy 38

Bảng 4.2 Hiện trạng kinh tế địa phương vùng ba cửa sông năm 2015 39

Bảng 4.3 Tổng hợp phiếu điều tra cư dân vùng cửa sông Văn Úc, Ba Lạt và cửa Đáy năm 2016 49

Bảng 4.4 Diện tích nuôi trồng thủy sản vùng ba cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, Đáy năm 2015 52

Bảng 4.5 Tải lượng các chất ô nhiễm từ đất liền đối với nước biển ven bờ 52

Bảng 4.6 Tổng thải lượng một số chất ô nhiễm đổ ra biển qua hệ thống sông Thái Bình và sông Hông 53

Bảng 4.7 Hiện trạng hoạt đông du lịch tại khu vực ba cửa sông Văn Úc, Đáy và Ba Lạt 2015 54

Bảng 4.8 Hiện trạng đất ngập nước vùng cửa sông Văn Úc 55

Bảng 4.9 Hiện trạng đất ngập nước vùng cửa sông Ba Lạt 57

Bảng 4.10 Hiện trạng đất ngập nước vùng cửa sông Đáy 58

Bảng 4.11 Kết quả phân tích các chỉ tiêu môi trường nước khu vực 3 cửa sông Ba Lạt, cửa Đáy và Văn Úc 76

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ biển 3

Hình 3.1 Sơ đồ dự kiến khảo sát đo đạc, lấy mẫu khu vực cửa Văn Úc 29

Hình 3.2 Sơ đồ dự kiến khảo sát đo đạc, lấy mẫu khu vực cửa Ba Lạt 30

Hình 3.3 Sơ đồ dự kiến khảo sát đo đạc, lấy mẫu khu vực cửa Đáy 31

Hình 4.1 Vị trí 3 cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, Đáy 32

Hình 4.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường cấp tỉnh vùng ba cửa sông 43

Hình 4.3 Vị trí lẫy mẫu cửa sông Văn Úc 59

Hình 4.4 Giá trị đo pH các mẫu nước cửa sông Văn Úc 60

Hình 4.5 Giá trị đo DO các mẫu nước cửa sông Văn Úc 60

Hình 4.6 Giá trị đo COD các mẫu nước cửa sông Văn Úc 61

Hình 4.7 Giá trị đo BOD các mẫu nước cửa sông Văn Úc 62

Hình 4.8 Giá trị đo Fe các mẫu nước cửa sông Văn Úc 63

Hình 4.9 Giá trị đo Dầu mỡ khoáng các mẫu nước cửa sông Văn Úc 63

Hình 4.10 Vị trí lẫy mẫu cửa sông Ba Lạt 65

Hình 4.11 Giá trị đo pH các mẫu nước cửa sông Ba Lạt 65

Hình 4.12 Giá trị đo DO các mẫu nước cửa sông Ba Lạt 66

Hình 4.13 Giá trị đo COD các mẫu nước cửa sông Ba Lạt 67

Hình 4.14 Giá trị đo BOD các mẫu nước cửa sông Ba Lạt 68

Hình 4.15 Giá trị đo Fe các mẫu nước cửa sông Ba Lạt 68

Hình 4.16 Vị trí lẫy mẫu cửa Đáy 70

Hình 4.17 Giá trị đo pH các mẫu nước cửa sông Đáy 71

Hình 4.18 Giá trị đo pH các mẫu nước cửa sông Đáy 71

Hình 4.19 Giá trị đo COD các mẫu nước cửa sông Đáy 72

Hình 4.20 Giá trị đo COD các mẫu nước cửa sông Đáy 72

Hình 4.21 Giá trị đo Fe các mẫu nước cửa sông Đáy 73

Hình 4.22 Giá trị đo Dầu, mỡ, khoáng các mẫu nước cửa sông Đáy 73

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Anh Tuấn

Tên Luận văn: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực ba cửa sông Văn

Úc, Ba Lạt, cửa Đáy thuộc bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình” Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 8 44 03 01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Phương pháp lấy mẫu nước mặt theo sơ đồ lấy mẫu

- Phương pháp quan trắc mực nước

- Phương pháp phân tích nước mặt

- Phương pháp xử lý, thống kê số liệu

3 Kết quả chính và kết luận

Luận văn đã đưa ra được một số các vấn đề sau:

1 Khu vực 3 cửa sông Ba Lạt, Văn Úc và cửa Đáy nằm trong vùng duyên hải đồng bằng Bắc Bộ, trải dài từ Cửa Văn Úc (tọa độ 20°40'28" vĩ độ Bắc và 106°42'37" kinh độ Đông), cửa Ba Lạt (20°15'32" vĩ độ Bắc và 106°34'42" kinh độ Đông) đến Cửa Đáy (19°55'7" vĩ độ Bắc và 106°5'45" kinh độ Đông), với tổng chiều dài khoảng 179

km Khu vực này nằm trong phạm vi 6 huyện thuộc 4 tỉnh/thành phố: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình

2 Hiện trạng môi trường nước vùng cửa sông phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên

là Biển (sóng, dòng chảy), Sông ngòi (lưu lượng nước, các dòng chảy ở cửa sông), Địa chất, địa mạo, yếu tố khí hậu, thời tiết và yếu tố con người với các hoạt động trong sản xuất Công – Nông nghiệp và du lịch, sinh hoạt

3 Chất lượng nước mặt tại khu vực 3 cửa sông Ba Lạt, Văn Úc và cửa Đáy có

sự biến động các chỉ tiêu môi trường nước theo mùa Nồng độ các chỉ tiểu có xu hướng

Trang 11

giảm từ mùa khô sang mùa mưa Theo không gian lấy mẫu thì nồng độ pH và DO tăng dần từ cửa sông ra phía biển còn các chỉ tiêu như Fe, NH4+ ,COD, BOD, dầu mỡ đều có

xu hướng giảm, cụ thể:

- Tại cửa Văn Úc: Hàm lượng của một số thông số chất lượng nước nằm ngoài tiêu chuẩn cho phép, như nồng độ pH thấp hơn tiều chuẩn Việt Nam về nước mặt cho mục đích NTTS, ngoài ra trong mùa khô nhiều mẫu thu được cho kết quả ô nhiễm Fe nhưng ở mức độ thấp, nồng độ Fe cao nhất ở cửa Văn Úc đo được là 0,43mg/l các thông số pH, DO, Fe có xu hướng giảm từ mùa khô sang mùa mưa Các chỉ tiêu COD, BOD, TSS, Mn, Pb, As, Coliform, Clo hữu cơ, P hữu cơ và Dầu mỡ khoáng có xu hướng tăng nhưng không lớn

- Tại cửa Ba Lạt: Nồng độ sắt trong nước khá cao, vượt ngưỡng cho phép nhiều lần, nông độ cao nhất mùa khô đo được là 2,83mg/l, nồng độ thấp nhất là 0,79 đo được trong mùa mưa Chỉ số COD cũng khá cao dao động từ 3,19 - 3,41 Các chỉ tiêu khác không có biến động mạnh theo mùa và đều ở mức cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam

- Tại cửa Đáy: Không có sự biến động mạnh của các chỉ tiêu phân tích theo mùa, các biến động giới hạn ở một biên động rất nhỏ Các mẫu nước sông cửa Đáy không có biến động mạnh của các chỉ tiêu phân tích theo mùa, các biến động giới hạn ở một biên động rất nhỏ Ngoài các chỉ tiêu về COD, và Fe đang ở ngưỡng cao có một số mẫu đã vượt tiêu chuẩn cho phép về NTTS thì các chỉ tiêu khác đều ở trong giới hạn thấp hơn mức tiêu chuẩn cho phép của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT

4 Một số giải pháp giảm thiểu và ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước ba cửa sông Văn Úc, Đáy và Ba Lạt gồm: Quản lý tổng hợp vùng cửa sông ven biển, Quản lý nguồn thải ra sông, giải pháp về nâng cao nhận thức cộng đồng cư dân vùng cửa sông, giải pháp về đầu tư tài chính và xây dựng công trình

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master Student: Nguyen Anh Tuan

Topic: “Assessment of the surface water quality of the three river mouths of Van

Uc, Ba Lat and Day River basins in four provinces of Hai Phong, Thai Binh, Nam Dinh and Ninh Binh”

Major: Environmental Sciences Code: 8 44 03 01

Training Institute: Vietnam National University of Agriculture

1 Research objectives

- Assess current status of surface water quality in the three estuaries of Van Uc,

Ba Lat, and Day basins in four provinces of Hai Phong, Thai Binh, Nam Dinh and Ninh Binh;

- Proposing some solutions to improve the surface water quality of the three river mouths of Van Uc, Ba Lat and Day basins in the four provinces of Hai Phong, Thai Binh, Nam Dinh and Ninh Binh

2 Methodology

-Secondary data collection methods

- Method of primary data collection

- Surface water sampling according to the sampling scheme

- Method of monitoring water level

3 Conclusions and recommendations

Thesis has made the following contributions:

1 The Ba Lat, Van Uc and Day Estuary area is located in the Northern Delta, stretching from Van Uc (coordinates 20 ° 40'28 "north latitude and 106 ° 42'37" longitude East, Ba Lat (20 ° 15'32 "north latitude and 106 ° 34'42" east longitude) to Cua Day (19 ° 55'7 "north latitude and 106o 5'45" east longitude ), With a total length of about 179 km This area is located in 6 districts of 4 provinces / cities: Hai Phong, Thai Binh, Nam Dinh and Ninh Binh

2 The state of the water environment in the estuary depends on the natural elements of the sea (waves, streams), rivers (water flow, river mouth flows), geology, geomorphology Climate, weather and human factors with activities in production - Agriculture and tourism and living

Trang 13

3 Surface water quality in the three estuaries of Ba Lat, Van Uc and Day basins has fluctuations in seasonal water quality parameters Concentration of the indigenous species tends to decrease from dry to rainy season According to the sampling space, the pH and

DO levels increase gradually from the estuarine to the sea while the norms such as Fe,

NH4+, COD, BOD, Grease all tend to decrease, specifically:

- At the Van Uc: the content of some parameters of water quality is beyond the allowed standard, such as pH lower than the Vietnamese standard for surface water for aquaculture purposes, besides in the dry season many samples are obtained The results

of Fe pollution but at low level, the highest Fe concentration at Van Australian gate measured was 0.43mg / l PH, DO, Fe parameters tend to decrease from dry to rainy season The COD, BOD, TSS, Mn, Pb, As, Coliform, organic chlorine, organic P and mineral oil tends to increase but not great

- At the mouth of the Ba Lat River: The iron content in the water is quite high, exceeding the allowable multiple times, the highest level in the dry season is 2.83 mg /

l, the lowest concentration is 0.79 measured in rainy season The COD is also quite high, ranging from 3.19 to 3.41 Other indicators do not have seasonal fluctuations and are at the level permitted by Vietnamese standards

- At the mouth of the Day River: There is no strong fluctuation of the seasonal analysis criteria, the fluctuations are limited to a very small fluctuation Day river basin water samples were not subject to strong fluctuations of seasonal analysis parameters, fluctuations were limited to very small fluctuations In addition to the COD, and Fe criteria, which are at high levels, some samples have exceeded the aquaculture standards Other criteria are within the limits of QCVN 08-MT: 2015 / BTNMT

4 Some measures to minimize and prevent water pollution in the three river mouths of Van Uc, Day and Ba Lat rivers include: Integrated management of coastal estuaries, river discharge management, lifting solutions High awareness of estuarine community, solutions for financial investment and construction of works

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm tăng nhu cầu sử dụng nước trong khi nguồn tài nguyên nước không thay đổi Chính vì vậy dẫn đến việc tài nguyên nước bị suy giảm nghiêm trọng về

cả chất và lượng Nước thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt không những gây ô nhiễm nguồn nước mặt mà chúng còn gây ô nhiễm các tầng nước dưới đất, gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và đồng thời ảnh hưởng tới chu trình sinh – địa – hóa trong các hệ thống sống

Vùng cửa sông ven biển là vùng đất mới, được hình thành và phát triển không ngừng, đồng thời có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và sản xuất của đại bộ phận dân cư ven biển, nhưng trong những năm qua việc khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường cửa sông ven biển còn mang tính tự phát, manh mún, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của dân cư ven biển, thiếu quy hoạch phát triển bền vững, kém hiệu quả, nạn khai thác quá mức, làm giảm sút dẫn đến cạn kiệt về nguồn lợi thủy hải sản, đa dạng sinh học Khai thác khoáng sản nhất là khai thác cát là vấn đề nổi cộm gây xói lở, sụt đất, ảnh hưởng đến hệ thống thủy lợi, đê điều, giao thông ven biển, dân cư, đô thị, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển Hoạt động sử dụng tài nguyên một cách tự phát, thiếu quy hoạch còn dẫn tới xung đột về lợi ích của các ngành kinh tế đang gia tăng Ví dụ giữa khai thác cát, khoáng sản với nông nghiệp, thủy sản; giữa bảo tồn, phát triển rừng ngập mặn với nuôi trồng thủy sản; giữa xây dựng, công nghiệp với bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường sinh thái, v.v Văn Úc, Ba Lạt và cửa Đáy là 3 dòng chủ lưu, cửa sông chính của hệ thống sông Thái Bình, sông Hồng và Sông Đáy Vùng ven biển 3 cửa sông này nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằng Sông Hồng, nơi đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động Khu vực này cũng

có nhiều giá trị về tự nhiên, lịch sử và văn hóa có giá trị bảo tồn như Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng, vườn quốc gia Xuân Thủy, di tích Phát Diệm.v.v Tài nguyên thiên nhiên trong khu vực đang bị khai thác mạnh mẽ, quá mức thiếu kiểm soát làm cho môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng

đã và đang bị ô nhiễm nhiều nơi Khu vực này cũng chịu nhiều tác động của các

Trang 15

tai biến tự nhiên như bão lốc, xói lở bờ biển.v.v Trong bối cảnh này, đây là vùng xảy ra nhiều vấn đề về cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường nước là vấn đề cần phải giải quyết

Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực ba cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy thuộc bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình” là hết sức cần thiết

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực ba cửa sông Văn Úc,

Ba Lạt, cửa Đáy thuộc bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nước mặt khu vực

ba cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy thuộc bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình

1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu

- Điều tra các nguồn thải từ đất liền gây ô nhiễm môi trường nước mặt khu vực cửa biển Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy;

- Chỉ ra được mức độ ô nhiễm và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt tại khu vực ba cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, Cửa Đáy Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI NIỆM VỀ LƯU VỰC SÔNG VÀ CỬA SÔNG

2.1.1 Thuật ngữ về lưu vực sông, cửa sông

a Lưu vực sông

Theo Luật tài nguyên nước năm 2012 định nghĩa thì Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra một cửa chung hoặc thoát ra biển

Lưu vực sông gồm có lưu vực sông liên tỉnh và lưu vực sông nội tỉnh Lưu vực sông liên tỉnh là lưu vực sông nằm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên

Lưu vực sông nội tỉnh là lưu vực sông nằm trên địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Thủy vực ven bờ biển là các vùng nước có sự tách biệt nhất định về mặt không gian và các yếu tố tự nhiên với vùng biển phía ngoài Ở ven bờ biển Việt Nam nói chung và khu vực miền Trung nói riêng có mặt ba loại thủy vực ven bờ biển tiêu biểu là các vũng vịnh, vùng cửa sông và đầm phá Chúng là kết quả tương tác giữa các quá trình nội sinh và ngoại sinh (sông, sóng và triều) ở dải bờ biển Một số trường hợp có mặt các dạng chuyển tiếp về hình thái giữa các loại hoặc thuỷ vực loại này là đơn vị thứ cấp của loại kia

Hình 2.1 Vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ biển Mỗi thuỷ vực ven bờ biển là một hệ thống tài nguyên, bao gồm tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và tài nguyên vị thế Mỗi thủy vực có những đặc

BIỂN

Trang 17

trưng riêng về hình thái, quá trình tiến hóa bờ, động lực hình thành và tổ hợp các dạng địa hình phản ánh đặc trưng hình thái đó

Bảng 2.1 Tính chất hình thái động lực đặc trưng các thủy vực

ven bờ biển Việt Nam

Tính chất

Vũng-vịnh

Các vùng cửa sông

Đầm phá Châu Thổ Hình phễu Liman

Mức độ đóng kín hở nửa kín - hở nửa kín kín rất kín Yếu tố thủy động

lực thống trị

sóng hoặc triều

sông, sóng hoặc triều triều

bồi tụ mạnh kiểu lấn tiến

xâm thực xói lở ưu thế

bồi tụ khá mạnh,kiểu lấp đầy

bồi tụ mạnh, kiếu lấp đầy

Kiểu bờ ưu thế đá gốc, bờ

cát

bờ bùn và cát bờ bùn bờ cát bờ cát

Độ ổn định cửa ổn định lâu

dài

biến động mạnh khá ổn định

biến động mùa mạnh

biến động mạnh

Phân bố ưu thế Trung Bộ

và Bắc Bộ

Nam Bộ, Bắc Bộ và Trung Bộ

Bắc Bộ và Nam Bộ Trung Bộ Trung Bộ

Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển 2006 (2) tr 38 – 51

Đặc trưng vùng cửa sông phụ thuộc vào tính chất lưu vực, tải lượng nước, bùn cát từ sông và đặc điểm động lực sóng, thuỷ triều ven bờ Vai trò thống trị của các yếu tố động lực sông, sóng hay thuỷ triều ảnh hưởng rất lớn đến hình thái

và mức độ đóng kín trong cấu trúc của chúng

Trang 18

Vùng cửa sông có nét đặc trưng riêng khác với các đối tượng địa lý khác:

- Được cấu tạo bởi một phần hạ lưu con sông và một phần biển nông ven

bờ Giữa chúng là vùng “ngưỡng” phân định ranh giới tương đối, thường được đặc trưng bởi đỉnh cồn cát chắn cửa sông (bar)

- Các thành tạo địa chất bao gồm vật liệu có nguồn gốc sông, nguồn gốc biển và nguồn gốc sông - biển hỗn hợp bị xáo trộn trong quá trình tích tụ - mài mòn để tạo nên châu thổ

- Đặc điểm thổ nhưỡng cũng như quần thể động – lực vật có nét riêng biệt mang tính pha trộn so với các vùng lục địa và vùng khơi

Về chế dộ thủy văn, vùng cửa sông có điểm đặc trưng cho quá trình chuyển tiếp giữa hai chế độ thủy văn sông ngòi và thủy văn biển:

- Trong quá trình tương tác giữa hai khối nước mặn và ngọt có tính chất lý – hóa khác nhau, tạo thành khối nước pha trộn có tỷ trọng biến đổi rất phức tạp

và luôn tạo điều kiện cho các hoàn lưu phát triển

- Ở cửa sông, trường tốc độ dòng chảy thay đổi đột ngột tạo điều kiện cho các hạt nặng lắng đọng; sự thay đổi môi trường thủy hóa đưa đến kết tủa các ion muối khoáng thành vật liệu bổ sung vào trầm tích cửa sông, hình thành bộ phận châu thổ mới với quá trình tích tụ thường vượt trội bào mòn

Vùng cửa sông có đới bờ phát triển rất đa dạng, thường diễn ra hiện tượng bồi tụ lấp đầy lòng dẫn cũ, hình thành các lòng dẫn mới và đưa cửa sông phát triển kéo dài về phía biển Các quá trình này luôn biến đổi theo không gian và thời gian, đôi khi là những biến động mang tính đột biến do ảnh hưởng của bão

và lũ lớn

Về mặt hình thái, cửa sông có thể phân thành 3 kiểu chính:

+ Cửa sông châu thổ (Delta): được hình thành do sự bồi đắp của phù sa sông lấn ra biển, hệ lạch đưa trầm tích sông ra biển chiếm ưu thế Châu thổ có 2 phần: phần nổi (kể cả vùng triều rất rộng) và phần chìm (ra tới độ sâu 15 – 20m ở sông Hồng, 20 -30m ở sông Cửu Long) Cửa sông châu thổ có động lực sông thống trị, với sự phối hợp của các động lực sóng hoặc triều, có thể nửa kín hoặc

hở

Trang 19

Việt Nam có hai châu thổ lớn là sông Hồng ở phía bắc (diện tích khoảng

17000 km2) và Mê Kông ở phía nam (diện tích 35000 km2 - lớn nhất Đông Nam Á) Ở Trung Bộ có các châu thổ nhỏ như: Mã, Cả, Thu Bồn, Đà Rằng,…

+ Cửa sông hình phễu (Estuary): là cửa sông nửa kín, có dạng phễu, bị ngập chìm không đền bù trầm tích Trầm tích sông nước ngọt ưu thế, cửa vào hạn chế thu hẹp cửa sông, trầm tích biển ưu thế Thuỷ triều ở đây có vai trò quan trọng

Cửa sông hình phễu điển hình ở nước ta là các cửa sông Bạch Đằng và Đồng Nai

+ Cửa sông liman (Liman): Vùng ngập chìm không đền bù, không có thuỷ triều hoặc thuỷ triều nhỏ với động lực sóng đáng kể, thường có doi cát chắn cửa

Cửa sông liman phổ biến ở Trung Bộ: cửa sông Ba – Phú Yên, cửa Lạch Ghép, cửa Lạch Bạng – Thanh Hóa,…

Bảng 2.2 Một số cửa sông tiêu biểu ven bờ miền Trung Việt Nam

TT Tên vùng

cửa sông

Diện tích lưu vực (km2)

Lượng nước (m3/năm)

Lượng bùn cát (106tấn/năm)

Động lực thống trị ven bờ

Mức

độ đóng kín

Kiều loại vùng cửa sông

1 Hới (s.Mã) 28 490 20,1 4,35 Sóng

-sông

Nửa kín

Châu thổ

Nguồn: Trung tâm Quy Hoạch và tổng hợp vùng duyên hải khu vực phía Bắc (2014)

2.1.2 Các nghiên cứu về khu vực cửa sông ở Việt Nam

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, nên hệ thống thủy văn rất phát triển, có tới 2360 con sông lớn nhỏ có độ dài trên 10km và trên đoạn bờ biển

Trang 20

dài từ Móng Cái đến Hà Tiên vời hơn 3.200 km có hàng trăm cửa sông , cửa suối, lạch triều chảy ra biển Các cửa sông có mật độ dày ở hai khu vực đồng bằng châu thổ lớn thuộc hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long; trên hai vùng đồng bằng này trung bình 10÷15 km đường bờ biển lại có một cửa sông lớn , nơi

có khoảng cách giữa hai cửa sông lớn chỉ khoảng 5÷7 km như vùng ven biển Hải Phòng và vùng ven biển Vũng Tàu – Gò Công

Nghiên cứu vùng ven biển và các cửa sông ở Bắc Bộ được bắt đầu từ nhiều triều đại phong kiến trước đây, điển hình là vào thời nhà Trần (Trần Thái Tông – năm 1248) Ông cha ta đã rất chú trọng tới công việc phòng thủ bảo vệ đất nước và đắp đê ngăn lũ, khai phá mở rộng vùng đồng bằng ven biển Lịch sử mãi mãi ghi nhận chiến công của Trần Hưng Đạo đánh thắng đạo thủy quân từ phương Bắc ở cửa sông Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba (1288) với những bãi cọc nhọn và tài trí lợi dụng dòng chảy thủy triều Vào đầu thế kỷ XIX, đáng chú ý nhất là công cuộc khai khẩn nổi tiếng

do Nguyễn Công Trứ lãnh đạo (1828-1830) ở vùng ven biển cửa sông Hồng và lập ra các huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình); cho đến nay bài học của công cuộc khai khẩn này vẫn còn nguyên giá trị khoa học và thực tiễn Những công trình đắp đê và củng cố các tuyến đê ngăn lũ, đê bao, xây cống ngăn mặn ở ven biển ĐBSH được tiến hành trong suốt các triều đại phong kiến trước đây và vẫn được tiếp tục cho đến nay Vào đầu thế kỷ XX có những công trình khoa học của các địa lý, thủy văn người Pháp như M Chassigneux (1918), M.Jacob (1921), M.Mormandin (1925), J.Gauthier (1930), P.Gourou (1931) Nhưng tài liệu khoa học để lại còn rất ít, chủ yếu là tổng kết các kinh nghiệm và

đề xuất các hướng chỉnh trị sông ngòi Hiện nay, những nghiên cứu khoa học vùng ven biển – cửa sông ĐBSH và dải ven biển Việt Nam được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ các đề tài khoa học thuộc các chương trình nghiên cứu do nhà nước đầu tư và phần lớn được tiến hành sau khi hai miền Bắc- Nam thống nhất (1975)

Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954) việc nghiên cứu vùng ven biển Bắc Bộ được chú ý quan tâm, phục vụ cho sản xuất và chiến đấu Đáng lưu

ý nhất là các đợt điều tra khảo sát phối hợp Việt – Trung ở Vịnh Bắc Bộ (1960)

và đợt khảo sát hỗn hợp Việt – Xô nhằm mở rộng cảng Hải Phòng (1960 – 1963), nghiên cứu chính trị luồng tàu biển khu vực sông Cấm – cửa Nam Triệu (1994 –

Trang 21

1999)… Ngành Khí tượng – Thủy văn (KTTV) đã thiết lập và duy trì hoạt động một mạng lưới trạm quan trắc vùng ven biển và các cửa sông, trong đó có các trạm hải văn ven bờ tại Cửa Ông, Hòn Gai, Hòn Dấu, Văn Lý, Hòn Nẹ, Hòn Ngư; các trạm thủy văn cửa sông chủ yếu giữ nhiệm vụ đo mực nước, độ mặn và nhiệt độ nước… Nhìn chung, mạng lưới các trạm KTTV phân bố không đồng đều ở các khu vực ven biển Việt Nam, có những vùng khá thưa như ở ven biển Miền Trung

Ngoài ngành KTTV, còn có một số cơ quan chức năm phục vụ sản xuất đã tiến hành nghiên cứu các cửa sông như ngành Giao thông đường thủy, Thủy lợi, xây dựng cảng… đã cho tiến hành các đợt khảo sát đo đạc về thủy văn, địa hình, địa kỹ thuật theo yêu cầu phục vụ cho việc nạo vét luồng lạch giao thông, lập luận chứng ky thuật phục vụ các công trình xây dựng như cầu cảng, đê kè, cống lấy nước, kênh tiêu thoát nước Trong một số chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và điều tra cơ bản ở vùng đồng bằng ven biển, như điều tra tổng hợp vịnh Bắc Bộ (1960-1963), các chương trình nghiên cứu biển (1986-1990, 1991-1995, 1996-2000), nghiên cứu môi trường vùng ven biển, nghiên cứu quy hoạch khai thác sử dụng các vùng bãi triều và các bãi bồi ven biển… ít nhiều có

đề cập đến các vùng cửa sông ở ĐBSH Trong đó, đáng chú ý là nội dung nghiên cứu động lực vùng ven biển cửa sông (VBCS) thuộc đề tài 48B-02-01 (1986-1990) do PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư làm chủ nhiệm Ngoài những đề tài, chương trình nghiên cứu do Nhà nước đầu tư nêu trên, còn có các nghiên cứu chuyên sâu dưới dạng các luận khoa học; những công trình khoa học này tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: thủy văn – thủy lực, địa mạo – địa chất và nghiên cứu các hệ sinh thái ven biển

Về nghiên cứu thủy văn cửa sông, những công trình có giá trị khoa học là của tác giả: Nguyễn Văn Cư (1979) nghiên cứu qui luật vận chuyển sa bồi khu vực cửa Cấm ( Hải Phòng); Nguyễn Ngọc Thụy (1985,1995) nghiên cứu đặc tính thủy triều và nước dâng ở ven biển và các cửa sông Việt Nam; Đỗ Tất Túc (1982) nghiên cứu và dự báo dòng chảy ở Hạ lưu sông Mê Kông; Nguyễn Ngọc Huấn ( 1987) nghiên cứu chế độ thủy văn vùng triều khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); Nguyễn Bá Quỳ (1996) nghiên cứu diễn biến cửa sông vùng triều dưới ảnh hưởng của bão – lũ; Nguyễn Thị Thảo Hương (2000) nghiên cứu diễn biến cửa sông vùng luồng tàu vào cảng Hải Phòng (sông Cấm – cửa

Trang 22

Nam Triệu); Nguyễn Bá Uân (2002) nghiên cứu diễn biến một số cửa sông Miền Trung và khả năng tiêu thoát lũ và khai thác kinh tế ven biển, vv…

Những năm gần đây cũng đã có rất nhiều dự án, đề tài nghiên cứu liên quan đến chất lượng nước mặt khu vực cửa sộng trong đó đang chu ý là

Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên – môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2010 – Đề án 47 (Các Bộ và UBND các tỉnh ven biển);

Điều tra, đánh giá, quy hoạch sử dụng đất, nước mặt tại các thủy vực ven biển; tiềm năng nước dưới đất vùng ven biển và các hải đảo (Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước, 2010);

Đánh giá tải lượng chất thải ảnh hưởng đến môi trường biển Việt Nam (khu vực Bắc bộ từ Quảng Ninh đến Ninh Bình) (Trung tâm Quy hoạch, Điều tra, Đánh giá tài nguyên – môi trường biển và hải đảo, 2009-2011)

Điều kiện môi trường vùng ven biển (Nguyễn Đức Cự và nnk, 1998; Nguyễn Văn Cư và nnk, 1995; Lê Văn Cường, 2001; Lưu Văn Diệu, 1997.v.v.);

Qua các nghiên cứu trên kết quả đều chỉ ra rằng các vùng cửa sông ven biển đều có chất lượng nước biến động rất mạnh và có nguy cơ ô nhiễm cao do phần lớn các cửa sông ven biển là nơi tập trung các đô thị lớn, các nhà máy, cảng sông, cảng biển nên chịu tác động rất lớn đến môi trường nước khu vực cửa sông Trong đó theo kết quả phân tích mẫu nước cửa sông ven biển Trung bộ và đối chiếu với mức giới hạn của QCVN 08:2008/BTNMT, nhận thấy phần lớn các thông số chất lượng nước cửa sông ven biển như pH, BOD5, COD, Fe, Pb,… nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên thông số Nitrit (NO2), một vài cửa sông vượt quá tiêu chuẩn cho phép như khu vực cửa Sa Kỳ gấp 24 lần, cửa Cà Ty gấp

27 lần vào mùa khô, cửa Sa Kỳ gấp 21 lần, cửa Hàn gấp 8 lần giới hạn cho phép vào mùa mưa

2.2 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT KHU VỰC CỬA

SÔNG VIỆT NAM

 Khái quát

Nhiệt độ nước biển trong mùa hè (thời gian quan trắc tháng 5 và tháng 8)

ở hầu hết các điểm quan trắc đều có giá trị cao hơn giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng cho bãi tắm từ 0,4 - 2,00C

Trang 23

Đã quan trắc được một số vùng biển bị ô nhiễm bởi tổng chất rắn lơ lửng như vùng biển Cà Mau, và vùng biển Ba Lạt

Các vùng biển bị ô nhiễm bởi hàm lượng silicate là: Ba Lạt, Định An, Rạch Giá, Cà Mau

Các vùng biển bị ô nhiễm NO2 là vùng biển Đồ Sơn, Ba Lạt, Sầm Sơn,

và vùng biển ngoài khơi Tây Nam Bộ

Các vùng biển bị ô nhiễm amoniac (NH4) là vùng biển Ba Lạt và vùng biển khơi phía Tây Nam Bộ

Hầu như toàn dải biển ven bờ bị ô nhiễm bởi dầu và kẽm

Các kim loại khác: Các khu vực Cửa Lục, Ba Lạt, Sầm Sơn và khu vực ngoài khơi vùng biển phía Tây nam bộ và vùng biển Côn Đảo có lần đã quan trắc được hàm lượng đồng, khu vực Trà Cổ hàm lượng cadimi xấp xỉ giới hạn cho phép, thuỷ ngân trong nước biển ở khu vực Sầm Sơn trong đợt đo tháng 5 rất cao vượt quá giới hạn cho phép nuôi trồng thuỷ sản tới 9 lần

Vùng biển phía Nam từ Nha Trang đến Rạch Giá thường xuyên bị ô nhiễm bởi vi sinh

 Sự suy giảm chất lượng nước vùng ven bờ

So sánh kết quả quan trắc, phân tích chất lượng môi trường nước biển ven

bờ năm 2004-2005 với kết quả của năm 2000 cho ta những nhận xét sau:

- Một số thông số có xu hướng tăng cao hơn các năm trước như tổng chất rắn lơ lửng, silicate ở một số vùng biển có các sông lớn đổ ra

- Hàm lượng dầu có xu hướng tăng ở vùng biển phía nam và vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng

- Một số kim loại có hàm lượng tăng đột ngột và đã vượt giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng cho nuôi trồng thuỷ sản là đồng ở Cửa Lục,

Ba Lạt, Sầm Sơn, Thuỷ ngân ở khu vực Sầm Sơn

- Hàm lượng kẽm có xu hướng tăng ở vùng biển từ miền Trung trở vào

và đã vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển dùng cho nuôi trồng thuỷ sản Từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 năm 2007, tại 20 tỉnh, thành phố ven biển nước ta đã xẩy ra hiện tượng dầu thô trôi dạt vào bờ Tổng lượng dầu thu gom là 2071,3 tấn Dầu thô đã xuất hiện dọc bờ biển từ Hà Tĩnh đến Cà Mau và tại các

Trang 24

đảo như Cù Lao Chàm , Côn đảo, Bạch Long Vĩ Quy mô của đợt ô nhiễm dầu là rất lớn và kéo dài, tác động nghiêm trọng tới sự phát triển bền vững của đất nước Đặc biệt ngành du lịch và thuỷ sản đã bị thiệt hại nặng nề do ô nhiễm dầu

Trên nét đại thể có thể tóm tắt như sau:

- Hàm lượng oxy hòa tan: Trong lớp nước tầng mặt, về mùa Đông, do nền nhiệt độ thấp và cường độ xáo trộn mạnh nhất trong năm nên lượng oxy hòa tan cũng cao nhất trong năm Khu vực Vịnh Bắc bộ và Bắc Trung Bộ có lượng oxy hòa tan trên tầng mặt dao động từ 4,75 ml/l đến 6.00 ml/l Khu vực Nam Bộ và Vịnh Thái Lan có lượng oxy hòa tan dao động trong khoảng 3,00-4,50 ml/l Phân

bố hàm lượng oxy hòa tan của nước tầng mặt trong mùa Đông có xu thế giảm dần từ Bắc xuống Nam Về mùa hè, hầu như toàn bộ vùng ven biển và khơi Việt Nam có lượng oxy hòa tan nước tầng mặt khá cao (4,00-4,50 ml/l) và đồng nhất cho mọi vùng

- Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) ở hầu hết các điểm đo thuộc vùng biển phía Bắc (từ Cửa Lục đến cửa Lò) và khu vực vùng biển phía Nam (từ Vũng Tàu đến Kiên Giang) đã vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng cho bãi tắm Đặc biệt ở Cà Mau đã vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng (TSS trung bình đạt 354,85 mg/l) cho bãi tắm: 25mg/l; cho nuôi trồng thuỷ sản: 50 mg/l; các nơi khác: 200 mg/l) Nước biển có giá trị TSS cao chủ yếu là do nước sông đổ ra vì vậy các giá trị cực đại thường xảy ra vào mùa mưa lũ

- Độ pH trong nước biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,29-8,22, giá trị

pH thấp nhất đo được ở biển Trà Cổ vào quí IV/02, chưa rõ nguyên nhân

- Nồng độ muối trong nước biển ven bờ biến đổi trong khoảng 0,10 - 33,40%o Khu vực có nồng độ muối thấp là khu vực cửa Ba Lạt (~1,00%o), vùng biển Rạch Giá (1,30%o) và vùng biển Định An (0,10%o), những nơi có nồng độ muối thấp là do ảnh hưởng của nước lũ từ sông chảy ra Ngoài khơi nước biển có nồng độ muối trong khoảng 33,00 - 33,90%o

- Nồng độ silicate trong nước biển ở một số khu vực do ảnh hưởng của mưa lũ đã có giá trị vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển cho mọi mục đích sử dụng (TC của Đề tài KT03-07: Si = 3,0mg/l) như ở Đồng Hới, Qui Nhơn, Định An, Cà Mau, Rạch Giá trong đợt đo tháng 8 (hàm lượng lớn nhất ở

Trang 25

Cà Mau đo được 4,047 mg/l) ở khu vực biển Ba Lạt hàm lượng silicate cũng luôn vượt quá tiêu chuẩn

- Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước biển thay đổi trong khoảng 1 – 2000 mg/l Giá trị cao nhất quan trắc thấy ở Định An Hàm lượng TSS ở khu vực miền Bắc và miền Nam thường xuyên cao hơn giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng cho nuôi trồng thuỷ sản (50mg/l) và bãi tắm (25mg/l), nhất là những khu vực gần những cửa sông chính trong mùa mưa lũ (tại cửa Ba Lạt trung bình đạt 171,2 mg/l, vùng Vũng Tầu, Rạch Giá còn đạt tới 698 mg/l) Vùng biển miền Trung cũng đã quan trắc được một số giá trị vượt giới hạn cho phép ở các khu vực biển bị ảnh hưởng của nước sông trong mùa mưa lũ như vùng biển Đồng Hới, Thuận An, Đà Nẵng Theo thời gian, hàm lượng TSS trong nước biển ở vùng biển miền Bắc có xu thế giảm dần từ năm 1999 đến năm

2002 những đã tăng lên trong năm 2003 Các vùng khác không có xu thế tăng giảm rõ rệt

- Nhu cầu ô xy sinh học và nhu cầu ô xy hóa học: Nhu cầu ô xy sinh học (BOD) và nhu cầu ô xy hóa học (COD) trong nước biển ven bờ khu vực miền Bắc và miền Trung còn khá nhỏ so với giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng (BOD nhỏ hơn 10 mg/l) Vùng biển phía Nam, đặc biệt là vùng ven biển cửa sông Cửu Long có chỉ số COD luôn cao, dao động trong khoảng 10,9 – 23,2 mg/l Tại khu vực này, hàm lượng COD có xu hướng tăng dần từ năm 2000 đến 2003: Ở cửa Định An: 8,2 mg/l (2000), 12 mg/l (2001), 14 mg/l (2002) và 16,2 mg/l (2003); Rạch Giá tương ứng là: 8,2 mg/l, 12,2 mg/l, 16,1 mg/l và 18,8 mg/l

- Nồng độ nitrat (NO3) trong nước biển dao động trong khoảng 0,020 – 0,668 mg/l trong thời kỳ 1999-2003 Tại nhiều vùng cửa sông ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long, hàm lượng này đã vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng để nuôi trồng thủy sản nhất là vào mùa lũ Tại cửa

Ba Lạt, giá trị trung bình đạt 0,227 mg/l, tại cửa Định An là 0,220 mg/l và tại cửa Rạch Giá là 0,306 mg/l Ở khu vực miền Bắc và miền Trung hàm lượng Nitrat tăng mạnh từ năm 1999 đến năm 2003, còn ở miền Nam không có xu thế

rõ rệt Ở khu vực miền Trung nhỏ hơn các khu vực miền Bắc và miền Nam Theo giá trị giới hạn của ASEAN cho biển Đông NO3- N = 0,060 mg/l), nước biển thuộc các khu vực phía bắc và nam có hàm lượng nitrat cao hơn giá trị trên

2 - 4 lần, ở khu vực biển miền Trung còn có một số khu vực có giá trị thấp hơn

Trang 26

như ở Nha Trang, Phú Quý, các khu vực còn lại đã có nhiều đợt quan trắc được giá trị cao hơn giới hạn trên, nhất là vào mùa mưa lũ

- Hàm lượng Nitrit (NO2) trong nước biển ven bờ biến đổi trong khoảng 0,003 – 0,050 trong thời gian 1999-2003 Khu vực miền Bắc hàm lượng Nitrit trong nước biển luôn cao hơn giới hạn cho phép đối với nuôi trồng thủy sản (0,01 mg/l), đặc biệt là trong mùa mưa Năm 2003 đã phát hiện thấy ở Đồ Sơn, hàm lượng này trong nước biển là 0,048 mg/l Khu vực miền Trung trong tháng 11 thường có hàm lượng Nitrit vượt quá giới hạn cho phép Nhìn chung hàm lượng Nitrit trong nước biển biển đổi không theo xu thế chung

- Hàm lượng amoniac (NH3 - N) cao nhất đo được trong nước vùng biển

Ba Lạt đạt 0,695mg/l, vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng (TCVN 5943 - 1995: NH3- N 0,50mg/l) ở các khu vực khác ở vùng biển phía Bắc nồng độ amoniac đã vượt quá giá trị giới hạn của ASEAN (NH3- N =0,070mg/l) từ 1 đến 2 lần, trừ vùng biển Trà Cổ, Đồ Sơn, Cửa

Lò vào đợt đo tháng 5 ở khu vực biển miền Nam hàm lượng NH3 - N biến đổi từ vết đến 0,112mg/l, đã có khu vực vượt quá giá trị giới hạn của ASEAN Riêng ở miền Trung, giá trị hàm lượng NH3 - N còn nhỏ

- Nồng độ Phosphate (PO4 - P) trong nước biển ven bờ và ngoài khơi tương đối nhỏ, chưa phát hiện có trường hợp nào vượt quá giới hạn của ASEAN đối với nước biển vùng cửa sông (PO4 =0,045mg/l), nhưng cũng đã có nhiều nơi

đã vượt quá giới hạn đối với nước biển ven bờ (nước biển ven bờ PO4 = 0,015 mg/l) như Cửa Lục, Đồ Sơn, Cồn Cỏ, Đà Nẵng, Dung

Quất, Phan Thiết, Định An vào một số thời điểm quan trắc

- Hàm lượng dầu trong nước biển biến đổi trong khoảng 0,14 - 1,10 mg/l,

đã vượt quá giới hạn của ASEAN cho biển Đông (dầu = 0,14 mg/l) trong hầu hết các đợt đo và ở tất cả các khu vực Nếu so với tiêu chuẩn (0,3mg/l) tạm lấy trong Hội thảo về quan trắc môi trường biển năm 1999, thì hầu hết các khu vực biển ở miền Bắc và Nam bộ đều vượt quá giới hạn này vào mọi thời điểm quan trắc (ở miền Trung còn một số khu vực có những thời điểm có giá trị thấp hơn) Một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm dầu trong nước biển vùng ven bờ là các vụ tràn dầu rõ và không rõ nguyên nhân từ hoạt động hàng hải Chỉ từ năm 1994 tới

2001, ở khu vực TP Hồ Chí Minh và Vũng Tàu dã có 5 vụ tràn dầu lớn với khối lượng hàng ngàn mét khối dầu tràn ra biển

Trang 27

- Chỉ số Coliform trong nước biển ven bờ nước ta biến đổi trong khoảng 12-9.200 cfu/100ml Vùng biển phía Nam từ Nha Trang đến Rạch Giá thường xuyên có chỉ số coliform cao hơn giới hạn cho phép 1-9,2 lần trừ đợt đo tháng 8 Khu vực miền Trung, miền Bắc chỉ số coliform nhỏ hơn, nhưng cũng có một số nơi đã vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng như ở Đèo Ngang, Quy Nhơn đợt đo tháng 2, Thuận An, Đồng Hới, Đà Nẵng, Dung Quất, Sa Huỳnh đợt đo tháng 5

- Hàm lượng xianua trong nước biển ở khu vực miền Bắc và miền Trung tương đối nhỏ, biến đổi trong khoảng 0,56 - 9,00 mg/l và không có giá trị nào vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng Khu vực biển miền Nam hiện chưa có số liệu quan trắc thông số này

- Hàm lượng kẽm Zn trong nước biển khu vực miền Bắc biến đổi trong khoảng (4,80 - 13,31 g/l), trong đợt đo tháng 11 đã vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng cho nuôi trồng thuỷ sản Vùng biển miền Trung

và miền Nam có hàm lượng kẽm trong nước biển biến đổi trong khoảng 9,86 38,70 g/l (cao nhất ở khu vực Rạch Giá và Định An), vượt quá giới hạn cho phép đối với nước biển ven bờ dùng cho nuôi trồng thuỷ sản (TCVN5943 -1995

-Zn : 10 g/l cho nuôi trồng thuỷ sản)

- Các kim loại khác: hàm lượng đồng (Cu) biến đổi trong khoảng 1,00 - 8,42g/l; chì (Pb) 1,50 - 7,74 g/l; cadmi (Cd) 0,16- 3,49g/l; asen (As) 0,20 - 4,00g/l; thuỷ ngân (Hg) 0,18 - 0,80g/l 

Hàm lượng các kim loại trên trong nước còn khá thấp so với TCVN đối với nước biển ven bờ cho mọi mục đích sử dụng Tuy nhiên hàm lượng thuỷ ngân cao hơn khá nhiều so với giới hạn của ASEAN dùng cho biển Đông (Hg = 0,16 g/l) Ở khu vực ngoài khơi vùng biển Tây Nam bộ, hàm lượng Cu biến đổi trong khoảng 6,50 - 3,90 g/l, có 5/15 điểm có hàm lượng cao hơn giới hạn cho phép đối với nước biển dùng cho nuôi trồng thuỷ sản

- Hàm lượng thuốc BVTV hữu cơ Clo trong nước biển khá thấp so với giới hạn cho phép của TCVN

2.3 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT KHU VỰC CỬA SÔNG VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI

Đối với các quốc gia ven biển, cửa sông luôn là cửa ngõ quan trọng thông thương với Thế giới bên ngoài Là cái nôi của các nên văn minh nhân loại Sông

Trang 28

Nin gắn liền với nên văn minh cổ đại cai cập, sông Hoàng Hà, Trương Giang gắn liền với văn minh Trung Hoa; sông Ấn, sông Hằng cái nôi nền văn minh Ấn Độ

Do là vị trí có ý nghĩa quan trọng về kinh tế - xã hội là khu vực giao thương và phát triển đô thị Nên môi trường cửa sông ven biển là một trong những khu vực

bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các hoạt động của con người

Hiện nay trên thế giới rất nhiều lưu vực sông, vùng cửa sông ven biển đã

bị ô nhiễm nghiêm trọng do các hoạt động của con người gây ra trong đó đặc biệt phải kể đến các trường hợp như:

- Các sự cố tràn dầu lớn trên thế giới Giàn khoan Deepwater Horizon bốc cháy dữ dội suốt 36 giờ trước khi chìm Trước khi vụ nổ xảy ra, có khoảng 2,6 triệu lít dầu trên giàn khoan Deepwater Horizon với công suất 8.000 thùng dầu/ngày Trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991, khi quân đội Iraq rút khỏi Kuwait, họ đã mở tất cả các van của giếng dầu và phá vỡ các đường ống dẫn dầu nhằm ngăn cản bước tiến của quân đội Mỹ Kết quả là một lượng dầu lớn nhất trong lịch sử đã phủ lên Vịnh Ba tư Ước tính, số dầu loang tương đương 240 triệu gallon dầu thô Diện tích dầu loang có kích thước tương đương đảo Hawaii Một liên minh được thành lập nhằm ngăn chặn và cách ly ứng cứu sự cố tràn dầu khủng khiếp này Họ cố gắng hạn chế sự lây lan bằng cách đóng các ống dẫn dầu bị ở bằng loại bom thông minh Tuy nhiên, mọi cố gắng phục hồi đều phải đợi chiến tranh kết thúc Để bảo vệ nước khỏi bị nhiễm bẩn, họ đã phải huy động khoảng 40 km thanh hút dầu nổi trên mặt nước và 21 máy tách dầu khỏi nước Các sự kiện này đã hủy hoại gần như hoàn toàn các hệ sinh thái cửa sông, ven biển trong vùng ảnh hưởng Và quá trình khắc phục và phục hồi môi trường ven biển này cần một thời gian rất dài và tốn nhiều công sức lẫn tiền của các quốc gia

bị ảnh hưởng

- Đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh và mất kiểm soát trên toàn cầu đã làm ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt là các hệ thống sông chính trên thế giới, do vị thế rất thích hợp nên các đô thị lớn thường ở lưu vực các con sông,

và vùng cửa sông, do quá trình giao thương xây dựng nên Trong quá trình phát triển này một lượng rác thải, khí thải, chất thải khổng lồ chưa qua xử lý đã làm ô nhiễm các con sông lớn trên thế giới điển hình như: sông Buriganga là một trong những con sông lớn chạy qua thủ đô Dhaka của Bangladesh Tuy nhiên, từ năm

1995 - 1999, mức ô nhiễm sông Buriganga rất cao Sông bị ô nhiễm bởi các hóa

Trang 29

chất từ các nhà máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy Hầu hết những loại hóa chất được xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu

cơ khó phân hủy (POP), rất độc hại đối với con người Các chất ô nhiễm này liên tục thâm nhập vào cơ thể con người thông qua thực phẩm, đồ uống và phá hủy các bộ phận của cơ thể

Sông Marilao, Philippines Nằm trong hệ thống các sông gần vùng ngoại ô tỉnh Bulacan ở Philippines, sông Marilao đang bị ô nhiễm nặng nề với đủ thứ rác thải sinh hoạt hàng ngày Đây còn là nơi lưu thông hàng hóa cho các khu vực thuộc da, tinh chế kim loại, đúc chì Chính vì vậy, nguồn nước của sông Marilao chứa rất nhiều hóa chất gây độc hại cho sức khỏe con người như đồng, thạch tín Các chất ô nhiễm này gây ra các vấn đề về sức khỏe cho cư dân trong vùng và xa hơn nó còn gây hại tới ngành đánh bắt hải sản tại vịnh Manila Trước nguy cơ bị xóa sổ, chính quyền địa phương đã có những biện pháp can thiệp, nhưng sông Marilao vẫn hàng ngày hàng giờ hứng chịu rác thải của các hộ dân ven sông và các chất thải từ khu chế xuất vẫn xả trộm ra sông

Sông Sarno, Italy, chảy qua Pompeii tới phía Nam của vịnh Naples Con sông này nổi tiếng bởi mức độ ô nhiễm nhất châu Âu với rất nhiều rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp Sông Sarno đã không chỉ làm ô nhiễm tại những nơi

nó chảy qua mà còn làm ô nhiễm vùng biển mà nó đổ vào gần khu vực vịnh Naples

Sông Citarum, Indonesia từng là một thiên đường du lịch nhiệt đới, sông Citarum ở Java, Indonesia giờ đây là dòng sông bẩn nhất thế giới Ngập chìm trong rác thải sinh hoạt, các chất hóa học độc hại thải ra từ các nhà máy dệt và xác động vật chết, số lượng cá của dòng sông đã giảm tới 60% Tuy nhiên, hơn

35 triệu người sống ở đây vẫn phải dùng nước của dòng sông này cho mục đích sinh hoạt hàng ngày như ăn uống và tắm giặt Đôi lúc, nước sông chuyển màu đỏ, xanh lá, vàng hay đen do lượng thuốc nhuộm trong nước quá cao Sự ô nhiễm của dòng sông được cho là nguyên nhân gia tăng các ca ung thư, cũng như bệnh ngoài da, bệnh thần kinh và chậm phát triển ở trẻ em trong vùng

Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từ dãy Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000km2, một trong những khu vực phì

Trang 30

nhiêu và có mật độ dân cao nhất thế giới Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý tới mức những người mộ đạo trước kia tôn thờ nguồn nước sông này giờ đây lại trở nên khiếp sợ chính nguồn nước đó Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng Theo ước tính, có hơn 400 triệu người sống dọc hai bờ sông Hằng và mỗi ngày có 2 triệu người tới bờ sông làm các nghi thức tắm rửa tại đây Ngoài ra, do phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông nên những thi thể người trôi lững lờ trên dòng sông này, rồi rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò đốt cũng là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm sông

Nước sông giờ không những không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông khá cao như thủy ngân (nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom (10-200ppm) và nickel (10-130ppm)

Qua đây ta thấy được vấn đề môi trường trên các lưu vực cửa sông ven biển là rất nghiêm trọng và cần được quan tâm, chú ý bảo vệ vì ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân, an ninh lương thực và sự ổn định của môi quốc gia

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT CỬA SÔNG VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM

2.4.1 Nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm cửa sông ven biển trên thế giới

Do có vị trí quan trọng và vai trò đặc biệt như vậy, nên từ lâu cửa sông là đối tượng nghiên cứu, khai thác phục vụ đời sống con người Người nghiên cứu điển hình vào thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX mang tính xây dựng cơ sở phương pháp luận, có các công trình của Danhinski A (1869), Cretner G.R (1878), Rusell R.J (1936)… chỉ dừng lại ở mức độ định hướng lý thuyết cơ bản Những nghiên cứu

về cửa sông trên cơ sở đánh giá điều kiện về địa chất, kiến tạo, thạch học có các công trình điển hình của Zenkovic V.P (1946), Leontev O.K (1955),… Nghiên cứu các vùng cửa sông trên cơ sở đo đạc các đặc trưng thủy văn, có tác giả là Trekhovic P.S (1904), Apolov B.A (1930),… Nghiên cứu trên chủ yếu dừng lại ở phân tích điều kiện tự nhiên vùng cửa sông, chưa đề cập đến cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố động lực sông – biển

Trang 31

Đáng chú ý nhất là nghiên cứu cửa sông về mặt lý thuyết cửa Xamoilov I.V (1952), được khái quát hóa trong sơ đồ về mối tương tác giữa các yếu tố động lực sông – biển trong cơ chế phát triển địa hình cửa sông Dựa trên ý tưởng

về mối tương tác này, các nhà khoa học Xô Viết đã phát triển nghiên cứu cửa sông theo những hướng khác nhau Điển hình là Simonov A.I, trong nghiên cứu vùng biển nông nước cửa sông với mô hình hoàn lưu gió bề mặt, tính toán tốc độ dòng chảy và diễn biến độ mặn ở cửa sông Một tác giả khác là Mikhailov V.N

đã phát triển mô hình thủy văn về dòng chảy phân tầng ở vùng biển nước trước cửa sông do sự thay đổi đặc tính hóa – lý của các lớp nước pha trộn Nghiên cứu động lực vùng cửa sông thông qua tương tác gió – dòng chảy được Alsyler V.M, Sadrin I.F và những tác giả khác phát triển trong các mô hình thủy văn, tính toán dòng chảy lớp nước mặt, về vận chuyển của dòng bồi tích ở cửa sông

Trong nghiên cứu về sự hình thành châu thổ (delta) và phát triển các cửa sông, phải đề cập đến các công trình của Zenkovic (1960-1962), Leontrev (1961), Koleman J.M (1974), Wright L.D (1974) Về quá trình phát triển cửa sông và phân nhánh lòng dẫn có các nghiên cứu của Makkavev N.I (1955), Baidin S.S (1962,1971), vv… Các nghiên cứu vùng ven biển và cửa sông có sử dụng công nghệ viễn thám và Hệ thông tin địa lý (GIS) được phát triển trong những năm cuối thế kỷ XX Hướng nghiên cứu này gắn liền với thành tựu của công cuộc chinh phục vũ trụ và phát triển các ngành công nghệ mới như Tin học (Informatic) và Địa tin học (Geomatic); có các công trình nghiên cứu điển hình của Regrain R (1980), Gross M.F (1983), Lessard G.L (1983), Lavoie A (1985), O’Neil R.A (1985), Dubois J.M.M (1988), …

Ngày nay để bảo vệ môi trường cửa sông ven biển cần sự chung tay của tất cả các quốc gia trên thế giới vì môi trường ven biển và biển là liên thông và trong xu thế toàn cầu hóa thì điều này là tất yếu vì vậy đã có hệ thống pháp luật quốc tế về môi trường cửa sông ven biển và môi trường biển Hệ thống luật pháp quốc tế về môi trường được xây dựng theo 5 nguyên tắc (Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt; Bên gây ô nhiễm hoặc sử dụng tài nguyên, các dịch

vụ môi trường phải trả tiền; Phòng ngừa; Chia sẻ lợi ích công bằng giữa các thế hệ; Phát triển bền vững)

Các văn kiện quốc tế mang tính toàn cầu về môi trường bao gồm các tuyên bố chung, công ước quốc tế và thỏa thuận toàn cầu khác… Trong đó có nhiều công ước quốc tế liên quan tới quản lý, BVMT và các HST biển Điển hình

Trang 32

là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (CLC 1992), Công ước MARPOL về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển (ÔNMT) biển do tàu gây ra, Công ước về ngăn chặn ÔNMT biển do các hoạt động nhận chìm, Công ước quốc tế về hợp tác, chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu (OPRC), Công ước quốc

tế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra do vận chuyển các chất độc hại trên biển (HNS), Công ước Đa dạng sinh học (CBD) Các công ước này có những quy định cụ thể về bảo tồn, BVMT và HST biển mà các quốc gia thành viên phải tuân theo

Ngoài các điều ước quốc tế nêu trên, các quy định luật pháp của nhiều quốc gia có thể được tham khảo và sử dụng trong việc xây dựng hệ thống luật pháp của Việt Nam về môi trường biển như: Luật Quản lý vùng bờ, Luật Quản lý môi trường biển (Hàn Quốc); Luật Quản lý các khu vực biển, Luật BVMT biển (Trung Quốc); Luật Kiểm soát ô nhiễm biển (Đài Loan); Luật Phòng chống ô nhiễm và thiên tai biển (Nhật Bản); Luật Quản lý vùng bờ và các đảo nhỏ (Inđônêxia); Luật Quản lý vùng bờ (Mỹ) và Luật Quản lý tổng hợp vùng bờ (Nam Phi)…

Song song với việc hoàn thiện các khung pháp lý thì các quốc gia trên thế giới đã tăng cường khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng và tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa các nguồn ô nhiễm biển, xây dựng các khu bảo tồn biển nhằm để bảo vệ và giữ gìn tính đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa Theo số liệu thống kê, số lượng khu bảo tồn biển ngày càng tăng trên quy mô toàn cầu Tính đến năm 1970, thế giới mới có

118 khu bảo tồn ở 27 nước, đến năm 1985 đã có 470 khu ở 69 nước và 298 khu được đề nghị Mười năm sau, thế giới đã thống kê được 1306 khu bảo tồn và tính đến nay tổng cộng các khu bảo tồn biển được xây dựng trên toàn thế giới đã có khoảng hơn 5000 khu bảo tồn biển, chiếm 8% diện tích đại dương Bên cạnh xây dựng các công trình kĩ thuật, cơ sở hạ tầng như xây tường bảo vệ bờ biển, đê, kè sông, kè biển, xây dựng kênh mương để kiểm soát lũ lụt…để phòng tránh, giảm thiệt hại do thiên tai, thảm họa gây ra, các giải pháp sinh học, phi công trình như tăng cường bảo vệ đa dạng sinh học, các hệ sinh thái tự nhiên ven biển nhằm tạo vùng đệm vững chắc, giúp giảm nhẹ thiệt hại, nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu cho người dân ven biển cũng được chú trọng triển khai, áp dụng tại nhiều quốc gia và được đánh giá như là một phương thức giảm nhẹ thiệt hại,

Trang 33

ứng phó với BĐKH hiệu quả trong bối cảnh BĐKH ngày càng diễn biến phức tạp Tại Indonesia, Srilanka, Ấn độ, Thái Lan và Malaysia, chương trình “Đới bờ xanh (Green Coast)” nhằm khôi phục nơi cư trú tự nhiên ven biển thông qua các hoạt động trồng đước, và các cây trồng ven biển đã được triển khai và thu được nhiều kết quả tích cực giúp bảo vệ cộng đồng dân cư trước tác động của biến đổi khí hậu bao gồm bão, lũ, lụt, xâm nhập mặn và xói mòn hoặc tại Trinidad và Tobago, sau khi triển khai dự án trồng rừng, khôi phục đất ngập nước với sự hỗ trợ của WorldBank, hàng ngàn hecta diện tích đất ngập nước đã được trồng và khôi phục, dự án đã tạo ra một cơ hội quan trọng kết hợp giữa mục tiêu giảm thiểu khí nhà kính với nhu cầu thích ứng với BĐKH, đồng thời việc khôi phục đất ngập nước cũng tạo ra một vùng đệm, lá chắn tự nhiên quan trọng trước tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng

2.4.2 Nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm cửa sông ven biển ở Việt Nam

Theo đánh giá của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, có 6 nguyên nhân chính dẫn đến một số tai biến và sự cố môi trường tại vùng cửa sông ven biển Việt Nam Đó là những hiện tượng tự nhiên cực đoan tảo độc và thủy triều đỏ, bão và lũ lụt; hoạt động của con người như giao thông vận tải biển, khai thác khoáng sản dưới đáy biển gây tràn dầu, tràn hóa chất gây thiệt hại về kinh tế, tính mạng và sức khỏe con người, ô nhiễm môi trường Và lịch sử đã chứng minh, tất cả những nguyên nhân sự cố diễn ra ở những vùng biển xa bờ nhất cũng vẫn có những tác động đáng kể tới môi trường vùng bờ, cửa sông ven biển Đơn cử như các vụ tràn dầu ở ngoài khơi không những làm thiệt hại về kinh tế hàng trăm tỷ đồng mà tất cả đều dạt vào vùng ven bờ, gây thảm họa nghiêm trọng về môi trường cũng như hệ sinh thái

Môi trường vùng cửa sông ven biển cũng rất dễ tổn thương bởi hệ thống cầu cảng, các khu công nghiệp bám biển hoặc các vụ vận chuyển, buôn lậu qua lại vùng biển Việt Nam như 4 vụ rò rỉ hóa chất gây ô nhiễm môi trường biển diễn ra cách đây 6 – 7 năm do tai nạn hàng hải 5.000 tấn phân urê của tàu Viva Ocean, quốc tịch Panama đã bị nước biển tràn vào làm gần 1.500 tấn NH4-N tràn ra vùng Bãi Trước của thành phố Vũng Tàu, ảnh hưởng đến du lịch và nuôi trồng thủy sản Hoặc tháng 3/2002, bọn buôn lậu ném 100kg xyanua xuống vùng biển gần cửa sông Trà Khú - Quảng Ngãi, làm tôm cá chết hàng loạt và gây tác hại nhiều mặt đến môi trường và nguồn lợi thủy sản tại đây

Trang 34

Đến thời điểm này, đã có tới 14% tập đoàn san hô trên vùng biển Việt Nam đã chết; đồng thời hiện tượng xói lở bờ biển đang diễn ra phức tạp hầu hết trên các bờ biển, nơi ít nhất nước biển lấn vào đất liền 50m, nhiều nơi tới 200 - 250m Mặt khác, vùng ven biển Việt Nam đã và đang gánh chịu nhiều cơn bão biển ngày càng khó dự báo, mỗi năm làm chết hàng trăm người và thiệt hại vật chất lên hàng nghìn tỷ đồng

Song hậu quả to lớn và tiềm tàng nhất về tai biến và sự cố môi trường làm tổn thương sâu sắc vùng ven biển đó là biến đổi khí hậu và nước biển dâng Theo nghiên cứu với các kịch bản đã được các nhà khoa học và cơ quan chức năng đưa ra, nếu nước biển dâng thêm 1m trong 100 năm tới, Việt Nam sẽ có 17 triệu người phải gánh chịu lũ lụt hàng năm, các biện pháp phòng vệ sẽ tiêu tốn thêm 2,4 tỷ USD Chính vì vậy, việc huy động sự đánh giá lại những tác động nghiêm trọng của tất cả các ngành cùng chung khai thác thác kinh tế biển vào viêc điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế ngành để giảm tổn thương vùng ven biển là việc làm hết sức quan trọng

Tăng cường đánh giá, dự báo: Các nghiên cứu về đánh giá tổn thương tài nguyên và môi trường biển Việt Nam chỉ mới bắt đầu từ cuối thế kỷ XX Tuy vậy, đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu theo các hướng tiếp cận khác nhau Trong đó đáng chú ý là kết quả của nhóm nghiên cứu do giáo sư - tiến sỹ Mai Trọng Nhuận tiến hành từ năm 2001 đến nay Qua nghiên cứu, điều tra, nhóm các nhà khoa học này đã xây dựng được bản đồ tổn thương và đề xuất biện pháp giảm thiểu cho nhiều địa phương ở vùng ven biển Việt Nam Đề tài:

“Nghiên cứu đề xuất mô hình, giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên địa chất đới duyên hải, lấy ví dụ vùng Phan Thiết - Vũng Tàu” đã đánh giá khả năng tổn thương của một số hệ sinh thái, như hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn ven biển phục vụ cho việc quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái này

Nghiên cứu đánh giá khả năng tổn thương của đất ngập nước vùng ven biển cho khu đất ngập nước Ramsar Xuân Thủy - Nam Định, cũng đã được thực hiện Qua đó, đã lập bản đồ các vùng dễ bị tổn thương và cho chim di cư - đối tượng có giá trị bảo tồn cao của khu Ramsar này; đánh giá khả năng ứng phó của khu vực và đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý đất ngập nước Đây là một nghiên cứu có giá trị phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng bền vững khu Ramsar Xuân Thủy nói riêng và các vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam nói

Trang 35

chung

Song song với những nghiên cứu đánh giá tổn thương vùng ven biển, có nhiều nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường cho vùng ven biển đã được thực hiện Tiêu biểu như nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường cho vùng ven biển Đà Nẵng Những nghiên cứu này tập trung đánh giá khả năng gây rủi ro của các yếu

tố như tràn dầu, các chất ô nhiễm trong nước biển và trầm tích tác hại trực tiếp tới rừng ngập mặn, rạn san hô, các loài sinh vật biển

Về nghiên cứu đánh giá tổn thương vùng ven biển do biến đổi khí hậu, tháng 1/2009, Chương trình Kinh tế và Môi trường Đông Nam Á (EEPSEA) đã công bố bản đồ tổn thương do biến đổi khí hậu của IPCC, để đánh giá tổn thương cho các nước trong khu vực Với Việt Nam, đánh giá được thực hiện cho

53 tỉnh, thành phố Năm 2008, Oxfam (Liên minh quốc tế của 15 tổ chức) đã có nghiên cứu về biến đổi khí hậu và tác động đến người nghèo ở Việt Nam, với điểm nghiên cứu ở Bến Tre và Quảng Trị

Nghiên cứu ở Bên Tre với kịch bản nước biển dâng 1m vào năm 2100, Oxfam đã đưa ra được các dự đoán về tổn thất đất đai, ảnh hưởng đến người dân, nhất là người nghèo do các tai biến về nước biển dâng, bão lụt và nhiễm mặn

Nhằm nghiên cứu, điều tra đánh giá một cách toàn diện về lĩnh vực này nhằm phục vụ đắc lực cho Chiến lược, Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nhất là Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, ngày 13/6/2008, Thủ tướng Chính phủ

đã phê duyệt Đề án 80 về “Hợp tác quốc tế về biển đến năm 2020" Theo đó, các hoạt động thuộc nhiệm vụ hợp tác quốc tế đã và đang được lồng ghép thực hiện với các chương trình như Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Biến đổi khí hậu (NTP), PEMSEA, Chương trình hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ về khoa học, công nghệ biển góp phần tăng cường năng lực quản lý nhà nước cho Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, các bộ, ngành liên quan và các địa phương trên cả nước

Đề tài áp dụng các mô hình hiện đại nhằm đánh giá, phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại các tác động môi trường cửa hiện tượng đóng/mở các cửa sông, đầm phá phục vụ chiến lược phát triển bền vững kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường tại dải ven biển Nam Trung bộ (Đà Nẵng – Bình Thuận) của T.s Lê Đình Mầu, (2016) đã xác định được hiện trạng, nguyên nhân và cơ chế của hiện tượng đóng/mở các cửa sông, đầm phá tại dải ven biển NTB và Đánh giá những tác

Trang 36

động môi trường và đề xuất các hướng phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại của hiện tượng đóng/mở các cửa sông, đầm phá phục vụ chiến lược phát triển bền vững kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường tại dải ven biển NTB

Ngoài các công trình nghiên cứu thì chính phủ Việt Nam đã có các cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường vùng cửa sông ven biển thông qua các Luật Tài nguyên nước 2012, Luật tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo 2016 Đây là các công cụ giúp nhà nước quản lý tài nguyên nước ven biển trong đó có khu vực cửa sông Cụ thể hợn ngày 17 tháng 12 năm 2014 thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam 2020 tầm nhìn 2030 nhằm Hạn chế đến mức thấp nhất xung đột giữa bảo vệ, bảo tồn với khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế; tạo lập sinh kế bền vững cho các cộng đồng ven biển, tăng cường năng lực và khả năng ứng phó với sự cố môi trường, thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng vào các hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường đới bờ; các quá trình lập kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian của đới bờ Chiến lược đề ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: Hoàn thiện chính sách, pháp luật tạo cơ sở pháp lý thực hiện hiệu quả quản lý tổng hợp đới bờ; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ở đới bờ; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường; bảo vệ, duy trì và phục hồi các sinh cảnh, hệ sinh thái, tài nguyên, nguồn lợi và các giá trị tự nhiên, văn hóa, lịch sử tại đới bờ; ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực do con người,

tự nhiên và biến đổi khí hậu đến tài nguyên và môi trường đới bờ

TRƯỜNG NƯỚC KHU VỰC 3 CỬA SÔNG VĂN ÚC, BA LẠT, CỬA ĐÁY TRƯỚC NĂM 2015

Nghiên cứu quá trình động lực, sự báo sự vận chuyển bùn cát, bồi tụ - xói

lở vùng ven biển, cửa sông phục vụ phát triển hệ thống cảng, bến và cụm công nghiệp trên sông Văn Úc, Nguyễn Văn Cư (2009), Viện khoa học công nghệ Việt Nam đã chỉ ra môi trường động lực sa bồi vùng cửa sông ven biển Văn úc rất nhạy cảm và biến động mạnh Vì vậy, mọi hoạt động dan sinh kinh tế ở vùng này cần phải xem xét thận trọng và chỉ được tiến hành khi đã có cơ sở khoa học chắc chắn Các dự án đầu tư ven biển, dặc biệt là các công trình dân sinh, kinh tế kể cả việc quai đê, đắp đầm nuôi trồng thủy sản, nạo vét luồng, điều tiết dòng chảy,

Trang 37

đào kênh mới, khai thác cát nhất thiết phải có đánh giá tác động môi trường chi tiết

Ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng tới các quý trình thủy lực vùng cửa sông Hồng – Thái Bình, Phạm Văn Vỵ (2009) Đại học Khoa học Tự nhiên, chế độ thủy triều của vùng ba cứa sông Văn úc, Đáy và Ba Lạt thuộc chế độ nhật triều của vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ, trung bình trong một tháng có hai kỳ nước lớn với cường độ 3- 4m Xâm nhập mặn thường xuất hiện vào các tháng cuối mùa khô, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất vào những ngày triều cường trên sông Văn Úc là 25 -35 km, Trên sông Hồng là 20 -23 km, trên sông Đáy là

15 – 17km

TS Vũ Hoàng Hoa Trường Đại học Thủy Lợi (2006) Nghiên cứu, dự báo

xu thế diễn biến xâm nhập mặn do nước biển dâng cho vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ đã trình bày kết quả nghiên cứu về diễn biến xâm nhập mặn tại chín cửa sông chính vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ trong đó có Văn úc, Ba lạt và cửa Đáy để làm cơ sở xây dựng biện pháp ứng phó với mối hiểm họa nước biển dâng

TS.Vũ Hoàng Hoa và Th.S Nguyễn Thị Hằng Nga(2009) trong dự án Thực trạng môi trường nước vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, đã cho kết quả một

số mẫu nước vùng cửa sông ven biển từ Thái Bình đến Nam Định có nồng độ kim loại Fe, Cu, Zn, As là khá cao Đây là những nguyên tố có hại cho các loài động vật thủy sinh và rất độc cho con người khi ở hàm lượng vượt giá trị giới hạn cho phép Hàm lượng các kim loại chì, thuỷ ngân, chrom, cadmi trong nước biển ở vùng nghiên cứu còn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép đối với nuôi trồng thuỷ sản

Đoàn Thị Thu Trà và cs (2008) trong báo cáo Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ ở cửa sông Hồng tại Thái Bình và Nam định đã cho thấy độ ôxy hoà tan (DO) của vùng biển thấp, trung bình từ 5,1(Ba Lạt) đến 7,6(Văn Úc) nộng đồ Fe cửa Văn Úc là 0,32(mg/l), Ba Lạt là 0,22 (mg/l) và của Đáy là 0,17(mg/l) qua khảo sát đều thấy vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nguyên nhân là do chất thải công nghiệp, đô thị, các khu dân cư và những hoạt động trên biển gây ra

Các nghiên cứu trên đều cho cái nhìn tổng quan về khu vực ba cửa sông ven biển là cửa Đáy, cửa Ba Lạt và cửa Văn úc, đây là những khu vực rất nhạy cảm với môi trường, chịu tác động thường xuyên của các hoạt động kinh tế, xã

Trang 38

hội, thiên tai và đặc biệt là biến đổi khí hậu, nước biển dâng Tuy nhiên việc đánh giá chi tiết hiện trạng chất lượng môi trường nước khu vực 3 cửa sông còn chưa

rõ và thiếu những nghiên cứu về xu thế diễn biến môi trường nước khu vực này

để có được những đánh giá chi tiết qua đó phục vụ công tác quản lý và bảo vệ môi trường khu vực ba cửa sông Văn úc, Đáy và Ba Lạt được tốt hơn

Trang 39

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Chất lượng nước mặt và các vấn đề liên quan khu vực 3 cửa sông Văn Úc,

Ba Lạt, cửa Đáy thuộc bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình

Thời gian nghiên cứu 5/2016 đến tháng 8 năm 2017

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

- Giới thiệu Khu vực 3 cửa sông: Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy thuộc bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình;

- Các vấn đề liên quan đến chất lượng nước ở vùng cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy;

3.2.2 Thực trạng quản lý môi trường nước vùng cửa sông Văn Úc, Ba lạt, cửa Đáy và nhận thức cửa người dân địa phương

- Thực trạng quản lý môi trường nước cửa sông tại các địa phương có cửa sông nằm trên địa bàn

- Nhận thức của người dân bản địa về các tác động đến môi trường nước vùng cửa sông, ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế của họ tới môi trường cửa sông Ba Lạt, Văn Úc và cửa Đáy

3.2.3 Điều tra nguyên nhân gây ô nhiễm và các nguồn xả thải từ đất liền và nuôi trồng thủy sản đến khu vực 3 cửa sông nghiên cứu

- Nguyên nhân gây ô nhiễm và nguồn xả thải từ đất liền đến chất lượng nước mặt 3 cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy

- Nguyên nhân gây ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản lưu vực 3 cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy

3.2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt vùng cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy (Kết quả quan trắc phân tích chất lượng nước mặt 2 mùa: mùa khô, mùa mưa)

- Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực cửa Văn Úc

- Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực cửa Ba Lạt

Trang 40

- Đánh giá thực trạng chất lượng nước mặt khu vực cửa Đáy

3.2.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường nước mặt khu vực 3 cửa sông Văn Úc, Ba Lạt, cửa Đáy

- Về Cơ chế chính sách quản lý liên kết vùng nguồn gây ô nhiễm;

- Về khoa học kỹ thuật;

- Về tuyên truyền giáo dục cộng đồng

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp

Luận cứ khoa học, định lý, sách giáo khoa, luận văn, luận án, tài liệu chuyên ngành, sách chuyên khảo liên quan đến môi trường đặc biệt là tài nguyên nước được thu thập từ thư viện, internet…

Các số liệu, tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học …

Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách liên quan đến quản lý chất lượng nước … thu thập từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp khu vực nghiên cứu, kèm với phiếu điều tra phỏng vấn người dân trong vùng nghiên cứu được chia theo lưu vực cửa sông (30 phiếu/1 cửa sông x 3 cửa sông = 90 phiếu)

3.3.3 Phương pháp lấy mẫu nước mặt theo sơ đồ lấy mẫu

Việc khảo sát lựa chọn vị trí mặt cắt quan trắc trạm liên tục được thực hiện theo QCVN 47: 2012/BNTMT (Thông tư số 26/2012/TT-BTNMT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường) ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc thủy văn

Phương pháp lẫy mẫu và chọn địa điểm lấy mẫu: phương pháp lấy mẫu hỗn hợp, dựa theo tiêu chuẩn TCVN 6663-6:2008 (ISO 5667-6 2005) Chất lượng nước

3.3.4 Phương pháp phân tích nước mặt

Việc lấy mẫu được thực hiện 2 mùa/năm:

- Mùa mưa:

Ngày đăng: 20/03/2021, 18:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Cư, Phạm Quang Sơn và nnk (1990), Động lực vùng ven biển cửa sông Việt Nam. Phần nghiên cứu cửa sông. Báo cáo đề tài 48B-02-01. Chương trình nghiên cứu biển 48B-02 (1986-1990), Viện Khoa học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động lực vùng ven biển cửa sông Việt Nam. Phần nghiên cứu cửa sông
Tác giả: Nguyễn Văn Cư, Phạm Quang Sơn, nnk
Nhà XB: Viện Khoa học Việt Nam
Năm: 1990
3. GS.TS Trần Hiếu Nhuệ(2010). Các nguồn thải và thải lượng ô nhiễm ven biển Việt Nam; 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguồn thải và thải lượng ô nhiễm ven biển Việt Nam
Tác giả: GS.TS Trần Hiếu Nhuệ
Năm: 2010
4. TS.Vũ Hoàng Hoa và Th.S. Nguyễn Thị Hằng Nga(2009). Thực trạng môi trường nước vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ". Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng môi trường nước vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ
Tác giả: TS.Vũ Hoàng Hoa, Th.S. Nguyễn Thị Hằng Nga
Nhà XB: Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội
Năm: 2009
7. Nguyễn Bá Quỳ (1994), Một số vấn đề diễn biến cửa sông vùng triều dưới ảnh hưởng của bão, lũ. Luận án phó tiến sỹ khoa học – kỹ thuật, Đại học Thủy lợi Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề diễn biến cửa sông vùng triều dưới ảnh hưởng của bão, lũ
Tác giả: Nguyễn Bá Quỳ
Nhà XB: Đại học Thủy lợi Hà Nội
Năm: 1994
8. Đoàn Thị Thu Trà, Phan Trọng Trịnh, Nguyễn Trung Minh(2008). Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ ở cửa sông Hồng tại Thái Bình và Nam định.Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ ở cửa sông Hồng tại Thái Bình và Nam định
Tác giả: Đoàn Thị Thu Trà, Phan Trọng Trịnh, Nguyễn Trung Minh
Nhà XB: Viện Địa chất
Năm: 2008
9. Trung tâm quy hoạch, điều tra, đánh giá tài nguyên môi trường biển và hải đảo (2012). Đánh giá tải lượng chất thải ảnh hưởng đến môi trường biển Việt Nam (khu vực Bắc bộ từ Quảng Ninh đến Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tải lượng chất thải ảnh hưởng đến môi trường biển Việt Nam (khu vực Bắc bộ từ Quảng Ninh đến Ninh Bình
Tác giả: Trung tâm quy hoạch, điều tra, đánh giá tài nguyên môi trường biển và hải đảo
Năm: 2012
15. UBND huyện Nghĩa Hưng, Nam Định(2015), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2015 huyện Nghĩa Hưng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2015 huyện Nghĩa Hưng
Tác giả: UBND huyện Nghĩa Hưng
Nhà XB: Nam Định
Năm: 2015
18. UBND huyện Kiến Thụy, Hải Phòng (2015), Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: UBND huyện Kiến Thụy
Nhà XB: Hải Phòng
Năm: 2015
19. UBND huyện Tiền Hải, Thái Bình (2015), Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: UBND huyện Tiền Hải
Nhà XB: Thái Bình
Năm: 2015
20. UBND huyện Giao Thủy, Nam Định(2015), Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: UBND huyện Giao Thủy
Nhà XB: Nam Định
Năm: 2015
21. UBND huyện Nghĩa Hưng, Nam Định(2015), Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: UBND huyện Nghĩa Hưng
Nhà XB: Nam Định
Năm: 2015
22. UBND huyện Kim Sơn, Ninh Bình(2015), Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: UBND huyện Kim Sơn
Năm: 2015
23. Nguyễn Xuân Thành & CS (2015) “Bài giảng Công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường” NXB Đại học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, CS
Nhà XB: NXB Đại học Nông nghiệp
Năm: 2015
24. Phạm văn Vỵ (2009). Ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng tới các quý trình thủy lực vùng cửa sông Hồng – Thái Bình, Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng tới các quý trình thủy lực vùng cửa sông Hồng – Thái Bình
Tác giả: Phạm văn Vỵ
Nhà XB: Đại học Khoa học Tự nhiên
Năm: 2009
25. Phạm Quang Sơn. Diễn Biến các vùng cửa sông ở ven biển đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu vận hành công trình thủy điện Hòa Bình. Trung tâm Viễn thám và Geomatic,Viện Địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn Biến các vùng cửa sông ở ven biển đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu vận hành công trình thủy điện Hòa Bình
Tác giả: Phạm Quang Sơn
Nhà XB: Trung tâm Viễn thám và Geomatic
2. Самойлов И.Б., 1952. устья рек. Географиз. Мос. стр.1-526 Khác
10. Trung tâm Quy hoạch và quản lý tổng hợp vùng duyên hải khu vực phía Bắc năm (2016). Số liệu phân tích nước cửa sông vùng ba cửa Ba Lạt, Văn Úc và Cửa đáy Khác
11. UBND huyện Tiên Lãng, Hải Phòng (2015), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2015 huyện Tiên Lãng Khác
12. UBND huyện Kiến Thụy, Hải Phòng (2015), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2015 huyện Kiến Thụy Khác
13. UBND huyện Tiền Hải, Thái Bình (2015), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2016 huyện Tiền Hải Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w