1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình nhiễm bệnh mò bao lông do demodex spp trên chó tại địa bàn hà nội, định loại bằng phương pháp sinh học phân tử

55 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu  Những chó mắc các bệnh về da đến khám và điều trị tại Phòng khám và chăm sóc Thú cưng Gaia sẽ được cạo da để kiểm tra sự có mặt của Demodicosis.. Kết quả chính v

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN LỆ GIANG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH

MÒ BAO LÔNG DO DEMODEX SPP TRÊN CHÓ

TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI, ĐỊNH LOẠI

BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC PHÂN TỬ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Lệ Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS Bùi Khánh Linh, người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Ký sinh trùng, Khoa Thú Y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng khám và chăm sóc thú cưng Gaia đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Lệ Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Khái quát chung 3

2.1.2 Vị trí demodex canis ký sinh trên chó trong hệ thống phân loại động vật học 3

2.1.3 Vòng đời phát triển 3

2.1.4 Đặc điểm dịch tễ của demodex canis gây bệnh trên chó 5

2.1.5 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do demodex canis trên chó 6

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 12

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 12

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 13

2.3 Phương pháp pcr 16

2.3.1 Phương pháp chiết tách dna 16

2.3.2 Mồi đặc hiệu sử dụng trong nghiên cứu 16

2.3.3 Cách tiến hành phản ứng pcr 16

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Địa điểm nghiên cứu 18

3.2 Thời gian nghiên cứu 18

3.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 18

Trang 5

3.3.1 Đối tượng nghiên cúu 18

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 18

3.4 Nội dung nghiên cứu 18

3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do demodex trên chó tại địa bàn hà nội 18

3.4.2 Mô tả đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do demodex sp Trên chó 19

3.4.3 Định loại loài demodex sp 19

3.4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị 19

3.5 Phương pháp nghiên cứu 19

3.5.1 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 19

3.5.2 Phương pháp kiểm tra và lấy mẫu trên da 19

3.5.3 Phương pháp quan sát, đánh giá vùng da tổn thương 19

3.5.4 Phương pháp phân loại loài demodex sp 20

3.5.5 Phương pháp phân loại giống chó nội và chó ngoại 20

3.5.6 Phương pháp phân loại nhóm lông dài và ngắn ở chó 20

3.5.7 Phương pháp đánh giá mức độ gây bệnh của demodex canis trên chó qua biểu hiện lâm sàng 21

3.5.8 Mùa vụ trong năm 21

3.5.9 Quy định lứa tuổi chó 21

3.5.10 Phương pháp xử lý số liệu 21

Phần 4 Kết quả và thảo luận 22

4.1 Khảo sát tình hình nhiễm demodicosis trên chó tại địa bàn hà nội 22

4.1.1 Tỷ lệ mặc bệnh ngoài da trên chó nuôi ở địa bàn hà nội 22

4.1.2 Kết quả chó mắc demodicosis theo các lứa tuổi 23

4.1.3 Kết quả chó mắc demodicosis theo tính biệt 23

4.1.4 Tỷ lệ truyền lây demodicosis từ mẹ sang con 24

4.1.5 Kết quả chó mắc bệnh demodicosis theo nguồn gốc (nội, ngoại) 25

4.1.6 Kết quả chó mắc demodicosis theo kiểu lông (ngắn, dài) 25

4.1.7 Kết quả chó mắc bệnh demodicosis theo mùa vụ 26

4.1.8 Sự phân bố vị trí vùng da mắc demodicosis trên cơ thể chó nuôi nhiễm bệnh 27 4.2 Định loại demodex sp 28

4.2.1 Định loại demodex sp Bằng phương pháp hình thái học 28

4.2.2 Định loại demodex canis bằng phương pháp sinh học phân tử 31

Trang 6

4.3 Mô tả bệnh lý lâm sàng của chó do demodex canis 32

4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị demodicosis 36

4.4.1 Điều trị 36

4.4.2 Phòng bệnh 38

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Kiến nghị 40

Phụ lục 1 41

Tài liệu tham khảo 42

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ mặc bệnh ngoài da trên chó nuôi ở địa bàn Hà Nội 22

Bảng 4.2 Kết quả chó mắc Demodicosis theo các lứa tuổi 23

Bảng 4.3 Kết quả chó mắc Demodicosis theo tính biệt 24

Bảng 4.4 Tỉ lệ chó con sinh ra nhiễm Demodex sp 24

Bảng 4.5 Kết quả chó mắc bệnh Demodicosis theo nguồn gốc chó (nội, ngoại) 25

Bảng 4.6 Kết quả chó mắc Demodicosis theo kiểu lông (ngắn, dài) 26

Bảng 4.7 Kết quả chó mắc bệnh Demodicosis theo các tháng trong năm 27

Bảng 4.8 Sự phân bố vị trí nhiễm Demodex sp Trên cơ thể chó 28

Bảng 4.9 Các đặc trưng của Demodex sp trên các mẫu thu được 29

Bảng 4.10 Biểu hiện lâm sàng các thể bệnh của chó mắc bệnh do Demodex sp 33

Bảng 4.11 Kết quả điều trị Demodicosis 37

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Hình thái và các giai đoạn phát triển của Demodex canis 4

Hình 2.2 Vòng đời, vị trí kí sinh và sự truyền lây của Demodex canis 4

Hình 3.1 Hình thái của ba loài Demodex 20

Hình 4.1 Demodex canis trên vi trường 30

Hình 4.2 Trứng điển hình của D canis 30

Hình 4.3 Kích thước đo được của 1 con Demodex canis 30

Hình 4.4 Kết quả điện di trên gel Agarose 1,5% 31

Hình 4.5 Demodex canis gây rụng lông, da bị viêm, nhăn nheo và đóng vảy ở chó 32

Hình 4.6 Da chó bị lở loét, đóng vẩy và Demodex canis trên vi trường 33

Hình 4.7 Demodex sp gây ra các thể, triệu chứng trên chó 34

Hình 4.8 Thuốc Dectomax (doramectin) 37

Hình 4.9 Kết quả điều trị Demodicosis 38

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Lệ Giang

Tên Luận văn: Khảo sát tình hình nhiễm bệnh mò bao lông do Demodex spp trên chó tại địa bàn Hà Nội và định loại bằng phương pháp sinh học phân tử

Định danh loài Demodex ký sinh ở chó tại Hà Nội dưới cấp độ sinh học phân tử Phương pháp nghiên cứu

 Những chó mắc các bệnh về da đến khám và điều trị tại Phòng khám và chăm sóc Thú cưng Gaia sẽ được cạo da để kiểm tra sự có mặt của Demodicosis

 Xác định tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó và xét mối tương quan về tỷ lệ nhiễm với

độ tuổi, nguồn gốc, tính biệt, mùa vụ, tình trạng lông, khả năng truyền lây từ mẹ sang con

 Định loại Demodex dựa vào đặc điểm hình thái

 Định loại bằng phương pháp sinh học phân tử, sử dụng cặp mồi (Forward GACCCGGATTATTATGAGT-3',Reverse 5'-TTAGCTTAATCTTACACTAA-3') được thiết kế theo trình tự gen của gen D canis ở GenBank (No.AB080667) Kết quả chính và kết luận

5'-Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nhiễm Demodicosis trong tổng số các trường hợp bị bệnh về da ở chó tại Hà Nội là 44,2% Bằng phương pháp sinh học phân tử đã xác định được chính xác loài gây Demodicosis trên chó tại địa bàn Hà Nội là Demodex canis, cùng với việc nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ và đặc tính gây bệnh đã cho ta cái nhìn tổng quan về căn bệnh, từ đó có thể đưa ra biện pháp phòng trị thích hợp

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Le Giang

Thesis title: Prevalence of Demodicosis in dogs in Hanoi and Demodex spp identification by molecular technology

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

The main purposes of this study are to determine some epidemiological characteristics

of Demodicosis in dogs and to give some methods of prevention and treatment this disease Identificaion of Demodex spp in dogs in Hanoi by molecular technology Materials and Methods

 Skin of dogs that show skin diseases lesion were checked under microscope for Demodicosis at Gaia Pets Clinic & Resort

 Identify the prevalence of Demodicosis in dogs by age, gender, origin, season, hair condition, ability to transmit from mother to puppy

 Morphological identificaion of Demodex spp

5'-TTAGCTTAATCTTACACTAA-3’, were published on GenBank (No.AB080667)

Main findings and conclusions

This study show that the prevalence of Demodicosis in dogs were infected with skin disease are 44.2% By molecular idnetification, has identified the exact cause of Demodicosis in dogs in Hanoi was Demodex canis Some epidermiological characteristics of Demodicosis in dogs in Hanoi were mentioned

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chó là loài động vật được thuần hóa từ rất sớm và được nuôi phổ biến ở khắp các nước trên thế giới Chúng được biết là loài động vật thông minh, dũng cảm, trung thành và gần gũi với con người Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao thì các chú chó được nuôi trong các gia đình cũng được quan tâm chăm sóc nhiều hơn, bởi lúc này chúng không chỉ đơn thuần là vật nuôi trong nhà, mà chiếm vị trí là một người bạn, một thành viên trong gia đình hay còn là người đồng nghiệp khi được huấn luyện để đảm nhiệm những công việc như dẫn đường cho người mù, cứu hộ cứu nạn, tìm kiếm điều tra tội phạm

Nước ta cũng có truyền thống nuôi chó từ xa xưa Ngoài các giống chó nội được nuôi từ lâu đời thì gần đây có rất nhiều giống chó ngoại được nhập vào nước ta làm phong phú thêm về chủng loại và số lượng các giống chó Tuy nhiên, chó là loài động vật rất mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh, số lượng chó tăng thì vấn đề về dịch bệnh cũng tăng cao gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi Chó có thể mắc nhiều bệnh khác nhau như: bệnh nội khoa, ngoại khoa, sinh sản, truyền nhiễm và kí sinh trùng Trong các bệnh trên thì kí sinh trùng là bệnh tương đối phổ biến trên chó Ghẻ trứng cá hay mò bao lông (Demodicosis) là một trong số các bệnh kí sinh trùng trên chó do Demodex spp gây nên Demodex spp

ký sinh trong bao nang lông và tuyến bã nhờn của da gây viêm ngứa và tổn thương da, làm giảm sút sức đề kháng của vật nuôi dẫn đến những bệnh kế phát nguy hiểm khác

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), mò bao lông Demodex canis chui vào nang lông và tuyến nhờn gây viêm mãn tính, biều bì phồng lên nhanh, lông rụng, vi khuẩn khác xâm nhập vào, thường là Staphylococcus chiếm chỗ và gây thành nốt mụn mủ hoặc áp xe Ký chủ có thể bị nhiễm độc gầy mòn dần rồi chết Demodex canis gây ra viêm nang lông và nhọt ở chó (Sakulploy and Sangvaranond, 2010), trường hợp bị Demodicosis nặng có thể có hạch to, hôn mê

và sốt do nhiễm khuẩn da kế phát nặng, con vật đau đớn (Mueller, 2011) Các tổn thương thường xuất hiện ở da trên mặt, tai, cổ, chân, bụng và lưng, có mùi hôi

Trang 12

tanh Chó đờ đẫn không còn nhanh nhẹn, mệt mỏi, ủ rũ, gầy mặc dù ăn rất nhiều (Sudan, 2013)

Theo Sakulploy and Sangvaranond (2010), có 3 loài Demodex mà có thể gây ra Demodicosis ở chó D canis gây viêm nang lông và mụn nhọt ở chó, D injai gây ra da nhờn của chó, D cornei có thể gây ra bệnh ngứa trên da chó Nghiên cứu hình thái và đặc điểm sinh học quan sát thấy có ba loài Demodex với một số đặc điểm khác biệt (Rojas 2012) Demodicosis khó điều trị dứt điểm, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, thẩm mĩ của chó Vì vậy, để góp phần vào việc phòng trị bệnh, làm giảm thiệt hại cho người nuôi, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm bệnh mò bao lông do Demodex spp trên chó tại địa bàn Hà Nội, định loại bằng phương pháp sinh học phân tử”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định một số đặc điểm dịch tễ của Demodicosis và loài Demodex phân bố tại địa điểm nghiên cứu nhằm xác định khả năng gây bệnh để đưa ra biện pháp phòng chống hiệu quả căn bệnh

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu trên chó có triệu chứng bệnh ngoài da thuộc các giống chó nuôi tại Hà Nội ở mọi lứa tuổi khác nhau được đưa đến khám, điều trị tại Phòng khám và chăm sóc thú cưng GAIA và Demodex sp thu thập tại địa điểm nghiên cứu

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của Demodex sp trên chó

- Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trị bệnh do Demodex sp., góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn

- Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của bệnh do Demodex sp gây bệnh trên chó trong điều kiện nuôi dưỡng hiện nay ở Hà Nội

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Khái quát chung

Bệnh Demodicosis là một trong những căn bệnh ngoài da phổ biến ở chó chủ yếu gây ra bởi ngoại ký sinh trùng có tên khoa học là Demodex canis Demodex canis ký sinh trong bao nang lông và tuyến bã nhờn của da Chó nhiễm Demodex canis thường biểu hiện như: ngứa, tổn thương ngoài da, rụng lông, thường xuất hiện quanh mắt, hai chân trước hay toàn bộ cơ thể, viêm da sâu có dịch rỉ, có mủ, mùi hôi tanh, đóng vảy Ngoài Demodex canis, hiện nay người ta còn tìm thấy 2 loài mới là Demodex injai và Demodex cornei cũng gây ra bệnh

2.1.2 Vị trí Demodex canis ký sinh trên chó trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Triệu Nguyên Trung (2013), vị trí Demodex canis ký sinh trên chó trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Trang 14

Hình 2.1 Hình thái và các giai đoạn phát triển của Demodex canis

Nguồn: Nguyễn Văn Lương (2015)

Hình 2.2 Vòng đời, vị trí kí sinh và sự truyền lây của Demodex canis

Ấu trùng

Con trưởng thành Trứng

Trang 15

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012), toàn bộ vòng đời ghẻ mò bao lông đều phát triển trên cơ thể chó Thời gian phát triển từ trứng đến con ghẻ trưởng thành khoảng hai tuần, tùy thuộc vào điều kiện sống của ghẻ và thời tiết, mùa vụ trong năm

Theo NaroAier (2013) cho biết: Toàn bộ vòng đời phát triển của Demodex canis trên cơ thể con chó Các con cái trưởng thành đẻ trứng trong da chó và phát triển thành ấu trùng ba đôi chân Những ấu trùng phát triển thành protonymph và protonymph này dần dần phát triển thành nymph và phát triển thành con trưởng thành Vòng đời phát triển của Demodex canis mất 18-24 ngày trong nang lông hoặc tuyến bã nhờn

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), mò bao lông phát triển trên da vật chủ Ấu trùng có ba đôi chân, chắc chắn có ba giai đoạn thiếu trùng Mò Demodex chịu đựng khá tốt, có thể sống vài ngày ngoài cơ thể vật chủ ở nơi ẩm Trong điều kiện thực nghiệm sống được 21 ngày trên một miếng da để ở nơi ẩm

và lạnh

2.1.4 Đặc điểm dịch tễ của Demodex canis gây bệnh trên chó

Nghiên cứu dịch tễ học cho ta cơ sở phòng trị bệnh do Demodex canis có hiệu quả Sự phát triển và gây bệnh của Demodex canis phụ thuộc vào nhiều yếu

Mò bao lông Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc tiếp xúc Chó còn non, lông ngắn, gầy yếu dễ cảm nhiễm Những chó có da non, thường tắm bằng xà

Trang 16

phòng có độ kiềm cao càng dễ cảm nhiễm bệnh Mò cũng thấy trên da con vật khỏe mạnh, đặc biệt là những chó già (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)

Theo Nayak (1997) cho biết: Chó ở độ tuổi từ 1 đến 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn chó lớn hơn 2 tuổi

Qua kết quả nghiên cứu thực tế của các tác giả, tỷ lệ nhiễm Demodex canis qua các lứa tuổi ở chó khác nhau

Theo Fondati (2010), Demodex canis đã tồn tại với số lượng nhỏ trên da của hầu hết các con chó khỏe mạnh

Barriga (1992) cho biết: Chó có hiện tượng suy giảm miễn dịch trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng do Demodex canis gây nên

Khi sức đề kháng của chó giảm rất dễ cảm nhiễm Demodex canis (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)

Ở nước ta, do điều kiện nóng, ẩm gần như quanh năm nhất là vào mùa hè

và mùa thu nên rất nhiều chó ngoại nhập vào Việt Nam thích nghi khí hậu rất kém, do đó chúng rất dễ bị stress, nó ảnh hưởng rất lớn đến sức đề kháng đây là nguyên nhân để Demodex canis phát triển và gây bệnh

2.1.5 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do Demodex canis trên chó

2.1.5.1 Biểu hiện lâm sàng

Khi nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, các tác giả đều cho thấy: Bệnh thể hiện ở nhiều mức độ từ thể nhẹ đến nặng

+ Thể nhẹ: Xuất hiện các hạt viêm hình tròn đường kính 2-10 mm ở một khu vực tách biệt như chó bị rụng lông ở mặt, quanh mắt, hay chân trước, hoặc

cả 4 chân

+ Thể nặng: Chó ngứa ngáy nhiều, da viêm đỏ, có mụn mủ, có máu và dịch vàng rỉ ra từ những vùng nhiễm bệnh, lâu ngày chó có mùi rất hôi, cũng có

Trang 17

những con chó bị nhiễm trùng kế phát làm thành lớp nhầy màu hơi vàng ở ngoài

da, dần dần không đóng vẩy Chó rụng lông theo vết mò phát triển, giảm ăn, không ngủ được, lâu ngày suy mòn rồi chết

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho biết: Hai dạng bệnh thường gặp Da dày lên và nhăn nheo xuất hiện vẩy hoặc thể vẩy, lông rụng, da ửng đỏ, cuối cùng thành màu xanh hay màu vàng đỏ Dạng khác mụn đỏ nhiễm

vi khuẩn, thường dạng này xuất hiện trước dạng vẩy, phát triển những mụn nhỏ đường kính vài minimet hoặc có thể là những nốt apce, đôi khi gặp cả những ổ hoại tử Dạng vẩy ít khốc liệt hơn

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012), triệu chứng thường xuất hiện hai dạng

- Dạng ghẻ khô: Thời kỳ đầu căn bệnh, thấy chó rụng lông trên trán, mí mắt, bốn chân da dày cộm thành mầu đỏ sẫm Chó bệnh bị ngứa thường đưa chân lên gãi

- Dạng ghẻ mủ: Trên da của chó xuất hiện những mụn mủ sưng mọng, bên trong chứa dịch màu vàng xám Tại những vùng này da nhăn nheo, lông rụng, lâu ngày chết cùng với dịch viêm bết lại tạo thành các vẩy khô cứng và dày cộm lên Trường hợp bệnh nặng, toàn thân chó trụi lông và đầy những mụn ghẻ có mủ đặc quánh bên trong, ở những vùng da mỏng như bẹn, bụng, nách xuất hiện những ổ

áp xe, khi các ổ ap xe vỡ mủ tự chảy ra ngoài, có mùi hôi tanh khó chịu

Mueller (2011) cho biết: Ở dạng nhẹ có biểu hiện ban đỏ, mụn trứng cá, trường hợp nặng thì lan rộng khắp cơ thể gây tổn thương, rụng lông, da sần, dạng vẩy, tiết dịch và loét Tổn thương da thường bắt đầu trên mặt và chân trước sau

đó lan rộng ra các cơ quan khác Đặc biệt nghiêm trọng là kế phát nhiễm khuẩn gây ra những nốt mủ, sưng tấy, làm con chó đau đớn

Theo Ali (2011), biểu hiện bệnh: rụng lông, da thô, khô và nhăn nheo, ban

đỏ, những mảng vẩy và ngứa Quan sát dưới kính hiển vi thấy sự phá hủy các lớp

hạ bì và biểu bì, tăng sinh tuyến bã nhờn và các tế bào lông, trong lớp nhú nang lông có sự xuất hiện của bạch cầu trung tính, oeosinophils, tế bào lympho và đại thực bào

Sudan (2013), biểu hiện lông rụng, da ban đỏ ngứa, da khô, dày và nhăn nheo và sừng hóa

Trang 18

NaroAier (2013) cho biết: Hai dạng của bệnh được phân loại trong những con chó bị ghẻ do Demodex canis gây ra:

(A) Dạng vảy: Màu da của con chó trở thành màu đỏ màu đồng.Rụng lông

và một số điểm không có lông trên da của con chó.Làn da trở nên dày lên và nhăn nheo

(B) Dưới dạng mụn mủ: Đó là kết quả của nhiễm khuẩn thứ phát.Mụt nhọt hoặc hình thành ổ áp-xe và đôi khi rỉ máu, từng mảng vảy bong tróc Da của con chó trở nên thường khô, giòn và có đầy đủ các mảng vảy

2.1.5.2 Tác hại gây bệnh của Demodex canis

Mò phát triển rất nhanh ở nang lông và các tuyến bã nhờn của da, cuối cùng làm các tổ chức này bị teo đi, đồng thời gây rối loạn các chức năng hoạt động sinh lý của da Bên cạnh đó nước bọt và chất thải của mò sinh ra làm cho cơ thể vật nuôi nhiễm độc, ngoài ra mò còn mở đường cho các vi sinh vật sinh mủ xâm nhập

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), mò bao lông Demodex canis chui vào nang lông và tuyến nhờn gây viêm mãn tính, biều bì phồng lên nhanh, lông rụng, vi khuẩn khác xâm nhập vào, thường là staphylococcus chiếm chỗ và gây thành nốt mụn mủ hoặc apce Ký chủ có thể bị nhiễm độc gầy mòn dần rồi chết

Sakulploy and Sangvaranond (2010) cho biết: Gần đây Demodex canis gây ra viêm nang lông và nhọt ở chó

Mueller (2011) cho biết: Trường hợp bị Demodicosis nặng có thể có hạch

to, hôn mê và sốt do nhiễm khuẩn da kế phát nặng, con vật đau đớn

Sudan (2013) cho biết: Tổn thương da trên mặt, tai, cổ, chân, bụng và lưng, có mùi hôi tanh Chó đờ đẫn không còn nhanh nhẹn, mệt mỏi, ủ rũ, gầy mặc dù ăn rất nhiều

2.1.5.3 Biện pháp phòng trị Demodex canis

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho biết: Do demodex canis nằm sâu

ở tuyến nhờn nang lông, nên khó chữa, cần phát hiện sớm, chữa ngay Điều trị theo các cách sau:

Trang 19

- Cạo lông xung quanh vùng bị bệnh, bôi lên da dung dịch trypaxin 1% với liều 0,5ml/kg thể trọng, bôi hai làn cách nhau 3-5 ngày

- Dùng ditrifon 1-2% để tắm, ngâm, sát vào nơi ghẻ

- Tiêm ivermectin 0,2-0,4 mg/kg thể trọng, tiêm dưới da

- Tiêm 0,5-1ml/kg thể trọng thuốc trypaxin 1% vào dưới da, tiêm 2-3 lần, mỗi lần cách 6 ngày, đồng thời tiêm penicillin (khi đã mưng mủ)

Theo Bùi Khánh Linh và cs (2014), phác đồ điều trị như sau:

- Cắt lông, vệ sinh vùng da bị ghẻ

1ml/20kgTT/ngày, tiêm bắp hoặc dưới da, liệu trình 3-5 ngày

- Ketoconazon 1 viên/10kgTT/ngày, uống 9 ngày đầu

- Sử dụng các loại dầu tắm trị gầu, tắm 2-3 lần/ tuần

- Tiêm dectomax: 0,05-0,06ml/kgTT, tiêm dưới da mỗi tuần 1 lần, trong vòng 4 tuần

Xét nghiệm và kiểm tra lại sau 4 tuần điều trị

Singh (2011) cho biết: Ban đầu dùng thuốc ivermectin liều 50 mg/kg/ngày

và sau đó từng bước nâng cao liều bằng 50μg/kg trong những ngày điều trị đầu tiên cho đến khi khỏi bênh Một cách khác để tăng dần liều lượng của ivermectin

là để tính toán liều lượng với khối lượng tương ứng, và sau dùng thêm 25% cho (ngày 0-2), 50% (ngày 3-5), 75% (ngày 6-8) và 100% (ngày 9 +) Kết hợp dùng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn kế phát

Theo Sudan (2013), liệu pháp kết hợp, sử dụng các thuốc kháng histamin và thuốc chống nấm, giảm các biểu hiện gãi và dị ứng Bôi kem dưỡng da dầu ôliu trên vùng bị bệnh giúp tăng sinh tế bào và phục hổi tổn thương nhanh hơn Griseofulvin và ivermectin được coi là thuốc được lựa chọn cho các ghẻ gây bệnh

Gupta Mahesh (2013) Một con chó đã được trình bày với thông tin bệnh: Ngứa trầm trọng trong 2-3 tháng qua, rụng lông xung quanh mắt, tai và chân sau

và được kiểm tra nguyên do D canis Con chó đã được điều trị bằng ivermectin 0.2mg/kg/tuần, tiêm dưới da tiêm trong 4 tuần, amitraz bôi tại vùng bị bệnh hai lần một tuần trong một tháng và chống histaminics cho một tuần Thuốc mỡ bôi tại vùng bị bệnh trong 15 ngày và axit béo omega cho một tháng Sau khi bắt đầu điều trị trong vòng một tuần tình trạng đã được cải thiện và hồi phục hoàn toàn sau 30 ngày điều trị

Trang 20

Mueller (2004) cho biết: Amitraz (0,025-0,06%) tắm mỗi ngày 1 lần liệu trình 7-14 ngày, và hàng ngày uống ivermectin 300 microg/kg thể trọng, milbemycin 2 mg/kg thể trọng và moxidectin 400 microg/ kg thể trọng Khuyến cáo để điều trị Demodicosis toàn thân ở chó Ivermectin và moxidectin dùng điều trị ngày đầu ở liều thấp hơn và bệnh súc phải theo dõi tác dụng phụ có thể có trong quá trình điều trị

Johnstone (2002) cho biết: Hai mươi ba con chó và ba con mèo bị nhiễm Demodicosis toàn thân và đã được điều trị hàng tuần bằng doramectin với liều 600mcg/kg thể trọng, tiêm dưới da Tất cả chó và mèo sau khi được điều trị có biểu hiện thuyên giảm rõ Thời gian trung bình cho đến khi có kết quả của việc cạo mẫu da đều âm tính là 8 tuần (khoảng từ 5 đến 20 tuần) Mười con chó có biểu hiện tốt sau khi điều trị đầu tiên, năm con không thành công và bảy con cần được điều trị lần thứ hai của doramectin hoặc được duy trì để thuyên giảm bằng cách tiêm hàng tháng Thời gian tới khi kết quả xét nghiệm cạo mẫu da là âm tính cho con mèo là 2-3 tuần Tiêm dưới da doramectin hàng tuần là hữu ích trong việc điều trị Demodicosis ở chó và mèo Không có tác dụng phụ toàn thân của thuốc đã được chứng minh

Hiện nay thuốc điều trị Demodex đang thịnh hành ở nước ta là ivermectin

và dorametin, trong đó dramectin đã và đang được sử dụng để điều trị ký sinh trùng hiệu quả cao

Tinh chất: Doramectin là dạng lacton macrocyclid, một hợp chất hóa học mới của avermectins, trong đó bao gồm abamectin và ivermectin, được sản xuất bởi sự lên men hiếu khí của các xạ khuẩn Streptomyces avermitilis Nó là một avermectin bán tổng hợp có cấu trúc tương tự gần abamectin và ivermectin

Cấu trúc hóa học: Doramecitn không giống như liên kết các thành phần

C-23 và một vòng xyclohexyl trên C-25

Trọng lượng phân tử: 899,11

Cấu trúc phân tử:

Trang 21

Cấu trúc hóa học doramectin

Doramectin có cấu trúc hóa học đặc biệt, với một chiếc vòng ở vị trí C-25 lõi cấu trúc hoạt động của nó Nó được phát triển mạnh do hiệu lực cao và phổ rộng Điều này có nghĩa doramectin có một khả năng tuyệt vời để tiêu diệt ký sinh trùng, cũng như duy trì nồng độ lâu hơn, phòng lâu hơn

Theo Mikota K et al (2003), các cơ chế tác động chính của doramectin là ảnh hưởng đến hoạt động của kênh ion clorua trong hệ thống thần kinh của ký sinh trùng và động vật chân đốt Doramectin liên kết với các thụ thể làm tăng tính thấm của màng với ion clorua Điều này ức chế các hoạt động điện của tế bào thần kinh trong tuyến trùng và tế bào cơ bắp ở động vật chân đốt và gây tê liệt và chết của các ký sinh trùng Doramectin cũng tăng cường giải phóng gamma amino butyric acid (GABA) ở tế bào thần kinh trước synap GABA đóng vai trò như một chất ức chế dẫn truyền thần kinh và ngăn chặn sự kích thích sau synap của nơron thần kinh bên cạnh trong tuyến trùng hoặc các sợi cơ ở động vật chân đốt Doramectin nói chung là không độc đối với động vật có vú vì chúng không có kênh chloride glutamategated và các hợp chất này không dễ dàng vượt qua hàng rào máu-não, nơi mà các thụ thể GABA gây độc ở động vật có vú

Khái quát gen MDR-1: Gen MDR-1 (Multidrug Resistance-1) là gen kháng đa thuốc, chức năng chịu trách nhiệm sản xuất một protein vận chuyển (P-glycoprotein) đại diện cho một hàng rào não, ngăn cản các loại thuốc và các chất

Trang 22

độc khác đi vào não Trong con chó khỏe mạnh bình thường đối với các mô não

và hệ thống thần kinh trung ương được bảo vệ từ nồng độ cao của các chất độc hại (chẳng hạn như thuốc) lưu thông trong máu Các gen kháng thuốc đa dạng 1 (gen MDR1) đóng một vai trò quan trọng trong các rào cản giữa các mạch máu

và mô não Nó mã hóa các protein P-glycoprotein mà là một thành phần của màng tế bào trong rào cản máu - não P-glycoprotein làm cho tất cả các loại chất độc hại (chẳng hạn như các loại thuốc như ivermectin) từ các tế bào não được đưa trở lại vào máu

Junquera (2014) cho biết: Doramectin là một lacton macrocyclic bán tổng hợp thu được từ các sản phẩm lên men của vi sinh vật đất Streptomyces avermitilis Nó có tính năng khá tương tự như của ivermectin Hoạt phổ gần giống hệt nhau

Grandin (1998) cho biết: Tiêm doramectin ít gây kích ứng hơn so với ivermectin

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho biết: Mò bao lông Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc tiếp xúc Gây nhiễm nhân tạo ít kết quả Chó còn non, lông ngắn, gầy yếu, dễ mẫn cảm nhất là khi chó bị sốt ho do virus

Mò bao lông cũng thấy trên da con vật khỏe, đặc biệt là những chó già, Vài tác giả cho rằng mò Demodex canis là ký sinh trùng thường thấy và thật ra gặp trên tất cả chó nhưng chỉ gây ra lở loét cho một số chó Khi sức khỏe giảm, dễ cảm nhiễm ho do virus, hoặc khi da xây sát Cũng tìm thấy trên da người

Theo Bùi Khánh Linh và cs (2014), mò bao lông thường ký sinh ở nang lông và gây viêm da, bệnh xảy ra quanh năm, ở mọi giống chó và tỷ lệ bệnh mắc tăng dần theo lứa tuổi Tỷ lệ nhiễm bệnh ở chó ngoại (82,3%) cao hơn chó nội (17,6%) Trong tổng số 136 ca bệnh về Demodex canis thì có tới 50 ca bệnh nằm trong giai đoạn trên 36 tháng tuổi, chiếm 36,76% Tiếp theo chó trong độ tuổi trên 12-36 tháng tuổi có 36 ca, chiếm 26,47%; chó ở độ tuổi trên 6-12 tháng tuổi

có tỷ lệ mắc 19,85%, tiếp theo chó ở độ tuổi 2-6 tháng tuổi với tỷ lệ mắc là 11,03%, và thấp nhất là chó trong độ tuổi dưới 2 tháng tuổi với tỷ lệ mắc là 5,88% Như vậy, chó ở độ tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc bệnh Demodex canis cũng khác nhau

Trang 23

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012), căn bệnh do cái ghẻ có tên là Demodex canis gây ra, ghẻ ký sinh ở bao lông (màng bọc xung quanh chân lông) hoặc trong tuyến mỡ dưới da của chó

Câu Lạc Bộ GSD Hà Nội (2011) cho biết: Demodex canis thường trú ngụ

ở vùng đầu và 4 chân, dấu hiệu thường thấy là chó bị rụng lông ở quanh mắt trông như đang đeo kính Nếu để lâu ngày không điều trị sẽ xuất hiện mủ, viêm lan toàn thân và phát mùi hôi thối khó chịu Thông thường trên da chó khỏe mạnh vẫn có Demodex canis tồn tại nhưng chưa phát triển thành bệnh, chỉ khi nào da chó bị tổn thương hay sức đề kháng suy giảm, kết hợp ăn uống thiếu chất thì lúc đó Demodex canis mới phát bệnh

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Izdebska (2010), ba loài Demodex đã được tìm thấy: D canis, D cornei

và D Injai trên mẫu phẩm da của 39 con chó khỏe mạnh D canis đã được tìm thấy trong da của 17 chó (tỷ lệ gần 42%, với cường độ11, phạm vi cường độ 1-312), chưa có biểu hiện triệu chứng, với cường độ lớn nhất trên mí mắt và trên môi D injai đã được tìm thấy trong hai con chó bị tổn thương da (tỷ lệ gần 5%, với cường độ 188, phạm vi của cường độ 155-221), trong khi đó D cornei đã có mặt ở ba con chó (tỷ lệ trên 7%, với cường độ 12, phạm vi của cường độ 8-15) Một trong những con chó này, sự lây nhiễm của cả hai loài, D cornei và D canis

là cao nhất

Theo CAPC (2015) cho biết hình thái của ba loài Demodex sp gây bệnh trên chó: D injai thân dài, mảnh, tổng chiều dài là 330-370 micron, D canis thân hơi dày, tổng chiều dài là 180-210 micron, D cornei thân ngắn, tổng chiều dài là 90-140 micron

Sakulploy and Sangvaranond (2010) cho biết: Có 3 loài Demodex mà có thể gây ra Demodicosis ở chó, D canis gây viêm nang lông và mụn nhọt ở chó,

D injai gây ra da nhờn của chó, D cornei có thể gây ra bệnh ngứa trên da chó

Theo Rojas (2012), Demodicosis chó là một bệnh nặng ngoài da và rất phổ biến ở chó Chó có thể bị ảnh hưởng bởi ba loài Demodex, chúng có thể gây ra các triệu chứng lâm sàng Ba loại hình thái của Demodex đã được phân lập từ những con chó Tây Ban Nha Nghiên cứu hình thái và đặc điểm sinh học quan sát thấy có ba loài Demodex với một số đặc điểm khác biệt và có thể được xác định là Demodex canis, Demodex injai, và Demodex cornei

Trang 24

Demodicosis chó là một bệnh da liễu ký sinh dưới da phổ biến gây ra bởi Demodex sp khác nhau Chó có ba loài Demodex được công bố, bao gồm D canis, D injai và D cornei Đa số các trường hợp lâm sàng của chó Demodicosis

là do Demodex canis gây nên (Sakulploy R and Sangvaranond A, 2010; Singh S.K et al., 2011)

Fondati (2010), Demodex canis đã tồn tại với số lượng ít trên da của hầu hết các con chó khỏe mạnh và nhận xét: Dựa trên những kết quả nghiên cứu của chúng tôi, các tỷ lệ ước tính của con chó khỏe mạnh có D canis trong da lâm sàng bình thường không vượt quá ngưỡng 5,4%, với mức độ tin cậy 95% Xem xét những phát hiện của chúng tôi và trước đó, chúng tôi đề xuất rằng, mặc dù số lượng ít của D canis có thể sống trong da của con chó bình thường, xác suất tìm thấy những con D canis ở chó bình thường là thấp Do đó, trong nhiều trường hợp, sự tồn tại của một D canis trong da nên không được coi là biểu hiện của sự bình thường

Ravera (2013) cho biết: Sự có mặt của Demodex trong da trong tất cả các con chó, không phân biệt với độ tuổi, giới tính, giống, hoặc lông ngắn hay dài Tuy nhiên, số lượng Demodex trong một con chó khỏe mạnh là rất ít DNA Demodex được khuếch đại từ tất cả 20 điểm da nghiên cứu, không có khác biệt đáng kể về mặt thống kê Sử dụng real-time PCR tìm Demodex, mặc dù số lượng rất thấp, nhưng đã được tìm thấy Demodex canis trong những vùng da bình thường của con chó khỏe mạnh

Tamura (2001) cho biết: Giữa năm 1997 và 1999, tỷ lệ Demodex canis đã được xác định ở 150 con chó Trong hai con chó, đã tìm thấy hai loài Demodex khác nhau, Demodex canis và loài khác Các loài Demodex không xác định đã có một số đặc điểm hình thái khác nhau

Theo Ordeix (2009), Demodex canis đã được tìm thấy trong lớp dưới da của con chó fox terrier wirehaired ở những vùng da bị rụng lông và da nhờn Kiểm tra mô học thực hiện ở chó cho thấy tuyến bã nhờn tăng sinh lymphoma periadnexal-plasmacytic ở vùng da bị viêm Demodex đã được theo dõi trên con chó bị bệnh Bảy con chó đã được chữa khỏi sau 2-7 tháng điều trị bằng ivermectin Sinh thiết da được lặp đi lặp lại sau khi điều trị ký sinh trùng trong hai con chó đã điều trị và thấy sự xuất hiện của tuyến bã tăng sinh lympho-plasmacytic periadnexal nơi viêm da nhẹ và không có ký sinh trùng Dựa trên

Trang 25

những phát hiện trong hàng loạt trường hợp này, các giống terrier có thể có nguy

cơ cao đối với sự phát triển của D injai gây ra bệnh rụng lông và da nhờn, và quan sát dưới kính hiển vi thấy bã nhờn tăng sinh

Hillier and Desch (2002) cho biết: Demodex canis đã được phát hiện trong

4 con chó qua phương pháp cạo sâu dưới da và soi trên kính hiển vi

Theo Badescu (2013), nghiên cứu 120 con chó bị bệnh có triệu chứng lâm sàng, được chẩn đoán giữa tháng 1 năm 2012 và tháng 12 năm 2012, Demodex canis được tìm thấy qua phương pháp cạo sâu dưới da và soi trên kính hiển vi Kết quả: Tổng tần suất nhiễm ký sinh trùng trong nhóm nghiên cứu là 40,83% Không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê với giới tính hay tuổi tác của chó

Tsai (2011) cho biết: Demodex canis đã được tìm thấy ở chó từ các khu vực phía bắc của Đài Loan Một phân tích các mẫu liên quan cho biết 7,2% (73/1013) tỷ lệ nhiễm D canis Tỷ lệ nhiễm cao nhất vào mùa đông, với tỉ lệ trung bình là 12,5% (32/255) Tỷ lệ nhiễm dao động không đáng kể theo tháng, giới tính, tuổi tác, và giống (P<0,05)

Sivajothi (2013) cho biết: Trong thời gian hai năm nghiên cứu về da liễu chó tại Bệnh viện Trường Đại học Khoa học thú y Tirupati, 32 con chó có vấn đề

về da liễu và đã phát hiện có Demodicosis Tỷ lệ nhiễm D canis là 56,25%

Fiorucci Fogel and Paradis (2015) cho biết: 18 con trong tổng số 23 con chó (78%) đã được tìm thấy Demodex canis trong da, trong khi đó 5 con chó (22%) là Demodex Cornei Như vậy số lượng Demodex canis luôn cao hơn Demodex Cornei

Theo Sastre (2012), các trình tự của ba loài Demodex giống hệt nhau, trình tự bản sắc của D canis là 99,6 và 97,3% sắc với hai chuỗi D canis có sẵn tại ngân hàng gen Các trình tự phân lập của D cornei đều giống hệt nhau cho thấy bản sắc 97,8, 98,2 và 99,6% so với phân lập D canis Các trình tự của hai chủng D injai cũng giống hệt nhau và cho thấy bản sắc 76,6% với D canis trình tự Kết luận D canis và D injai là hai loài khác nhau, với một khoảng cách di truyền của 23,3% Có khả năng Demodex thân ngắn D cornei

là một hình thái biến thể của D canis

Theo Chen (2012) cho biết: Tổng cộng có 3977 con chó được công bố ở một vài bệnh viện động vật trong thành phố Quảng Châu đã được nghiên cứu cho

Trang 26

lây nhiễm Demodex từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009 Kết quả cho thấy 977 (24,57%) chó dương tính với bệnh da liễu và 130 (13,31%) của những con chó Dermopathicdương tính với nhiễm Demodex Tỷ lệ theo mùa cho thấy cao nhất là tháng ba (4,15%) và thấp nhất là tháng mười hai (1,39%) Tỷ lệ nhiễm ở chó đực (3,67%) là cao hơn so với những con chó cái (2,74%) Chó 1-5 tuổi tỷ lệ nhiễm cao hơn với các độ tuổi khác Điều tra này cho thấy tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó trong các vùng lân cận thành phố Quảng Châu của Trung Quốc, chiếm 13,31% các trường hợp bệnh da liễu

Ali (2011) cho biết: Tổng cộng 48 con chó hoang (27 đực và 21 cái) đã được kiểm tra, trong đó có 30 (62,5%) đã bị nhiễm một hoặc nhiều loài ghẻ Hai loài ghẻ đã được xác định là Sarcoptes scabieicanis và Demodex canis Tỷ lệ nhiễm ở chó 1-2 tuổi (68,9%) cao hơn so với con chó trên 2-4 tuổi (52,6%) Mức

độ gây bệnh của ghẻ có ý nghĩa (P<0,05) ở con chó đực (66,6%) cao hơn so với con chó cái (57,1%) Những con chó gầy yếu và sức đề kháng kém có biểu bệnh cao (75,7%) so với con chó khỏe mạnh bình thường (33,3%) Tỷ lệ gây bệnh của ghẻ trên cơ thể chó có ý nghĩa (P<0,05), ở mõm (68,1%), tiếp theo khuôn mặt và

cổ (66,6%) và bụng (58,3%) và thấp nhất ở đùi và háng (40,0%)

2.3 PHƯƠNG PHÁP PCR

2.3.1 Phương pháp chiết tách DNA

Demodex sp được cho vào ống đựng mẫu và để trong liquid nitrogen trong 1 phút, làm đông tan 4 lần trong 10 phút DNA được chiết tách sử dụng

cho đến khi dùng

2.3.2 Mồi sử dụng trong nghiên cứu

Các mồi (sense: GACCCGGATTATTATGAGT-3', antisense: TTAGCTTAATCTTACACTAA-3') được thiết kế theo trình tự gen của gen D canis ở GenBank (No.AB080667) (Ya-e ZHAO – 2012)

Trang 27

3) Enzyme ADN-polymerase chịu nhiệt (hiện nay được dùng phổ biến nhất là Taq, chiết xuất từ vi khuẩn chịu nhiệt Thermus aquaticus)

Có ba giai đoạn (ba bước điều chỉnh nhiệt độ) cho một chu kỳ:

xoắn kép sẽ bị tách ra, tạo nên các sợi đơn dùng làm khuôn cho các đoạn mồi bám vào và enzym ADN-polymerase xúc tác tổng hợp

trong 1 phút, để các đoạn mồi bám vào với các trình tự bổ sung tương ứng trên các phân tử ADN khuôn

sợi ADN vừa được tổng hợp xoắn vào nhau tạo nên ADN sợi kép, chính là sản phẩm PCR

Sản phẩm PCR là hỗn hợp các chuỗi xoắn kép ADN được kiểm tra bằng cách chạy điện di trên thạch agarose nồng độ 2% Và được kiểm tra bằng ánh sáng tia UV sử dụng thước đo 100 bp DNA ladder (TAKARA, Japan)

Ngày đăng: 20/03/2021, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w