TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay, cả nước có 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ sở khám chữa bệnh và dự phòng từ cấp Trung ương đến địa phương với lượng chất thải rắn phát sinh vào khoản
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THÂN THỊ THẢO
ĐÁNH GIÁ CÔNG TAC QUAN LY CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ CỦA CÁC BỆNH VIỆN CẤP TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Thân Thị Thảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Thân Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
Danh mục chữ viết tắt vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract………ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở pháp lý 4
2.1.2 Cơ sở lý luận 4
2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và sức khỏe con người 5
2.2.1 Đối với môi trường: 5
2.2.2 Đối với con người: 9
2.3 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế 13
2.3.1 Tìm hiểu về thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới 13
2.3.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 16
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Thời gian nghiên cứu 29
Trang 53.3 Đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Nội dung nghiên cứu 29
3.5 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
3.5.2 Phương pháp ngoại nghiệp 30
3.5.3 Các phương pháp nội nghiệp 31
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 34
4.1 Khái quát quy mô và thực trạng y tế tỉnh Bắc Giang 34
4.1.1 Khái quát về y tế tỉnh Bắc Giang 34
4.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường y tế tại tỉnh Bắc Giang 37
4.1.3 Tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường 38
4.2 Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 06 bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang: 40
4.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 41
4.2.2 Tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh 43
4.2.3 Phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn y tế 46
4.2.4 Ý kiến của người dân về đánh giá công tác quản lý CTRYT 53
4.2.5 Thực trạng quản lý nhà nước về công tác quản lý chất thải rắn y tế 56
4.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý chất thải rắn y tế tại khu vực nghiên cứu 58
4.3.1 Giải pháp thu gom, phân loại, xử lý, vận chuyển, lưu trữ 58
4.3.2 Giải pháp giảm thiểu 62
4.3.3 Giải pháp kiểm soát ô nhiễm 63
4.3.4 Giải pháp về cơ chế chính sách quản lý 63
4.3.5 Biện pháp an toàn, vệ sinh lao động 63
4.3.6 Đề xuất mô hình xử lý chất thải y tế lây nhiễm 65
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Kiến nghị 71
Tài liệu tham khảo 72
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả quan trắc khí thải lò đốt rác thải y tế Del Monego 200 lắp đặt
tại Tây Mỗ - Từ Liêm – Hà Nội 8
Bảng 2.2 Nguy cơ nhiễm khuẩn từ chất thải rắn y tế 10
Bảng 2.3 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 17
Bảng 2.4 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 18
Bảng 2.5 Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ chất thải rắn y tế tại một số thành phố 23
Bảng 4.1 Tổng hợp lượng chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm 2016 36
Bảng 4.2 Bảng tổng hợp tình hình thực hiện quy định về bảo vệ môi trường của các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm 2016 39
Bảng 4.3 Vị trí địa lý 6 bệnh viện tuyến tỉnh tỉnh Bắc Giang 40
Bảng 4.4 Quy mô hoạt động của 6 bệnh viện 41
Bảng 4.5 Nguồn thải từ hoạt động khám chữa bệnh 42
Bảng 4.6 Tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại 6 bệnh viện 44
Bảng 4.7 Thực trạng phân loại CTR YT 47
Bảng 4.8 Thực trạng thu gom, vận chuyển và lưu trữ CTR YT 49
Bảng 4.9 Biện pháp xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện tuyến tỉnh tỉnh Bắc Giang 50
Bảng 4.10 Ý kiến của bệnh nhân về công tác quản lý CTRYT 54
Bảng 4.11 Phân bố nhân lực và công tác đào tạo về quản lý chất thải rắn y tế 57
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa 19
Hình 4.1 Sơ đồ tỉnh Bắc Giang 34
Hình 4.2 Hiện trạng hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 35
Hình 4.3 Tỷ lệ khối lượng CTRYT tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 37
Hình 4.4 Khối lượng CTRYT tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh tỉnh Bắc Giang 45
Hình 4.5 Lò đốt chất thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang 53
Hình 4.6 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại 6 bệnh viện 56
Hình 4.7 Sơ đồ quy trình thu gom, phân loại, quản lý chất thải rắn y tế 59
Hình 4.8 Sơ đồ công nghệ khu xử lý chất thải tập trung 67
Hình 4.9 Sơ đồ nồi hấp chân không 67
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Thân Thị Thảo
Tên luận văn: “Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của các bệnh viện cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”
Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 24 14 06 30
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác quản lý CTRYT của các bệnh viện cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý CTRYT
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu, điều tra, khảo sát thực tế kết hợp phiếu điều tra tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh về lượng chất thải phát sinh, nguồn nhân lực, công tác phân loại chất thải tại nguồn, dụng cụ lưu chứa chất thải, hệ thống xử lý chất thải
Kết quả chính và kết luận
Tổng khối lượng chất thải tại các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang là 2488,4 kg/ngày Tùy thuộc vào quy mô và loại hình bệnh viện mà cơ cấu loại chất thải là khác nhau
Các bệnh viện đã quan tâm đến công tác quản lý chất thải rắn y tế, tại cả 6 bệnh viện đều có Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, buồng bệnh có treo bảng hướng dẫn nội quy vệ sinh buồng bệnh và trực tiếp hướng dẫn nội quy buồng bệnh đối với bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân Các nhân viên y tế thực hiện phân loại chất thải tại nơi phát sinh, bố trí vị trí đặt dụng cụ thu gom chất thải phù hợp, tần suất thu gom từ 1-2 lần/ngày để hiệu suất thu gom đạt 100% Tuy nhiên, ở một số bệnh viện còn chưa trang
bị đầy đủ dụng cụ thu gom chất thải theo đúng quy định, vẫn còn tồn tại hiện tượng chất thải vương vãi trong khu vực bệnh viện Các bệnh viện đã có nơi lưu trữ chất thải riêng nhưng chưa có phòng lạnh để bảo quản chất thải lây nhiễm Hiện có 4 lò đốt rác để xử lý chất thải cho 6 đơn vị Tuy nhiên việc đốt chất thải tại các bệnh viện này lại đang gặp phải sự phản đối của các hộ dân xung quanh
Để tăng cường quản lý chất thải cần thực hiện đồng bộ các biện pháp thu gom, phân loại, xử lý, vận chuyển và lưu trữ; thực hiện các biện pháp giảm thiểu chất thải; kiểm soát ô nhiễm; thay đổi cơ chế chính sách quản lý và thực hiện các biện pháp an toàn vệ sinh lao động Đề xuất mô hình xử lý chất thải y tế lây nhiễm tập trung cho cả 6 bệnh viện bằng nồi hấp cải tiến kết hợp nghiền
Trang 10THESIS ABSTRACT
Master candidate: Than Thi Thao
Thesis title: Assessment of medical solid waste management in provincial hospitals in Bac Giang
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives:
To evaluation the actual state of medical solid waste management in provincial hospitals in Bac Giang and propose solutions to strengthen medical solid waste management
Materials and Methods
Data collection, survey, field survey and survey questionnaires at 6 provincial hospitals on amount of waste discharged, human resources, waste sorting at source, waste containers, wasting treatment system
Main findings and conclusions
Total mass of waste in provincial hospitals in Bac Giang is 2488,4 kg/day Depending on the size and the type of the hospitals, the structure is different
The hospitals have attended to medical solid waste management All 6 hospitals have Infectious Disease Control Board The champers have panels of guidelines for hygienic conditions and they have also directly guided patients and their relative regulations of the champers Nurses have sorted waste at discharging place, arrange to put waste collection equipment appropriately and collect 1-2 times/day to get 100% efficiency However, some hospitals still don't have enough tools for collecting waste, these areas still have scattered waste The hospitals have places for storing waste but don't have the cold room for preserving waste contamination There are 4 incinerators for 6 units But the burning of waste at the hospitals is objected a lot by people in the surrounding area
In order to enhance waste management, collection, sorting, handling, transportation and storage measures should be carried out in a uniform manner; we should carry out waste minimization measures; pollution control; change management policy mechanism and carry out safety and hygienic measures It’s proposed that model of medical waste treatment for all 6 hospitals is improved steamer combined with grinding
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, cả nước có 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ sở khám chữa bệnh và dự phòng từ cấp Trung ương đến địa phương với lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là chất thải y tế (CTYT) nguy hại Lượng nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế có giường bệnh là khoảng 125.000 m3/ngày Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế năm
2011, ước tính đến năm 2015 lượng chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh sẽ là
590 tấn/ngày và đến năm 2020 là khoảng 800 tấn/ ngày Thành phần chính của rác thải y tế bao gồm: bông, băng gạc, bơm kim tiêm, bệnh phẩm (nội tạng, bộ phận cơ thể), vật tư dùng để khám chữa bệnh (dao, kéo, găng tay, thanh đè lưỡi), các chất từ khâu xét nghiệm (môi trường cấy mô, vi sinh vật gây bệnh, lam kính, ống đựng máu…) Tuy khối lượng CTRYT không nhiều nhưng có các thành phần độc hại cao, tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm các bệnh như HIV; viêm gan A, B, C từ các tổn thương từ vật sắc nhọn; nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người như các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, gây nổ, gây sốc phản vệ, các hợp chất tẩy rửa có tính ăn mòn cao Rác thải y tế cũng có thể là nguyên nhân gây bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm khi không được thu gom, quản lý và xử lý triệt để
Cho đến nay, việc thực hiện phân loại, thu gom, lưu giữ CTRYT ở nhiều bệnh viện còn chưa đạt yêu cầu Đa số các bệnh viện chưa có cơ sở hạ tầng để xử
lý CTYT nguy hại, vì vậy CTRYT nguy hại chủ yếu được tự xử lý bằng phương pháp đốt với các lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Đa
số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, nhiều lò đốt đã cũ, hỏng nên có nguy cơ làm phát sinh các chất độc hại ra môi trường, trong đó có các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy như Dioxin và Furan Hệ thống xử lý nước thải của phần lớn bệnh viện chưa đáp ứng được yêu cầu đối với tất cả các thông số trong quy chuẩn về nước thải bệnh viện, vì thế có nguy cơ xả thải nhiều chất độc hại và các tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao ra môi trường nước
Để đánh giá thực trạng về CTYT cũng như những ảnh hưởng của CTYT đối với môi trường, nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan đã tiến hành điều tra,
Trang 12nghiên cứu Các nghiên cứu đã phần nào cho thấy những tồn tại trong công tác quản lý CTYT ở nước ta Hiện nay, vì nhiều lý do trong đó có áp lực về nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, sự thiếu đồng bộ
cơ sở hạ tầng của bệnh viện nên dẫn tới vệ sinh môi trường của nhiều bệnh viện chưa được đảm bảo
Tỉnh Bắc Giang có các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện và nhiều cơ sở khám chữa bệnh, là một trong các nguồn chính phát thải CTYT Theo số liệu thống kê năm 2016, toàn tỉnh có 16 bệnh viện, 14 cơ sở dự phòng, 230 trạm y tế với tổng số 3.530 giường bệnh phục vụ cho nhu cầu khám và chữa bệnh cho người dân trong tỉnh Theo Báo cáo thống kê lượng rác thải y tế toàn tỉnh năm 2016 là 1958,21 tấn trong đó lượng CTYT lây nhiễm là 283,31 tấn
Để quản lý tốt lượng CTRYT phát sinh từ hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cần tiến hành thống kê các bệnh viện, cơ sở y tế, cập nhật thu thập các
số liệu về khối lượng thành phần các loại chất thải phát sinh Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, kết hợp với các quy hoạch phát triển của tỉnh cho phép dự báo lượng CTRYT phát sinh trong những năm tiếp theo và đề ra các phương pháp quản lý và xử lý CTRYT cho phù hợp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững Do vậy, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của các bệnh viện cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng công tác quản lý CTRYT của các bệnh viện cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý CTRYT 1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh: BV Đa khoa tỉnh Bắc Giang, BV Sản nhi, BV Tâm thần, BV Lao và bệnh phổi, BV Đông Y, BV phục hồi chức năng
- Đề xuất một số giải pháp quản lý CTRYT tại các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Trang 131.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu về công tác quản lý CTRYT tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh tỉnh Bắc Giang gồm: BV Đa khoa tỉnh Bắc Giang, BV Sản nhi, BV Tâm thần, BV Lao và bệnh phổi, BV Đông Y, BV phục hồi chức năng
về công tác quản lý rác thải bệnh viện và giúp cho các nhà quản lý về môi trường
có những chính sách và công tác quản lý môi trường chặt chẽ hơn
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư số 31/2013/TT-BYT ngày 15/10/2013 của Bộ Y tế quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện;
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của liên bộ Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định
về quản lý chất thải và phế liệu;
- Quyết định số 2149/QĐ/TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải Y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 06/7/2015 của Bộ Y tế về việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong bệnh viện;
- QCVN 07:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại;
- QCVN 02:2012/ BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế;
- QCVN 55:2013/ BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thiết bị hấp chất thải y tế lây nhiễm;
2.1.2 Cơ sở lý luận
Các thuật ngữ liên quan đến chất thải y tế:
- Môi trường: Theo điều 3, chương I, Luật Bảo vệ môi trường 2014 “Môi
Trang 15trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Theo điều 3, chương I, Thông tư liên tịch số BTNMT ngày 31/12/2015 của liên bộ Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế:
58/2015/TTLT-BYT Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ
sở y tế, bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế
- Chất thải y tế nguy hại: là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
- Quản lý chất thải y tế: là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện
- Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải CTYT
- Thu gom chất thải y tế: là quá trình tập hợp CTYT từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên cơ sở y tế
- Vận chuyển chất thải y tế: là quá trình chuyên chở CTYT từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT
2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI
2.2.1 Đối với môi trường
Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường do chất thải rắn y tế chủ yếu tác động đến môi trường nước và không khí
Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2007): Kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (năm 1998) cho thấy: các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD5, NH4, Coliform và Fecal coliform ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam (2004) lượng vi khuẩn/m3 không khí cao hơn giới hạn cho phép
Trang 16- Môi trường đất: Quản lý, xử lý CTRYT không đúng quy định sẽ dẫn đến
sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp trở nên khó khăn Từ CTYT các tác nhân sinh học, vi sinh vật, vi khuẩn, nấm gây bệnh từ người bệnh, người lành mang trùng, người khỏi mang mầm bệnh được thải ra đất rồi lại xâm nhập trở lại người: Salmonella, Vibrio cholerea, Amip, trứng giun, … Các tác nhân hóa học, lý học, các kim loại nặng, các chất phóng xạ có thể lắng xuống mặt đất, gây ô nhiễm và tích tụ, người và động vật khi ăn phải rau, quả bị ô nhiễm được trồng trên đất đó
có thể mắc phải bệnh tật
Theo Trần Thị Minh Tâm (2007), khi nghiên cứu mức độ nhiễm trứng giun trong đất ở 11/11 bệnh viện huyện của tỉnh Hải Dương thì khu vực bãi rác bị nhiễm giun đũa ở mức đất rất bẩn (180-220 trứng giun/1kg đất) và bệnh viện chưa xử lý chất thải bị nhiễm cao hơn đối với bệnh viện xử lý chất thải và bị nhiễm cả trứng giun móc, giun tóc cho thấy nguy cơ ô nhiễm sang khu vực khoa phòng và khu vực xung quanh
- Môi trường không khí: Trong các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển, CTRYT có thể phát tán vào không khí các loại bụi, nha bào gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất Trong khâu xử lý, CTRYT có thể phát sinh các chất khí độc hại như Dioxin, furan từ lò đốt hay các loại chất khí như CH4, NH3, H2S từ các khu tập kết rác hay bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Hiện nay tình trạng sử dụng
lò đốt để xử lý CTYT khá phổ biến ở các nước đang phát triển Nhiều lò đốt không có hệ thống xử lý khí thải và nhiệt độ của buồng đốt thấp dưới 800oC đã làm phát thải Dioxin, furan ra môi trường gây ảnh hưởng tới môi trường sống từ
đó tác động tới sức khỏe của cộng đồng dân cư
Theo bản kiểm kê nguồn phát thải dioxin năm 1994 ở Mỹ đã xác định được lò đốt CTYT là nguồn phát sinh lượng dioxin và furan hàng đầu ở Mỹ (Thorton et al., 1996)
Dioxin là các hợp chất hữu cơ với hai vòng benzen được kết nối bởi hai nguyên tử oxy, và chứa bốn đến tám clo được thay thế cho các nguyên tử hydro trên các vòng benzen (Schecter et al., 2006) Dioxin là chất cực kỳ độc, có thời gian bán hủy ước tính ở người là 7-11 năm Chúng được biết là có khả năng gây ung thư cao và gây vô sinh ở người (Schecter et al., 2006) Furans có cấu trúc tương tự như dioxin, nhưng chỉ có một nguyên tử oxy giữa hai vòng benzen và
có các tính chất độc tương tự
Trang 17Hiệp ước EPA Hoa Kỳ ước tính rằng việc đốt rác y tế năm 1987 đã phát thải khoảng 2570g dioxin, chiếm 18% tổng số lượng dioxin do con người phát thải vào trong khí quyển Đến năm 2000, lượng phát thải dioxin từ lò đốt chất thải y tế đã giảm 85% so với mức năm 1987 xuống còn 378 g dioxin, hay 27
% tổng lượng khí thải dioxin do con người gây ra năm đó (Elliott Steen Windfeld, 2015)
EPA lưu ý rằng mặc dù lượng dioxin thải ra từ mỗi một lò đốt trong tổng
số hơn 6.000 lò đốt CTYT ở Hoa Kỳ là tương đối nhỏ, nhưng với số lượng lớn lượng chất thải được đốt lại có đóng góp vào mức độ dioxin trong khí quyển khá lớn Thực tế, hầu hết các lò đốt rác thải y tế được sử dụng ở các bệnh viện là loại
lò nhỏ không được trang bị các công nghệ kiểm soát dioxin phức tạp như các lò đốt lớn hơn có thể đáp ứng nên đã làm tăng lượng khí thải dioxin vào trong khí quyển (EPA Exposure Assessment Group, 1994)
Tại Canada, việc đốt rác thải y tế đã sinh ra một lượng đáng kể lượng khí thải dioxin trong khí quyển Mặc dù Canada đã thắt chặt các tiêu chuẩn chất lượng không khí trong vài thập kỷ qua, việc phát thải dioxin từ các cơ sở đốt rác thải y tế vẫn là nguồn thải dioxin lớn thứ hai và ước tính chiếm 22,5% tổng lượng khí thải dioxin trong nước (Elliott Steen Windfeld, 2015)
Những vấn đề phát thải trên quy mô lớn được báo cáo, không đưa ra một bức tranh đầy đủ về tác động của phát thải liên quan đến các cơ sở đốt Trên thực
tế, nồng độ của dioxin ở những khu vực gần lò đốt cao hơn đáng kể so với nồng
độ dioxin khí quyển (Batterman, 2004) Đây là mối quan tâm đặc biệt vì các nước đang phát triển thường đốt CTYT trong các điều kiện không kiểm soát được và không có hệ thống xử lý khí thải, dẫn đến lượng phát thải dioxin cao từ các cơ sở xử lý chất thải (Ananth et al., 2010) Do đó, dân số sống gần các cơ sở thiêu hủy CTYT ở các nước đang phát triển thường bị phơi nhiễm với mức độ dioxin rất cao
Việc đốt các chất thải, cả y tế và đô thị, được ước tính chiếm 13% lượng phát thải thủy ngân do con người gây ra ở Bắc Mỹ, đứng thứ hai chỉ sau đốt than (55%) là nguồn phát thải (Pacyna et al., 2006)
Tại Canada, các lò đốt CTYT truyền nhiễm ước tính chiếm khoảng 9% khí thải thủy ngân trong khí quyển hàng năm (Weir, 2002) Hơn nữa, ít nhất 3% lượng phát thải thuỷ ngân do con người toàn cầu bắt nguồn từ quá trình đốt rác
Trang 18thải (Pacyna et al., 2006) Phát thải thủy ngân trong không khí mang một nguy cơ
về sức khoẻ và môi trường, vì thủy ngân trong không khí có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể thông qua phổi nơi nó tích tụ trong các mô mỡ Điều này liên quan đến việc tăng nồng độ thủy ngân trong cơ thể đã ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, bài tiết và sinh sản (Wolfe et al., 1998)
Tại Việt Nam hiện có 369 lò đốt hai buồng, 127 lò đốt một buồng Trong
đó đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng chưa cao Theo Phạm Văn Hải (2014) nghiên cứu về khí thải lò đốt rác thải y tế Del Monego 200 lắp đặt tại Tây Mỗ - Từ Liêm – Hà Nội, chất lượng khí thải được thể hiện trong bảng 2.1 Bảng 2.1 Kết quả quan trắc khí thải lò đốt rác thải y tế Del Monego 200 lắp
đặt tại Tây Mỗ - Từ Liêm – Hà Nội
- Môi trường nước: CTYT là loại chất thải rất nguy hiểm nếu không được
xử lý tốt sẽ là nguyên nhân gây ra các mầm bệnh và lây lan dịch bệnh do nước thải ngấm vào nguồn nước nhất là hệ thống nước ngầm Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến môi trường nước đó chính là nước thải từ các bệnh viện,
cơ sở y tế không được xử lý mà thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung
Trang 19Theo Bùi Thanh Tâm (2014): Nếu trong nước thải sinh hoạt khu vực dân
cư tỉ lệ vi khuẩn gây bệnh/tổng số trực khuẩn đường ruột là 1/104 – 1/106 thì trong nước thải của khoa lây trong bệnh viện là 1/102 – 1/103, gấp 100 – 1000 lần Người ta còn nhận thấy, trung bình trong 1 lít nước thải bệnh viện có từ 5000 - 10.000 virut gây bệnh, 10 - 15 trứng giun đũa Trong 1 lít nước thải bệnh viện Lao có thể có từ 106 - 109 trực khuẩn lao có sức đề kháng ở ngoại cảnh, thậm trí còn tìm thấy trực khuẩn lao ở nơi thải nước cống bệnh viện xa tới 500m Ở trong nước, vi khuẩn thương hàn có khả năng sống tới 12 – 15 ngày, vi khuẩn tả sống được 4 – 28 ngày
Theo kết quả nghiên cứu của Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường (2014), phần lớn các bệnh viện đều để nước thải tự thấm vào đất trong phạm vi bệnh viện, gây ô nhiễm nặng nề Kết quả phân tích nước thải của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long, hàm hượng BOD5 trung bình là 127 mg/l, COD là 184 mg/l, Coliform là 16,1.106 MPN/100 ml và feacal colform là 11,1.106 MPN/100
ml, vượt nhiều lần cho phép của QCVN 28/2010/BTNMT
2.2.2 Đối với con người
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với CTRYT nguy hại là những người có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các CTRYT và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản
lý chất thải Nhóm người có nguy cơ cao gồm: bác sĩ, y tá, hộ lý, nhân viên hành chính của bệnh viên, bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú, khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân, những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, đặc biệt là những người thu gom và vận chuyển CTRYT
2.2.2.1 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật bệnh truyền nhiễm nào Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua: Da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da), các niêm mạc (màng nhầy), đường hô hấp (do xông, hít phải), đường tiêu hóa (Bảng 1.2)
Trang 20Bảng 2.2 Nguy cơ nhiễm khuẩn từ chất thải rắn y tế
Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế Nhiễm khuẩn tiêu
hóa
Nhóm enterobacteri: salmonella, shigella spp, vibrio cholerac, các loại giun sán
Phân hoặc chất nôn
Nhiễm khuẩn hô
hấp
Vi khuẩn lao, virus sởi, streptococcus pneumoniac
Các loại dịch tiết, đờm
chất nhờn) Viêm màng não Não mô cầu (neisseria
meningitides)
Dịch não tùy
dục Sốt xuất huyết Các loại virus: junin, lassa, ebola,
Marburg
Tất cả các sản phẩm máu
và dịch tiết Nhiễm khuẩn huyết
Máu
Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới WHO (2009)
Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các
vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là những mối nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khỏe trong các loại chất thải bệnh viện
Trang 21Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong các cơ sở y tế, điều dưỡng viên và hộ lý là 2 nhóm người chính có nguy cơ cao do tổn thương bởi các vật sắc nhọn Tỷ lệ hàng năm khoảng 10-20/1.000 người bị vật sắc nhọn nhiễm khuẩn gây xước hoặc chọc thủng da
2.2.2.2 Các nguy cơ từ chất thải hoá học và dược phẩm, chất thải gây độc gen
Theo Nguyễn Huy Nga (2012), nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây sốc phản vệ ) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng
Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao
Các sản phẩm hóa chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên khi được tưới tiêu bằng nguồn nước này Những vấn đề tương tự cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác,
do các kim loại nặng như thủy ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng
và tẩy uế
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xẩy ra trong
Trang 22quá trình chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ qua da; qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chất bẩn có tính độc Mối nguy hiểm có thế xẩy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu
Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình đặc biệt trong nội bào như quá trình tổng hợp AND hoặc phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như nhóm alkyl hóa, không phải pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính tại một vài thời điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc chống ung thư lại gây nên ung thư và gây đột biến Khối u thứ phát, xảy ra sau khi ung thư nguyên phát đã bị tiêu diệt, được biết hình thành
do sự kết hợp của các công thức hóa trị liệu
Nhiều loại thuốc có độc tính gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt Ví dụ như thuốc gây rộp da như: Aclarubicin, asacrine, vinblastine… hay gây kích thích như carmustine, teniposide… Chúng cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
2.2.2.3 Các nguy cơ từ chất độc phóng xạ
Những bệnh do chất phóng xạ gây ra được xác định bởi liều lượng và kiểu phơi nhiễm Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như đau đầu, ngủ gà, nôn đồng thời ảnh hưởng tới chất liệu di truyền
Trên thế giới các nguồn phóng xạ được sử dụng rộng rãi trong y học và trong những ứng dụng khác Người dân có thể bị tiếp xúc với rác thải y tế có hoạt tính phóng xạ thường có nguồn gốc từ liệu pháp điều trị phóng xạ không được xử
lý đúng tiêu chuẩn hoặc do tiếp xúc với các chất phóng xạ trong các cơ sở điều trị
do hậu quả của các thiết bị X - Quang hoạt động không an toàn hoặc do việc chuyên chở các dung dịch xạ trị không đảm bảo, thiếu các thiết bị giám sát trong
xạ trị liệu
Theo Nguyễn Huy Nga (2012), nhiều tai nạn được ghi nhận do việc thanh toán và xử lý các nguyên liệu trong trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do tiếp xúc với mối nguy cơ Ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệu để chứng minh một trường hợp ảnh hưởng của ung thư lên cộng
Trang 23đồng có liên quan đến việc rò rỉ chất thải phóng xạ trong bệnh viện Một viện chuyên về trị liệu bằng phóng xạ trong khi chuyển địa điểm đã làm thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêm phong; một người dân chuyển đến địa điểm này đã nhặt được nó và mang về nhà Hậu quả là đã có 249 người tiếp xúc với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã chết hoặc gặp hàng loạt các vấn đề về sức khỏe
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.3.1 Tìm hiểu về thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới Xử
lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này
Theo nghiên cứu của Lê Minh Sang (2016) về “Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong quản lý chất thải y tế” cho biết:
* Xây dựng khung chính sách về quản lý CTYT:
Ở Mỹ, Quốc hội thông qua đạo luật theo dõi CTYT vào năm 1988, trong
đó yêu cầu Cục Bảo vệ môi trường (EPA) triển khai chương trình theo dõi trong hai năm Sau đó, các bang và cơ quan chính quyền liên bang chịu trách nhiệm quy định và hướng dẫn quản lý CTYT Hầu hết 50 bang đã ban hành quy định riêng về quản lý CTYT Các cơ quan chính quyền liên bang chịu trách nhiệm ban hành các hướng dẫn kỹ thuật như: Tiêu chuẩn phơi nhiễm nghề nghiệp với vi sinh vật gây bệnh qua đường máu của Cục Sức khỏe và an toàn nghề nghiệp; Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở y tế (CSYT) của Trung tâm kiểm soát bệnh và Các thực hành môi trường tốt nhất cho CSYT của EPA
Các nước có thu nhập cao ở châu Âu và châu Á quản lý CTRYT theo nguyên tắc lồng ghép Ở Anh, khung chính sách bao gồm Luật BVMT năm 1990
và quy định quản lý CTNH năm 2005 Ở Đức, quản lý chất thải nói chung được thực hiện theo Luật Quản lý chất thải; vận chuyển CTNH phải theo Quy định về hàng hóa nguy hiểm; còn thiêu đốt chất thải phải tuân thủ Luật Kiểm soát ô
Trang 24nhiễm không khí Công tác phân loại và tiêu hủy CTYT được lồng ghép trong quản lý chất lượng CSYT Liên minh châu Âu không có văn bản pháp quy riêng
về quản lý CTYT nhưng có nhiều Nghị quyết, quyết định hướng dẫn quy trình và thiết bị cho các loại CTNH khác nhau
Ở Nhật Bản, quy định đầu tiên về quản lý chất thải lây nhiễm được ban hành năm 1992, bổ sung thêm vào Luật Tiêu hủy chất thải có từ năm 1970 Ở Hàn Quốc, Quốc hội sửa đổi Luật Quản lý chất thải năm 1999 để kiểm soát tốt hơn CTRYT từ nơi phát sinh tới nơi tiêu hủy cuối cùng Bên cạnh Luật, các nước còn ban hành các hướng dẫn kỹ thuật như Hướng dẫn quản lý an toàn CTYT (Anh), các quy định về Kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn nghề nghiệp (Đức), Hướng dẫn quản lý chất thải lây nhiễm (Nhật Bản), Hướng dẫn quản lý CTYT (Hàn Quốc)
Nhiều nước đang phát triển đã tăng cường khung chính sách về quản lý CTRYT để đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trường và các dịch bệnh mới nổi
Ấn Độ ban hành Quy định về quản lý chất thải y sinh từ năm 1998 và tiếp tục bổ sung, sửa đổi quy định này vào các năm 2000, 2003, 2016 Ban Kiểm soát ô nhiễm Trung ương đã xây dựng một loạt các hướng dẫn về quản lý chất thải trong tiêm chủng, chất thải thủy ngân, bơm kim tiêm tự hủy, lò đốt CTRYT Cùng lúc đó, Bộ Y tế Ấn Độ và chính quyền các bang cũng có những hướng dẫn
về quản lý CTYT Để khuyến khích tập trung hóa và tư nhân hóa dịch vụ xử lý chất thải y sinh, Ban Kiểm soát ô nhiễm Trung ương ban hành Hướng dẫn cơ sở
xử lý chất thải y sinh tập trung và Bộ Môi trường hỗ trợ 25% tổng chi phí đầu tư
cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung theo cơ chế hợp tác công tư
Trung Quốc ban hành Quy định kiểm soát CTYT vào năm 2003 sau khi xảy ra dịch SARS Năm 2004, Trung Quốc phê duyệt Kế hoạch quốc gia xây dựng các cơ sở xử lý CTNH và CTYT tập trung Các văn bản pháp lý quy định quản lý CTYT bao gồm các giải pháp cho hồ sơ vận chuyển CTNH, danh mục phân loại CTYT, giải pháp quản lý chất thải từ các CSYT, giải pháp xử lý vi phạm hành chính trong quản lý CTYT Ngoài ra, Trung Quốc cũng có một số tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật như: Tiêu chuẩn kỹ thuật cho lò đốt CTRYT, Tiêu chuẩn kỹ thuật cho phương tiện vận chuyển CTRYT, và đang thử nghiệm tính năng kỹ thuật cho Tiêu hủy CTYT tập trung
Trong khu vực Đông Nam Á, đa số các nước đã có quy định, kế hoạch và hướng dẫn quản lý CTRYT nhưng ở tình trạng khác nhau Malayxia và Philipin
Trang 25có khung pháp lý về quản lý CTRYT Từ những năm 90 của thế kỷ XX, Malayxia đã có chiến lược tư nhân hóa và tập trung hóa xử lý CTRYT Philipin
đã cấm thiêu đốt CTRYT từ tháng 7/2003 và có chính sách loại bỏ dần thủy ngân trong y tế Lào và Campuchia cũng có quy định và chính sách cụ thể trong quản
lý CTYT Ngược lại, Inđônêxia và Myanma chưa đầu tư cải thiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý CTYT
Việt Nam hiện có một khung chính sách tương đối chặt chẽ về quản lý CTRYT Luật BVMT năm 2014, Nghị định số 38/20015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT về quản lý CTNH và Thông
tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT về quản lý CTYT là các văn bản pháp lý quan trọng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch hệ thống xử lý CTRYT
và yêu cầu các tỉnh, thành phố hướng đến mô hình xử lý tập trung Bên cạnh đó, các Bộ đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật của lò đốt CTRYT, Hướng dẫn áp dụng công nghệ không đốt và Sổ tay quản lý chất thải bệnh viện Tình hình quản lý CTRYT trong các bệnh viện có nhiều tiến bộ trong những năm qua, tuy nhiên,
mô hình xử lý CTRYT tập trung mới chỉ tồn tại ở một số thành phố lớn
có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ Tại Mỹ, số lượng lò đốt CTRYT đã giảm mạnh từ 2.373 vào năm 1995 xuống còn 54 lò trong năm 2010 và còn 33 lò trong năm 2013 Tại Canada, năm 1995 có 219 lò đốt nhưng đến năm 2003 chỉ còn 56
lò đốt vận hành Tại châu Âu, nhiều nước đã đóng cửa nhiều lò đốt chất thải y
tế Tại Đức, năm 1984 có 554 lò đốt hoạt động nhưng đến năm 2002 nước này đã cho đóng tất cả các lò đốt quy mô nhỏ trong các bệnh viện, mặc dù hiện vẫn còn vận hành một số lò đốt quy mô lớn Tại Bồ Đào Nha, năm 1995 có 40 lò đốt nhưng năm 2004 chỉ còn 1 lò đốt hoạt động Ai-len có 150 lò đốt hoạt động năm
1990 nhưng đến năm 2005 đã ngưng hoạt động toàn bộ các lò đốt chất thải y tế
Để hạn chế việc thiêu đốt, các nước phát triển đã áp dụng công nghệ không đốt như khử khuẩn bằng hơi nước (lò hấp), khử khuẩn bằng vi sóng, khử khuẩn bằng hóa chất, công nghệ tan chảy hay plasma… Lò hấp được các bệnh
Trang 26viện trên thế giới sử dụng để khử khuẩn vật liệu nuôi cấy vi sinh vật (xử lý sơ bộ chất thải lây nhiễm cao) trong khoa xét nghiệm từ những năm 1970 Trong năm
1997, một khảo sát của Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Mỹ thống kê hơn 1.500 công nghệ không đốt được lắp đặt để xử lý CTRYT trên nước Mỹ Khử khuẩn bằng hơi nước kết hợp với nghiền cắt đã trở nên phổ biến ở Hàn Quốc, đạt
tỷ lệ 46,4% trong số các phương pháp để xử lý CTRYT vào năm 2002 Ở Nhật Bản, đến năm 2006 có 6% công ty xử lý CTRYT sử dụng công nghệ tan chảy
Mặt khác, các nước đã loại bỏ mô hình xử lý tại chỗ và chuyển sang mô hình xử lý tập trung Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hầu hết CTRYT hiện đang được
xử lý bởi các nhà máy xử lý tập trung Năm 2006, Nhật Bản có khoảng 296 công
ty xử lý chất thải lây nhiễm, ký hợp đồng cung ứng dịch vụ với 98% bệnh viện, trong khi đó, có ít hơn 0,8% số bệnh viện tự xử lý Ở Hàn Quốc, 90% lượng CTRYT được xử lý tập trung
Ở Ấn Độ, lò đốt chỉ được phép vận hành trong cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung, trong khi việc lắp đặt các lò đốt đơn lẻ trong CSYT không được khuyến khích Ấn Độ giới thiệu các công nghệ không đốt vào hệ thống văn bản pháp quy từ năm 1996, nhờ đó, các công nghệ không đốt được áp dụng rộng rãi với 2.710 lò hấp, 179 lò vi sóng và 4.250 máy nghiền cắt vào năm 2012 Hiện có hơn 205 cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung cung cấp dịch vụ xử lý CTYT cho hơn 70% CSYT trong toàn quốc
Từ năm 2004, Trung Quốc đã phê duyệt và triển khai Kế hoạch quốc gia xây dựng các cơ sở xử lý CTNH và CTYT tập trung, trong đó có 331 cơ sở xử lý CTRYT tập trung Đến cuối năm 2012, Trung Quốc đã xây dựng 272 cơ sở xử lý CTRYT tập trung ở các tỉnh, thành phố Trong số đó, có 137 cơ sở lựa chọn công nghệ thiêu đốt và 135 cơ sở lựa chọn công nghệ không đốt Tỷ lệ số cơ sở xử lý CTRYT áp dụng công nghệ không đốt ở Trung Quốc đã hơn 50%, cho thấy công nghệ không đốt đã trở thành lựa chọn chủ yếu ở nước này
2.3.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
2.3.2.1 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh, đặc điểm thành phần và phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh viện
* Lượng chất thải rắn y tế phát sinh:
Theo nghiên cứu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009 - 2010,
Trang 27tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100 140 tấn/ngày, trong đó có 16
-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Bảng 2.3 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 Loại đô
thị
Tỉnh/Thành phố
Lượng CTRYT (tấn/năm)
Loại
đô thị
Tỉnh/Thành phố
Lượng CTRYT (tấn/năm)
Ghi chú: (*) Số liệu năm 2006; (**) Số liệu năm 2007
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia (2011)
Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm
2009, tổng lượng CTRYT phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Chi và cs (2013) nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về quản lý CTRYT của cán bộ y tế tại bệnh viện quận
Trang 28Thủ Đức TP Hồ Chí Minh năm 2013, lượng CTRYT/giường bệnh/ ngày tại bệnh viện là 1,9kg, cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Kiệm (2012) về thực trạng công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý CTR tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp thành phố Hải Phòng năm 2012 là 1,75kg/giường/ngày, cao hơn nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Liên (2009) về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý CTYT tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên (1,3kg/giường/ngày)
Lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng (Bảng 2.4)
Bảng 2.4 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
BV Huyện
Trung bình
BV
TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình Bệnh viện 0,97 0,88 0,73
Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tê (2009)
* Thành phần chất thải rắn y tế tại các bệnh viện:
Theo Báo cáo môi trường quốc gia, 2011 hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể Xét về các
Trang 29thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT, chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại
Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa theo kết quả điều tra của dự
án hợp tác giữa Bộ Y tế và WHO, 2009 được thể hiện qua hình 2.1
Hình 2.1 Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa
* Phân loại chất thải y tế:
Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT chất thải rắn y tế được phân loại thành 3 nhóm chính:
- Chất thải lây nhiễm bao gồm:
+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác;
Trang 30+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên;
+ Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại ví dụ như chất sát trùng, khử trùng, thuốc kháng sinh, thuốc genotoxite…
+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất ví dụ như: mustin, thiotepa, vindesin, cytarabin…
+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng như nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân…
+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
+ Chất thải nguy hại khác
- Chất thải y tế thông thường bao gồm:
+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của bác sỹ, y tá, cán bộ, công nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đến thăm nuôi trong các cơ sở này, hoạt động văn phòng, từ các phòng chờ, từ căng tin,…
và một phần rác thải ngoại cảnh từ hoạt động làm vệ sinh khuôn viên cơ sở như thức ăn thừa, bao bì nilon đựng thực phẩm, giấy, lá cây…
+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại như: chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín, những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
2.3.2.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTRYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTRYT ở các bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Nhiều bệnh
Trang 31viện rác thải không được phân loại tại nguồn hoặc chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ Thực trạng như sau:
* Về quản lý rác thải:
Theo nghiên cứu của Ngô Kim Chi (2010), tiến hành tại 172 BV của 5 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh, 100% BV đã tiến hành phân loại CTYT;hầu hết các BV đã chú trọng đến phân loại và cô lậpvật sắc nhọn (loại A), sử dụng các thùng chứa, hộp đựng vật sắc nhọn, nhưng chỉ 30,1% BV sử dụng hộp theo quy định, 49,7% tận dụng các chai nhựa, hộp kim loại, 3,7% dùng hộp carton, 16,4% dùng các loại hộp; có 1,7% BV không sử dụng túi chứa rác lây nhiễm màu sắc theo quy định Đến nay vẫn còn hiện tượng phân loại nhầm chất thải gây tốn kém trong việc xử lý Nhiều đơn vị chỉ ghi chất thải lây nhiễm (đưa đi đốt) và chất thải sinh hoạt thông thường
Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực
xử lý bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển CTRYT còn thiếu, đặc biệt là các
xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại từ bệnh viện, các cơ sở
y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế
Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh)
Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) chất thải rắn được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi
Trang 32riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3 % đạt yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT
Theo Bùi Khánh Toàn (2016), kết quả kiểm tra của Bộ Y tế tại 25 bệnh viện trực thuộc đối với công tác phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn y tế, đa số các bệnh viện đã thực hiện phân loại, thu gom chất thải ngay tại nguồn phát sinh, vận chuyển tạm giữ và quản lý chất thải đảm bảo theo quy chế quản lý CTYT Tuy nhiên một số bệnh viện tổ chức phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và quản lý CTYT chưa được đảm bảo như thiếu thùng đựng CTYT; phân loại sai chất thải và túi đựng, nơi lưu giữ chưa đạt yêu cầu
Theo Thu Trang (2017), tìm hiểu về quản lý chất thải y tế tại các đơn vị y
tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cho thấy: Một số cơ sở y tế chưa có hướng dẫn phân loại và thu gom chất thải y tế cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân nên có hiện tượng để lẫn rác thải y tế và rác thải sinh hoạt Quy trình kiểm soát thu gom chất thải đã có, nhưng chưa thật sự chặt chẽ Hầu hết việc vận chuyển rác thải nội
bộ tại các cơ sở y tế thông qua các đơn vị dịch vụ vệ sinh môi trường ký hợp đồng với cơ sở y tế thực hiện (2/12 cơ sở y tế được kiểm tra là Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí và Trung tâm Y tế huyện Hoành Bồ do nhân viên tự thực hiện thu gom chất thải y tế) Công tác lưu giữ chất thải y tế cơ bản đảm bảo, nhưng một số nơi quản lý chưa tốt Trung tâm Y tế thị xã Quảng Yên mới khánh thành và đưa vào sử dụng (tháng 1-2017), tại thời điểm kiểm tra (tháng 3-2017), hạng mục kho lưu giữ chất thải y tế chưa hoàn chỉnh; chất thải y tế được lưu giữ tạm tại phòng chuyên môn, tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm
Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử lý CTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu hủy CTRYT nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTRYT nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu hủy với các mức độ khác nhau: Một số địa phương như Thái nguyên, Hải phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành và thu gom xử lý CTRYT nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ An
có lò đốt đặt tại bệnh viện tỉnh xử lý CTRYT nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã
Trang 33Bảng 2.5 Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ chất thải rắn y tế tại
Có điều hòa
và thông gió
Không
có điều hòa và thông gió
Phòng chung
Không
có khu lưu trữ
Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTRYT nguy hại tập trung tại khu
xử lý chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTRYT phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét mức
độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở trực thuộc Bộ y tế có mức độ đầu tư xử lý CTRYT nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không hiệu quả
* Công tác xử lý CTRYT nguy hại tại 7 vùng trong cả nước:
Theo Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 2025 -
Bộ Xây dựng, 2010 công tác xử lý CTRYT nguy hại trên 7 vùng trong cả nước như sau:
Trang 34+ Vùng đồng bằng sông Hồng có 244 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó có 98 cơ sở có trang bị lò đốt CTRYT chiếm 40%, số lò đốt còn hoạt động tốt là 63 (chiếm 64%) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang bị lò đốt, hoặc lò đốt không hoạt động, CTRYT nguy hại xử lý tập trung tại khu xử lý CTR chung Có 8/11 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung, số cơ sở y tế cấp địa phương xử lý tại khu xử lý tập trung chiếm 65% Tại
3 tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam và Vĩnh Phúc 100% CTRYT xử lý phân tán tại các bệnh viện
+ Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bộ có 209 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương, 93 cơ sở có trang bị lò đốt CTRYT (chiếm hơn 44%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 42 (chiếm trên 45%) Có 9/15 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Chỉ có 31 cơ sở y tế xử lý tại các khu xử lý CTR chung, tương đương gần 15% Một số tỉnh đã có khu vực xử lý CTRYT chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Cao Bằng, Bắc Cạn… phần lớn CTRYT ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La… được
xử lý tại chỗ, không đạt yêu cầu
+ Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung có 236 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương Trong đó 168 cơ sở có trang bị lò đốt CTRYT(chiếm 50%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 79 (chiếm 47%) Có 12/14 tỉnh đã bố trí xử
lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ sở y tế xử lý tại khu xử
lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTRYT nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử lý Khánh Sơn
+ Vùng Đông Nam Bộ có 34/100 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có trang bị lò đốt CTRYT (chiếm 34%), trong đó có 7 lò đốt hoạt động tốt (20%) Tại TP Hồ Chí Minh 100% CTRYT nguy hại được đưa về lò đốt CTR của thành phố
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 110/164 cơ sở khám bệnh cấp địa phương (chiếm 67%) số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (chiếm 58%) Có 10/13 tỉnh
đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Với 74
cơ sở (45%) số cơ sở xử lý tại khu xử lý CTR tập trung
Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không được hoạt động do nhiều lí do khác nhau
Trang 352.3.2.3 Một số biện pháp và công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
Có rất nhiều biện pháp và công nghệ xử lý CTRYT nguy hại Những công nghệ và giải pháp chủ yếu là:
* Công nghệ thiêu đốt: Đốt là một quá trình oxy hoá chất thải ở nhiệt độ cao, sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt rác Chất thải được xử lý bằng quá trình đốt thông qua sự nhiệt phân đã từng được sử dụng đối với từng dạng chất thải cụ thể như cao su, plastic, giấy, da, cặn dầu, dung môi hữu cơ, rác sinh hoạt, bệnh phẩm… Phương pháp này làm giảm thiểu tối đa số lượng và khối lượng rác, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mầm bệnh trong rác Phương pháp này đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá cao, chi phí vận hành, chi phí bảo dưỡng tương đối tốn kém
Sử dụng các lò đốt chuyên dụng để xử lý CTRYT Quá trình xử lý các chất thải hữu cơ có thể cháy được trong các lò đốt để biến chúng thành dạng khí hơi và tro
- Thiêu đốt CTRYT bằng lò đốt rác hiện đại:
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTRYT (chiếm 73,3%) Trong số các bệnh viện có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tỉnh là 79/106 lò Nhưng chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt thiết kế và chế tạo trong nước và cũng chưa có số liệu về số lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải Thiết kế cơ bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý
- Thiêu đốt CTRYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời:
Hiện nay, phần lớn các bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống
xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời Theo Phạm Ngọc Đăng (2004), nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công và tuyến huyện là 97/201 lò đốt Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủ công
* Công nghệ khử khuẩn hóa học: Sử dụng một số hóa chất khử trùng để tiêu diệt các vi sinh vật trong đó có mầm bệnh làm cho rác được an toàn về mặt
Trang 36vi sinh vật Hóa chất thường được hay sử dụng như formaldehyde, ethylen oxide (CH2OCH2), sodium hypoclorite (NaOCl), chrorine dioxide (ClO2) Phương pháp này chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tùy thuộc vào loại hóa chất, một số ô nhiễm thứ cấp có thể gặp từ các hóa chất dư Chi phí xử lý rác y tế
ở các nước công nghiệp khoảng 100-120USD/tấn
* Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nước: sử dụng nhiệt ẩm hoặc hấp khô
để diệt khuẩn ở nhiệt độ 121-160oC Hầu hết các mầm bệnh bị tiêu diệt ở nhiệt độ này Ưu điểm của phương pháp này là có thể áp dụng được với các trường hợp có
số lượng chất thải nhỏ, nhược điểm là hiệu quả kém trong việc làm giảm thiểu cả
về khối lượng và trọng lượng
* Công nghệ vi sóng: công nghệ vi sóng để xử lý CTRYT nguy hại là một công nghệ mới, hiệu quả Các thiết bị hiện đại có thể xử lý được 250kg/giờ tương đương khoảng 3000 tấn/năm Lò vi sóng loại này thường sử dụng nguồn phát bức
xạ sóng điện từ siêu cao tần có tần số 2450 MHz, bước sóng khoảng 12,24cm Chi phí đầu tư ban đầu tương đối đắt nhưng xử lý bằng phương pháp này nhiều vật liệu có thể tái sử dụng làm nguyên liệu để đưa vào kinh tế
Theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và cs.(2011), ở các nước phát triển (Anh, Pháp, Mỹ, Đức…), công nghệ khử khuẩn sử dụng vi sóng đã được sử dụng từ khoảng 20 năm trở lại đây Có 2 nhóm chính: khử khuẩn ở điều kiện áp suất thông thường và ở điều kiện áp suất cao (2 và 3 bar) Các thiết bị của công nghệ này thường đạt các tiêu chuẩn khắt khe về hiệu quả khử khuẩn, độ an toàn, tiêu chuẩn môi trường và các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc khác, được chứng nhận
và công nhận bởi các tổ chức có uy tín và có giá trị trên toàn cầu Đồng thời, những thiết bị này thường có độ bền cao, giúp giảm chi phí cho cơ sở sử dụng
* Công nghệ chôn lấp: Chôn lấp an toàn hợp vệ sinh là biện pháp tiêu hủy chất thải được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới Nhiều Quốc gia tiên tiến như Anh, Nhật cũng dùng biện pháp chôn lấp, kể cả một số loại chất thải nguy hiểm, lây nhiễm hoặc độc hại Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ nhưng chỉ nên thực hiện khi các nhà chức trách quản lý về môi trường cho phép và có điều kiện tự nhiên phù hợp như diện tích rộng, đặc điểm thổ nhưỡng và đặc điểm nguồn nước ngầm xa khu dân cư…
* Trơ hóa chất thải y tế
Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ với các phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để
Trang 37thực hiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm hoàn toàn bị cô lập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn Trơ hóa đặc biệt thích hợp cho dược phẩm và tro xỉ có hàm lượng kim loại cao (quá trình này còn được gọi là "ổn định")
2.3.2.4 Các mô hình xử lý chất thải rắn y tế hiện nay ở Việt Nam
- Vùng đồng bằng sông Hồng (bao gồm vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ)
- Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
- Vùng Trung Bộ (bao gồm vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ)
- Vùng Tây Nguyên
- Vùng Đông Nam Bộ (bao gồm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam)
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long
b, Mô hình xử lý theo cụm bệnh viện
Các CTRYT nguy hại của các bệnh viện có khoảng cách vận chuyển hợp
lý được xử lý tại cơ sở xử lý CTRYT nguy hại đặt tại bệnh viện nằm ở trung tâm cụm bệnh viện Tỉnh Lạng Sơn là địa phương đi đầu trong xây dựng mô hình xử
lý chất thải y tế theo cụm với tổng số là 10 cụm Theo đó các cơ sở y tế không có
hệ thống, thiết bị xử lý chất thải y tế nguy hại theo quy định sẽ được áp dụng mô hình xử lý chất thải y tế nguy hại theo cụm cơ sở y tế (Chất thải y tế của một cụm
cơ sở y tế được thu gom và xử lý chung tại hệ thống, thiết bị xử lý của một cơ sở trong cụm)
Theo Báo cáo môi trường quốc gia, 2011 có một số lò đốt chất thải y tế được dùng trong xử lý chất thải theo mô hình cụm như:
Trang 38+ Tại Hà Nội sử dụng lò đốt CTYT DEL – MONEGO công suất 200kg/h
ở Cầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước một thành viên môi trường đô thị (URENCO) quản lý để xử lý CTYT trong địa bàn Hà Nội
+ Tại Đà Nẵng, sử dụng lò đốt HOVAL công suất 200kg/h ở khu xử lý chất thải rắn Khánh Sơn do Công ty môi trường đô thị quản lý để xử lý CTYT trong địa bàn thành phố (CITENCO)
+ Tại TP Hồ Chí minh, sử dụng hai lò đốt HOVAL công suất 150kg/h và 300kg/h đặt tại Nhà máy xử lý CTRYT và công nghiệp do Công ty môi trường thành phố quản lý để xử lý CTYT nguy hại cho các cơ sở y tế trong và ngoài thành phố
Theo Nguyễn Minh Tuấn và cs., 2011 Ở bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai, chất thải y tế lây nhiễm sau khi được phân loại và thu gom được chuyển đến nhà
xử lý trong bệnh viện Tại đây, rác được đưa vào thùng để ngâm trong dung dịch khử trùng Cloramin B khoảng 1 ngày sau đó đưa vào thiết bị khử khuẩn chuyên dụng trong khoảng 1 giờ Lúc này rác được đưa ra ngoài và xử lý như rác thải thông thường
Tại Trung tâm Y tế VieSov (Bà Rịa – Vũng Tàu), chất thải y tế lây nhiễm được xử lý bằng lò vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa Hệ thống bao gồm 1 thiết
bị khử khuẩn bằng công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa, một thiết bị nghiền cắt chất thải sau khi khử khuẩn
Trang 39PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: 6 bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang gồm: BV
Đa khoa tỉnh Bắc Giang, BV Sản nhi; BV Tâm thần; BV Lao và bệnh phổi; BV Đông y và BV Phục hồi chức năng
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Thời gian thực hiện từ tháng 6/2016 - tháng 10/2017
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, quản lý và xử lý CTRYT trong các bệnh viện công lập tuyến tỉnh tỉnh Bắc Giang
- Đối tượng phỏng vấn, thu thập thông tin: Cán bộ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc y tá trưởng (điều dưỡng trưởng); cán bộ quản lý lò đốt; bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân đã nằm viện 2 ngày trở lên
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khái quát quy mô và thực trạng ngành y tế Bắc Giang
- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 06 bệnh viện tuyến tỉnh:
BV Đa khoa tỉnh Bắc Giang, BV Sản nhi; BV Tâm thần; BV Lao và bệnh phổi;
BV Đông y và BV Phục hồi chức năng
- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại khu vực nghiên cứu 3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh
- Thu thập các tài liệu về các chính sách, thông tư, luật và quy định của nhà nước liên quan đến việc quản lý chất thải bệnh viện
- Thu thập và tổng hợp thông tin liên quan đến thực trạng quản lý môi trường tại các bệnh viện
- Thu thập thông tin về việc thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 40- Thu thập và tổng hợp các tài liệu, hướng dẫn về việc phân loại chất thải
y tế
- Thu thập và tổng hợp các tài liệu liên quan đến việc xác định các nguồn thải trong bệnh viện
- Thu thập các tài liệu liên quan đến các hệ thống xử lý chất thải rắn bệnh viện
- Thu thập và tổng hợp các thông tin về lượng chất thải phát sinh ở mỗi bệnh viện bằng cách tổng hợp từ sổ theo dõi chất thải của từng đơn vị trong năm
2016 để từ đó tính lượng chất thải phát sinh trung bình theo ngày
3.5.2 Phương pháp ngoại nghiệp
* Điều tra ngoại nghiệp
- Điều tra, khảo sát thực tế về vị trí địa lý, địa hình của 6 bệnh viện
- Khảo sát thực tế bằng quan sát trực quan đối với dụng cụ thu gom chất thải của từng bệnh viện (túi, thùng, xe vận chuyển) và so sánh, đối chiếu với quy định
- Khảo sát thực tế bằng trực quan đối với công tác phân loại chất thải tại nguồn tại các khoa phòng của 6 bệnh viện
- Khảo sát thực tế về khu vực lưu trữ chất thải và so sánh, đối chiếu với quy định
- Khảo sát thực tế về cảnh quan của từng đơn vị
- Khảo sát thực tế về phương tiện bảo hộ lao động của nhân viên y tế
* Điều tra phỏng vấn
- Đối tượng được phỏng vấn:
+ Cán bộ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc y tá trưởng (Điều dưỡng trưởng): đối tượng trực tiếp thực hiện công tác quản lý chất thải tại các bệnh viện
+ Cán bộ quản lý lò đốt: đối tượng trực tiếp vận hành, quản lý lò đốt
+ Bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân đã nằm viện 2 ngày trở lên nhằm thu thập thông tin về đánh giá nhận thức của người dân trong vấn đề chất thải y tế: đối tượng đã có thời gian tiếp cận đối với các quy định, hướng dẫn của bệnh viện,
sử dụng các dụng cụ phân loại, thu gom chất thải
- Số lượng mẫu:
+ Cán bộ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc y tá trưởng (Điều dưỡng trưởng): 1 phiếu/bệnh viện