1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý tài chính tại công ty tnhh mtv 76, tổng cục công nghiệp quốc phòng

100 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thành công bước đầu, trong quá trình sản xuất kinh doanh, công tác quản lý tài chính của Công ty TNHH một thành viên 76 vẫn còn bộc lộ những tồn tại, bất cập trong hoạch đ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Nga

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Mai Tiến Thịnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ với đề tài:

“Quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng”

Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lời cám ơn chân thành nhất đến các thầy, cô giáo Ban quản lý đào tạo sau đại học, Khoa Kế toán – Quản trị kinh doanh, Ban quản lý đào tạo sau đại học - Học viện Nông nghiệp đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc tới cô giáo TS Bùi Thị Nga dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên Công ty TNHH MTV 76 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực tế tại công ty

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, rất mong được sự thông cảm, góp ý của thầy cô giáo, các độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Mai Tiến Thịnh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ vii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.2.1 Mục tiêu chung 1

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp 3

2.1.2 Quản lý tài chính doanh nghiệp 5

2.1.3 Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp 10

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính doanh nghiệp 23

2.2 Cơ sở thực tiễn 24

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 24

2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng và cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty hàng không Việt Nam 27

2.2.3 Bài học về công tác quản lý tài chính cho Công ty TNHH MTV 76 32

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 33

3.1 Tổng quan về Công ty TNHH MTV 76, tổng cục công nghiệp quốc phòng 33

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH MTV 76 33

3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty 34

3.1.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh 40

Trang 5

3.2 Phương pháp nghiên cứu 42

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 42

3.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 42

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 43

3.2.4 Phương pháp chuyên gia 43

3.2.5 Các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính doanh nghiệp 43

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46

4.1 Thực trạng quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV 76, tổng cục công nghiệp quốc phòng 46

4.1.1 Xây dựng kế hoạch tài chính của doanh nghiệp 46

4.1.2 Thực trạng quản lý vốn kinh doanh 49

4.1.3 Quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Công ty TNHH MTV 76 54

4.1.4 Quản lý doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp 56

4.1.5 Công tác kiểm tra tài chính 59

4.2 Đánh giá chung về quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV 76, tổng cục công nghiệp quốc phòng 63

4.2.1 Kết quả đạt được 63

4.2.2 Hạn chế 64

4.2.3 Nguyên nhân của hạn chế 65

4.3 Giải pháp quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, tổng cục công nghiệp quốc phòng 66

4.3.1 Định hướng phát triển và yêu cầu quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng 66

4.3.2 Các giải pháp quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục CNQP 69

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 82

5.1 Kết luận 82

5.2 Kiến nghị 83

5.2.1 Với Bộ Quốc phòng 83

5.2.2 Với Tổng cục CNQP 83

Tài liệu tham khảo 84

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Nhân sự của Công ty MTV 76 năm 2016 36

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp doanh thu của Công ty TNHH MTV 76 giai đoạn 2014-2016 41

Bảng 3.3 Nguồn thông tin đã công bố 42

Bảng 4.1 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kế hoạch tài chính 47

Bảng 4.2 Ý đánh giá của cán bộ nhân viên về công tác xây dựng kế hoạch tài chính của công ty 49

Bảng 4.3 Cơ cấu phân bổ vốn của công ty 49

Bảng 4.4 Cơ cấu nguồn vốn của công ty 50

Bảng 4.5 Phân tích biến động vốn của công ty 52

Bảng 4.6 Tỷ suất lợi nhuận của Công ty TNHH MTV 76 53

Bảng 4.7 Số vòng và số ngày luân chuyển vốn lưu động 53

Bảng 4.8 Ý đánh giá của cán bộ nhân viên về công tác quản lý vốn kinh doanh của công ty 54

Bảng 4.9 Tỷ suất chi phí trên doanh thu thuần 54

Bảng 4.10 Công nợ và khả năng thanh toán 55

Bảng 4.11 Ý đánh giá của cán bộ nhân viên về công tác quản lý phí sản xuất và giá thành sản phẩm 56

Bảng 4.12 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần 56

Bảng 4.13 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 57

Bảng 4.14 Ý đánh giá của cán bộ nhân viên về công tác quản lý doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp 59

Bảng 4.15 Tình hình chấp hành chế độ chính sách pháp luật của Công ty TNHH MTV 76 năm 2016 61

Bảng 4.16 Ý đánh giá của cán bộ nhân viên về công tác kiểm tra tài chính của công ty 63

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH MTV 76 35

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 37

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu phân bổ vốn 50

Biểu đồ 4.2 Kết cấu thu nhập 58

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Mai Tiến Thịnh

Tên luận văn: “Quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng”

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Quản lý tài chính là bài toán luôn được đặt ra cho tất cả các DN cho dù bối cảnh của DN đó như thế nào Kinh nghiệm cho thấy bất cứ khi nào và ở đâu, quản lý bị buông lỏng cũng là tiền đề cho những bất cập và vô hiệu quả Mặt khác, mục tiêu hoạt động của DN xét cho cùng là tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá trị DN Vì điều kiện

về thời gian không cho phép,trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính doanh nghiệp; (2) Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV 76 giai đoạn 2014 - 2016; (3) Đề xuất một số giải pháp quản lý tài chính cho Công ty TNHH MTV 76 trong thời gian tới

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp

để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn khác nhau như: Các sách, tạp chí, báo, báo cáo của các ngành, các cấp, trang web… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Số liệu sơ cấp được thu thập bằng các công cụ phỏng vấn sâu, phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc các đối tượng điều tra Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, chúng tôi tiến hành chọn mẫu điều tra là 60 nhân viên thuộc Công ty (01Phó giám đốc phụ trách tài chính, Phòng tài chính, kế toán là 8 CBNV, Phòng Kế hoạch kinh doanh 5 CBNV, Phòng lao động tiền lương 5 CBNV, Phòng vật tư 4 CBNV, Phòng hành chính hậu cần 4 CBNV, Phòng kiểm nghiệm 4 CBNV, 15 CBNV ở 2 xí nghiệp và 14 CBNV ở 7 phân xưởng)

Qua đánh giá thực trạng Quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cho thấy: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kế hoạch tài chính về cơ bản đều đạt và vượt kế hoạch đề ra Trong đó điểm nổi bật năm 2016 thực hiện kế hoạch doanh thu đạt 116% so kế hoạch, tổng quỹ tiền lương đạt 130% góp phần đảm bảo đời sống người lao động Công ty TNHH MTV 76 ngoài việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, vốn lưu động để duy trì sản xuất cao Năm 2014, tài sản lưu động chiếm 42%, Năm 2015 chiếm 47% và năm 2016 chiếm

Trang 10

50% giá trị tài sản Nợ phải trả của công ty liên tục tăng qua các năm: Năm 2014 chiếm 42%, Năm 2015 chiếm 47%, năm 2016 chiếm 50% tổng nguồn vốn kinh doanh Tỷ suất lợi nhuận chưa cao, trung bình trong một năm 1 đồng tài sản đầu tư, sinh lời khoảng 3,9 đến 4,5 đồng và 1 đồng vốn chủ sở hữu sinh lời 7,3 đến 8,8 đồng Năm 2016 so với năm

2015, doanh thu tăng 14,2% và giá vốn hàng bán tăng 15,13%, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cũng tăng mạnh, đạt 17,88% Năm 2016 so với năm 2015, do giá vốn hàng bán tăng khá mạnh, đạt 25,18% so với doanh thu chỉ đạt 24,13%, đồng thời chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng cao, ở mức 22,8% nên khả năng tăng trưởng lợi nhuận

ở mức thấp chỉ đạt 13,02% Năm 2016 Công ty luôn tuân thủ và thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ thuế và các khoản thu nộp ngân sách, thực hiện đầy đủ chế độ chính sách và không

bị lập biên bản vi phạm hành chính nào khác liên quan đến việc chấp hành chế độ, chính sách, pháp luật

Mặc dù hoạt động SXKD và hoạt động quản lý tài chính đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng chưa thể nói rằng kinh doanh đã có hiệu quả cao và quản lý tài chính đã tốt: Nhận thức về vai trò và chức năng của quản lý tài chính ở một số cán

bộ quản lý chưa đúng mức, ý thức tự giác, tinh thần hết lòng vì sự minh bạch; Công ty chưa hoàn toàn chủ động trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh; Phương pháp quản lý còn mang nặng tính kinh nghiệm, đôi khi các quyết định quản lý đưa ra chưa sát với thực tế;

Thông qua nghiên cứu chúng tôi đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong thời gian tới như sau: (1) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tài chính; (2) Nhóm giải pháp về công cụ quản lý tài chính; (3) Nhóm giải pháp tái cấu trúc doanh nghiệp; (4) Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính

Trang 11

THESIS ABSTRACT

The writer: Mai Tien Thịnh

The master thesis: "Financial Management at MTV 76 Limited Company, General Department of Defense Industry”

Training facility: Vietnam National University and Agriculture

Financial management is always a problem for all businesses regardless of the context of the business Experience shows that whenever and wherever, management is loosened, it is also a precondition for inadequacies and inefficiencies On the other hand, the business objectives of businesses are ultimately to maximize profits and maximize business value Due to time constraints, in this study we focus on analyzing and evaluating the current situation of financial management at MTV 76 Limited Company, General Department of Defense Industry solution to strengthen financial management at MTV 76 Limited Company, General Department of Defense Industry in the coming time Corresponding to that, the specific objectives include: (1) contributing

to systematizing the theoretical and practical basis of corporate finance management; (2) Analyze and assess the current status of financial management of MTV One Member Limited Company 76 period 2014 - 2016; (3) Proposing some financial management solutions for MTV Co., Ltd in the coming time

In this study, we used the flexibility between primary and secondary data to provide analytical analysis Secondary data collected from various sources such as books, journals, newspapers, reports of branches, levels, websites related to research content of the topic Primary data was collected using in-depth interviews, structured interviews and semi-structured interviews To ensure the representation of the sample,

we selected the sample of 60 employees of the company (01 director in charge of finance, finance department, accountant is 8 staff, business planning department 5 staff , Employees' Section, 5 staffs, 4 staffs, 4 employees, 4 employees, 15 staffs in 2 factories and 14 staffs in 7 workshops

According to the assessment of financial management situation at MTV 76 Company, the General Department of Defense Industry showed that the performance of some financial targets basically reached and exceeded the plan In particular, in 2016, the turnover plan reached 116% of the target and the total salary fund of 130% contributed to the laborers' life MTV 76 Company Limited in addition to investment in technical infrastructure, technology requires large amounts of investment capital, working capital to maintain high production In 2014, current assets will account for

Trang 12

42%, 47% in 2015 and 50% in 2016 The company's debts have continuously increased over the years: in 2014, 42%, 47% in 2015 and 50% of total business capital in 2016 The rate of return is not high, the average of one asset investment in a year, yields about 3.9 to 4.5 dong and 1 owner's equity profit from 7.3 to 8.8 In 2016, revenue will increase 14.2% and COGS will increase 15.13% and net profit will increase 17.88% In

2016, the cost of goods sold increased sharply, reaching 25.18% compared to 24.13% in revenue, while the cost of corporate management also increased at 22.8% Therefore, profit growth was low at only 13.02% In 2016, the Company always adheres to and fulfills its tax obligations and budget remittances, fully implements the policy regime and no other administrative violations are recorded in relation to the implementation of the regime degrees, policies, laws

Although business activities and financial management have achieved certain results, it can not be said that business is highly effective and financial management is good: Awareness of roles and functions the financial management in some management staff is not enough level, self-consciousness, spirit wholeheartedly for transparency; The company is not fully active in business strategy planning; Management methods are also very experienced, sometimes the management decisions are not close to reality;

Through research, we propose some measures to strengthen financial management in MTV 76 Limited Company, General Department of Defense Industry in the coming time as follows: (1) Improve the quality of management staff financial management; (2) Solutions for financial management tools; (3) Solutions for enterprise

utilization of financial resources

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tài chính DN là các phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính nhằm đạt tới những mục tiêu kinh doanh của DN Quản lý tài chính tốt là nhân tố quan trọng, bảo đảm cho hoạt động SXKD của DN ngày càng mở rộng và hiệu quả Vì lẽ đó, Quản lý tài chính là bài toán luôn được đặt ra cho tất

cả các DN cho dù bối cảnh của DN đó như thế nào Kinh nghiệm cho thấy bất cứ khi nào và ở đâu, quản lý bị buông lỏng cũng là tiền đề cho những bất cập và vô hiệu quả Mặt khác, mục tiêu hoạt động của DN xét cho cùng là tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá trị DN Do đó, quản lý tài chính cũng chính là góp phần thực hiện mục tiêu này

Công ty TNHH một thành viên 76 hoạt động trong lĩnh vực sản xuất những mặt hàng phục vụ cho quốc phòng và kinh tế, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước Trong những năm qua Công ty đã từng bước khẳng định được tên tuổi của mình được Tập đoàn IKEA Thụy Điển công nhận là nhà cung cấp số 1 Châu Á, quy mô của Công ty ngày càng mở rộng, hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng

Bên cạnh những thành công bước đầu, trong quá trình sản xuất kinh doanh, công tác quản lý tài chính của Công ty TNHH một thành viên 76 vẫn còn bộc lộ những tồn tại, bất cập trong hoạch định chiến lược tài chính, phương pháp quản lý, điều hành… dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh chưa cao, tỷ suất sinh lời còn thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường hạn chế Hơn lúc nào hết Công ty TNHH một thành viên 76 phải ý thức được rằng quản lý tài chính là một trong những yếu tố trọng tâm trong công tác quản lý

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng” là cần thiết,

có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên 76, phân tích thực trạng quản lý tài chính ở Công ty TNHH một thành viên 76 nhằm đề xuất các giải pháp quản lý tài chính tại Công ty

Trang 14

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công Nghiệp Quốc Phòng

- Các giải pháp đề xuất đến năm 2020

* Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV 76, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

Trang 15

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

DN là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tăng giá trị của chủ sở hữu DN

DN có thể được chia thành DN tài chính và DN phi tài chính DN tài chính là DN kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ như: DN bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán… DN phi tài chính là tổ chức kinh doanh có nhiệm vụ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và cung ứng các dịch vụ

Quy mô của các DN lớn, nhỏ không giống nhau và đặc điểm hoạt động của các DN cũng rất đa dạng Song các doanh nghiệp có điểm chung: muốn SXKD, cần phải có vốn Vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu

Từ đó có thể thấy, TCDN là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi DN và góp phần tích lũy vốn cho Nhà nước (Lưu Thị Hương, 2012)

Các quan hệ kinh tế của TCDN bao gồm:

- Quan hệ kinh tế giữa DN với Nhà nước;

- Quan hệ kinh tế giữa DN với thị trường;

- Quan hệ kinh tế trong nội bộ DN

Các quan hệ kinh tế này được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Vì vậy, nó thường được xem là các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này phản ánh DN là một chủ thể kinh

Trang 16

tế độc lập và là một bộ phận của hệ thống tài chính

Với những phân tích trên, quan điểm hiện đại cho rằng: Tài chính DN là các phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp nhằm đạt tới những mục tiêu kinh doanh của DN (Lưu Thị Hương, 2012)

2.1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp

Tài chính DN là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính gồm: TCDN, ngân sách Nhà nước, tài chính dân cư và thị trường tài chính Vì vậy, TCDN cũng mang đầy đủ chức năng của tài chính nói chung, bao gồm:

- Chức năng phân phối lợi nhuận: Quá trình phân phối lợi nhuận sẽ làm giảm lượng tiền của DN mà đáng lẽ được đưa vào các hoạt động kinh doanh có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn Chính sách phân phối lợi nhuận hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của DN và sự gia tăng giá trị của DN Chính sách phân phối lợi nhuận tốt khi cân đối được phần lãi đem chia, phần lãi không chia và sự chênh lệch giữa mức sinh lợi của đầu tư với tỷ suất chiết khấu của thị trường là vấn đề được nhiều đối tượng quan tâm và chú ý Khi mức sinh lợi của đầu tư lớn hơn tỷ suất chiết khấu thị trường, dẫn đến việc chia lãi không

có lợi bằng việc giữ lại để đầu tư vào SXKD và điều đó sẽ gia tăng tiềm năng tăng trưởng của DN và ngược lại

- Chức năng giám đốc của TCDN: là nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các nguồn lực tài chính nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong DN theo các mục tiêu đã xác định Đối tượng của kiểm tra, kiểm soát là quá trình vận động của đồng vốn kinh doanh qua các khâu khác nhau của quá trình kinh doanh.Chủ thể của giám đốc cũng chính là chủ thể phân phối, vì để quá trình phân phối hợp lý, cần phải kiểm tra xem xét kỹ lưỡng vấn đề đó Kết quả của giám đốc tài chính là phát hiện ra những mặt được

và chưa được trong quá trình phân bổ và sử dụng, từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động tài chính phục vụ tốt cho mục tiêu kinh doanh (Nguyễn Trọng Cơ, 2010)

2.1.1.3 Đặc điểm và vai trò của tài chính doanh nghiệp

* Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp

Tài chính DN là một khâu của hệ thống tài chính và là khâu cơ sở, nên nó

có đặc điểm:

Trang 17

Thứ nhất, gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của DN, có các quan hệ tài chính đa dạng phát sinh như quan hệ nộp, cấp giữa DN với Nhà nước, quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong xã hội, với người lao động trong DN

Thứ hai, sự vận động của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh có những nét riêng biệt, đó là: sự vận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư

và lao động; ngoài phần tạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự vận động của vốn kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và tối đa hóa giá trị DN

* Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh của DN, TCDN có vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của DN

Để thực hiện mục tiêu kinh doanh, DN cần có vốn, vì vậy TCDN trước hết phải xác định chính xác nhu cầu vốn trong từng thời kỳ.Trên cơ sở đó tiến hành lựa chọn các công cụ huy động vốn thích hợp với chi phí thấp nhất

Thứ hai, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả Đây phải được coi

là điều kiện tồn tại và phát triển của DN TCDN có vai trò đánh giá và lựa chọn phương án đầu tư; huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời vốn kinh doanh

Thứ ba, đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh Vai trò này của TCDN được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, hàng hóa, dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối lợi nhuận để điều tiết hài hòa lợi ích giữa các chủ thể

Thứ tư, giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của DN Thông qua các chỉ tiêu tài chính thực hiện mà nhà quản lý nhận ra thực trạng quá trình kinh doanh, từ đó đánh giá khái quát và kiểm soát cũng như điều chỉnh các hoạt động kinh doanh hướng theo mục tiêu đã đặt ra Nguyễn Trọng Cơ, 2010)

2.1.2 Quản lý tài chính doanh nghiệp

2.1.2.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp

Nói chung, quản lý là một quá trình phức tạp, nó có thể được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau:

Trang 18

- Công tác quản lý trong một DN là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động của các thành viên, các bộ phận trong DN nhằm huy động mọi nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra

- Theo quan điểm hệ thống trong quản lý, quản lý còn là việc thực hành những hoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục Quản lý trong một DN tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các phần và các bộ phận

có liên hệ mật thiết với nhau

Quản lý có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực hoạt động nhưng tựu trung lại thì bản chất của quản lý đó là quản lý về thời gian và quản lý các quan hệ của con người (Nguyễn Văn Thuận, 2010)

Thực chất quá trình quản lý là cách tiến hành các công việc một cách có

hệ thống Do vậy, khi coi quản lý như là một quá trình, người ta muốn nhấn mạnh rằng tất cả các nhà quản lý với đầy đủ các năng khiếu và kỹ năng làm việc của họ sẽ được sử dụng trong một hệ thống các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại với nhau nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra Nói cách khác, quá trình quản lý là tổng thể các hoạt động và các phương pháp hành động mang tính

hệ thống diễn ra trong một thời gian nhất định, theo những quy trình cụ thể để quản lý các hoạt động của một DN

Người làm công tác quản lý tài chính trong một DN có trách nhiệm lập các kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và báo cáo tất cả các hoạt động tài chính của

DN trong quá trình kinh doanh Như vậy, người làm công tác quản lý tài chính phải có những hiểu biết, kỹ năng thực hành nhất định trong quản lý các hoạt động tài chính Quản lý tài chính, chủ yếu phải nắm được số lượng và sự lưu chuyển tiền trong kinh doanh của DN (thu – chi) Lập kế hoạch tài chính là lập

kế hoạch kinh doanh trên phương diện tài chính, xác định mục tiêu tài chính cần đạt được trong tương lai

Có khá nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm về quản lý tài chính Quản lý tài chính là hoạt động lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và giám sát việc thu chi tiền của một cá nhân, tổ chức.Về cụ thể, có thể thấy khái niệm này kết hợp giữa khái niệm về quản lý (các tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý) và khái niệm tài chính (thu, chi tiền) (Nguyễn Văn Thuận, 2010)

Quản lý tài chính là hoạt động quản lý tiền (quỹ tiền) một cách có chủ đích

Trang 19

nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Hoạt động này bao gồm hai nội dung quan trọng là làm thế nào để có tiền và phân bổ số tiền ấy vào chi tiêu như thế nào?

Như vậy, có thể hiểu quản lý tài chính là hoạt động quản lý việc tạo lập và

sử dụng các nguồn tiền để đạt được mục tiêu của cá nhân, tổ chức

Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp (Phạm Quang Trung, 2012)

Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, phát triển ổn định, không ngừng gia tăng giá trị của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường (Phạm Quang Trung, 2012)

Quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản lý trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra quyết định tài chính và

tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định (Nguyễn Phương Liên, 2011)

Như vậy có thể thấy rằng quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình,

từ việc phân tích tình hình của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính

là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp và đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của doanh nghiệp phát triển ổn định

Từ những lý luận trên: Quản lý tài chính DN là một tập hợp các cơ chế, công cụ, hình thức và phương pháp nhằm hướng hoạt động tài chính thực hiện theo mục tiêu của DN trong từng thời kỳ nhất định (Nguyễn Phương Liên, 2011) 2.1.2.2 Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp

Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuân, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp… Song tất cả

Trang 20

các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm một mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu hay tối đa hoá tài sản doanh nghiệp

Tối đa hoá tài sản doanh nghiệp cũng còn gọi là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp là chỉ doanh nghiệp áp dụng chính sách tài chính tối ưu để không ngừng tăng nhanh tài sản doanh nghiệp và làm cho tổng giá trị doanh nghiệp đạt mức tối

đa thông qua việc tăng trưởng nguồn vốn có tính đến những giá trị thời gian và

sự đền bù của rủi ro

Tối đa hoá tài sản doanh nghiệp có thể khắc phục những hành vi ngắn hạn trong quá trình theo đuổi lợi nhuận Sở dĩ như vậy là vì nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp không chỉ là lợi nhuận hiện tại hay quá khứ mà dự đoán lợi nhuận tương lai ngày càng có ảnh hưởng lớn đến giá trị doanh nghiệp Với mục tiêu tối đa hoá tài sản doanh nghiệp, các nhà kinh doanh buộc phải xem xét đến

sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, không ngừng tạo nên sự tăng trưởng lợi nhuận mới trong tương lai

Tối đa hoá tài sản không những xem xét lợi nhuận cao hay thấp mà còn càng chú ý đến lưu lượng vốn nhiều hay ít Điều mà tối đa hóa tài sản doanh nghiệp mưu cầu đó là nhu cầu lượng tiền mặt đầu vào không ngừng gia tăng và tốc độ quay vòng vốn ngày càng nhanh Xét về sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp, vốn nhiều hay ít quan trọng hơn là lợi nhuận ít hay nhiều Doanh nghiệp chỉ có tăng nhanh lưu lượng tiền mặt đầu vào thì mới có thể liên tục phát triển Hơn nữa lưu lượng tiền mặt đầu vào lại xem xét nhân tố thời gian của tiền vốn hay không, đồng thời tiến hành tính toán một cách khoa học trên nguyên tắc giá trị thời gian của tiền vốn, hiệu quả doanh nghiệp đã được xác nhận càng chân thực hơn

Tối đa hoá tài sản có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi cơ bản cho nhà đầu tư

và cổ đông, có lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp Tối đa hoá tài sản không ngoại trừ những doanh nghiệp có lợi nhuận cao Muốn làm cho vốn doanh nghiệp tăng nhanh, doanh nghiệp cần phải giữ được mức doanh lợi tương đối cao nhưng phải là lãi thật Khi lợi nhuận ngắn hạn và lợi nhuận lâu dài có xung đột, nhà kinh doanh phải tính toán và đánh giá tầm quan trọng của hai loại lợi nhuận này,

từ đó lựa chọn phương án có lợi hơn cho việc gia tăng giá trị doanh nghiệp Đặc biệt là đối với sự phân chia lợi nhuận thì mục tiêu tối đa hoá tài sản doanh nghiệp

sẽ làm cho nhà đầu tư, cổ đông và nhà kinh doanh thận trọng khi lựa chọn những

Trang 21

chính sách phân chia có thể giúp công ty duy trì được thực lực phát triển lâu dài, đồng thời tránh được những chính sách ngắn hạn “ăn hết chia sạch”

Tóm lại, mục tiêu tối đa hoá tài sản có thể chỉ đạo nhà quản lý tài chính cân nhắc lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, quan tâm đến quyền lợi của nhà đầu

tư và của chủ doanh nghiệp Phân tích chi tiết, cụ thể quan hệ giữa các mức độ rủi ro và thù lao làm cho kết cấu doanh nghiệp được tổ hợp tốt nhất, giá trị doanh nghiệp đạt mức độ cao nhất (Phạm Quang Trung, 2012)

2.1.2.3 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp

Tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnh là một trong những điều kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao Sự lành mạnh đó có được hay không phụ thuộc phần lớn vào khả năng quản lý tài chính của doanh nghiệp

Trong các hoạt động quản lý của doanh nghiệp thì quản lý tài chính luôn giữ một vị trí quan trọng Nó quyết định tính độc lập, sự thành công của một doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, thì quản lý tài chính lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà các nhà quản lý tài chính có thể chỉ

ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong kỳ Ngoài

ra, các nhà quản lý tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất… Thông qua đó, đánh giá, dự đoán có hiệu quả các dự án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, phát hiện âm mưu thôn tính doanh nghiệp của các đối tác cạnh tranh, đề xuất phương án chia tách hay sát nhập… Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến động nhất định trong từng thời kỳ Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý tài chính là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn

sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất:

Thứ nhất, quản lý tài chính trong doanh nghiệp phải tiến hành phân tích và đưa

ra một cơ cấu nguồn vốn huy động tối ưu cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ

Trang 22

Thứ hai, quản lý tài chính phải thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ doanh nghiệp và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng cao và bền vững

Thứ ba, quản lý tài chính trong doanh nghiệp còn có nhiệm vụ kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong doanh nghiệp, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích

Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Nếu chúng ta quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một khi công tác quản lý tài chính doanh nghiệp được tổ chức tốt, nó không chỉ đem lại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích kinh tế xã hội trên phạm vi toàn quốc gia (Nguyễn Văn Thuận, 2010)

2.1.3 Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp

Hoạt động TCDN có vai trò quan trọng đặc biệt, chi phối tất cả các khâu của quá trình kinh doanh của một DN Hoạt động quản lý TCDN bao gồm những nội dung chủ yếu như sau:

2.1.3.1 Xây dựng kế hoạch tài chính của doanh nghiệp

Để xây dựng kế hoạch năm tài chính tiếp theo DN phải tổng kết đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm tài chính thực hiện, xác định những thuận lợi, khó khăn, biện pháp thực hiện nhiệm vụ trong năm kế hoạch để xây dựng kế hoạch sát với thực tế đảm bảo tính khả thi

Kế hoạch tài chính của doanh nghiệp gồm những nội dung chính sau:

- Kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho năm tài chính tiếp theo phải dựa trên các chỉ tiêu về nhu cầu đơn đặt hàng, cương lĩnh các mặt hàng của các khách hàng được xác định một cách tin cậy để lập kế hoạch giá trị sản xuất và doanh thu

- Dự báo về biến động của giá cả vật tư, nguyên nhiên liệu trên thị trường trong nước và thế giới, các yếu tố chi phí tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, CĐ

Trang 23

và các chi phí khác để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho các sản phẩm, xác định tương đối chính xác các yếu tố chi phí SXKD để đưa ra kế hoạch lợi nhuận đạt được cho năm tài chính tiếp theo Đồng thời xây dựng nhu cầu vật tư, quỹ tiền lương, các khoản thu nộp ngân sách

- Lập kế hoạch thu nộp ngân sách, dự toán chi các khoản ngân sách cấp năm kế hoạch đảm bảo sát thực tế với nội dung, nhiệm vụ, đối tượng, dự án, đúng định mức kinh tế do Nhà nước ban hành

Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5 bước như sau:

Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường

Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xác định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để

có thể có những giải pháp hữu hiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểm mạnh

Bước 2: Thiết lập các mục tiêu

Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận, mục tiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả Các mục tiêu tài chính cần xác định một cách rõ ràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi Do đó các mục tiêu này phải được đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp hay nói cách khác là dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môi trường Đồng thời, cùng với việc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản lý cần phải xác định rõ ràng

về trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu này

Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu

Căn cứ vào các mục tiêu đã đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản lý xây dựng các phương án để thực hiện các mục tiêu này Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉ những phương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích

Trang 24

Bước 4: Đánh giá các phương án

Các nhà quản lý tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính của từng phương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án cũng như khả năng hiện thực hoá như thế nào, tiềm năng phát triển đến đâu…

Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu

Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn Phương án này sẽ được phổ biến tới những cá nhân, bộ phận có thẩm quyền và tiến hành phân bổ nguồn nhân lực và tài lực cho việc thực hiện kế hoạch (Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển, 2010)

2.1.3.2 Quản lý vốn kinh doanh

Để tiến hành hoạt động kinh doanh cần phải có vốn, nó là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh Vốn của DN dùng để mua sắm các yếu tố của quá trình SXKD như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Do sự tác động của sức lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động mà hàng hoá được tạo ra và được tiêu thụ trên thị trường Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo cho SXKD được gọi là vốn

Vốn kinh doanh của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản phục vụ cho SXKD của DN nhằm mục tiêu kiếm lời

+ Vốn kinh doanh có đặc điểm:

- Vốn kinh doanh là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho SXKD (không phải là mục đích tiêu dùng)

- Vốn kinh doanh của DN có trước khi diễn ra hoạt động SXKD

- Vốn kinh doanh sau khi ứng ra, được sử dụng vào kinh doanh và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ sau

- Vốn kinh doanh không thể mất đi Mất vốn đối với DN đồng nghĩa với nguy cơ phá sản

Tiền chỉ có thể trở thành vốn khi hội đủ ba điều kiện: phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định; tích tụ, tập trung một lượng đủ lớn và vận động vì mục tiêu lợi nhuận

+ Toàn bộ vốn kinh doanh của DN được chia thành vốn cố định, vốn lưu động:

Trang 25

- Quản lý vốn cố định

Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định,

là sự biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Đặc điểm của vốn cố định là luân chuyển dần dần từng bộ phận tương ứng với giá trị hao mòn của tài sản cố định, khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng, vốn cố định mới được thu hồi đầy đủ và kết thúc một lần tuần hoàn vốn

Đầu tư tài sản cố định là một trong các hoạt động đầu tư dài hạn của DN

Về cơ bản, hoạt động đầu tư này sẽ ảnh hưởng đến quy mô và phạm vi hoạt động của DN Đứng trước một quyết định có hay không đầu tư, người quản lý DN phải trả lời những câu hỏi như: vì sao quyết định đầu tư? đầu tư như thế nào? thực hiện quản lý ra sao? Khi đã tìm được câu trả lời xác đáng cho những câu hỏi trên,

sẽ đảm bảo được tính hiệu quả của hoạt động đầu tư

Đầu tư tài sản cố định đòi hỏi các nguồn tài trợ ổn định và dài hạn DN có nhiều kênh để huy động nguồn vốn trung và dài hạn, nhưng vấn đề đặt ra là giữa nhiều khả năng huy động vốn như vậy, nên lựa chọn nguồn nào Việc lựa chọn nguồn tài trợ cho các dự án đầu tư tài sản cố định phải căn cứ trên nhiều tiêu chí như: chi phí huy động vốn, những điều kiện thuận lợi và khó khăn khi huy động nguồn vốn đó, khả năng trang trải chi phí huy động vốn của DN… Một tiêu chí giúp DN có sự lựa chọn nguồn vốn đầu tư một cách đúng đắn là so sánh suất sinh lời của dự án đầu tư với chi phí huy động vốn theo nguyên tắc: suất sinh lời của

dự án bằng hoặc lớn hơn chi phí huy động vốn Như vậy, cơ sở đầu tiên để quyết định xem nên huy động và sử dụng nguồn vốn nào chính là chi phí huy động, sử dụng vốn Đương nhiên, các nguồn vốn khác nhau, chi phí huy động và sử dụng vốn cũng khác nhau Trong điều kiện đầu tư tài sản cố định đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn và dài hạn, do đó việc tính toán chi phí huy động vốn rất cần thiết khi quyết định đầu tư

Trong quá trình kinh doanh, DN phải bảo toàn được vốn của mình Muốn vậy, DN phải thực hiện quản lý tốt tài sản, trong đó có tài sản cố định vì giá trị của các tài sản này chính là một bộ phận của vốn kinh doanh Vì thế, việc theo dõi và quản lý giá trị của tài sản tập trung trên hai nội dung: quản lý giá trị khấu hao tài sản và quản lý phần giá trị còn lại của tài sản cố định

Đối với tài sản cố định, việc thu hồi vốn đầu tư được tiến hành thông qua biện pháp khấu hao Biện pháp thu hồi vốn này xuất phát từ đặc điểm vận động

Trang 26

của tài sản cố định là trong quá trình sử dụng tài sản cố định bị hao mòn dần, đó

là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng của nó dưới sự tác động của hao mòn

Từ đặc điểm đó, trong mỗi chu kỳ sản xuất, người ta tính chuyển một lượng giá trị tương đương với phần hao mòn của tài sản cố định vào giá thành sản phẩm Khi sản phẩm được tiêu thụ, lượng giá trị này được trích lại để hình thành nên quỹ khấu hao nhằm tái đầu tư tài sản cố định Công việc này được gọi là khấu hao tài sản cố định Mức khấu hao tài sản cố định phải phù hợp với giá trị hao mòn của tài sản cố định và đảm bảo thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu

Một nội dung nữa trong vấn đề quản lý tài sản cố định là quản lý giá trị còn lại của tài sản cố định, thông qua biện pháp đánh giá lại tài sản cố định Tuy nhiên, nội dung này sẽ phát sinh khi có các biến động bất thường tới hoạt động kinh doanh của DN như sáp nhập, cổ phần hóa, góp vốn liên doanh…

- Quản lý vốn lưu động

Vốn lưu động của DN là một bộ phận vốn đầu tư được ứng trước về tài sản lưu động, là sự biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động, nhằm phục vụ cho quá trình SXKD được thực hiện một cách liên tục và bình thường

Tài sản lưu động của DN là những tài sản chỉ tham gia vào một chu kỳ kinh doanh (trừ nhóm công cụ, dụng cụ) và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Do đặc điểm này nên giá trị của nó được chuyển một lần vào giá trị sản phẩm và được thu hồi toàn bộ khi sản phẩm được tiêu thụ

Dựa vào các khâu của quá trình sản xuất, tài sản lưu động được chia thành tài sản lưu động trong khâu dự trữ, tài sản lưu động trong khâu sản xuất và tài sản lưu động trong khâu lưu thông

Tài sản lưu động trong khâu dự trữ gồm: nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động… dự trữ để đảm bảo hoạt động của DN được thường xuyên, liên tục

Tài sản lưu động trong khâu sản xuất gồm: bán thành phẩm, sản phẩm

Trang 27

nguồn vốn dài hạn để tài trợ, còn tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời có thể do nguồn vốn ngắn hạn đảm nhiệm Tuy nhiên, trong thực tế do việc đầu tư tài sản

cố định đòi hòi nguốn vốn có quy mô lớn và dài hạn nên phần lớn DN phải sử dụng nguốn vốn ngắn hạn để đầu tư tài sản lưu động Lựa chọn nguồn tài trợ nào cho tài sản lưu động cũng cần phải suy nghĩ để có được quyết định hợp lý nhất Những yếu tố mà DN cần phải cân nhắc là tỷ lệ chiết khấu, dòng tiền chiết khấu

và so sánh các chi phí huy động nguồn tài trợ cũng như các chi phí cơ hội…

Để quản lý tốt tài sản lưu động, DN phải quản lý trên tất cả các hình thức biểu hiện của tài sản lưu động tại mỗi thời điểm Quản lý tài sản lưu động gồm: quản lý hàng dự trữ, tồn kho; quản lý các khoản phải thu và quản lý tiền mặt:

- Quản lý hàng dự trữ, tồn kho

Dự trữ vật tư hàng hóa và tồn kho là công việc cần thiết đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra bình thường Thông thường, người ta chia hàng tồn kho gắn liền với các giai đoạn của quá trình sản xuất gồm tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang và tồn kho thành phẩm

Để bảo đảm duy trì hoạt động SXKD của DN, cần phải có dự trữ, tồn kho nguyên vật liệu gồm nguyên vật liệu dự trữ và nguyên vật liệu nằm trong các công đoạn của quá trình sản xuất Giữa những công đoạn sản xuất lại tồn tại bán thành phẩm, sản phẩm dở dang; khi sản xuất xong sẽ có thành phẩm tồn kho chờ tiêu thụ

Việc dự trữ và tồn kho giúp DN chủ động hơn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liên quan như: chi phí kho bãi, bảo quản và cả chi phí cơ hội của đầu tư vào tồn kho Vì vậy, trọng tâm quản lý hàng dự trữ và tồn kho là quyết định đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của dự trữ và tồn kho Hai yêu cầu trong quản lý hàng tồn kho đó là:

Thứ nhất, giảm thiểu các chi phí đặt hàng, gồm: chi phí quản lý giao dịch

và chi phí vận chuyển hàng hóa Số lần đặt hàng tỷ lệ nghịch với khả năng và quy mô dự trữ Vì thế, chi phí này giảm nếu lượng hàng tồn kho của từng lần đặt hàng tăng lên, khi đó làm giảm số lần đặt hàng

Thứ hai, đảm bảo mức dự trữ tối thiểu cần thiết đáp ứng nhu cầu SXKD bình thường của DN Không dự trữ hoặc dự trữ nguyên vật liệu thiếu có thể kéo theo rủi ro ngừng sản xuất hoặc sản xuất với quy mô thấp hơn khả năng của DN (Phạm Quang Trung, 2012)

Trang 28

- Quản lý các khoản phải thu

Lợi nhuận của một khoản đầu tư được đánh giá bằng các dòng tiền nhập quỹ Rủi ro mất khả năng thu các khoản nợ của khách hàng sẽ làm mất hoặc giảm lợi nhuận của DN, nếu thời gian cho khách hàng nợ càng dài thì rủi ro về nợ quá hạn và nợ không thể thu hồi càng lớn

Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu hàng hóa là không thể từ chối, bởi nó cho phép đẩy nhanh khả năng tiêu thụ hàng hóa và từ đó làm tăng doanh thu cho DN Khi chấp nhận các khoản mua chịu từ khách hàng, DN phải quy định giá cao hơn do tiền có giá trị theo thời gian

Với những ràng buộc và những điều kiện kinh doanh như vậy, các nhà quản lý phải cân nhắc đối với các khoản mua chịu của khách hàng, cũng như các biện pháp quản lý các khoản phải thu này để thu hồi nợ hiệu quả, bảo đảm được lợi nhuận và kiểm soát được các khoản nợ xấu cũng như giảm thiểu các rủi ro liên quan đến các khoản nợ này Một số lưu ý cơ bản đối với công tác quản lý các khoản phải thu như:

Thứ nhất, khi quyết định chấp nhận yêu cầu bán chịu của khách hàng, DN cần phân tích đánh giá khoản phải thu dựa trên phương pháp xác định giá trị hiện tại ròng của luồng tiền Tỷ suất hiện tại hóa chính là chi phí cơ hội cộng với chi phí của rủi ro liên quan

Thứ hai, giảm thiểu rủi ro mất khả năng thu các khoản nợ của khách hàng bằng cách sàng lọc khách hàng, xác định mức trần của khoản trả chậm, yêu cầu đặt cọc, hoặc có hình thức bảo hiểm cho việc phát sinh nợ khó đòi

Thứ ba, theo dõi các khoản phải thu thông qua chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân:

Kỳ thu tiền bình quân = Giá trị các khoản phải thu/Doanh thu bình quân ngày

Một cách tổng quát, khi kỳ thu tiền bình quân tăng mà doanh thu và lợi nhuận không tăng, nghĩa là vốn của DN bị ứ đọng ở khâu thanh toán Khi đó, DN cần có biện pháp can thiệp kịp thời

Thứ tư, lập bảng theo dõi các khoản phải thu, chi tiết đối với từng khách hàng để tiện phân tích các khoản nợ theo yếu tố thời gian, từ đó có biện pháp giải quyết nợ khi đến hạn

Trang 29

Thứ năm, có thể sử dụng một số dịch vụ tài chính như bao thanh toán, mua bán nợ để tránh rủi ro mất khả năng thu hồi nợ từ khách hàng, đảm bảo thu được nợ từ khách hàng một cách nhanh chóng (Phạm Quang Trung, 2012)

- Quản lý tiền mặt

Tiền mặt được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của

DN tại ngân hàng Tiền mặt về cơ bản là tài sản không sinh lời Số dư tiền mặt lớn sẽ giảm hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, việc giữ tiền mặt trong kinh doanh là cần thiết, vì bốn lý do: một là để duy trì số dư tiền mặt cho các giao dịch kinh doanh hàng ngày; hai là duy trì số dư tiền mặt theo yêu cầu của ngân hàng khi DN muốn vay ngân hàng hoặc sử dụng các dịch vụ ngân hàng;

ba là duy trì số dư dự phòng cho các biến động bất thường liên quan đến dòng tiền vào, ra; bốn là duy trì số dư tiền mặt nhằm mục đích đầu cơ, cho phép DN tận dụng các cơ hội kiếm lời Do đó mục đích của quản lý tiền mặt là giảm thiểu lượng tiền mặt DN phải nắm giữ mà vẫn bảo đảm hoạt động SXKD diễn ra bình thường Một số yêu cầu trong quản lý tiền mặt của DN như sau:

Thứ nhất, DN phải dự kiến được các luồng tiền vào, ra một cách chính xác nhất có thể Cơ sở của dự báo dòng tiền vào, ra là dự báo doanh số, mức tài sản

cố định và hàng tồn kho cần thiết

Thứ hai, sử dụng chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn.Việc nắm giữ tiền mặt cũng phát sinh chi phí nhất định Chi phí lưu giữ tiền mặt chính là chi phí cơ hội; vì vậy, khi đã xác định được các luồng tiền, DN có thể chỉ cần giữ lại một lượng tiền không đáng kể, còn lại đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao Vì tiền mặt có tính lỏng cao nhất nhưng không sinh lời, trong khi đó các chứng khoán không có tính lỏng cao như tiền mặt nhưng vẫn có thể chuyển đổi thành tiền và đem lại một mức thu nhập nhất định cho DN Một quy tắc chung: nếu lãi suất đầu tư càng cao, càng nên giữ ít tiền mặt và ngược lại

2.1.3.3 Quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

- Quản lý chi phí sản xuất

Chi phí SXKD là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về vật chất

và lao động do DN bỏ ra để tiến hành kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

Những khoản chi phí đó bao gồm chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí tiêu thụ, chi phí quản lý và các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước

Trang 30

Có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau:

+ Căn cứ vào mối quan hệ với quá trình sản xuất, chi phí chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

+ Căn cứ vào mối tương quan với sản lượng, chi phí được chia thành biến phí và định phí

+ Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí sản xuất với quá trình sản xuất và việc chấp hành quy trình kỹ thuật sản xuất sản phẩm chi phí chia thành chi phí cơ bản và chi phí chung

+ Xét theo nội dung kinh tế, chi phí SXKD gồm: chi phí nguyên vật liệu; chi phí khấu hao tài sản cố định; chi phí nhân công; chi phí dịch vụ mua ngoài; các khoản thuế gián thu; chi phí khác

Ngoài chi phí SXKD còn có những chi phí có liên quan đến các hoạt động khác, bao gồm: chi phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường:

+ Chi phí hoạt động tài chính là chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính Tương ứng với mỗi loại hoạt động đầu tư có các khoản chi sau: chi đầu

tư chứng khoán như hoa hồng, môi giới, mua bán chứng khoán; chi phí hoạt động liên doanh như chi phí đánh giá lại tài sản cố định đem góp vốn liên doanh, chi phí vận chuyển, lãi tiền vay góp vốn; chi phí hoạt động cho thuê bất động sản như thuế, khấu hao chi phí liên quan đến cho vay vốn và ngoại tệ; các khoản lỗ

từ đầu tư tài chính; dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán

+ Chi phí bất thường là chi phí liên quan đến các hoạt động hay nghiệp vụ riêng biệt so với hoạt động thông thường của DN Loại chi phí này có thể bao gồm: chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản, vật tư; tiền phạt vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật

Điều quan trọng đối với tất cả các DN là phải luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí, tiết kiệm chi phí, bởi vì, nếu chi phí không hợp lý, không đúng với thực tế đều gây ra những trở ngại trong quản lý và làm giảm lợi nhuận của

DN Muốn tiết kiệm chi phí, DN phải tính toán trước mọi chi phí SXKD kỳ kế hoạch, phải xây dựng được ý thức thường xuyên tiết kiệm để đạt được mục tiêu kinh doanh mà DN đề ra Cần phân biệt rõ chi phí trong hoạt động kinh doanh để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với từng loại chi phí đó

- Quản lý giá thành sản phẩm

Trang 31

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà DN đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định

Đối với các DN sản xuất giá thành có thể chia thành giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ

Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm: chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Giá thành toàn bộ là biểu hiện bằng tiền của các chi phí mà DN bỏ ra để thực hiện sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định

Trong kinh doanh, DN cần phải dự kiến giá thành sản phẩm và đề ra các biện pháp thực hiện dự kiến đó, hay nói cách khác DN phải tiến hành xây dựng

kế hoạch giá thành Trong công tác năng lực, chỉ tiêu giá thành giữ vai trò quan trọng và được thể hiện trên các mặt sau:

+ Giá thành là thước đo mức chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của

DN, làm căn cứ để xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh

+ Giá thành là công cụ quan trọng của DN để kiểm soát tình hình hoạt động SXKD, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức, kỹ thuật

+ Giá thành là một căn cứ quan trọng để DN xây dựng chính sách giá cả đối với từng loại sản phẩm

Công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm nhằm hướng tới mục tiêu giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho DN mở rộng quy mô sản xuất Để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, các DN phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tổ chức lao động và sử dụng con người một cách hợp lý; bố trí hợp lý các khâu sản xuất; hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng; tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu, tránh những tổn thất trong sản xuất… (Hoàng Minh Đường và Nguyễn Thừa Lộc, 2010)

2.1.3.4 Quản lý doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp

- Quản lý doanh thu

Doanh thu của DN là toàn bộ số tiền thu được từ tất cả các hoạt động của

DN trong một thời kỳ nhất định, bao gồm: doanh thu từ hoạt động kinh doanh, doanh thu từ các hoạt động tài chính và doanh thu từ hoạt động khác

Trang 32

Doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của DN:

Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng về hoạt động của DN, có doanh thu chứng tỏ hàng hoá của DN được xã hội chấp nhận Khi có doanh thu, vòng tuần hoàn vốn kết thúc, tạo tiền đề cho vòng tuần hoàn tiếp theo trong quá trình tái sản xuất Doanh thu là nguồn quan trọng để đảm bảo trang trải các khoản chi phí hoạt động, là nguồn để DN thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và các đối tượng có liên quan Từ đó các DN cần phải phấn đấu để tăng doanh thu Muốn vậy, DN cần áp dụng các biện pháp:

+ Chú ý đến chất lượng sản phẩm vì chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với uy tín của DN trong giới kinh doanh và trong công chúng DN cũng cần mở rộng các hoạt động tiếp thị nhằm tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận

+ Xác định một mức giá bán hợp lý Việc xây dựng giá hết sức mềm dẻo, linh hoạt để tác động vào cầu, kích thích tăng cầu của người tiêu dùng để tăng doanh thu tiêu thụ

+ Đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giảm bớt các khoản nợ phải thu, xử lý tốt những khoản nợ dây dưa… bảo đảm thực hiện chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ

- Quản lý lợi nhuận

Sau khi sử dụng doanh thu để bù đắp chi phí, còn lại số chênh lệch nhất định gọi là lợi nhuận

Lợi nhuận của DN là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD Nó là khoản chênh lệch bằng tiền giữa doanh thu và chi phí mà DN đã bỏ

ra để đạt được khoản thu đó trong một thời kỳ nhất định

Lợi nhuận của DN bao gồm lợi nhuận từ hoạt động SXKD và lợi nhuận từ các hoạt động khác

Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD Nó tác động đến tất cả các mặt hoạt động của DN, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của DN và nguồn tích luỹ cơ bản để

mở rộng sản xuất, tăng thêm nhu cầu phúc lợi cho DN và xã hội

Việc phấn đấu tăng lợi nhuận và tăng tỷ suất lợi nhuận là nhiệm vụ thường xuyên của DN Vì vậy, DN phải phấn đấu giảm chi phí hoạt động kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, tăng thêm sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 33

Phân phối lợi nhuận không phải là việc phân chia tiền lãi một cách đơn thuần mà là việc giải quyết tổng hợp các mối quan hệ kinh tế diễn ra đối với DN Nếu việc giải quyết tốt các lợi ích kinh tế sẽ tạo động lực mới cho sự phát triển của DN Việc phân phối lợi nhuận phải bảo đảm các yêu cầu:

+ Giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa DN, người lao động, nhà đầu

tư và Nhà nước

+ Phải dành phần lợi nhuận để lại thích đáng cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng của DN

+ Dự phòng để hạn chế rủi ro gây thiệt hại về mặt tài chính của DN, tạo ra

sự an toàn trong kinh doanh

Thông thường, lợi nhuận của DN được phân phối thành các quỹ cơ bản sau: + Quỹ đầu tư phát triển: được sử dụng cho mục đích đầu tư mở rộng kinh doanh; đổi mới thay thế máy móc, thiết bị, công nghệ…; cải thiện điều kiện làm việc; nghiên cứu khoa học, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên của DN

+ Quỹ dự phòng tài chính: được sử dụng để bù đắp khoản chênh lệch từ những tổn thất, thiệt hại về tài sản do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những rủi ro khác trong kinh doanh không được tính vào giá thành hoặc được các tổ chức bảo hiểm chi trả

+ Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm: nhằm mục đích trợ cấp cho người lao động có thời gian làm việc tại DN từ một năm trở lên bị mất việc làm và chi cho đào tạo lại chuyên môn, kỹ thuật cho người lao động do thay đổi công nghệ hoặc chuyển sang việc mới, đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ của DN

+ Quỹ phúc lợi: được sử dụng để xây dựng hoặc sửa chữa, bổ sung vốn xây dựng các công trình phúc lợi công cộng của DN, góp vốn đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi chung trong ngành hoặc với các đơn vị khác theo hợp đồng thoả thuận, chi cho các hoạt động phúc lợi xã hội, thể thao, văn hoá; đóng góp cho quỹ phúc lợi xã hội; trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất cho cán bộ công nhân viên của DN Ngoài ra DN có thể sử dụng quỹ này để chi trợ cấp khó khăn cho người lao động của DN đã về hưu, mất sức gặp khó khăn

+ Quỹ khen thưởng: dùng để thưởng cuối năm, hoặc thưởng theo kỳ cho cán bộ công nhân viên; thưởng đột xuất cho các tập thể, cá nhân có sáng kiến cải

Trang 34

tiến kỹ thuật; thưởng cho cá nhân, đơn vị ngoài DN mang lại lợi ích cho DN (Nguyễn Xuân Quang, 2014)

2.1.3.5 Kiểm tra tài chính

Kiểm tra tài chính là chỉ hoạt động giám sát, kiểm tra trong quá trình thực hiện kế hoạch tài chính Kiểm tra tài chính là một hệ thống quá trình hoạt động, thông thường bao gồm bốn mắt xích Thứ nhất là xác lập tiêu chuẩn kiểm tra tài chính, bao gồm tiêu chuẩn chiếm dụng vốn, tiêu chuẩn chi phí và tiêu chuẩn giá thành Thứ hai là quá trình thực hiện của kế hoạch giám sát tài chính, phát hiện những khác biệt xa rời tiêu chuẩn và kế hoạch Thứ ba là phân tích nguyên nhân, thiết lập những biện pháp sửa chữa sai lệch đối với những khác biệt xuất hiện Và cuối cùng là thực hiện những biện pháp sửa chữa sai lệch hoặc tiến hành hiệu đính những tiêu chuẩn và kế hoạch

 Đặc điểm của kiểm tra tài chính

Kiểm tra tài chính là: kiểm tra bằng đồng tiền trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ

Kiểm tra tài chính là: kiểm tra bằng đồng tiền, thông qua các chỉ tiêu tài chính (chỉ tiêu giá trị)

Phạm vi của kiểm tra tài chính có thể bao chùm lên những mặt khác nhau của hoạt động kinh tế, tài chính, của lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất

 Nguyên tắc kiểm tra tài chính

Để đạt được các mục đích tài chính, tổ chức công tác kiểm tra tài chính phải tuân theo những yêu cầu nhất định được thể hiện trong các nguyên tắc tổ chức công tác kiểm tra tài chính Gồm: nguyên tắc tuân thủ theo pháp luật, nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ cập, nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả trong tổ chức kiểm tra tài chính

 Nội dung và phương pháp kiểm tra tài chính

Kiểm tra tài chính bao gồm các nội dung: kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính, kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch, kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính

Phương pháp kiểm tra gồm kiểm tra toàn diện, kiểm tra trọng điểm, kiểm tra tổng hợp và kiểm tra qua chứng từ

Kiểm tra toàn diện: là cách kiểm tra nhằm vào toàn bộ tổ chức tài vụ và

Trang 35

toàn bộ các nghiệp vụ tài chính trong việc thực hiện nghiệp vụ kế hoạch tài chính với mục đích xem xét đầy đủ tình hình tài chính có phản ánh trung thực tình hình hoạt động của doanh nghiệp không

Kiểm tra trọng điểm: là cách kiểm tra chỉ tập trung vào một hay một vài nghiệp vụ tài chính nhất định cần quan tâm trong chấn chỉnh kỷ luật tài chính, hoặc kiểm tra vấn để nào đó có nhiều ưu điểm hay nhiều tồn tại, mâu thuẫn “nổi cộm”

Kiểm tra tổng hợp: là tiến hành kiểm tra toàn bộ công tác của khách thể kiểm tra một cách có hệ thống từ trên xuống dưới

Kiểm tra qua chứng từ: là phương pháp kiểm tra bằng cách dựa vào các bảng biểu, báo cáo, sổ sách, số liệu hạch toán thống kê - kế toán…(Ngô Thế Chi, 2012)

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính doanh nghiệp

Quản lý tài chính được thể hiện trên cả hai mặt là định tính và định lượng,

vì vậy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nó, trong đó chỉ là những nhân tố cơ bản nhất là:

- Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng Có thể nói đây là yếu tố bản chất nhất, vì hoạt động quản lý tài chính là hoạt động có mục đích, do con người làm chủ thể tổ chức và thực hiện thông qua các quyết định của mình Muốn có được quyết định đúng phải thông qua quá trình phân tích, tìm hiểu để đưa ra nhận thức đúng về bản chất, xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, dự đoán đúng được xu hướng vận động của hiện tượng và trên cơ sở những quy định về quản lý tài chính của Nhà nước quản lý vừa là một khoa học nhưng cũng vừa là một nghệ thuật, vì vậy, phẩm chất, quản lý phải kết hợp với kinh nghiệm, bản năng, cảm quan của nhà Quản lý mới phát huy hết tiềm năng và đạt hiệu quả cao nhất

- Thứ hai, chất lượng các chính sách, kế hoạch tài chính Hoạt động tài chính thường rất đa dạng, phong phú và biểu hiện khác nhau trong các thời gian

và không gian khác nhau Mặt khác, ở mỗi thời kỳ mục tiêu quản lý tài chính cũng khác nhau, nên cần phải xây dựng được các chính sách, kế hoạch tài chính phù hợp, sát với tình hình thực tế, vừa sức với khả năng của từng bộ phận, vừa phát huy được hết khả năng tiềm tàng và cơ hội trong kinh doanh Có như vậy, tính khả thi mới cao, triển khai thực hiện mới đem lại hiệu quả

- Thứ ba, cơ chế năng lực, công cụ, hình thức và phương pháp năng lực

Trang 36

Cơ chế quản lý mang nặng tính chủ quan, do con người tạo ra, nó là một tập hợp các chế tài, quy định hình thành nên sự ràng buộc giữa các hoạt động, các bộ phận thể hiện ở các mối quan hệ Nếu cơ chế quản lý chặt chẽ, đúng đắn, trên cơ

sở logic, khoa học, phối hợp nhịp nhàng giữa các hoạt động, giải quyết được hài hòa các mối quan hệ sẽ mang lại hiệu quả cao trong năng lực Muốn quản lý tốt, phải có hệ thống công cụ phù hợp như: nhóm các công cụ pháp lý, nhóm các công cụ kỹ thuật, nhóm công cụ nhận thức, nhóm các công cụ kinh tế… mỗi nhóm công cụ có chức năng khác nhau, bổ trợ cho nhau và phải sử dụng kết hợp với nhau Hình thức quản lý có thể sử dụng là tập trung hoặc phân cấp tùy theo tính chất phức tạp của hoạt động Phương pháp quản lý cũng phải được xem xét dưới các giác độ trực tiếp, gián tiếp hay theo sát diễn biến của hiện tượng và chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng…

- Thứ tư, tính phức tạp của hoạt động tài chính Hoạt động càng đơn giản, việc quản lý càng dễ dàng, mặt khác, hoạt động càng phức tạp bao gồm nhiều khâu, đan xen nhiều mối quan hệ, vận động theo các quy luật khác nhau, chịu sự chi phối của nhiều chế tài quản lý khác nhau, liên quan đến nhiều bộ phận, cá nhân thì công tác Quản lý cũng khó khăn hơn

- Thứ năm, thời điểm, thời kỳ, chu kỳ kinh doanh Mỗi giai đoạn khác nhau DN có mục tiêu khác nhau, vì vậy, công tác quản lý tài chính phải luôn bám sát chiến lược kinh doanh của DN trong từng thời kỳ để có được những chính sách tài chính phù hợp như: chính sách huy động vốn, chính sách tài trợ, chính sách đầu tư, chính sách phân phối lợi nhuận…

- Thứ sáu, tính chất của ngành kinh doanh Mỗi ngành có những đặc điểm hoạt động khác nhau, công nghệ khác nhau, hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau… vì thế, quy mô vốn khác nhau, cấu trúc tài chính khác nhau, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ luân chuyển vốn và tài sản, cũng như chính sách đầu tư và khả năng chi trả của DN…

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Kinh nghiệm xây dựng và vận hành quản lý tài chính của Temasek Holdings ( Singapore)

Temasek Holdings khi mới thành lập là chủ sở hữu và quản lý khoảng 30

dự án đầu tư công Đến nay Tập đoàn này đã quản lý nhiều dự án trong hầu khắp

Trang 37

các ngành kinh tế trọng yếu của Singapo (11 CT trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng, 8 CT trong lĩnh vực tiện ích năng lượng, 7 CT trong lĩnh vực truyền thông

và viễn thông, 3 CT trong lĩnh vực giao thông và hậu cần, 3 CT trong lĩnh vực hạ tầng và kỹ thuật, 3 CT đa ngành, 2 CT dược, 7 CT trong những lĩnh vực khác),

sở hữu 9 CT ở nước ngoài, nắm giữ khoảng 1/5 tổng giá trị thị trường chứng khoán nội địa với tổng giá trị danh mục đầu tư ròng đạt gần 200 tỷ đôla Singapore

Mặc dù là tổ chức kinh doanh vốn nhà nước, Temasek có quyền tự chủ rộng rãi, chỉ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chính phủ về lợi nhuận của phần vốn nhà nước, không chịu sự quản lý hành chính của cơ quan chủ quản hành chính cấp trên Trong nhiều năm qua Chính phủ Singapo cho phép Temasek vận hành theo triết lý, quan điểm, nguyên tắc kinh doanh như một DN tư nhân Các quyết định của Temasek đơn thuần dựa trên các tính toán hiệu quả kinh tế, không

bị ràng buộc bởi các mục tiêu phi kinh tế của Chính phủ Chính vì thế Temasek coi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là quan trọng nhất, luôn hướng tới mục tiêu bảo đảm mức sinh lợi cao nhất cho các cổ đông

Temasek đã thiết lập được chế độ quản lý tài chính hiện đại CT mẹ kiểm soát từng CT con theo chiến lược của CT mẹ và theo vị trí, tầm quan trọng của

CT con Việc quản trị tài chính dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế hiện đại, yêu cầu tính kỷ luật cao trong định hướng lợi nhuận đã góp phần to lớn vào thành công của Temasek Nhiều năm liền Temasek đem lại mức cổ tức cao Với tư cách cổ đông, Temasek không trực tiếp can thiệp vào các quyết định hàng ngày của CT con, chỉ theo dõi và kiểm soát các quyết định kinh doanh hay đầu tư của các CT con thông qua kiểm tra các báo cáo tài chính CT con trong Temasek Holdings có quyền tự chủ rộng rãi như CT tư nhân

Để thể chế hóa kỷ luật tài chính vững chắc, Temasek cung cấp thông tin đầy đủ cho các cổ đông và kêu gọi họ xem xét thường xuyên, kỹ lưỡng các báo cáo về kết quả và danh mục các khoản đầu của tập đoàn in trên ấn phẩm Temasek Review phát hành hàng năm, cũng như giám sát qua mức độ xếp loại tín nhiệm đối với Tập đoàn từ các cơ quan xếp loại tín nhiệm quốc tế có tên tuổi 2.2.1.2 Hãng viễn thông Softbank của Nhật Bản (www.peacesoft.net)

SoftBank là Tập đoàn Tin học số 1 Nhật Bản trong lĩnh vực kinh doanh phần mềm, Internet, điện thoại di động, máy dịch ngôn ngữ điện tử, xuất bản tạp

Trang 38

chí tin học Cuối những năm 90 thế kỷ XX, Tập đoàn này được định giá trên 100

tỉ USD trên thị trường chứng khoán

SoftBank tham gia góp vốn với rất nhiều tập đoàn tin học khác như Microsoft, Yahoo, Novell, CyberCash, Comdex, ZiffDavis Mới đây nhất, Soft bank bỏ ra tới 12,8 tỉ Euro, tương đương với 15,5 tỉ USD để mua toàn bộ hệ thống kinh doanh của Vodafone tại Nhật Bản Với phi vụ này, Tập đoàn SoftBank đã trở thành Tập đoàn kinh doanh phần mềm lớn của Nhật Bản với hơn 1.000 nhân viên ở Nhật và hơn 500 nhân viên ở Mỹ Năm 1996, SoftBank bỏ ra

100 nghìn USD để mua lại quyền được sử dụng hệ thống Yahoo tại Nhật Bản Sự xuất hiện của hệ thống Yahoo trên đất đã thổi một luồng gió mới vào thị trường Internet nước này Tập đoàn NTT Docomo trước kia gần như độc quyền một mình một thị trường, nay đã gặp phải đối thủ xứng đáng SoftBank đầu tư phát triển Internet băng thông rộng, tốc độ Internet rất nhanh, khiến cả nước Nhật chỉ trong một thời gian ngắn sôi sục mở tài khoản sử dụng Internet Và SoftBank đã nhanh chóng chiếm tới 1/3 thị phần với hàng triệu thuê bao

Mặc dù mới xuất hiện, thời gian đầu lại tốn kém thuê đường truyền của các công ty khác, nhưng SoftBank đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng nhờ tiện ích và nhất là sự phong phú của các dịch vụ Đặc biệt, qua Internet tốc độ cao do Softbank phục vụ, khách hàng có thể sử dụng điện thoại giá rẻ Đây chính là một độc chiêu để SoftBank cạnh tranh với các đối thủ của mình trên thị trường viễn thông vô cùng hấp dẫn Hơn nữa, SoftBank có một đội ngũ kỹ thuật viên tài ba, đã phát minh ra loại modem riêng dùng cho băng thông rộng Chính nhờ modem này mà khách hàng của SoftBank có thể được tiếp cận với hàng trăm kênh truyền hình kỹ thuật số, hay các kênh video chất lượng cao SoftBank còn đi đầu trong khai thác kinh doanh lĩnh vực giải trí bằng các phương tiện công nghệ cao

Bên cạnh đó, SoftBank còn triển khai các hoạt động marketing bài bản và thường xuyên Để thực hiện việc tuyên truyền, quảng cáo, SoftBank không chỉ dùng những tờ rơi hay băng rôn, mà còn có những chiến dịch tặng khách hàng modem băng thông rộng, thực hiện dịch vụ lắp đặt miễn phí Chỉ hơn 3 năm sau,

từ 100.000 USD đầu tư ban đầu, Yahoo tại Nhật Bản đã được định giá tới 14 tỉ USD ở thời kỳ đỉnh cao của thời kinh tế dot.com vào năm cuối cùng của thế kỷ XX.Từ kinh nghiệm đầu tư với Yahoo, cùng với tham vọng lớn, dần dần SoftBank

đã trở thành nhà đầu tư cho rất nhiều công ty, tập đoàn khác SoftBank còn được

Trang 39

coi là “bà đỡ” của nhiều công ty tin học khi mới ra đời Tập đoàn Alibaba.com của

tỉ phú Trung Quốc mới nổi Jack Ma là một ví dụ tiêu biểu khi SoftBank đã mạnh dạn đầu tư 20 triệu USD cho Jack Ma thành lập công ty Ngoài ra, SoftBank đã tham gia góp vốn vào 500 công ty tin học và công nghệ cao

Hiện nay, SoftBank là cổ đông lớn của 4 trong số 12 tập đoàn kinh doanh Internet lớn nhất thế giới Với 2 đại gia, trong đó là GeoCities và ZDNet Sau khi mua lại Công ty Vodafone Nhật Bản, SoftBank đã có ngay được trên 15 triệu thuê bao cùng hệ thống cơ sở hạ tầng của mạng lưới điện thoại di động Chiến lược phát triển và mục tiêu trở thành số 1 của SoftBank trong lĩnh vực điện thoại

di động SoftBank chính thức đầu tư vào PeaceSoft từ tháng 09/2008 vào việc phát triển Cổng Thương mại Điện tử

2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng và cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty hàng không Việt Nam

TCT Hàng không Việt Nam (TCTHKVN) được thành lập năm 1995 với chức năng chính là vận chuyển hàng không, đồng thời cung ứng một số dịch vụ

về phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất như dịch vụ kỹ thuật sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, dịch vụ cung cấp xuất ăn trên máy bay, dịch vụ hàng hoá miễn cước Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam làm nòng cốt trong TCT Ngoài ra còn có một số DN thành viên hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp có quan hệ với ngành hàng không TCT được có HĐQT và TGĐ HĐQT được Bộ Giao thông vận tải ủy quyền thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước để Quản lý hoạt động của TCT, chịu trách nhiệm trước Bộ Giao thông vận tải về sự phát triển của TCT TGĐ là đại diện pháp nhân của TCT và chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về điều hành hoạt động của TCT

Sau nhiều năm hoạt động SXKD, tổng vốn chủ sở hữu của TCT đã có sự tăng trưởng, mặc dù chậm Trong cơ cấu vốn chủ sở hữu, Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam chiếm tỷ trọng chi phối Phần lớn vốn được bổ sung qua các năm từ lợi nhuận của hoạt động SXKD của TCT TCTHKVN đã hoàn thành nhiệm vụ bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả theo quy định của nhà nước Nguồn vốn chủ sở hữu chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào

sơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị nên thu hồi chậm TCT thiếu vốn kinh doanh nên phải đi thuê số lớn máy bay Hàng năm chi phí cho việc thuê máy bay chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi phí của toàn TCT

Trang 40

Cơ cấu vốn biến động theo hướng lành mạnh thông qua việc thu hút vốn bằng nhiều hình thức khác nhau, không phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn NSNN cấp Các nhà Quản lý cấp cao của TCT đã vạch ra chiến lược có tính đến nhu cầu vốn lâu dài để làm căn cứ hoạch định chính sách huy động vốn nhằm đầu tư phát triển đội máy bay sở hữu của TCT Theo phân cấp trong TCT, mức tín dụng một lần vay trên 3% vốn điều lệ của TCT trở lên do HĐQT quyết định, dưới mức đó

do TGĐ quyết định TGĐ còn có quyền quyết định phương án và phê duyệt các hợp đồng đầu tư tài chính, huy động vốn ngắn hạn, bổ sung vốn lưu động theo

kế hoạch hàng năm Ngoài vay các tổ chức tín dụng, TCT còn huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tuy nhiên mức huy động còn hạn chế TCT cũng đã nỗ lực tìm chọn các đối tác nước ngoài mạnh, có công nghệ hiện đại và uy tín trên thế giới để thành lập các liên doanh chế biến xuất ăn, đặt vé giữ chỗ Tính đến nay, huy động vốn qua kênh này cũng không đáng kể

Các dự án sử dụng vốn vay chủ yếu là đầu tư phát triển máy bay của Vietnam Airlines Vốn huy động từ bên ngoài chủ yếu do TCT sử dụng Các đơn

vị hạch toán độc lập chiếm tỷ trọng rất thấp trong sử dụng vốn vay

Tình hình Quản lý các khoản nợ phải trả của TCT trong những năm qua cũng khá ổn thỏa, chủ yếu là trả nợ các khoản vốn vay đầu tư máy bay Để Quản

lý khoản nợ này TCT đã mở sổ sách theo dõi chi tiết từng khoản nợ vay với từng đối tác cho vay, xác định chính xác số nợ đến hạn phải trả trong từng năm tài chính Đồng thời, TCT định kỳ đánh giá, phân tích khả năng thanh toán nợ, phát hiện sớm tình hình khó khăn trong thanh toán để có giải pháp khắc phục kịp thời, không để phát sinh các khoản nợ quá hạn Các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ được hạch toán toàn bộ chênh lệch tỷ giá phát sinh của số dư nợ phải trả vào chi phí kinh doanh trong kỳ để tạo nguồn trả nợ và đảm bảo hoạt động kinh doanh của TCT

Đầu tư vốn ra ngoài DN của TCT được thực hiện dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, đầu tư vào trái phiếu chính phủ, các khoản ký quỹ đặt cọc dài hạn ở nước ngoài Vốn góp của TCT trong các liên doanh, cổ phần không có biến động lớn và được theo dõi chặt chẽ Nhìn chung, phần vốn góp tại các liên doanh được bảo toàn và phát triển đã đem lại nguồn lợi nhuận hàng năm đều đặn Các CT liên doanh có quy mô và tỷ suất lợi nhuận cao gắn liền với hoạt động của ngành hàng không Do thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu nên hiện nay TCTHKVN đang nắm giữ một số cổ phiếu của CT

Ngày đăng: 20/03/2021, 18:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w