cọc góp phần tăng trưởng nhanh đàn lợn giống và đàn lợn nuôi thịt, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài tại xã Xuân thành do điều kiện chăn nuôi chủ yếu là nông hộ nhỏ lẻ chỉ có một tran
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Thọ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Trịnh Văn Quân
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị, em làm việc tại trang trại anh Quân Đào – Xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Trịnh Văn Quân
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 3
2.1.1 Đặc điểm thích nghi của gia súc non 3
2.1.2 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con 4
2.1.3 Hệ vi sinh vật đường ruột của lợn 5
2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con 6
2.2 Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis) 6
2.2.1 Khái niệm bệnh phân trắng lợn con 6
2.2.2 Nguyên nhân 7
2.2.3 Cơ chế gây bệnh 11
2.2.4 Triệu trứng và bệnh tích 11
2.2.5 Phòng và trị bệnh 13
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh phân trắng lợn con ở trong và ngoài nước 16
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
Trang 52.4 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện thọ xuân, Thanh Hóa 19
2.6 Một vài thông tin về những loại thuốc đề tài sử dụng để thử nghiệm phòng trị bệnh PTLC 21
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu 21
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.2.1 Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại anh Quân Đào – Xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa 23
3.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại 23
3.2.3 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh phân 23
3.2.4 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợnn con 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm 23
3.4 Công thức tính toán và xử lý số liệu 26
Phần 4 Kết quả và thảo luận 28
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trang trại anh quân đào- xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa 28
4.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái tại xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa 29
4.1.2 Cơ cấu đàn lợn tại trang trại 29
4.1.3 Thức ăn cho lợn nái 31
4.1.4 Công tác vệ sinh phòng bệnh 33
4.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trang trại 35
4.2.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn con theo mẹ từ năm 2015 đến tháng 8/2017 35
4.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng theo các tháng trong năm 37
4.2.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi của lợn con 40
4.2.4 Tình hình mắc bệnh PTLC theo lứa đẻ của lợn mẹ 42
4.3 Kết quả theo dõi triệu chứng của lợn con mắc bệnh phân trắng 44
4.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con 47
4.4.1 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng bệnh phân trắng lợn con 47
Trang 64.4.2 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp điều trị bệnh phân trắng lợn con 50
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56
Tài liệu tham khảo 57
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái tại xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh
Hóa 28
Bảng 4.2 Cơ cấu đàn lợn của trại lợn anh Quân Đào từ năm 2015 - 2017 30
Bảng 4.3 Định mức thức ăn cho lợn nái (kg/ngày) 32
Bảng 4.4 Lịch tiêm phòng vacxin cho đàn lợn nái nuôi tại trang trại anh Quân Đào 34
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các năm 36
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh PTLC qua các tháng trong năm 2016 38
Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh PTLC theo lứa tuổi lợn con 40
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh PTLC theo lứa đẻ của lợn mẹ 43
Bảng 4.9 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn mắc PTLC 45
Bảng 4.10 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng bệnh phân trắng lợn con 47
Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh PTLC và tỷ lệ tái phát của lợn con sau khi khỏi bệnh 51
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tình hình mắc bệnh PTLC qua các năm 37
Hình 4.2 Tình hình mắc bệnh PTLC qua các tháng trong năm 2016 38
Hình 4.3 Tình hình mắc bệnh PTLC theo lứa tuổi lợn con 40
Hình 4.4 Tình hình mắc bệnh PTLC theo lứa đẻ của lợn mẹ 43
Hình 4.5 Đàn lợn con bị bệnh phân trắng 46
Hình 4.6 Phân của lợn bị mắc bệnh PTLC 46
Hình 4.7 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng bệnh phân trắng lợn con 48
Hình 4.8 Vacxin Rokovac neo tiêm cho lợn mẹ khi mang thai ở kỳ thứ 3 để phòng bệnh PTLC 49
Hình 4.9 Kháng thể HN – LBS IgG 40% phòng bệnh PTLC 49
Hình 4.10 Chế phẩm Emitan phòng bệnh PTLC 50
Hình 4.11 Tỷ lệ khỏi bệnh PTLC khi sử dụng các phác đồ điều trị 52
Hình 4.12 Thời gian khỏi bệnh PTLC khi sử dụng các phác đồ điều trị 52
Hình 4.13 Tỷ lệ tái phát bệnh PTLC sau khi điều trị 53
Hình 4.14 Kháng sinh Nova – Colispec để điều trị bệnh PTLC 54
Hình 4.15 Kháng sinh Dufafloxacin 10% Oral dùng để điều trị bệnh PTLC 54
Hình 4.16 Kháng sinh Nova – Gentasul dùng điều trị bệnh PTLC 55
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Trịnh Văn Quân
Tên luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh phân trắng lợn con, biện pháp phòng trị tại xã xuân thành - huyện thọ xuân tỉnh Thanh Hóa”
Ngành: Thú y Mã số: 60 64 01 01 Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra hồi cứu; Phương pháp quan sát, mô tả; Phương pháp phân lô so sánh kết quả; Phương pháp
xử lý số liệu
Kết quả chính và kết luận
Trang trại có cơ cấu chăn nuôi tốt, cơ sở vật chất hiện đại Quy trình phòng bệnh bằng vệ sinh cũng như phòng bệnh bằng vaccin được thực hiện triệt để Trang trại có sự tăng nhanh về chất lượng nái sinh sản và lợn thương phẩm
Tỷ lệ mắc bệnh PTLC theo đàn tại trang trại ở mức cao, dao động từ 75,33% đến 78,77% Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh PTLC tính theo con từ 16,41% đến 19,90% và tỷ lệ chết tính theo con do mắc bệnh này từ 2,87% đến 4,35% chỉ ở mức thấp và có xu hướng giảm dần qua các năm
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn mắc và tỷ lệ chết do bệnh PTLC là: Mùa vụ trong năm; Độ tuổi của lợn; Lứa đẻ lợn mẹ
Triệu chứng điển hình của lợn mắc bệnh PTLC: Giảm ăn hoặc bỏ ăn, chiếm tỷ lệ 86,25%; Ỉa chảy, phân loãng, tanh, khẳm, màu trắng, vàng hay nâu, có lẫn bọt khí lổn nhổn ở phân, sau chuyển sang mà trắng đục chiếm 100%; Con vật ủ rũ, mệt mỏi, hoạt động chậm chạp chiếm 81,25%; Niêm mạc nhợt nhạt, khô chiếm 67,50%, mắt lõm sâu chiếm 41,25%, lông xù chiếm 56,25%; Lợn sút cân, gầy gò cũng chiếm tỷ lệ rất cao chiếm 91,25%; Thân nhiệt không tăng, chiếm 82,50%
Trang 11Kết quả thử nghiệm biên pháp phòng trị bệnh PTLC:
Tiêm vacxin Rokovac Neo cho lợn mẹ 85 – 90 ngày trước khi đẻ, lần hai nhắc lại trước khi đẻ 14 ngày; kết hợp cho lợn con sơ sinh uống kháng thể HN – LBS IgG 40% liên tục trong 3 ngày và sử dụng men 10 g tiêu hóa Biolac/5 kg thức ăn cho lợn con ăn liên tục cho hiệu quả phòng bệnh PTLC tốt
Sử dụng Nova – Colispec, kết hợp với Emitan, B.complex, đường Glocose 5% điều trị bệnh PTLC cho hiệu quả cao
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Trinh Van Quan
Thesis title: “Research the phthological characteristic of Colibacillosis and preventive measures Xuan Thanh commune, Tho Xuan district, Thanh Hoa province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Research Objectives
- To research the industrial scale in Xuan Thanh commune, Tho Xuan district, Thanh Hoa province”
- To determine the infection situation of Colibacillosis in the farm
- To find the most effective preventive measures, suitable for local conditions Materials and Methods
Topics used the following research methods: Method of retrospective investigation; Method of observation, description; Method of subdivision, comparison
of results; Method of processing data
Main findings and conclusions
The farm has a good breeding structure, modern facilities Disease prevention process by hygiene and by vacxin is done thoroughly The farm has a rapid increase in the quality of reproductive sows and commercial pigs
Incidence of Colibacillosis disease according to herd at the farm is high from 75.33% to 78.77% However, incidence of Colibacillosis disease from 16.41% to 19.90% and mortality incidence from 2.87% to 4.35%, according to individual pig are only at low levels and tended to decrease over the years
Factors affecting the incidence of infected and mortality because of Colibacillosis disease are: Season of the year; Age of pigs; Litter of mother pigs
Typical symptoms of pigs infected Colibacillosis disease: Reduce eating or quit eating account for 86.25%; Diarrhea, dilution, fishy, thick, white, yellow or brown, bubbles in the feces, after that turning to white opaque account for 100%; Animals are cheerless, tired, slow activity accounting for 81.25%; Mild palatability, dryness account for 67.50%; Deep eyes accounts 41.25%; Scabrous hair accounts 56.25%; Swine weight loss, thin also account for a very high rate (91.25%) Thermal body does not increase, accounting 82.50%
Trang 13Results of the test of prevention and treatment disease:
Adopt Rokovac Neo vacxin for mother pigs 85-90 days before laying, the second time before laying 14 days; combination of 40% HN - LBS IgG antibody for 3 consecutive days; and using 10 g of Biolac / 5 kg feed for piglets to feed continuously brings effective Colibacillosis disease prevention well
Using Nova - Colispec, combining with Emitan, B.complex, Glucose 5% to treatment Colibacillosis disease bring high efficiency
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong ngành chăn nuôi thì chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ đạo, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng Hiện ở nước ta, chăn nuôi lợn đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, song do chủ yếu quy mô nuôi nhỏ lẻ trong hộ gia đình nên còn nhiều bất cập
Theo Cục Chăn nuôi, tổng đàn lợn của cả nước hiện có gần 30 triệu con, với tốc độ tăng trưởng bình quân 1,8%/năm Theo thống kê của Tổ chức Nông lương Thế Giới (FAO), sản lượng thịt lợn của Việt Nam đứng thứ nhất Đông Nam Á, chiếm 42,2%, đứng thứ hai Châu Á sau Trung Quốc
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì nhu cầu thịt lợn ngày một tăng, đặc biệt là thịt lợn hướng nạc, có hàm lượng dinh dưỡng cao với những đòi hỏi ngặt nghèo về vệ sinh an toàn thực phẩm, có sự cạnh tranh gay gắt về giá cả ở trong nước cũng như xuất khẩu, thì chăn nuôi lợn theo phương thức truyền thống không còn phù hợp nữa, mà dần dần được thay thế bằng các hình thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, tập trung tại các trang trại có qui trình chăn nuôi khoa học, có sự đầu tư thoả đáng về trang thiết bị, chuồng trại, con giống, thú y… Khi hình thức chăn nuôi trang trại phát triển, thì cơ cấu con giống càng đa dạng do việc nhập các giống lợn ngoại về Những giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh
và chống chịu bệnh tật kém Công tác thú y, phòng và điều trị các bệnh ở lợn ngày càng được chú trọng hợn
Một trong những bệnh gây thiệt hại nặng nề trong chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ Đây là căn bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất khi thời tiết thay đổi như nóng lạnh thất thường, mưa nhiều, độ ẩm cao Nếu không được điều trị tốt, lợn con có thể bị chết tới 40-80% Khi lợn con mắc bệnh thì hiệu quả chăn nuôi lợn nái sẽ giảm, chi phí thú y cao Khi lợn con mắc bệnh mà điều trị lâu khỏi sẽ gây chi phí điều trị cao, lợn con bị còi cọc, chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa của đàn lợn giống, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con sau này
Nhằm khắc phục tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng và giảm bắt tỷ lệ còi
Trang 15cọc góp phần tăng trưởng nhanh đàn lợn giống và đàn lợn nuôi thịt, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài tại xã Xuân thành do điều kiện chăn nuôi chủ yếu là nông hộ nhỏ lẻ chỉ có một trang trại chăn nuôi theo hình thức tập chung do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh phân trắng lợn con, biện pháp phòng trị tại xã xuân thành - huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được tình hình bệnh phân trắng ở lợn con, áp dụng một số biện pháp phòng trị nhằm hạn chế tác hại của bệnh, nâng cao năng xuất chăn nuôi lợn tại cơ sở sản xuất
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng xác thực về tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng trị xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc đề ra biện pháp
kỹ thuật phòng và trị bệnh phân trắng lợn con, giảm thiểu tác hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại từ đó tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON
Ở gia súc non, do cấu tạo cơ thể cũng như chức năng của các cơ quan, bộ phận cơ thể, chức năng của hệ thống thần kinh, thể dịch chưa hoàn thiện, do đó
sự thích ứng của gia súc non với điều kiện ngoại cảnh còn kém Hiểu rõ được điều này giúp cho người chăn nuôi có những biện pháp tốt để chăn nuôi tốt và hạn chế tối đa bệnh phân trắng lợn con (PTLC)
2.1.1 Đặc điểm thích nghi của gia súc non
Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu chính khiến lợn con thích ứng kém với môi trường đó là khả năng điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, hệ thống enzim tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, thiếu sắt, hệ thống miễn dịch và hormone chưa phát triển
* Điều hoà thân nhiệt kém
Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,5oC - 39oC, thân nhiệt trung bình là 330C – 35oC Khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con tạm thời tụt xuống tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi Ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất kém: Nhiệt độ trực tràng giảm 2oC khi chuồng nuôi 18oC, nhưng sẽ giảm 5oC khi nhiệt độ chuồng nuôi là 11oC sau 20 phút Thân nhiệt trở lại bình thường sau 24h (Vũ Duy Giảng, 1997)
* Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít
Lúc lợn con mới sinh, cơ thể chứa 80% nước và chỉ có 20% lipid, trong 3 tuần đầu có 65% là nước và 12% lipit Ngoài chất dự trữ cơ thể là lipid còn có glycogen Tổng năng lượng dự trữ gồm: mỡ cơ thể và glycogen khoảng 1.000 – 1.200 Kcal, chỉ khoảng tương đương 1 lít sữa Ở nhiệt độ trung hoà thì năng lượng này chỉ sống khoảng 2 ngày Do đó, đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con được bú sớm và giữ ấm ở nhiệt độ trung hoà Nhờ quá trình oxy hoá mô bào mỡ
mà gia súc non điều chỉnh được thân nhiệt Khả năng điều chỉnh thân nhiệt ở gia súc non là khác nhau, phụ thuộc vào độ phát triển khác nhau của các mô bào mỡ của từng cá thể, từng loại gia súc
* Hệ thống enzyme tiêu hoá chưa hoàn chỉnh
Cho tới 15 – 21 ngày, enzyme của lợn con chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa
Trang 17trong đó chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactaze cho tiêu hóa đường lactoz Bắt đầu từ 3 tuần tuổi, hoạt tính enzym tiêu hoá tinh bột (ngũ cốc) và protein thực vật (khô đậu tương) phát triển nhanh Do
đó, việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá
* Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh
Lợn con mới sinh nhận từ sữa đầu miễn dịch thụ động có hiệu quả trong
10 ngày đầu Hấp thụ Immunoglobulin của sữa đầu cũng giảm nhanh trong vòng
24 giờ sau khi sinh
Tất cả các yếu tố, tác nhân hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ tử vong, tăng tỷ lệ nhiễm bệnh ở lợn con sau khi sinh Miễn dịch chủ động thực hiện bắt đầu từ 3 tuần tuổi
2.1.2 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con
Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện Phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng nhanh về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già Nhưng cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa được hoàn thiện do một số men tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần tuổi đầu
Đặc biệt là hàm lượng axit HCl, ở lợn con việc sản sinh HCl là không đáng
kể cho tới 3 tuần tuổi sau khi sinh Lúc cai sữa pH chuyển từ 3 sang 4 – 5 Điều này không đủ để hoạt tính men pepsin đạt mức tối ưu, trong khi pH tối ưu là từ 2 – 3) Từ đó mà tăng nguy cơ ỉa chảy Khi cho con tập ăn thức ăn rắn sớm, HCl sẽ tăng lên cao Thức ăn protein và chất khoáng có năng lực đệm cao, chống lại sự
hạ thấp của pH dạ dày
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996), lợn con trên 14-16 ngày tuổi tình trạng
Trang 18thiếu axít HCl tự do trong dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt là việc cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hoá hoạt động miễn dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Do vậy, trong quá trình nuôi dưỡng lợn con theo mẹ thì cần chú ý tới các thời kỳ
* Thời kỳ từ sơ sinh đến 10 ngày tuổi: Là thời kỳ lợn con bú sữa đầu, trong sữa đầu có hàm lượng dinh dưỡng cao, có kháng thể giúp cho lợn con miễn dịch thụ động Cần cho lợn con tận dụng hết sữa đầu
* Thời kỳ 20 ngày tuổi đến cai sữa: Đây là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Sau khi đẻ 20 ngày, lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu lợn con lại tăng cao Sau khi cai sữa, lợn con cũng bị khủng hoảng do thiếu hụt năng lượng Chính vì vậy mà việc khắc phục là phải cho lợn con tập ăn sớm Cho lợn con tập
ăn sớm sẽ kích thích cơ quan tiêu hoá phát triển toàn diện Đảm bảo cơ thể không
bị thiếu hụt năng lượng khi lượng sữa giảm hoặc cai sữa
2.1.3 Hệ vi sinh vật đường ruột của lợn
Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa lợn và hệ vi sinh vật bên trong đường tiêu hoá cũng như các vi sinh vật với nhau trong tập đoàn của chúng luôn ở trạng thái cân bằng
Hệ vi khuẩn đường ruột bao gồm hai nhóm vi khuẩn lớn
* Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, nước uống, bao gồm: Staphylococcus, Streptococcus, Bacillus subtilis Trong đường tiêu hoá của lợn còn có thêm cả trực khuẩn yếm khí gây thối rữa như:Chlostridiumperfringens, Bacillus puticficus, Bacillus faso bacterium, Plantvincentii, B.fusobacterium pubatun
* Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: Nhóm vi khuẩn này thích ứng với môi trường của đường tiêu hoá trở thành vi khuẩn bắt buộc gồm: Escherichia coli; Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus
Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: chủ yếu thuộc nhóm vi khuẩn đường ruột “Enterobacteriaceae”
Enterobacteriaceae: là một họ lớn bao gồm các trực khuẩn Gram âm, sống trong đường tiêu hoá của người và gia súc, tồn tại trong phân rác, nước tiểu,
Trang 19trong đất hoặc trong thực vật Enterobacteriaceae đại diện cóE.coli; Salmonella; Klebsiella; Shigella; Proteus
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn Như Thanh, 2001)
2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo
vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do vậy, các mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24- 36 giờ, nhờ
đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên (Trương Lăng, 2007)
Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết
2.2 BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON (Colibacillosis)
2.2.1 Khái niệm bệnh phân trắng lợn con
Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng rất đa dạng, đặc điểm của bệnh
là viêm dạ dày và ruột, đi tả và gầy sút nhanh Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (2000) cho rằng, bệnh PTLC là một bệnh cấp tính làm chết nhiều lợn con đang
bú mẹ, thể hiện đặc trưng bằng triệu chứng ỉa chảy phân trắng – vàng kèm theo bại huyết
Trang 20Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1995) Bệnh PTLC là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày, ruột Tác nhân gây bệnh chủ yếu ở lợn con là E.coli, Salmonellacholeraesuis, và S typhisuis…Tham gia với vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào thời kỳ đầu sau khi sinh (do E.coli) và suốt trong thời kỳ bú mẹ
Phân trắng lợn con là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc điểm là viêm
dạ dày, ruột Tác nhân gây bệnh chủ yếu là do E coli, bệnh xuất hiện vào thời kỳ đầu sau khi sinh và suốt trong thời gian bú mẹ (Phạm Sỹ Lăng, 2004)
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, bệnh PTLC đã được khống chế phần nào, nhưng việc loại trừ nó trong chăn nuôi tập trung thì còn gặp rất nhiều khó khăn, không những ở nước ta mà cả những nước có trình độ khoa học tiên tiến trên thế giới (Đặng Xuân Bình và cs., 2010)
Theo các tác giả Lê Thị Tài và cs.(2002): Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và suốt trong thời kỳ bú mẹ Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 50 – 100%, trong đó tỷ lệ chết có thể tới 60 – 70%, nếu không can thiệp kịp thời, bệnh
có thể xảy ra quanh năm, nhưng thường phát mạnh khi thời tiết thay đổi đột ngột
từ oi bức chuyển sang mưa rào
2.2.2 Nguyên nhân
Bệnh PTLC đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và đưa
ra những nhận định khác nhau về nguyên nhân gây bệnh Song, tập trung nguyên nhân gây bệnh có thể theo hai hướng chính như sau:
- Nguyên nhân nội tại
- Nguyên nhân do ngoại cảnh
* Nguyên nhân nội tại
Theo các tác giả Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu axít HCl do đó pH dạ dày cao (pH = 3 – 4), tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển
Khi thiếu HCl, pepsinozen tiết ra không trở thành men pepsin hoạt động được Khi thiếu men pepsin, sữa mẹ không được tiêu hoá và bị kết tủa dưới dạng casein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của casein chưa được tiêu hoá)
Trang 21Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, do đó nó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu Mà lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này lý giải tại sao bệnh này lại hay xảy ra ồ ạt, hàng loạt khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường
* Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh
Gần đây nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thống nhất Bệnh PTLC xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu
tố Do đó việc phân chia nguyên nhân chỉ là tương đối, nhằm mục đích xác định nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân là phụ để có biện pháp phòng trị
có hiệu quả
Qua các tài liệu của nhiều tác giả, có thể chia thành những nguyên nhân chính sau:
+ Do điều kiện thời tiết khí hậu
+ Do đặc điểm nuôi dưỡng
+ Do vi khuẩn mà chủ yếu là E.coli
+ Do virus
+ Do ký sinh trùng
* Do điều kiện thời tiết khí hậu
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt và cs (1996), khi lợn con ra khỏi bụng
mẹ, lợn con chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường sống như: nóng, lạnh, mưa, hanh khô, ẩm thấp thất thường, do cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, nên các phản ứng thích nghi và bảo vệ rất yếu vì vậy khi thời tiết thay đổi đột ngột, lợn con dễ bị cảm lạnh, đó cũng là điều kiện thuận lợi để bệnh phân trắng phát triển
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) ở bệnh PTLC, tác nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và thứ yếu là Proteus, Streptococcus
Đoàn Thị Kim Dung (2004) cho biết, khi lợn bị tiêu chảy, số loài vi khuẩn
và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 g phân tăng lên so với lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập người ta thấy rằng vi khuẩn E coli, Salmonella và
Trang 22Streptococcus tăng lên trong khi đó các chỉ tiêu này giảm đi đối với vi khuẩn Staphylococcus và Bacillus Subtilis
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) nếu chuồng nuôi không thông thoáng khí, ẩm ướt, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu, khi nhiệt độ trong chuồng tăng cao sẽ sinh ra nhiều khí có hại như NH3, H2S, làm lợn con trúng độc thần kinh nặng, gây trạng thái stress, một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh tiêu chảy
Phạm Thế Sơn và cs (2008) đã nghiên cứu hệ vi khuẩn đường ruột ở lợn khỏe và lợn tiêu chảy cho thấy, lợn ở cả hai trạng thái đều có 6 loại vi khuẩn thường gặp là: E Coli, Salmonella, Klebsiella, Staphylococcus, Bacillus subtilis
và Clostridium ferfringens
* Do đặc điểm nuôi dưỡng
Ngoài điều kiện về các yếu tố bên ngoài, điều kiện về nuôi dưỡng cũng đóng vai trò quan trọng, do lợn con mới sinh, đặc điểm thích nghi còn kém, các
cơ quan nhất là cơ quan tiêu hoá chưa phát triển đầy đủ Do vậy nếu yếu tố dinh dưỡng không tốt, không hợp lý cũng là nguyên nhân chính gây bệnh
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996), ở lợn con bị bệnh phân trắng, hàm lượng Albumin trong huyết thanh giảm xuống Nếu bệnh nặng kéo dài, hàng loạt axít amin tự do trong máu giảm, làm cho hàm lượng toàn phần cũng bị giảm, đặc biệt là thành phần globulin giảm đi rõ rệt Do đó, mức độ đáp ứmg miễn dịch của lợn con cũng bị giảm đi nặng nề Tình trạng này làm giảm hàm lượng kiềm trong máu của lợn bệnh tạo điều kiện cho quá trình thối rữa trong ruột phát triển, làm cho lợn con suy sụp và dễ dẫn đến tử vong
Lợn bị bệnh phân trắng đều bị rối loạn sự cân bằng canxi, phospho, rối loạn trao đổi các nguyên tố sắt, natri, kali…
Nhu cầu sắt của lợn con là 7mg/con/ngày để tạo hồng cầu, nhưng lợn mẹ chỉ cung cấp được một lượng 1mg/con/ngày Do vậy mà lượng sắt luôn bị thiếu hụt Do đó mà ở lợn con thường bị thiếu sắt Vì vậy, trong chăn nuôi, việc bổ sung sắt cho lợn con là vô cùng cần thiết
* Nguyên nhân do E.coli
Đây là nguyên nhân được nhiều tác giả nghiên cứu từ rất lâu và đã chứng minh được vai trò của E.coli trong bệnh phân trắng lợn con
Trang 23Tác giả Lê Văn Tạo (2006) cho rằng bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt
là lợn con sơ sinh từ 1 đến 21 ngày tuổi, tập trung chủ yếu trong 10 ngày đầu, có con mắc rất sớm ngay sau khi sinh 2 – 3 giờ và mắc muộn hơn sau khi đã tròn 4 tuần tuổi, bệnh thường xảy ra khi thời tiết thay đổi, khí hậu rét, mưa nhiều, độ ẩm cao Bệnh hay xảy ra ở các đàn lợn mẹ đẻ lần đầu, lợn mẹ chửa không được chăm sóc đầy đủ, chuồng trại chăn nuôi mất vệ sinh, vi khuẩn E.coli có sẵn trong ruột hoặc cảm nhiễm từ ngoài vào gặp điều kiện thích hợp tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh trở thành gây bệnh Với các yếu tố gây bệnh có được trước hết vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non bằng kháng nguyên bám dính vào tế bào nhung mao xâm nhập và cư trú ở thành ruột non, phát triển, nhân lên, sản sinh ra độc tố đường ruột, độc tố đường ruột sẽ phá huỷ tổ chức thành ruột và làm thay đổi cân bằng trao đổi muối và nước, chất điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà rút nước từ cơ thể tập trung vào ruột và dạ dày, sữa không tiêu, bị vón lại sinh ra tiêu chảy, phân có màu trắng Khả năng xảy ra bệnh trong một đàn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
+ Khả năng tiếp xúc của lợn sau khi đẻ với E.coli, sự ô nhiễm E.coli trong nơi sinh của lợn
+ Điều kiện chăm sóc lợn mẹ
+ Nhiệt độ chuồng nuôi
+ Hàm lượng kháng thể được truyền qua sữa đầu của lợn mẹ
* Nguyên nhân do virus
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy Rotavirus thuộc
họ Reovindae gây ra Bệnh hay xảy ra ở lợn từ 1 – 5 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 – 100% Bệnh có triệu chứng điển hình là phân nhão như hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màu vàng hoặc xám, chứa nhiều chất vón
* Nguyên nhân do ký sinh trùng
Theo Phan Lục và Phạm Văn Khuê (1996), đã nêu ra sán lá ruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa (Ascaris suum) và một số đơn bào (protozoa), đặc biệt là cầu trùng giống Isospora đều có thể gây ra tiêu chảy ở lợn Tác hại của chúng là cướp đi chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết ra các độc tố làm giảm sức đề kháng gây trúng độc tạo điều kiện cho bệnh khác phát sinh Chúng còn gây ra tổn thương các niêm mạc ruột gây ra viêm ruột, ỉa chảy Do đó việc tẩy giun sán là rất quan trọng trong phòng trị tiêu chảy
Trang 242.2.3 Cơ chế gây bệnh
Hệ thống dạ dày và ruột đặc biệt mẫn cảm với stress Ngay ở giai đoạn báo động của quá trình stress, nhu động ruột tăng, thậm trí gây ỉa chảy cấp tính Nếu tác nhân stress tác động với cường độ mạnh, kéo dài thì chắc chắn xảy ra viêm dạ dày, ruột Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày, ruột bởi stress, các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá đã làm bệnh trầm trọng hơn, tổn thương nặng hơn
Các tác nhân stress sẽ tạo điều kiện “mở đường” cho vi khuẩn phát triển, nhất là vi khuẩn E.coli
Vi khuẩn E.coli bằng cách trực tiếp hay gián tiếp xâm nhập vào đường ruột của lợn Trong ruột, khi có đủ các điều kiện thuận lợi, vi khuẩn nhân lên với số lượng lớn, sản sinh yếu tố kháng khuẩn Colicin V (col V) Yếu tố này tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt là các vi khuẩn có lợi: B.subtylis, các vi khuẩn lactic, trở thành vi khuẩn có số lượng lớn trong đường ruột Khi có số lượng lớn, chiếm ưu thế, vi khuẩn tràn lên ruột non
Ở ruột non nhờ kháng nguyên bám dính, vi khuẩn bám dính vào lớp tế bào biểu
mô nhung mao ruột, nhờ yếu tố xâm nhập, vi khuẩn xâm nhập vào trong lớp tế bào biểu mô, vi khuẩn phát triển và nhân lên lần thứ nhất làm phá huỷ lớp tế bào này gây ra viêm ruột Cũng tại đây vi khuẩn sản sinh độc tố đường ruột Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối và nước làm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể Nước tập trung vào ruột làm cho ruột căng lên cộng với khí do vi khuẩn E.coli trong ruột lên men tạo ra cũng làm cho ruột căng ra, sức căng của ruột và quá trình viêm ruột kích thích vào hệ thần kinh thực vật ở ruột tạo nên những cơn nhu động ruột mạnh đẩy nước và phân ra ngoài, gây nên tiêu chảy
Như vậy, quá trình sinh bệnh của bệnh phân trắng lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng thái rối loạn
+ Rối loạn chức năng tiêu hoá và hấp thu
+ Rối loạn cân bằng muối, nước và các chất điện giải Do lợn con tiêu chảy quá nhiều, lợn con dễ rơi vào trạng thái nhiễm độc, truỵ tim mạch mà chết
+ Rối loạn cân bằng của khu hệ vi sinh vật đường ruột
2.2.4 Triệu trứng và bệnh tích
* Triệu trứng của bệnh
Bệnh có triệu chứng chung: Nói chung lợn không sốt, phân lỏng, màu trắng
Trang 25như vôi, lầy nhầy, tanh khẳm, có khi lẫn máu, lợn bệnh hay bị nôn và luôn ở trạng thái khát nước
Bệnh có thể diễn ra theo hai thể:
- Thể gây chết nhanh
Những lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thường mắc thể này Sau 1 – 2 ngày
đi ra phân trắng, lợn gầy sút rất nhanh, lợn giảm bú, rồi bỏ bú hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo
Niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, có con hay đứng riêng một chỗ và thở nhanh Phân chuyển từ ỉa nát rồi đến loãng và rặn ỉa khó như đi kiết Số lần
đi ỉa tăng từ 1 – 2 lần lên tới 4 – 6 lầntrong ngày
Màu phân từ xanh đen biến thành màu xám như màu tro bếp rồi chuyển sang màu trắng đục, trắng hơi vàng Mùi tanh, khắm Phân dính vào hậu môn và đuôi Bệnh thường kéo dài 2 – 4 ngày Trước lúc chết có hiện tượng quá suy nhược, co giật hoặc run rẩy Tỷ lệ chết có thể từ 50 – 80% số con ốm
- Thể kéo dài
Thường xảy ra ở lợn 20 ngày tuổi trở lên Bệnh có thể kéo dài 7 – 10 ngày Lợn vẫn bú, nhưng dần dần giảm bú, phân màu trắng đục, phân hơi vàng Có con mắt có dử, có quầng thâm quanh mắt Niêm mạc nhợt nhạt Nếu không lành thì lợn bị suy nhược, rồi chết sau hàng tuần bị bệnh
Những lợn đã đến 45 – 50 ngày tuổi thì có khi ỉa chảy phân trắng nhưng vẫn hoạt động bình thường, ăn, bú đi lại nhanh nhẹn Phân thường đặc hoặc hơi nát với màu trắng xám Từ đó, lợn có thể tự lành, thường ít chết Nhưng nếu bị kéo dài lợn gày và sau này còi cọc
Khi kiểm tra máu ở lợn bệnh, hàm lượng hemoglobin dưới 30mg% số lượng hồng cầu 3 triệu/mm3(ở lợn khỏe tỷ lệ hemoglobin thấp nhất 50mg%, hồng cầu 5,4triệu/mm3
* Bệnh tích
Khi lợn chết, xác gầy, phần thân sau bê bết phân Mổ khám bệnh tích thấy
dạ dày rãn rộng, các bờ ở đường cong lớn bị nhồi máu, dạ dày chứa đầy sữa đông vón, không tiêu, màu trắng hoặc màu xám trắng Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột Nhìn từ ngoài vào thấy những đám niêm mạc ruột non bị tróc làm cho thành ruột mỏng ra
Trang 26Toàn bộ đường tiêu hoá xuất huyết, thường thấy nhất là các điểm xuất huyết ở ruột non và thành dạ dày, chất chứa trong ruột có lẫn máu Hệ thống hạch lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan nội tạng khác: tim, gan, thận, phổi ít biến đổi 2.2.5 Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh
Bệnh tiêu chảy là một hội chứng gây ra bởi nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau, làm mất cân bằng hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc tốt
Thực hiện tốt khâu vệ sinh chuồng trại, các thiết bị, dụng cụ ở chuồng nuôi lợn đẻ nhằm hạn chế E.coli gây bệnh, đảm bảo độ thông thoáng hợp lý để duy trì nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn, ấm về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, vệ sinh sạch sẽ Nếu phát hiện lợn con bị tiêu chảy do E.coli thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc
Theo Sử An Ninh (1995), cần hạn chế dùng nước tắm rửa cho lợn ở giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích hợp cho lợn con được khuyến cáo là 70- 85%
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996), để phòng bệnh tốt, cần phải đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc tốt Để có đàn lợn khoẻ mạnh phải nuôi dưỡng và chăm sóc tốt lợn nái giống khi mới chửa, phải đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, về các loại vitamin, các nguyên tố đa, vi lượng
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998), lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi
ấm ở nhiệt độ 34oC trong tuần lễ đầu tiên sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC Như vậy lợn sẽ tránh được stress lạnh ẩm
Theo Lê Văn Tạo (2006), vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi khuẩn tồn tại trong môi sinh, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi sinh quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh
Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng
Trang 27Hiện nay trên thị trường Việt Nam, ngoài vaccin trong nước sản xuất đang lưu hành các loại vacxin do nước ngoài sản xuất như: Neocolipor của hãng Nissan chemical Indutries, vaccin litler Guard Lt – C của hãng Embrex INC sản xuất phòng tiêu chảy phòng bệnh tiêu chảy do E.coli và Rotavirus suis ở lợn, Porcilicoli của hãng Intervet
* Điều trị bệnh
Điều trị bằng kháng sinh, hoá dược
Để có hiệu quả điều trị cao, điều quan trọng nhất đó là phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh và sự mẫn cảm của chúng đối với kháng sinh và hoá dược sẽ dùng trong điều trị Trong thực tế, nên sử dụng loại kháng sinh phổ rộng ngay từ lúc đầu trong khi chờ kết quả của kháng sinh đồ
Nguyễn Ngọc Tuân và cs (1999) sử dụng phương pháp bổ sung kháng sinh Colistin, Oxytetracylin với liều 50ppm và 100ppm vào thức ăn cho lợn nái chửa
7 ngày trước khi đẻ và sau đẻ 14 ngày, đã làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con khi sinh ra
Dùng kháng sinh cầm ỉa chảy như: Sulfathiazon 10% tiêm dưới da, Streptomycin uống, Kanamycin tiêm bắp, Neomycin cho uống, Norfloxacin, Enrofloxacin… (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
Theo Tô Thị Phượng (2006), kháng sinh Enrofloxacin dùng điều trị tiêu chảy
Trang 28ở lợn giai đoạn 1- 21 ngày tuổi cho kết quả cao từ 85,16% Kết hợp thuốc kháng sinh này với chế phẩm sinh học Microcin để điều trị cho tỷ lệ khỏi cao tới 93,33% Điều trị bằng Đông dược
Đây là hướng mà hiện nay chúng ta quan tâm vì các kháng sinh có nguồn gốc thảo mộc thường không hoặc rất khó gây hiện tượng kháng kháng sinh
Có thể sử dụng thuốc nam để điều trị bệnh phân trắng lợn con Một số bài thuốc như sau có thể sử dụng: Cỏ nhọ nồi, lá bạc than, rễ cỏ xước khô, hoàng đằng, cỏ sữa lá lớn sắc cho uống (Lê Thị Tài và cs., 2002)
Theo Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà (2009), đã nghiên cứu và bào chế thử nghiệm cao mật bò để phòng bệnh PTLC và cho kết quả khá khả quan Bùi Thị Tho và và Nguyễn Thị Thanh Hà (2009) cũng cho biết trong dân gian có một số loại thuốc trị tiêu chảy cho lợn có hiệu quả đó là:
Lá cây sài đất (200g) + lá ổi (100g), cho vào 1 lít nước, sắc lấy 300 ml, cho lợn uống ngày 2 lần
Búp ổi, lá bạc thau, cây sò nước, lá bách bệnh (Hoàng Ngọc), lá mơ Chọn
1 trong những thứ trên lấy 1 – 3 nắm (150 – 200g) cho lợn ăn sống hay giã cho uống nước
Một nắm búp ổi (50 – 60 g), sao vàng hạ thổ, sắc cho lợn uống 2 lần/ngày, mỗi lần dùng từ nửa bát đến 1 bát
Điều trị bằng chế phẩm sinh học
Các chế phẩm sinh học không chỉ dùng phòng bệnh mà còn được sử dụng
để điều trị bệnh cho hiệu quả tốt
Nguyễn Thị Hồng Lan (2007) cho biết sử dụng chế phẩm E.M1 30% điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn cho hiệu quả điều trị bệnh tương đương với kháng sinh Điều trị triệu chứng
Lợn con bị tiêu chảy nặng thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu hiện rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải Do đó kết hợp với điều trị bằng thuốc cần phải kịp thời chống mất nước và chất điện giải cho lợn con, đồng thời nên trợ tim cho lợn con bằng Cafein 20%, bổ sung đường glucose, tăng cường các vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B
Khôi phục và ổn định trạmg thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột sẽ
có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị Đỗ Trung Cứ và cs (2000) sử dụng chế
Trang 29phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt Tạ Thị Vịnh và cs (2004) cho biết, khi sử dụng chế phẩm VITOM 1 và VITOM 3 để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi cho kết quả tốt, ngoài tác dụng điều trị, chế phẩm còn góp phần kích thích tăng trọng lợn
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Trong chăn nuôi lợn, nhất là chăn nuôi lợn nái sinh sản thì bệnh PTLC là một bệnh gây thiệt hại không nhỏ, một bệnh truyền thống của ngành chăn nuôi lợn nái Do đó mà đã từ lâu, có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh nhằm hạn chế, giảm bớt những thiệt hại do bệnh gây ra
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các nhà khoa học trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh, tiêu biểu như:
Mouwen (1972) đã kết luận niêm mạc ruột non của lợn có sự biến đổi lớn trong trường hợp lợn con ỉa phân trắng do Rotavirus
Theo Sokol et al (1991) cho rằng vi khuẩn E coli có vai trò cộng sinh thường trực trong đường ruột trở thành vi khuẩn gây bệnh là vì trong quá trình sống, cá thể vi khuẩn tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh mà theo ông đó là các yếu tố gây dung huyết (HY), yếu tố cạnh tranh (Col), yếu tố bám dính (K88, K99), độc tố đường ruột (Enterotoxin), yếu tố kháng sinh R Các yếu tố gây bệnh này không được truyền qua DNA của chromosome mà di truyền bằng DNA nằm ngoài chromosome được gọi là Plasmid, qua hiện tượng trao đổi di truyền bằng tiếp hợp Chính nhờ các yếu tố gây bệnh này đã giúp cho vi khuẩn bám dính vào
tế bào nhung mao ruột non, từ đó gây dung huyết, nhiễm độc huyết
Theo Purvis G.M (1985) thì phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn
Fairbrother J.M (1992) cho biết, độc tố Enterotoxin do E.coli sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho lợn sơ sinh từ 1 – 4 ngày tuổi
Carter G.R et al (1995) cho rằng các vi khuẩn đường ruột có khả năng bám dính vào tế bào nhung mao ruột Các chủng không gây bệnh không có kháng nguyên bám dính
Trang 302.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh PTLC là một bệnh xảy ra đã rất lâu Bệnh được chú ý theo dõi khoảng
từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung: trại chăn nuôi và nông trường quốc doanh
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của các chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vacxin chết dưới dạng cho uống Vacxin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30- 35%
so với đối chứng
Bùi Thị Tho và Phạm Khắc Hiếu (1996) kiểm tra tính kháng thuốc của E.coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong 20 năm (1975 – 1995) cho thấy tính kháng thuốc tăng rất nhanh, tính kháng với nhiều loại kháng sinh cũng tăng rất cao
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) chia nguyên nhân tiêu chảy là do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, thức ăn…Đặc biệt là sự có mặt của trực khuẩn đường ruột (Enterbacteriaceae) Các loại vi khuẩn này thường sống trong phân, các chất chứa trong ruột và hạch ruột Khi sức đề kháng của con vật bị giảm sút điều kiện ngoại cảnh thay đổi thì các vi khuẩn này có cơ hội xâm nhập và trỗi dậy gây mất cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy
Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30- 45% (Nguyễn Như Thanh, 1997) Theo Cù Hữu Phú và cs (2000) các tác giả đã phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella Ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, đã xác định được các chủng E.coli mẫn cảm cao với các loại kháng sinh Nitrofurazolidon (85%); Neomycine (80%), Sulfonamid (75%)
Nguyễn Như Thanh và cs (2001) thì bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét
Lý Thị Liên Khai (2001), đã phân lập và xác định độc tố ruột của các
Trang 31chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn con Tác giả cho rằng các chủng K88
sinh độc tố ruột LT và ST; K99 và 987P sinh độc tố ruột ST, độc tố ruột ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm, gây tiêu chảy cho lợn con đang
bú mẹ, phổ biến ở 1 đến 2 tuần tuổi
Theo Đỗ Ngọc Thuý và Cù Hữu Phú (2002), các chủng Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây bệnh cho lợn con ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam thuộc về 5 tổ hợp các yếu tố gây bệnh và 5 nhóm serotyp kháng nguyên O (O149: K91, O8: G7, O8, O101, O64) Trong đó chủng O149: K91 mang các yếu tố gây bệnh F4/STa/STb/LT là chủng phổ biến nhất gây bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa
Đặng Xuân Bình và Trần Thị Hạnh (2002) công bố lợn con theo mẹ đều phân lập được E.coli và Cl.perfigens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó
sự có mặt của E.coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl.perfingens chỉ được phát hiện ở gan, và ruột non với một tỷ lệ khá cao Khi sử dụng các sinh phẩm E.coli-sữa, Cl.perfrigfens-toxoit trong quy trình phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con, kết quả thu được bước đầu cho thấy tác dụng và hiệu quả khá rõ rệt: đã giảm được số lợn con bị mắc bệnh xuống 28,12% so với 55,5%, số ngày điều trị cho mỗi lợn bệnh cũng rút ngắn từ 3 ngày xuống còn 1,8 ngày và khống chế được tỷ lệ lợn con chết do bị tiêu chảy (7,4% so với đối chứng) Ngoài ra, các sinh phẩm còn cho thấy hiệu quả kinh
tế khi khối lượng bình quân lúc cai sữa của lợn con được nâng lên 0,46 kg/con và 1,37 kg/con so với đối chứng
Đoàn Thị Kim Dung (2003) dùng Apramycin hoặc Apramycin phối hợp với Bioseptin có tác dụng tốt nhất đối với bệnh tiêu chảy ở lợn con, khi dùng riêng tỷ lệ khỏi là 80%, dùng phối hợp khỏi 98% Bên cạnh đó các phác đồ điều trị đều không thể thiếu được việc bổ sung các chất điện giải cho lợn bệnh vì nó nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian điều trị
Trịnh Quang Tuyên (2005) qua nghiên cứu cho rằng, tỷ lệ nhiễm vi khuẩn môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và có liên quan đến tình hình dịch bệnh của đàn lợn Trong đó E.coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp.từ 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3% đến 41,3%, giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng trại và nguồn nước cấp
Trang 322.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN THỌ XUÂN, THANH HÓA
Huyện Thọ Xuân - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - cách thành phố Thanh Hoá (đi theo quốc lộ 47) 36 km về phía tây và nằm ngay bên hữu ngạn sông Chu - con sông lớn thứ hai của Thanh Hoá, hàm chứa nhiều huyền thoại đẹp
về lịch sử, văn hoá
Huyện Thọ Xuân là một huyện bán sơn địa, có diện tích tự nhiên 295,885 km² Phía đông giáp huyện Thiệu Hóa, phía đông nam và phía nam giáp huyện Triệu Sơn, phía tây nam giáp huyện Thường Xuân, phía tây bắc giáp huyện Ngọc Lặc, phía đông bắc giáp huyện Yên Định
Hình 2.1 Bản đồ địa lý huyện Thọ Xuân – tỉnh Thanh Hóa
Là vùng tiếp giáp giữa hai vùng khí hậu của đồng bằng Bắc bộ và khu Bốn
cũ và sự tiếp nối giữa đồng bằng Trung du miền núi, nên khí hậu huyện Thọ Xuân – Thanh Hóa vẫn là nền khí hậu nhiệt đới – gió mùa Ngoài ra, khí hậu tại
Trang 33đây cũng có một số đặc điểm riêng biệt, hàng năm có 10 – 15 ngày có gió Tây khô nóng Sương muối xảy ra trung bình từ 1 – 3 ngày trong mùa đông Nhiệt độ không khí trung bình tại huyện là 23,40 C, lượng mưa 1.911,3mm, độ ẩm không khí 86%, bốc hơi 788 mm
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 11,1%/năm Thu nhập bình quân đầu người: 371,5 USD/năm.Bình quân lương thực: 495 kg/người/năm Nông nghiệp, ngoài cây lúa, huyện còn là một vùng sản xuất cây công nghiệp mía đường và phát triển chăn nuôi
Tỷ trọng ngành chăn nuôi tại huyện Thọ Xuân chiếm 42,35% giá trị sản xuất nông nghiệp Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm thay đổi theo hướng năng xuất, chất lượng Đàn bò lai hướng thịt, đàn lợn siêu nạc, gà – vịt siêu trứng đã góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi tại huyện
Trong những năm qua, Trạm Thú y huyện Thọ Xuân – Thanh Hóa đã làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh như tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh lở mồm, long móng, phòng bệnh tụ huyết trùng cho đàn gia súc, gia cầm Triển khai các đợt phun thuốc sát trùng đáp ứng nhu cầu tiêu độc, khử trùng cho các điểm tập kết gia súc, điểm giết mổ công cộng Ở những xã vùng sâu, vùng
xa, đã cắt cử các cán bộ kỹ thuật thường xuyên kiểm tra thực tế để phát hiện, phòng trừ các loại dịch bệnh kịp thời, hiệu quả Đồng thời, tuyên truyền, vận động người chăn nuôi thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh cho đàn vật nuôi
Vì vậy, trên địa bàn huyện Thọ Xuân – Thanh Hóa không có dịch xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm
Trang 34PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn con giai đoạn theo mẹ từ 1 – 21 ngày
3.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu
Các thuốc sử dụng để điều trị bệnh phân trắng lợn con: Nova – Colispec, Emitan, Dufafloxacin 10% Oral, Nova – Gentasul, B.complex, đường Glocose 5%
Một số thông tin về những loại thuốc được sử dụng để phòng, trị bệnh PTLC trong đề tài
Vacxin Rokovac Neo: Được sản xuất tại Công ty Bioveta thuộc Cộng Hòa Sec, được Công ty Cổ phần dược phẩm xanh Việt Nam nhập khẩu và phân phối ở nước ta Vacxin Rokovac Neo phòng bệnh PTLC do Rotavirus và E Coli Thành phần chứa Rotavirus suis vô hoạt, E Coli vô hoạt và tá dược vừa đủ Công dụng tạo miễn dịch chủ động cho lợn nái mang thai và truyền kháng thể cho lợn con, giúp lợn con phòng được bệnh tiêu chảy do Rotavirus và E Coli trong thời gian theo mẹ
Kháng thể HN – LBS IgG 40%: Là sản phẩm được sản xuất trên nguyên liệu nhập khẩu Mỹ với công thức độc quyền do Công ty Cổ phần Hải Nguyên sản xuất Kháng thể HN – LBS IgG 40% có tác dụng tăng ngay lượng kháng thể IgG cho đường ruột và đường hô hấp khi uống vào; Hiệu quả trong khi trị tiêu chảy,
hỗ trợ điều trị viêm nhiễm đường hô hấp, viêm và các bệnh nhiễm trùng đường ruột: TGE, PED, Salmonella, E.Coli 88; Bù ngay lượng IgG thiếu hụt do hệ miễn dịch suy giảm nên phòng hiệu quả các nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu hóa; Bổ sung hiệu quả IgG cho lợn sơ sinh và lợn con theo mẹ khi đang trong giai đoạn
"Khoảng trống miễn dịch" Sẽ giảm ngay tần suất bệnh tật do thiếu hụt miễn dịch khi cơ thể lợn con chưa sản xuất được; Ngoài ra, trong thành phần HN – LBS IgG 40% có bổ sung vi sinh vật có lợi: Bacillus subtilis 2.1010 CFU, kích thích tiêu hóa, bổ sung lợi khuẩn cho đường tiêu hóa
Chế phẩm Emitan: Được sản xuất tại cơ sở sản xuất Minh Tuấn, tại Thị Trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm – Hà Nội Đây là loại chế phầm do tiến sĩ Nguyễn Khắc Tuấn nghiên cứu thành công Emitan được sản xuất trên nền cơ chất sinh học có sự phối chế một cách khoa học với nhiều thành phần khác nên đã đạt
Trang 35được hiệu quả phòng trị bệnh PTLC rất cao Tác dụng chính của chế phẩm Emitan: Tăng cường tiêu hoá hấp thụ thức ăn, tăng sức đề kháng cho nên phòng
và hỗ trợ điều trị tốt bệnh đường ruột ở động vật nuôi; Phòng bệnh PTLC gián tiếp qua mẹ đạt tỷ lệ con không bị bệnh trên 95%; Điều trị bệnh khỏi nhanh chỉ sau 1-2 lần uống thuốc Sau khi khỏi bệnh lợn snh trưởng tốt, long da bóng mượt không bị chậm lớn Dùng phòng bệnh còn có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng sức đề kháng nhiều bệnh khác cho cả mẹ và con
Nova – Colispec: Là sản phẩm của công ty liên doanh TNHH Anova được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế WHO-GMP, nguyên liệu được nhập khẩu chủ yếu từ châu Âu Thành phần chứa Spectinomycine, Colistin sulfate Công dụng: Đặc trị tiêu chảy, phân vàng, phân trắng, phân xanh hoặc phân có máu trên heo con, bê nghé, dê cừu con
Dufafloxacin 10% Oral: được sản xuất tại Công ty Dutch Farm International b.v nieuw walden 112, p.o box nederhorst den berg thuộc Hà Lan, được Công ty Cổ phần kinh doanh thuốc thú y Amavet nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam Thành phần chứa Enrofloxacin, Butanol, Sodium hydroxide, nước pha vừa đủ Công dụng: trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp và dạ dày-ruột ở lợn và gia cầm do vi khuẩn mẫn cảm với Enrofloxacin gây ra như: Campylobacter, E.coli, Haemophilus spp, Mycoplasma spp, Pasteurella spp và Salmonella spp
Nova – Gentasul: Là sản phẩm của công ty liên doanh TNHH Anova được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế WHO-GMP, nguyên liệu được nhập khẩu chủ yếu từ châu Âu Thành phần chứa Gentamycin, Sulfamethoxazol Công dụng đặc trị viêm ruột tiêu chảy phân trắng, phân xanh, phân vàng hoặc phân có máu trên heo con, bê, nghé, dê cừu con
B.complex, đường Glocose 5%: là những sản phẩm được sản xuất tại các công ty thuốc thú y ở Việt Nam Sử dụng nhằm hỗ trợ điều trị bệnh hoặc phục hồi cơ thể
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại xã Xuân Thành – Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong
đó, tập trung nghiên cứu tại trang trại anh Quân Đào – Thôn 6, xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017
Trang 363.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại anh Quân Đào – Xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa
- Khái quát về trại lợn của anh Quân Đào – Xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa
- Cơ cấu đàn lợn tại trang trại
- Thức ăn cho lợn nái
- Công tác vệ sinh phòng bệnh
3.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại
- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn con theo mẹ từ năm
2015 đến tháng 8/2017
- Tình hình mắc bệnh phân trắng theo các tháng trong năm
- Tình hình mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi của lợn con
- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ
3.2.3 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh phân 3.2.4 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng bệnh phân trắng lợn con
- Kết quả thử nghiệm một số biện pháp điều trị bệnh phân trắng lợn con 3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
- Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn, tình hình mắc bệnh PTLC tại trại bằng phương pháp điều tra hồi cứu dựa vào số liệu qua sổ theo dõi của chủ trại
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các năm và giữa các tháng trong năm qua điều tra hồi cứu dựa vào số liệu qua sổ theo dõi của chủ trại, kết hợp với quan sát, ghi chép số liệu trong thời gian nghiên cứu tại trang trại
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo lứa tuổi của lợn con qua phương pháp trực tiếp theo dõi trên những đàn lợn con đồng đều nhau, có cùng thời điểm sinh, cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng
và theo dõi trong các giai đoạn: Từ 1 – 7 ngày tuổi, Từ 8 – 14 ngày tuổi, từ 15 – 21 ngày tuổi
- Xác định số lợn con theo mẹ mắc bệnh qua theo dõi lợn nái có lợn con bị
Trang 37tiêu chảy phân trắng với các triệu chứng điển hình của bệnh
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ qua theo dõi tỷ lệ mắc bệnh PTLC trên những đàn lợn đẻ từ lứa thứ 1 đến lứa thứ 7 Những đàn này sinh cùng một thời điểm hoặc chỉ chênh lệch 1 – 2 ngày, có cùng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng Mỗi lứa chúng tôi chọn ra 5 đàn để nghiên cứu
- Những đàn này có cùng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng là như nhau và đều được theo dõi trong cùng một thời điểm Chúng tôi tiến hành quan sát trạng thái, sức khoẻ của lợn, nhìn tổng thể trong chuồng nuôi xem có thấy phân trắng ở nền chuồng không, nếu ở nền chuồng có phân trắng thì trong đàn lợn có con bị tiêu chảy phân trắng
- Theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh qua theo dõi trực tiếp trên 80 lợn con đã mắc bệnh Quan sát tỉ mỉ và đếm chính xác những con
có biểu hiện bệnh và sử dụng phương pháp mô tả các triệu chứng lâm sàng đặc trưng
- Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh phân trắng lợn con tại trại theo phương pháp nghiên cứu thực nghiệm phân lô có đối chứng:
+ Phân 4 lô lợn con theo mẹ từ 0 đến 21 ngày tuổi, mỗi lô 4 đàn Các lô thí nghiệm này có độ tuổi tương đương nhau, có cùng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng,
vệ sinh thú y phòng bệnh như nhau Trong đó:
+ Lô thứ nhất, chúng tôi tiến hành tiêm vacxin phòng bệnh phân trắng lợn con cho cả lợn mẹ và lợn con, tiêm Rokovac Neo cho lợn mẹ 85 – 90 ngày trước khi đẻ, lần hai nhắc lại trước khi đẻ 14 ngày; Tiêm cho lợn con vào ngày tuổi thứ 14
+ Lô thứ 2, cho lợn con sơ sinh uống kháng thể HN – LBS IgG 40% liên tục trong 3 ngày
+ Lô thứ 3: Sử dụng chế phẩm Emitan trộn thuốc vào thức ăn cho lợn mẹ
và lợn con Lợn mẹ bổ sung 7-10 ngày trước khi đẻ và sau khi đẻ 3 ngày lại cho dùng tiếp 7 -8 ngày nữa Liều lượng gói (10g) cho 90 kg trọng lượng lợn mẹ Lợn con ăn được: trộn thuốc với liều 1 gói(10g)/ 2kg thức ăn
+ Lô thứ 4: Hoàn toàn không áp dụng các biện pháp phòng bệnh để làm đối chứng
- Nghiên cứu điều trị bệnh theo phương pháp thực nghiệm phân lô so sánh
Trang 38với 3 phác đồ điều trị
Thử nghiệm được thực hiện trên 3 lô lợn con Các lợn con trong cùng 1 lô
có thể nuôi ở các ô chuồng khác nhau, theo nái mẹ khác nhau Mỗi lô thí nghiệm
sử dụng một phác đồ điều trị khác nhau
Tất cả lợn thí nghiệm đều cùng độ tuổi cùng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng
và quy trình phòng bệnh Lợn con bị tiêu chảy được đánh dấu từng con để theo dõi và điều trị Hằng ngày theo dõi lợn vào buổi sáng sớm và buổi chiều trước và sau khi dùng thuốc Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm nhiệt độ, ăn uống, thể trạng con vật, tình trạng phân, thời gian khỏi bệnh của từng con và các bệnh khác.Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian điều trị, tỷ lệ tái phát, giá thành điều trị
- Kết hợp điều trị toàn thân bằng B.complex, đường Glocose 5%
Tuân thủ các nguyên tắc sử dụng kháng sinh kết hợp các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Đánh giá kết quả: Sau thời gian điều trị nếu lợn hết tiêu chảy, phân thành