Bệnh cầu trùng gà thường xuyên xảy ra với tỷ lệ lớn, cường độ nhiễm cao và gây thiệt hại thông qua tác động làm giảm tỷ lệ sống, giảm khả năng tăng trọng, khả năng tiêu hóa thức ăn và hấ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, số liệu tính, kết quả được thể hiện trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố cho việc bảo vệ một học vị nào trong và ngoài nước
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Vũ Lực
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô giáo công tác tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung và các Thầy cô trong Khoa Thú Y nói riêng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS.Nguyễn Bá Tiếp - Bộ môn Giải phẫu - Tổ chức - Phôi thai, Khoa Thú Y – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam và TS Trần Đức Hoàn – Đại Học Nông Lâm Bắc Giang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình anh chị Nghĩa Hương tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi thú y – Đại Học Nông Lâm Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, anh em, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Vũ Lực
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt……….……….v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan về Probiotic 4
2.1.1 Định nghĩa Probiotic 4
2.1.2 Cơ chế tác động của Probiotic trên gia cầm 4
2.1.3 Chế phẩm Probiotic 7
2.2 Hệ tiêu hóa của gà 9
2.2.1 Cấu tạo hệ tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa ở gà 9
2.2.2 Hệ vi khuẩn đường ruột ở gà 12
2.2.3 Tác động của hệ vi sinh vật đường ruột đến sức khỏe của vật nuôi 12
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng vật nuôi 14
2.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của gia cầm 17
2.3 Bệnh cầu trùng gà 17
2.3.1 Một số đặc điểm gây bênh của Cầu trùng 17
2.3.2 Các loài cầu trùng gây bệnh ở gà 20
2.3.3 Một số đặc điểm dịch tễ học 22
2.3.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của gà bị bệnh cầu trùng 24
2.3.5 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà 26
Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
Trang 53.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Đối tượng nghiên cứu 27
3.4 Nội dung nghiên cứu 28
3.5 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5.1 Phương pháp và vật liệu nghiên cứu 29
3.5.2 Phương pháp phân tích số liệu 33
Phần 4 Kết quả và thảo luận 34
4.1 Tác dụng của chế phẩm Bio Plus 11 đến các chỉ tiêu sản xuất của gà 34
4.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm từ sau nở đến 7 tuần tuổi 34
4.1.2 Ảnh hưởng của chế phẩm đến tăng trọng của đàn gà thí nghiệm 36
4.1.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm 38
4.1.4 Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) 39
4.2 Tác dụng của chế phẩm Bio Plus 11 đến bệnh cầu trùng gà 41
4.2.1 Ảnh hưởng của Bio Plus 11 đến tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi trên gà thí nghiệm 41
4.2.2 Ảnh hưởng của mùa trong năm đến tác động của Bio Plus 11 đối với mức độ nhiễm cầu trùng trên gà thí nghiệm 44
4.2.3 Ảnh hưởng của giống gà đến tác dụng của Bio Plus 11 45
4.2.4 Tác dụng của chế phẩm Bio Plus 11 trong điều trị bệnh cầu trùng gà 47
4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm Bio Plus 11 đến hình thái và kích thước biểu mô ruột non gà 48
4.3.1 Hình thái biểu mô ruột non gà thí nghiệm 49
4.3.2 Kích thước lông nhung biểu mô 51
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
Tài liệu tham khảo 60
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 34
Bảng 4.2 Khối lượng cơ thể của đàn gà thí nghiệm 36
Bảng 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm 38
Bảng 4.4 Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi trên đàn gà nuôi thí nghiệm bổ sung chế phẩm Probiotic Bio Plus 11 42
Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng của gà thí nghiệm theo mùa trong năm 44
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của giống đến tác dụng Bio Plus đối với cầu trùng 46
Bảng 4.8 Kích thước lông nhung biểu mô niêm mạc ruột non gà thí nghiệm 52
Bảng 4.9 Kết quả xét nghiệm tìm Oocyst cầu trùng 47
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cơ chế kháng vi sinh vật của Bacteriocin.(Cotter et al.,2005) 7
Hình 3.1 Chế phẩm Biolus 11 với các thông tin về thành phần và tác dụng 29
Hình 3.2 Gà giống được kiểm tra khi đưa vào thí nghiệm 29
Hình 4.1 Gà 40 ngày tuổi đang được theo dõi 35
Hình 4.2 Cân khối lượng theo dõi theo trên gà thí nghiệm 37
Hình 4.3 Biến động tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo tuổi của gà thí nghiệm 42
Hình 4.4 Sự biến động tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo mùa 45
Hình 4.5 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng của hai giống gà 46
Hình 4.6 Tá tràng của gà thuộc nhóm được bổ sung chế phẩm Bio Plus 11 (trái) và nhóm đối chứng (phải): (a) áo ngoài; (b) áo cơ (cơ trơn); (c) lớp đêm (d) lông nhung biểu mô; (e) lòng ruột; x100 HE 49
Hình 4.7 Không tràng của gà thuộc nhóm được bổ sung chế phẩm Bio Plus 11 (trái) và nhóm đối chứng (phải): (a) áo ngoài; (b) áo cơ (cơ trơn); (c) lớp đệm (d) lông nhung biểu mô; (e) lòng ruột; x100 HE 50
Hình 4.8 Hồi tràng của gà thuộc nhóm được bổ sung chế phẩm Bio Plus 11 (trái) và nhóm đối chứng (phải): (a) áo ngoài; (b) áo cơ (cơ trơn); (c) lớp đệm (d) lông nhung biểu mô; (e) lòng ruột; x100 HE 50
Hình 4.9 Chiều cao và chiều rộng lông nhung biểu mô tá tràng 52
Hình 4.10 Chiều cao và chiều rộng lông nhung biểu mô không tràng 53
Hình 4.11 Chiều cao và chiều rộng lông nhung biểu mô hồi tràng 54
Hình 4.12 Tác dụng hỗ trợ điều trị cầu trùng của Bio Plus 11 48
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp bố trí thí nghiệm là một nhân tố đánh giá tác dụng của chế phầm Bio Plus 11 đến các chỉ tiêu năng suất và ảnh hưởng ngược lại của các yếu tố bên ngoài đến tác dụng của chế phẩm
- Phương pháp xét nghiệm phân tìm Oocyst cầu trùng
- Phương pháp thường quy làm tiêu bản vi thể nhuộm HE
- Kích thước lông nhung được đo bằng phần mềm Infinity Analysis trên kính hiển vi Kniss MBL-2000T (Olympus, Japan)
3 Kết quả nghiên cứu chính
- Sau 7 tuần thí nghiệm, chế phẩm Bio Plus 11 làm tăng tỷ lệ nuôi sống 1,96 %
; làm tăng các chỉ số sinh trưởng tích lũy 29,32 g/con; tăng lượng thức ăn thu nhận trung bình trong cả 7 tuần là 0,45 g/con/ngày so với đối chứng và làm giảm hệ số chuyển hóa thức ăn từ 2,07 còn 2,05
- Bio Plus 11 làm giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm, đặc biệt tỷ lệ cường độ nhiễm cầu trùng với cường độ +++ và ++++ trong giai đoạn từ 8- 12 tuần tuổi và rõ nhất vào mùa hè Giống gà không ảnh hưởng đến tác dụng của chế phẩm đối với nguy cơ nhiễm cầu trùng
Trang 10- Chế phẩm làm tăng tính toàn vẹn của biểu mô ruột non; làm tăng chiều cao lông nhung biểu mô tá tràng (tăng 34,51%) và không tràng ( tăng 28,73%%) Chiều cao lông nhung hồi tràng không thay đổi dưới tác dụng của chế phẩm
- Để điều trị bệnh cầu trùng, phối hợp Bio Plus 11 với Colicoc có tác dụng tốt hơn phối hợp Bio Plus 11 và Cocistop
4 Kết luận
Những kết quả của nghiên cứu này góp phần chứng minh tác dụng có lợi của vi khuẩn dạng bào tử trong Bio Plus 11 đến chỉ tiêu năng suất chăn nuôi và hỗ trợ điều trị bệnh cầu trùng trên gà thịt lông màu Đây có thể là cơ sở cho việc sử dụng các chế phẩm chứa bào tử vi khuẩn trong thành phần bổ sung vào thức ăn trong chăn nuôi gà bền vững
Trang 11THESIS ABSTRACT
Author name: Pham Vu Luc
Thesis title: Evaluation of coccidiosis prevention effects of probiotic containing heat resistance Bacillus spores in color broiler chickens
Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01
Institution: Vietnam National University of Agriculture
1 Aims of the research
Assessment of the effects of commercial product Bio Plus 11 containing heat resistance Bacillus spores on growth parameters, prevalence and intensity of coccidial infections, small intestinal epithelial histomorphology, and potential treatment efficacy
in some color chicken breeds as background for the product application in sustainable chicken farming
- Routine methods for microscopic examination with HE staining slides
- Epithelial villum measurements were performed with Infinity Analysis software using Kniss MBL-2000T microscope (Olympus, Japan)
3 Main results
- Supplement of Bio Plus 11 in drinking water led to an increase of live rate of chicks (1.96%); higher growth rate, lower feed conversion ratio (FCR) leading to higher efficacy of feed metabolism of colour broiler chickens
- Bio Plus 11 supplement led to lower prevalence and intensity of coccidial infection, especially of chickens from 8 to 12 weeks of age Chicken breeds did not affect the efficacy of the supplement
- The product supplement protected small intestinal epithelia shown in the epithelial integrity, higher villa in duodenum and jejunum that led to positive effects on nutrition absorbability of the chickens
- Combination of Bio Plus 11 and Colicoc had higher effects on coccidial prevalence than that of Bio Plus 11 and Coccistop
Trang 124 Conclusions
The study proved productive effects of baterial spores in Bio Plus 11 as probiotics
on growth and metabolism parameters and on small intestinal epithelial cells as well as on coccidial infection and treatment The results can be considered as additional evidences for the application of Bacillus spores as in sustainable chicken farming
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong chăn nuôi, nâng cao năng suất và giảm chi phí đầu vào để tăng lợi nhuận luôn là mối quan tâm hàng đầu Bên cạnh đó, áp dụng giải pháp kỹ thuật mang tính an toàn, hiệu quả để quản lý về dịch bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Một giải pháp phòng và điều trị bệnh cho vật nuôi phổ biến hiện nay là kháng sinh Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh dẫn đến nhiều ảnh hưởng như tạo sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc, gây khó khăn cho việc điều trị bệnh, dư lượng thuốc kháng sinh trong cơ thể gia cầm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng
Ở Việt Nam, để phòng và điều trị bệnh cầu trùng, biện pháp phổ biến là
sử dụng các loại kháng sinh như Toltrazuril, Diclazuril, Amprolium, Bệnh cầu trùng gà thường xuyên xảy ra với tỷ lệ lớn, cường độ nhiễm cao và gây thiệt hại thông qua tác động làm giảm tỷ lệ sống, giảm khả năng tăng trọng, khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thu dinh dưỡng, tạo điều kiện cho quá trình nhiễm vi khuẩn, virus, nấm và các ký sinh trùng khác dẫn đến làm tăng chi phí phòng và điều trị bệnh Vấn đề đặt ra là biện pháp giảm mắc bệnh Cầu trùng, giảm chi phí phòng
và điều trị bệnh, hạn chế được sử dụng kháng sinh, tăng năng suất và chất lượng thịt Các giải pháp đi kèm kháng sinh là sử dụng axit hữu cơ, thảo mộc, probiotic, prebiotic và các biện pháp an toàn sinh học khác
Trong chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt, tăng cường sức khoẻ hệ tiêu hoá của vật nuôi thông qua những tác động tới hệ vi sinh vật đường ruột được coi là một giải pháp hữu hiệu Hệ vi sinh vật đường ruột của gia cầm phong phú cả về chủng loại và số lượng Những biến động về thành phần, số lượng các loài vi sinh vật đường ruột là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những rối loạn trong quá trình tiêu hoá và hấp thu của gia cầm Bởi vậy, việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật thông qua thức ăn và nuôi dưỡng nhằm tạo nên sự cân bằng tối ưu giữa các loài vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi cho vật chủ đã và đang được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm
Bằng mọi biện pháp để cải thiện quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi khuẩn có lợi và hại trong đường tiêu hóa của gia súc, gia cầm Trong đó biện pháp cổ điển được ứng dụng rộng rãi từ những năm 1950 của thế kỷ trước là sử
Trang 14dụng kháng sinh liều thấp; tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ngày càng hạn chế tại nhiều quốc gia, đầu tiên ở Thụy Điển vào năm 1986, tiếp theo là Đan Mạch (năm 2000), Liên minh Châu Âu (năm 2006) và Mỹ (năm 2007) Chính vì vậy, yêu cầu tìm ra các giải pháp thay thế kháng sinh đã ngày càng trở nên cần thiết hơn
Một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng bệnh, điều trị cũng như phục hồi sức khỏe cho gà mắc Bệnh Cầu trùng hiện nay là bổ sung thêm Probiotic Bổ sung Probiotic nhằm hướng tới các mục đích: Cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, ức chế sự phát triển các vi sinh vật gây bệnh; góp phần phục hồi các tổn thương đường tiêu hóa, tăng cường tiêu hóa và hấp thu thức ăn Tuy nhiên, hiệu quả khi sử dụng Probiotic còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Dòng sản phẩm Probiotic thường được sử dụng hiện nay là các vi khuẩn sống Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chứng minh những hạn chế của chúng như: Các vi khuẩn sống
có thể bị chết do tác động của pH thấp ở dạ dày; chưa có xác định được vi khuẩn
có bị đột biến khi bổ sung vào hệ tiêu hóa; khả năng chịu nhiệt và các tác động lý hóa của vi khuẩn sống kém sẽ làm giảm số lượng vi khuẩn vào tới đường ruột
Để khắc phục được những hạn chế trên, chế phẩm sinh học, trong đó có chế phẩm Bio Plus 11 chứa vi sinh vật ở dạng bào tử, có khả năng tồn tại ở nhiệt
độ cao và các tác nhân lý hóa khác, chịu được pH thấp trong dạ dày, giữ được tính toàn vẹn và số lượng trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ phòng Tuy nhiên, tác động của các chế phẩm bổ sung chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố thuộc về bản thân vật nuôi như loài, giống, sức khỏe của vật nuôi, kháng sinh và hóa chất Xác định được các ảnh hưởng của chế phẩm khi được bổ sung trong phòng và hỗ trợ điều trị bệnh sẽ là cơ sở khuyến cáo cho người chăn nuôi
và nhà cung cấp Chính vì sự cấp thiết đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá tác dụng phòng bệnh cầu trùng của Probiotic chứa vi khuẩn dạng bào tử trên
gà thịt lông màu”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá tác dụng của probiotic dạng bào tử trong chế phẩm Bio Plus 11 đến các chỉ tiêu năng suất và hiệu quả phòng bệnh cầu trùng của chế phẩm theo tuổi, theo giống gà, theo thời gian và kháng sinh phối hợp trên gà thịt lông màu 1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Bio Plus 11 đến bệnh cầu
Trang 15trùng trên đối tượng là gà thịt lông màu nuôi thí nghiệm với các giống gà như gà lai chọi, gà Lạc thủy, gà Mía × Phượng Thời gian nghiên cứu trong 1 năm từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2017 tại trang trại Nghĩa Hương – Thái Nguyên và trang trại thực nghiệm của Đại học Nông Lâm Bắc Giang
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã đánh giá được hiệu quả của bổ sung probiotic dạng bào tử trong phòng bệnh cầu trùng trên gà, góp phần giảm mắc bệnh cầu trùng trên gà và hạn chế sử dụng kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh cầu trùng gà hiện này
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.TỔNG QUAN VỀ PROBIOTIC
2.1.1 Định nghĩa Probiotic
Từ “probiotic” có nghĩa là “dành cho cuộc sống” Theo nghĩa gốc, “biotic” hay “biosis” từ chữ “life” là đời sống, và “pro” là thân thiện, nên probiotic có thể hiểu theo nghĩa cái gì thân thiện với đời sống con người Thuật ngữ probiotic được Parker đề nghị sử dụng lần đầu tiên vào năm 1974 để chỉ “những vi sinh vật
và những chất làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột” (Fuller, 1989) Từ đó đến nay thuật ngữ probiotic đã được cả thế giới sử dụng để chỉ những chế phẩm vi sinh vật sống hữu ích khi được đưa vào cơ thể động vật thông qua thức ăn hoặc nước uống tạo nên những ảnh hưởng có lợi cho động vật Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2001): “Probiotic là các vi sinh vật sống khi được đưa vào một lượng cần thiết vào cơ thể sẽ đem lại hiệu quả có lợi cho cơ thể”
2.1.2 Cơ chế tác động của Probiotic trên gia cầm
Cơ chế tác động của probiotic trên gia cầm bao gồm:
+ Duy trì sự ổn định hệ vi sinh vật đường ruột bằng cạnh tranh loại trừ - cạnh tranh vị trí bám dính và đối kháng;
+ Điều chỉnh quá trình trao đổi chất bằng gia tăng hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và làm giảm hoạt tính enzyme của các vi sinh vật có hại cũng như vi sinh vật sản sinh amonia;
+ Cải thiện lượng thức ăn thu nhận và tăng cường khả năng hấp thu thức ăn; (iv) tăng cường sức đề kháng (Kabir, 2009)
2.1.2.1 Duy trì sự ổn định hệ vi sinh vật đường ruột
Probiotic và loại trừ cạnh tranh - hay cạnh tranh vị trí đã và đang được sử dụng như giải pháp khống chế dịch bệnh trên gia cầm Sử dụng các vi sinh vật có lợi trong giai đoạn úm như các probiotics có tác dụng cạnh tranh với vi khuẩn gây hại cho chăn nuôi gia cầm Rantala and Nurmi (1973) lần đầu tiên ứng dụng
ý tưởng này để kiểm soát một đợt bùng phát nhiễm Staphylococcus infantis trên đàn gà thịt ở Phần Lan Theo các tác giả, liều gây bệnh rất thấp bằng Salmonella (1 - 10 vi khuẩn/diều gà) đã có khả năng tạo ra nhiễm trùng salmonellosis trên
gà Thêm vào đó, Các tác giả cũng chứng minh được rằng trong tuần đầu tiên sau
nở là giai đoạn gà mẫn cảm nhất với Salmonella Việc sử dụng chủng
Trang 17Lactobacillus đã không đủ khả năng để kiểm soát vi sinh vật gây bệnh, các tác giả phải đánh giá một nhóm các vi khuẩn đường ruột đã được phân lập từ gà trưởng thành có khả năng đề kháng với Staphylococcus infantis trước đó Sử dụng theo đường uống hỗn hợp này, đã cho kết quả tốt trong việc ức chế Salmonella Quy trình này sau đó đã được đặt tên là nguyên lý Nurmi hoặc khái niệm “cạnh tranh loại trừ” Cơ chế cạnh tranh loại trừ là kết quả của việc cấy vào
gà con 01 ngày tuổi hệ vi sinh vật từ gà trưởng thành Các thử nghiệm này đã chứng minh được tầm quan trọng của hệ vi sinh vật đường ruột với sinh trưởng
và sức đề kháng của gà (Nisbet et al., 1998)
Can thiệp cạnh tranh loại trừ là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ gà mới nở, gà con, chim cút, ngỗng và các loại chim cảnh không bị mắc bệnh do Salmonella và các tác nhân nhiễm trùng qua tiêu hóa khác (Schneitz, 2005)
2.1.2.2 Điều chỉnh quá trình trao đổi chất
Những loại vi sinh vật sinh axit lactic được bổ sung vào đường tiêu hóa có thể làm thay đổi môi trường đường ruột và cung cấp các loại enzyme, các thành phần hữu ích khác (Marteau et al., 1993) Việc bổ sung Lactobacillus acidophilus hoặc hỗn hợp môi trường nuôi cấy Lactobacillus cho gà đã cho thấy hiệu quả làm tăng hàm lượng amylase sau 40 ngày cho ăn (Jin et al., 2000).Theo các tác giả sử dụng thể vùi của vi khuẩn có lợi (là hỗn hợp gồm nhiều chủng Lactobacillus spp và Streptococcus faecium) cho thấy sự gia tăng của các men phân giải đường có hoạt tính trên ruột non lợn con Quần thể lactobacilli trên ruột non có thể đã tiết enzyme, dẫn đến làm tăng amylase hoạt tính (Duke, 1977)
Nó cũng xác nhận lợi khuẩn có thể thay đổi pH đường tiêu hóa và hệ vi sinh vật bình thường của đường ruột (enzym có hoạt tính và phân giải các chất dinh dưỡng (Dierck, 1989) Hơn nữa, vi khuẩn probiotic có thể tham gia vào việc cải thiện sức khỏe đàn gà bằng cách làm giảm sản sinh ammonia trong đường ruột (Chiang et al.,1995) Vi sinh vật có lợi là một khái niệm phổ thông và các sản phẩm có chứa nấm men, vi khuẩn hoặc cả 02 loại này, có thể kích thích khả năng của vi sinh vật trong việc biến đổi môi trường đường ruột có lợi cho sức khỏe và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn (Dierck, 1989)
2.1.2.3 Cải thiện lượng thức ăn thu nhận và tăng cường khả năng hấp thu chất dinh dưỡng
Cơ chế của vi sinh vật có lợi trong cải thiệu quả sử dụng thức ăn bao gồm sửa đổi hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường sự phát triển của vi khuẩn yếm
Trang 18khí không có hại và vi khuẩn gram dương sản sinh acid lactic, hydrogen peroxide, ức chế sự phát triển của vi sinh vật có hại, và thúc đẩy quá trình tiêu hóa và tối ưu dinh dưỡng (Yeo et al., 1977) Cũng vì vậy, một trong tác dụng chính của việc sử dụng vi sinh vật có lợi bao gồm cải thiện sức sinh trưởng (Yeo et al., 1977), giảm tỷ lệ chết (Kumprecht et al., 1998), và cải thiện tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (Yeo et al., 1977 ) Những kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu được thực hiện trước đây bởi Tortuero and Fernandez (1995), khi bổ sung lợi khuẩn trong khẩu phần đã giúp gia tăng tỷ
lệ chuyển đổi thức ăn hữu hiệu
2.1.2.4 Tăng cường sức đề kháng
Vi sinh vật sau được đưa vào trong đường ruột vật nuôi tác động tới sự hình thành đáp ứng miễn dịch (Mc Cracken et al., 1999) Cơ chế chính xác miễn dịch trung gian của vi khuẩn probiotic chưa được hiểu rõ Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng vi khuẩn probiotic đã kích thích một tập hợp nhiều loại các tế bào miễn dịch khác nhau để tạo ra cytokines, dẫn tới sự tham gia vào vai trò của trong việc nhận diện và các đáp ứng miễn dịch (Christensen, 2002) Sự kích hoạt tế bào đơn nhân ngoại biên ở người với Lactobacillus rhamnosus chủng GG trong điều kiện in vitro đã xác nhận việc tạo ra interleukin 4 (IL-4), IL-6, IL-10, tumor necrosis factor alpha, và gamma interferon Nhiều nghiên cứu khác cũng xác nhận tác dụng đến Th2 cytokines,
ví dụ như IL-4 và IL-10, dưới tác dụng của lactobacilli (Christensen et al., 2002) Kết quả của việc sản sinh Th2 cytokines là sự hình thành của lympho B
và các immunoglobulin, những yếu tố cần thiết để hình thành nên kháng thể
Sự hình thành IgA yếu tố miễn dịch tại chỗ là đáp ứng phụ thuộc vào các loại cytokines khác như các nhân tố gây chuyển dạng - transforming growth factor
β (Lebman, 1999) Tầm quan trọng, chủng loại của các lactobacilli đều có khả năng tạo ra transforming growth factor β, mặc dù ở các mức độ khác nhau Vi sinh vật có lợi mà đặc biệt là lactobacilli, có thể giúp kích hoạt hệ thống phòng thủ miễn dịch của gà (Kabir et al., 2004)
Probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm Đó là các acid hữu cơ như: Acid lactic, acid acetic…và đặc biệt là Bacteriocin - nhóm peptide hay protein được tổng hợp nhờ ribosome có hoạt tính kháng vi sinh vật (Hình 2.1)
Trang 19Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH đường ruột thông qua sự tạo
ra các axit béo đơn giảm dễ bay hơi, chủ yếu là axit acetic, axit propionic và axit butyric, nhất là axit lactic
Hình 2.1 Cơ chế kháng vi sinh vật của Bacteriocin
Nguồn: Cotter et al.(2005)
Bacteriocin class I (đại diện: nisin của Lactococcus lactis), gắn vào lớp lipid II, ngăn cản sự vận chuyển các tiểu đơn vị peptiddoglycan từ tế bào chất đến vách tế bào, do đó ngăn cản tổng hợp vách tế bào hoặc bám vào lớp lipid II, các phân tử nisin tạo lỗ xuyên màng tế bào dẫn đến tiêu bào Bacteriocin class II (đại diện là sakacin của Lactobacillus sake) là các peptide lưỡng tính có khả năng xuyên màng tế bào tạo kênh, lỗ trên màng Bacteriocin class III (còn gọi là bacteriolysin như lysostaphin), protein không bền nhiệt, tác động trực tiếp lên vách tế bào đích
2.1.3 CHẾ PHẨM PROBIOTIC
2.1.3.1 Thành phần của chế phẩm probiotic
Probiotic dùng trong chăn nuôi hiện nay thường chứa (1) từ 2 chủng vi sinh vật: Bào tử họ Bacillus, họ Lactobacillus và một vài chủng nấm men
Trang 20Saccharomyces cerevisiae, một số loại vitamin A, E, B1 và các chất khác như Folic acid, Niacin, Lactose, Protease, Amylase, Lipase, β-Glucanase, Xylanase, Dextrose; (2) môi trường chứa các chủng vi sinh vật nuôi cấy và các sản phẩm lên men của chúng (Timmerman et al., 2006)
Vì vậy các chế phẩm có chứa số lượng các tế bào VSV sống và các sản phẩm của quá trình lên men Quá trình lên men tùy thuộc vào chủng VSV để sản xuất và điều kiện nuôi cấy chúng Nhưng có thể nằm trong 4 thành phần:
Sinh khối tế bào: Chất dinh dưỡng nội bào: Protein, peptid, axit amin, vitamin, axit nucleic và chất dinh dưỡng ngoại bào: Polisaccharide, oligosaccharide có tác dụng làm chất dinh dưỡng cho VSV có ích trong ruột và tăng phản ứng miễn dịch
Chất chuyển hóa ngoại bào: Hợp chất có hương thơm tăng vị ngon của thức ăn; hợp chất kích thích tăng trưởng không xác định và một số Nucleotid có vai trò quan trọng tăng khả năng miễn dịch
Thành phần biến đổi của cơ chất:Trong trường hợp môi trường lên men
có bột ngũ cốc, VSV sẽ lên men làm biến đổi thành phần polysaccharide peptid trong ngũ cốc thành các chuỗi oligo – saccharid và peptid nhỏ hơn
Enzyme: Lên men hình thành các enzyme gồm: Amylaza, catalaza, lactaza, lipaza, proteaza… tăng khả năng tiêu hóa hấp thu thức ăn
2.1.3.2 Tiêu chuẩn lựa chọn chủng vi sinh vật probiotic
Các chủng vi sinh vật phải an toàn cho quá trình sản xuất và ứng dụng, có khả năng sống sót và chiếm lĩnh (colonization) trong đường tiêu hóa vật chủ (Bernardo and Vermouth, 2013)
(i) Tính bám dính trên bề mặt đường tiêu hóa hoặc các tế bào biểu mô: Các chủng probiotic phải bám dính được vào thành ruột non, khu trú tốt trong đường tiêu hoá và sinh sôi nảy nở Khả năng bám dính được xem là một yêu cầu quan trọng để tăng khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh, bảo vệ biểu mô và tăng khả năng miễn dịch của vật chủ (Czerucka and Rampal, 2002) Đặc tính này làm tăng khả năng cạnh tranh của các chủng probiotic với các vi sinh vật bất lợi khác
(ii) Hoạt tính kháng khuẩn chống lại các vi khuẩn gây bệnh: Lựa chọn được các chủng có khả năng sản sinh các chất kháng khuẩn là đặc tính quan trọng nhất trong phát triển probiotic Các chủng probiotic cần có hoạt tính ức chế
vi khuẩn gây bệnh như E coli, Salmonella và Campylobacteria (B.Kosin and
Trang 21S.K.Rakshit, 2006) Hoạt tính kháng khuẩn của chúng có thể theo nhiều cơ chế khác nhau như: Sản sinh ra các chất Bacteriocin; Làm giảm độ pH bởi tạo ra axit lactic; tạo ra H2O2; làm giảm độc tố theo các cơ chế khác nhau; làm giảm sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh trên bề mặt và cạnh tranh dinh dưỡng với các vi khuẩn gây bệnh
(iii) Khả năng tồn tại trong môi trường axit dạ dày: Các chủng vi sinh vật được coi như là nguồn probiotic phải tồn tại được trong điều kiện pH 2-3 Hiện nay các công ty đã khuyến cáo dùng vỏ bọc với chế phẩm probiotic nhằm tăng khả năng sống của vi khuẩn probiotic khi đi qua xoang miệng và dạ dày (Shah et al., 2000)
(iv) Khả năng chịu muối mật: Thông thường, muối mật trong dịch tiêu hoá của động vật dao động 1-3% Để tồn tại và phát triển, các chủng probiotic phải có khả năng tồn tại và phát triển với nồng độ muối mật ≥ 2%, ngoài ra một số chủng probiotic (nấm men Bacillus và Lactobacillus) có khả năng sinh enzym tiêu hoá như amylaza, xenlulaza và proteaza, lipaza và phytaza có vai trò làm tăng khả năng tiêu hoá thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng của vật chủ (Shah et al., 2000)
2.2 HỆ TIÊU HÓA CỦA GÀ
2.2.1 Cấu tạo hệ tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa ở gà
2.2.1.1 Cấu tạo đại thể và đặc điểm tiêu hóa
Hệ tiêu hóa của gia cầm gồm ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa lớn Ống tiêu hóa gồm: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày (dạ dày tuyến và dạ dày cơ), phần ruột trước (ruột non), ruột sau (ruột già bao gồm cả hai manh nang) mở ra ở ổ nhớp Các tuyến tiêu hóa lớn có gan và tụy Mỗi đoạn có cấu tạo phù hợp với chức năng
Hệ tiêu hóa ở gà có cấu tạo khá đặc biệt để thích nghi với thức ăn là thực vật và xoang miệng hẹp, không có răng Thức ăn được đưa vào diều, một đoạn phình to của thực quản, là nơi chứa thức ăn và nhào trộn với dịch tiết để làm mềm thức ăn và chuyển thức ăn xuống dạ dày tuyến Một trong cấu tạo đặc biệt khác trong hệ tiêu hóa ở gà đó là dạ dày cơ có thành cơ chắc khỏe, là nơi nghiền nát thức ăn trước khi được đưa tới tá tràng Enzyme đươc dạ dày tuyến tiết ra làm tăng hiệu quả tiêu hóa Đặc biệt, để tăng hiệu quả tiêu hóa cơ học, gà còn ăn thêm những hạt sỏi nhỏ, đó là cách tăng ma sát cơ học giúp thức ăn thực vật bị nghiền nhỏ thành những mảnh vụn li ti để quá trình tiêu hóa ở ruột diễn ra hiệu quả So với tất cả các động vật ăn thực vật, gà là nhóm động vật có phương thức
Trang 22tiêu hóa khá đặc biệt, thời gian tồn tại của thức ăn tại diều và dạ dày của gà khá lâu so với các phần còn lại trong ống tiêu hóa Ở phần đầu của ống tiêu hóa, pH thấp đã ức chế sự phát triển của nhiều vi sinh vật Đây cũng là một vấn đề khó khăn khi đưa các loại probiotic là các tế bào sinh dưỡng vào trong ống tiêu hóa của gà vì có thể số tế bào probiotic vượt qua được dạ dày với nồng độ không đủ lớn để phát huy tác dụng Lượng axít hữu cơ tiết ra trong ống tiêu hóa với nồng
độ cao làm cho pH ở các phần đầu ống tiêu hóa thấp, điều này khẳng định rằng các axít hữu cơ có vai trò trực tiếp quyết định đến hệ vi khuẩn đường ruột, làm giảm các vi nhuẩn gây bệnh và kiểm soát các quần thể chủ yếu cạnh tranh chất dinh dưỡng đối với gà Đây cũng chính là cơ sơ để các nhà nghiên cứu đánh giá
về tác động của các axit hữu cơ cũng như các vi khuẩn sinh axit đối với việc kiểm soát mầm bệnh ở gà
Tá tràng là nơi thức ăn chịu tác dụng của enzyme và mật Cấu tạo của ruột non với niêm mạc lượn sóng có nhiều nhung mao đã làm tăng diện tích bề mặt hấp thụ lên nhiều lần Cũng giống như đa số các động vật ăn thực vật khác, ruột của gà dài và có đôi manh tràng lớn Thời gian tồn tại của hỗn dịch tiêu hóa ở tá tràng là khá lớn, với thành phần chất dinh dưỡng đa đạng, pH trung tính, đây có thể sẽ là điều kiện thuận lợi để cho vi sinh vật gây bệnh cũng như các vi sinh vật
có lợi phát triển Gà có đôi manh tràng lớn cũng là nơi khu trú của nhiều loài vi sinh vật Tuy nhiên, đây không phải là cơ quan tiêu hóa quan trọng giống như manh tràng ở thỏ (manh tràng được coi là dạ dày thứ hai) Chức năng của manh tràng được cho là có liên quan đến sự biến đổi các thành phần thức ăn chưa tiêu hóa ở ruột non cùng chức năng hấp thu nước, glucose và các axit béo Trực tràng
là một đoạn ngắn thông với hậu môn, nơi có pH kiềm và cũng là nơi đoạn vi khuẩn cư trú và hoạt động mạnh mẽ
2.2.1.2 Cấu tạo vi thể ruột non
Thành ống tiêu hóa đi từ trong ra ngoài có 3 lớp áo: Lớp niêm mạc, lớp áo
cơ, lớp áo ngoài
Ruột non giữ vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa thức ăn Đồng thời là nơi hấp thu chủ yếu các chất dinh dưỡng Cấu trúc vi thể các đoạn của ống tiêu hóa phù hợp với chức năng của mỗi đoạn Các chức năng chính gồm tiết dịch tiêu hóa biến đổi thành phần phân trong thức ăn và hấp thu các chất dinh dưỡng Những nếp gấp, lông nhung và riềm hút trong niêm mạc ruột đảm nhận chức năng quan trọng này Số lượng lông nhung ở tá tràng nhiều hơn so với không
Trang 23tràng và hồi tràng Lông nhung làm tăng diện tích bề mặt của ruột non lên 10 lần
và cách nhau bởi những rãnh hẹp.Vi nhung là sự biến đổi phần đỉnh của màng nguyên chất của tế bào biểu mô phủ trên bề mặt lông nhung, làm tăng diện tích hấp thu của ruột non lên 20 lần
Tế bào đài: Nằm xen giữa những tế bào mâm khía Đây là những tế bào phần giữa phình to, hai đầu thon lại
Tế bào ưa crôm và ưa bạc: Có dạng một cái chai, đáy nằm trên đáy của biểu mô Thường gặp tế bào này ở phần đỉnh lông nhung
Lớp đệm: Được cấu tạo bởi tổ chức liên kết có nhiều lưới sợi, đại thực bào, lâm ba cầu Ngoài ra, trong lớp đệm còn có nang lympho chiếm cả chiều cao niêm mạc và xuống cả phần dưới niêm mạc Một vài nơi nang lympho tập họp lại thành mảng (mảng Payer)
Lớp cơ niêm: Cấu tạo bởi tổ chức cơ trơn gồm lớp cơ vòng bên trong và lớp cơ dọc bên ngoài
Lớp hạ niêm mạc:
Là tổ chức liên kết mềm chứa nhiều mạch quản, thần kinh và nang lympho Trong lớp đệm và tầng dưới niêm mạc ruột non có hai loại tuyến: Tuyến Lieberkuhn và tuyến Brunner Tuyến Lieberkuhn là tuyến ống đơn, thành của tuyến được cấu tạo từ tế bào hấp thu, tế bào đài và tế bào nội tiết đường ruột được thấy ở tất cả các đoạn ruột và nằm trong niêm mạc Tuyến Brunner ở tá tràng, ở tầng niêm mạc và tầng dưới niêm mạc
Lớp áo cơ:
Cấu tạo lớp áo cơ là tổ chức cơ trơn Lớp cơ vòng phía trong dày, lớp cơ dọc phía ngoài mỏng Giữa hai lớp có tổ chức liên kết thần kinh và mạch quản
Lớp áo ngoài:
Trang 24Lớp áo ngoài là tổ chức liên kết
Như vậy, khi bổ sung sản phẩm probiotic vào thức ăn có thể làm thay đổi cấu trúc lông nhung Số lượng lông nhung được tăng lên và được bảo vệ, tránh các tác động từ các vi khuẩn có hại Từ đó làm tăng khả năng chuyển hóa và hấp thu thức ăn
2.2.2 Hệ vi khuẩn đường ruột ở gà
Vi khuẩn đường ruột đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe thông qua các tác động của nó tới hình thái ruột, dinh dưỡng, sinh bệnh học của các bệnh thường gặp và các đáp ứng miễn dịch Hệ vi khuẩn đường ruột có khả năng chống xâm lấn của các mầm bệnh trong đường ruột và kích hoạt các đáp ứng miễn dịch
Các nghiên cứu về hệ vi khuẩn trong đường tiêu hóa của gà ngày càng được chú ý Các vi khuẩn dễ nuôi cấy chiếm ưu thế trong manh tràng, đa số là các vi khuẩn kỵ khí bắt buộc, với mật độ 1011/ g trọng lượng Ít nhất có 38 loại
vi khuẩn kỵ khí khác nhau đã được phân lập từ manh tràng của gà và chúng bao gồm nhiều chủng khác nhau Mead đã tìm thấy các cầu khuẩn gram dương như Peptostreptococcus chiếm 28% tổng vi khuẩn có thể nuôi cấy, các nhóm khác bao gồm Bacteroidaceae (20%), Eubacterium spp, (16%),… Tuy nhiên, các nghiên cứu về mặt sinh học thông qua nuôi cấy đã cho ra những kết quả không đồng nhất Việc áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong điều tra sinh thái học vi khuẩn trong hệ tiêu hóa của gà đã được tiến hành trong những năm gần đây Netherwood et al (1999) đã theo dõi đáp ứng của hệ vi khuẩn sau khi bổ sung Probiotic Apajalahti et al (2001) đã phân tích sự khác biệt về hệ vi khuẩn manh tràng do chế độ ăn bằng cách sử dụng nhận dạng tỷ lệ G+C trong các trình
tự của 16S rRNA Họ đã chỉ ra rằng phần lớn các gen phát hiện không phải là từ các vi khuẩn đã biết rõ Các kết quả nghiên cứu ngày đã được xác nhận bởi Gong
et al (2002) và Zhu et all Các tác giả cho thấy một số trình tự trong 16S rDNA
từ quần thể vi khuẩn manh tràng có trình tự tương đồng thấp với các gen của các
vi khuẩn đã biết
2.2.3 Tác động của hệ vi sinh vật đường ruột đến sức khỏe của vật nuôi
Trong các cơ chế bảo vệ nói chung, hệ thống miễn dịch, với các phản ứng đặc hiệu và không đặc hiệu, giúp chống lại các vi sinh vật gây bệnh Bên cạnh sự hấp thụ các chất dinh dưỡng, đường tiêu hóa còn đóng vai trò quan trọng như là
cơ quan miễn dịch lớn nhất trong cơ thể Do đó, nó là hệ thống bảo vệ và là hàng
Trang 25rào quan trọng chống lại sựu xâm nhập của các tác nhân gây bệnh Hệ vi sinh vật đường ruột cũng được coi là một trong các yếu tố chống lại các tác nhân gây bệnh
Tuy nhiên, mật độ vi sinh vật ở các đoạn khác nhau của đường tiêu hóa (dạ dày; tá tràng;không tràng, hồi tràng và ruột già) ở loài động vật dạ dày đơn rất khác nhau, khoảng 101-103; 101-104; 105-108 và 109-1012 cfu/ml chất chứa tương ứng (Jans, 2005) Sức khỏe của vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: Trạng thái sinh lý của vật chủ, khẩu phần thức ăn và hệ vi sinh vật Các yếu tố này chịu tác động của môi trường, của các stress và tác động qua lại lẫn nhau Trong số các nhân tố trên, hệ vi sinh vật đường tiêu hóa đóng vai trò trung tâm, chỉ một biến động bất lợi của một trong hai yếu tố còn lại cũng ảnh hưởng xấu tới hệ vi sinh vật
Sự cộng sinh của các loài vi sinh vật trong đường tiêu hoá của vật nuôi (chủ yếu là trong ruột) tạo nên một hệ sinh thái mở và mối cân bằng của quần thể vi sinh vật được xác lập chỉ một thời gian rất ngắn sau khi sinh (Jans, 2005)
Có nhiều quan điểm khác nhau về mối tương quan cân bằng của hệ vi sinh vật ruột Theo Jans (2005), để đánh giá trạng thái cân bằng, các vi sinh vật ruột được chia thành 3 nhóm (1) nhóm chủ yếu (main flora) gồm các vi khuẩn kị khí (Clostridium; Lactobacillus; Bifidobacteria; Bacteroides, Eubacteria); (2) nhóm
vệ tinh (Satellite flora), gồm chủ yếu là Enterococcus và E coli, và (3) nhóm còn lại (Residual flora) gồm các vi sinh vật có hại như Proteus, Staphylococcus và Pseudomonas… Một quần thể vi sinh vật được coi là cân bằng khi tỷ lệ của các nhóm dao động trong khoảng 90; 1,0 và 0,01% tương ứng Trạng thái mà các nhóm này hình thành một tỷ lệ 90:1:0,01 được gọi là trạng thái “eubiosis” sự chung sống có lợi giữa các vi khuẩn với nhau và với vật chủ) Ở trạng thái
“eubiosis”, vật chủ cung cấp các điều kiện sống lý tưởng như nhiệt độ ổn định,
pH trung tính, dinh dưỡng và sự đào thải các chất chuyển hóa Đổi lại, hệ vi sinh vật sẽ mang lại lợi ích cho vật chủ thông qua tăng cường tiêu hóa các chất dinh dưỡng, giải độc, tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K, loại trừ các vi sinh vật có hại, tăng cường đáp ứng miễn dịch của vật chủ Sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa bị tác động bởi một số nhân tố vô sinh và hữu sinh như: Sinh lý vật chủ, khẩu phần thức ăn và cơ cấu nội tại của bản thân hệ vi sinh vật Thức ăn là nền dinh dưỡng cơ bản của vi sinh vật, bởi vậy sự thay đổi thành phần khẩu phần, thức ăn không đảm bảo vệ sinh, phương pháp cho ăn không hợp lý đều làm tổn hại đến trạng thái cân bằng hệ vi sinh vật ruột Tương tự như vậy, các chất bài tiết của hệ tiêu hóa (dịch mật, các enzym, chất đệm và chất nhầy )
Trang 26cũng như kiểu và tần số nhu động ruột cũng tác động trực tiếp đến hệ vi sinh vật Kiểu và tần số nhu động ruột bị tác động rất lớn bởi các stress (sinh đẻ, cai sữa, dồn chuồng, vận chuyển )
Để cải thiện hệ vi sinh vật ruột ở vật nuôi, một số loại kháng sinh được bổ sung với liều thấp như những chất kích thích sinh trưởng Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn thiếu kiểm soát đã và đang gây ra những hậu quả đáng lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là gây nên tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng của các vi khuẩn gây bệnh trên người và vật nuôi Việc cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi cũng đặt ra những thách thức lớn về kỹ thuật, đặc biệt đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm non hoặc trong điều kiện vệ sinh kém và vật nuôi chịu nhiều stress Để vượt qua những thách thức đó,
đã có rất nhiều những nghiên cứu nhằm tìm ra tác nhân để thay thế kháng sinh nhưng phải an toàn với vật nuôi Một trong những tác nhân tìm ra đó là probiotic 2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng vật nuôi
Sinh trưởng của gia cầm là quá trình sinh học phức tạp, chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố về di truyền và ngoại cảnh như: Dòng, giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, chế độ dinh dưỡng, khả năng kháng bệnh, điều kiện chăn nuôi và nhiều yếu tố khác
Ảnh hưởng của dòng, giống:
Các giống, các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau Gà hướng thịt, có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà hướng trứng Theo tài liệu của Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994), sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (13 - 30%)
Letner et al (1983) đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi cho thấy gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn 2 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau
Theo Chambers (1984), có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gia cầm Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ
Ảnh hưởng của tính biệt:
Do có sự khác nhau về đặc điểm và chức năng sinh lý nên quá trình sinh trưởng và phát triển giữa gà trống và gà mái không giống nhau
Trang 27Theo Bùi Đức Lũng (1992), khối lượng cơ thể gà broiler trống và mái V135 khác nhau ngay từ lúc một ngày tuổi và mức độ khác biệt rõ hơn theo lứa tuổi gà
Trần Đình Miên và cs (1994) cho thấy lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự sai khác càng lớn, ở 2 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng giữa gà trống và gà mái là hơn 5%, 3 tuần tuổi 11% và 8 tuần tuổi hơn 27% Godfrey et al (1952) cho rằng: Kiểu di truyền về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen quy định, trong đó ít nhất có một cặp gen liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) do đó dẫn đến sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa gà trống và
gà mái, trong cùng một giống gà trống nặng hơn gà mái từ 24 - 32% Ở gà trống gen này hoạt động mạnh hơn gà mái do gà trống có hai nhiễm sắc thể giới tính còn gà mái có một nhiễm sắc thể giới tính
Theo Godfrey et al.(1952), sự di truyền các tính trạng về khối lượng cơ thể
do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) Vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm Theo Trần Đình Miên và cs (1975) , nuôi dưỡng có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc, gia cầm Khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục Ngược lại nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại Theo Rovimen (1994), các mức protein và năng lượng trong khẩu phần đã ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn của gà broiler Ross - 208
Dinh dưỡng của gia cầm gồm có nhiều thành phần, mỗi thành phần dinh dưỡng đều có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng
Protein cấu tạo lên mô bào, là thành phần chính của các enzyme cho các quá trình biến đổi vật chất trong cơ thể Do vậy những giống vật nuôi sinh trưởng càng nhanh thì nhu cầu protein càng cao nhưng khẩu phần dư thừa protein thì gia cầm giảm sinh trưởng, giảm tích luỹ mỡ và tăng hàm lượng axit uric trong máu
Cũng như protein, năng lượng được đưa vào cơ thể để duy trì và sản xuất Nếu năng lượng trong khẩu phần thấp thì gà ăn nhiều hơn song hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn
Trang 28Ảnh hưởng của mật độ nuôi:
Mật độ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí độc sinh ra trong chuồng nuôi, khí độc trong chuồng nuôi sinh ra từ sự phân hủy phân, nước tiểu, nước thải, thức
ăn thừa , tạo thành các khí NH3, CO2, H2S, CH4 khí NH3 khi đi vào cơ thể làm lượng kiềm dự trữ trong máu tăng, gia cầm bị trúng độc kiềm Theo Đỗ Ngọc Hòe (1995), khi nồng độ NH3 trong chuồng là 25ppm làm giảm lượng hemoglobin trong máu, giảm sự trao đổi khí, giảm hấp thu dinh dưỡng và làm giảm tăng trọng của gà tới 4% Theo Coldhaft (1971), cùng với NH3, khí H2S cũng là khí độc ảnh hưởng tới sinh trưởng, H2S kết hợp với Na trong dịch niêm mạc đường hô hấp tạo thành Na2S, muối này đi vào máu thủy phân thành H2S, tác động tới thần kinh, gây trúng độc cho gia cầm Nếu nồng độ H2S lớn hơn 1mg/l, gà sẽ bị chết vì bị liệt trung khu hô hấp (Đỗ Ngọc Hòe, 1995)
Mật độ nuôi ảnh hưởng tới khả năng điều hòa thân nhiệt vì mật độ nuôi làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm của tiểu khí hậu chuồng nuôi, giảm mật độ nuôi góp phần làm tỏa nhiệt từ cơ thể gà dễ dàng hơn Với điều kiện khí hậu ở nước ta, khi nuôi gà nhốt thì mật độ 10 con/m2 hoặc ít hơn là thích hợp
Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông:
Tốc độ mọc lông của gà liên quan chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng (Kushner, 1974) Nghiên cứu của Brandsch et al (1978) cho rằng tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền có liên quan tới đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm
Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) cho biết tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền liên kết với giới tính, trong cùng một dòng gà thì gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống, đó là hormone tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà có tốc độ mọc lông nhanh
có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn
Hayer et al (1970) đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông
Ảnh hưởng của môi trường:
Ngoài các yếu tố kể trên ra, những yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ẩm
độ, ánh sáng, sự thông thoáng,…cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm
Trang 292.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của gia cầm
Khối lượng cơ thể (sinh trưởng tích luỹ):
Sinh trưởng tích lũy là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Đơn vị tính bằng kg/con hoặc g/con Đối với gà thịt, sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng nhất làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc giống với nhau
Sinh trưởng tuyệt đối:
Sinh trưởng tuỵêt đối là sự tăng lên về khối lượng kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N 2.39, 1997) Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn
Sinh trưởng tương đối:
Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N 2.40, 1997), đơn vị tính là %
2.3 BỆNH CẦU TRÙNG GÀ
2.3.1 Một số đặc điểm gây bênh của Cầu trùng
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình thái đa dạng, ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và người
Cầu trùng và bệnh cầu trùng đã được phát hiện từ năm 1863 – Rivolta là người phát hiện ra một loại ký sinh trùng có trong phân gà Năm 1864 Eimeria đã xác định đó là nguyên sinh động vật sinh sản theo bào tử thuộc lớp Sporozoa, bộ Coccidiasina, họ Eimeriaidae …
Levine D.L (1925) đã phân loại cầu trùng như sau:
Ngành nguyên sinh động vật Protozoa
Trang 30Từ năm 1875 nhiều loài cầu trùng khác đã được phát hiện trên các loài gia súc, gia cầm khác nhau: Thỏ, ngan, ngỗng, lợn, chó mèo,… Sự ký sinh của cầu trùng gà có tính chất chuyên biệt trên mỗi ký chủ, thậm chí trên các cơ quan, mô bào, tế bào nhất định Vì thế các nhà khoa học đã thống nhất lấy tên chung cầu trùng và thêm vào tên của loại gia súc, gia cầm để gọi tên bệnh như: Cầu trùng
gà, cầu trùng bê nghé, cầu trùng thỏ, cầu trùng lợn
Đối với gà, đến nay trên Thế giới đã xác định có khoảng 12 loài Eimeria Trong đó có 9 loài đã được xác định rõ tên, kích thước, màu sắc: Eimeria tenella, Eimeria acervulina, Eimeria mitis, Eimeria brunetti, Eimeria necatrix, Eimeria maxima, Eimeria praecox, Eimeria hagani, Eimeria mivatti Sau này, một số tác giả khác ở Trung Âu và Liên Xô (cũ) như Yakimoff, Kotlan đã đưa ra một số công bố về 3 loài: Eimeria beachi, Eimeria tyzzeri, Eimeria johnsoni
Tại Ấn Độ, năm 1945 Ray đã tìm thấy một loài cầu trùng ở một ổ dịch tự nhiên trên gà con 4 – 6 tuần tuổi tại bang Mukteswar Loài cầu trùng này chưa được công bố trước đó Ông cho rằng đây là loài không thuộc giống Eimeria và đặt tên cho nó là Nenyolella gallinae, tuy nhiên kết quả này của ông chưa được giới khoa học công nhân
Tại các nước phát triển, ngành chăn nuôi tập trung hơn, xuất hiện ngày càng nhiều những trại gà lớn do đó làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh cầu trùng hơn
Vì thế ngày nay người ta không chỉ tiếp tục tìm loài mới mà còn phải đi sâu vào các khía cạnh như vần đề sinh học phân tử, miễn dịch học bệnh cầu trùng, các hóa dược để phòng và điều trị bệnh, vaccine,….để khống chế được bệnh cầu trùng có hiệu quả
Những năm gần đây Eimeria và bệnh cầu trùng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu cả trên lý thuyết và thực nghiệm Jacque Euzeby (Pháp) trong 25 năm (1965 – 1990) đã nghiên cứu rất nhiều về cầu trùng và để lại nhiều tài liệu khoa học quý giá về cầu trùng.Sau những năm 1990, các nhà khoa học như Eckert, Brawn, Shirley và Coudert đã viết những hướng dẫn nghiên cứu
về cầu trùng và bệnh cầu trùng gà
Singh (1996, 1997) đã nghiên cứu chế tạo vaccine cầu trùng mới bao gồm
E maxima, E.acervulina, E necatrix, E tenella đã được sử dụng thử nghiệm tại Trung Quốc
Những thành tựu khoa học phân tử cũng đang được nghiên cứu để tìm ra các loại vaccine tái tổ hợp trong tương lai
Trang 31Nghiên cứu tính miễn dịch của cầu trùng Tyzzer (1929) cho biết: Miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững với loài cầu trùng phát triển sâu trong mô bào, miễn dịch kém bền vững với loài cầu trùng chỉ phát triển trong lớp biểu bì niêm mạc Đến năm 1962, Rose et al.(1992) đã chứng minh tính miễn dịch đặc hiệu theo loài rất nghiêm ngặt ở Eimeria bằng phương pháp kết tủa
Khả năng đề kháng của cầu trùng đối với hóa chất cũng được một số tác giả tập trung nghiên cứu qua kính hiển vi điện tử cho thấy, lớp ngoài cùng có thể khử bằng dung dịch Sodium hypochlorid 2-3% trong 15 phút, (theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008)
Nhiều tác giả đã chứng minh noãn nang tiếp tục sinh bào tử sau nhiều ngày tiếp xúc với nhiều loại hóa chất, chất sát trùng nhưng lại không có khả năng phát triển trong điều kiện khô và nhiệt độ cao
Nghiên cứu về khả năng đề kháng của cầu trùng với nhiệt độ và ẩm độ Theo Long và cs (1979), Oocyst có thể tồn tại qua mùa đông giá lạnh nhưng không chịu được nhiệt độ cao và ánh nắng chiếu trực tiếp
Cầu trùng sống được ở sân chơi ngoài trời 14 tuần và tồn tại lâu trong đất
ở độ sâu 5 – 7 cm Ở trong đất, Oocyst duy trì sức sống từ 4 – 9 tháng, ở sân chơi râm mát từ 15 – 18 tháng (Horton Smith (1963))
Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008), khi so sánh khả năng đề kháng với nhiệt độ cao của Oocyst trước và sau khi hình thành bào tử, Glullough (1952) thấy nhiệt độ cao chúng có khả năng đề kháng như nhau, bị chết ở 400C sau 96 giờ, ở 450C sau 3 giờ và ở 500C sau 30 phút
Khi Oocyst theo phân ra ngoài môi trường, ẩm độ có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thời gian hình thành bào tử và khả năng tồn tại của Oocyst cầu trùng Goodrich (1994) cho thấy lớp vỏ ngoài cùng đã giữ cho Oocyst không bị thấm chất lỏng nhưng nó lại dễ nứt do điều kiện khô hạn Ellis (1986) cho rằng khi nhiệt độ không thay đổi, Oocyst sẽ bị chết khi ẩm độ giảm; nhiệt độ từ 18 –
400C, ẩm độ 21 – 30% thì Oocyst dễ bị chết sau 4 – 5 ngày Oocyst bị tiêu diệt khi chiếu tia tử ngoại vừa phải (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) Cũng theo Warner (1933), Oocyst tồn tại 18 tuần trong đất mát một phần, 21 tuần trong đất râm mát hoàn toàn Song ánh nắng chiếu trực tiếp tác động gây hại đến Oocyst, nhưng cỏ dại đã bảo vệ chúng tránh tia X (Long và cs., 1979)
Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy bệnh cầu trùng gà đã có từ rất lâu trong chăn nuôi hộ gia đình Theo nhiều tài liệu, đến năm 1970 hầu như các trang
Trang 32trại gà đã phát hiện bệnh cầu trùng và một số trại thì bệnh rất nặng gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi Các nghiên cứu định loài, dịch tễ, bệnh lý và phòng trị,…được thực hiện là cơ sở cho phòng trị bệnh hiệu quả Bệnh cầu trùng gà ở các trang trại nuôi tập trung công nghiệp và đưa ra một số kết quả về tình hình dịch tễ của bệnh cầu trùng gà Dương Thanh Liêm và cs (1982) đã đề cập đến bệnh cầu trùng trong chăn nuôi gà công nghiệp là một trở ngại lớn và đặc biệt là cầu trùng manh tràng ở gà con
Dương Công Thuận (1976) đã đưa ra một số kết quả trong thực nghiệm phòng trị bệnh cầu trùng gà bằng Rigeccoccin Lê Thị Tuyết Minh (1994) đã nghiên cứu về tình hình nhiễm Eimeria và bệnh cầu trùng gà ở một số trại gà tại một số vùng của Hà Nội đã xác định có 4 loài cầu trùng trên gà thịt là: E tenella, E maxima, E mitis, E necatrix Bạch Mạnh Điều (1995) đã kiểm tra
420 mẫu xe cải tiến, quang thúng thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 4,28% Hoàng Thạch và cs (1999) khảo sát 250 mẫu ủng dùng trong khu vực chuồng nuôi thấy tỷ lệ nhiễm là 5,6% và khảo sát 250 mẫu từ dụng cụ dọn vệ sinh chuồng nuôi, tỷ lệ nhiễm là 11,2%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và Trần Thu Nga (2005), tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng có sự khác nhau theo tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi
Gà nuôi trong điều kiện vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm là cao nhất
Lê Minh và cs (2008) cho biết tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở vụ hè thu (53,72%) cao hơn so với vụ đông xuân (48,53%)
Độ ẩm của đất có vai trò quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của Oocyst gây bệnh trong tự nhiên Nghiên cứu về vấn đề này Lê Minh và cs (2008) cho biết: Đất có độ ẩm 10 – 20% thuận lợi nhất cho sự phát triển và tồn tại của Oocyst 100% Oocyst phát triển thành Oocyst gây bệnh trong 5 – 15 ngày, sau đó
có thể tồn tại trong đất đến 75 ngày; đất có độ ẩm 20 đến trên 40% có khả năng lưu giữ sự sống của Oocyst gây bệnh dài nhất là 70 ngày; đất có độ ẩm thấp (dưới 10%) chỉ có 23% Oocyst phát triển thành Oocyst có sức gây bệnh, sau đó chỉ tồn tại tối đa 15 ngày
2.3.2 Các loài cầu trùng gây bệnh ở gà
Có rất nhiều nghiên cứu về các loài cầu trùng gây bệnh trên gia súc, gia cầm khác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu, công bố về loài cầu trùng gây bệnh trên gà và thỏ được đề cập đến nhiều nhất
Trang 33+ Loài E Acervulina (Tyzzer, 1932) ký sinh ở đoạn đầu của ruột non của
gà và gà rừng (Gallus lafayettei) ở Srilanka Oocyst có hình trứng, vỏ nhẵn, kích thước 16,0 - 20,3 x 12,7 - 16,3µm Oocyst có hai lớp vỏ, không có Micropyle, có một hạt cực, không có thể cặn Sporocyst có hình trứng có thể Stieda, không có thể cặn Thời gian hình thành bào trùng là một ngày
E acervulina gây bệnh nhẹ nhưng nếu có nhiều Oocyst có thể gây nên những bệnh tích trầm trọng và gây chết gà Thời gian nung bệnh khoảng 4 ngày
và bệnh tích chủ yếu trên ruột: thành ruột non dày lên và viêm, ít khi xuất huyết Oocyst tạo nên những điểm màu trắng hay xám hoặc lan rộng ở ruột non
+ Loài E brunetti (Johannes, 1996): Phân bố rộng trên gà Quá trình sinh sản sớm nhất xảy ra ở ruột non Các quá trình sinh sản vô tính sau đó như Meront
và giao tử cái xảy ra ở đoạn cuối ruột non, trực tràng, manh tràng và ổ nhớp
Oocyst hình trứng, kích thước 20,7 - 30,3 x 18,1-24,2 µm Lớp vỏ nhẵn không có Micropyle hay thể cặn, có một hạt cực Sporocyst hình trứng dài 13 x 7,5 µm, có thể Stieda và thể cặn Thời gian hình thành bào trùng là 18 – 48h
Mức độ gây bệnh phụ thuộc vào mức độ nhiễm.Gia cầm nhiễm nhẹ ủ rũ, phân lỏng có chứa dịch nhầy và lẫn máu Xuất huyết ở ruột non và phần cuối ruột già Nhiễm nặng, thấy có hiện tượng viêm, hoại tử toàn bộ ống tiêu hóa nhưng thường thấy ở đoạn cuối ruột non, hồi tràng, manh tràng
+ Loài E Hagani (Levine, 1985): Rất ít gặp, Oocyst hình bầu dục, kích thước 15,8 - 29,9 x 14,3 - 29,5µm, lớp vỏ nhẵn, không có lỗ noãn, không màu, có hạt cực Thời gian sản sinh bào tử là 18 - 48 giờ Loài này ký sinh ở phần đầu ruột non, gây bệnh nhẹ và có thời gian nung bệnh từ 6 – 7 ngày
+ Loài E Maxima (Tyzzer, 1932) ký sinh ở phần giữa ruột non, Oocyst hình bầu dục, kích thước 21,4 - 42,5 x 16,5 - 29,8 µm không có lỗ noãn, màu hơi vàng, vỏ hơi xù xì Thời gian sản sinh bào tử 30 - 48 giờ; gây tổn thương ở ruột chủ yếu là xuất huyết
+ Loài E mitis (Tyzzer, 1932): gây bệnh trên gà chủ yếu ở tất cả các đoạn của ruột non nhưng thường thấy ở phần đầu ruột non và phần manh tràng của gà Oocyst có hình hơi tròn, kích thước 11 - 19 x 10 - 17µm không màu, không có lỗ noãn Thời gian sản sinh bào tử từ 18 - 24 giờ
Giai đoạn nội sinh xảy ra ở tế bào nhung mao ruột đôi khi ở tuyến Lieberkihn Meront tạo ra 6 – 24 và hiếm khi tạo ra 30 Sporozoite Merozoite có
Trang 34hình lưỡi liềm, một đầu tù, kích thước 5 x 15µm Quá trình sinh sản vô tính và hữu tính xảy ra song song Thời kỳ nung bệnh kéo dài từ 4 – 5 ngày
+ Loài E mivati (Tyzzer, 1932): Oocyst hình trứng, kích thước 10,7 - 20,0
x 10,1 - 15,3µm có lỗ noãn, không màu Thời gian sản sinh bào tử là 18 - 21 giờ Loài này ký sinh ở tá tràng
Sporocyst phá vỡ vỏ của Oocyst ở diều và dạ dày tuyến Rất nhiều Sporozoite được giải phóng di chuyển tới tá tràng trong vòng 20 phút sau khi ăn, chúng xâm nhập sâu vào biểu mô và tế bào tuyến của đoạn đầu và đoạn thứ 3 của ruột non E mivati gây bệnh nặng hơn E Acervulina
+ Loài E necatrix (Tyzzer, 1932): Phân bố rộng trên thế giới Giai đoạn sinh sản vô tính thứ nhất và thứ hai xảy ra ở ruột non, giai đoạn sinh sản vô tính thứ 3, tiền giao tử và giai đoạn sinh giao tử xảy ra ở ruột già
Oocyst hình bầu dục, kích thước 13 – 20 x 13,1 - 18,3µm, vỏ noãn nang nhẵn không màu, gồm hai lớp vỏ, không có lỗ noãn, có hạt cực Sporocyst hình trứng, có thể Stieda, không có thể cặn Thời gian sản sinh bào tử là 24 - 36 giờ
Bên cạnh E tenella, E necatrix gây bệnh nặng nhất và là một loai quan trọng ở gà Nhiều nơi tác hại do E necatrix gây thiệt hại nhiều hơn E tenella Một số ý kiến cho rằng E necatrix gây bệnh mãn tính hơn E tenella Thực tế hoàn toàn không phải vậy bởi vì E necatrix xâm nhập vào sâu tế bào ruột và thời gian lâu hơn do đó chúng gây bệnh chậm hơn
+ Loài E praecox (Tyzzer, 1932): Thường ở 1/3 phần đầu của ruột non Oocyst hình bầu dục, kích thước 16,6 - 27,7 x 14,8 - 19,4µm, không màu, không có lỗ noãn Thời gian sản sinh bào tử là 24 – 36 giờ Loài này ký sinh ở đoạn đầu ruột non Giai đoạn sinh sản xảy ra ở tế bào biểu mô nhung mao ruột thường dọc theo một phía của nhung mao và ở phía dưới của nhân tế bào, có 3 hoặc 4 quá trình sinh sản vô tính Quá trình thứ hai xảy ra ở 32 giờ sau khi nhiễm Sự phát triển sau đó không tuần từ Hai giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính xảy ra song song
2.3.3 Một số đặc điểm dịch tễ học
Eimeria phân bố rộng khắp các nước trên thế giới Bệnh xảy ra ở tất cả các giống gà nhưng chủ yếu xuất hiện nhiều ở gà nuôi theo hướng công nghiệp hơn là gà nuôi thả
Trang 35Nguồn bệnh:
Đại đa số các tác giả đều cho rằng nguồn bệnh là những gà ốm đã khỏi nhưng vẫn mang cầu trùng, những gà bệnh này không biểu hiện triệu chứng và hàng ngày, hàng giờ thường xuyên bài xuất Oocyst cầu trùng qua phân ra ngoài môi trường Oocyst được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình sản sinh bào tử bắt đầu đều tạo thành các Oocyst có khả năng gây bệnh
Đường truyền lây:
Cầu trùng có thể lây nhiễm trực tiếp và lây nhiễm gián tiếp
+ Lây nhiễm trực tiếp: Gà bệnh thải cầu trùng ra môi trường qua phân, do
đó Oocyst sẽ dễ dàng được phát tán trên khắp nền chuồng, máng ăn, máng uống
và dụng cụ chăn nuôi Gà dễ nuốt phải Oocyst có khả năng gây bệnh
+ Lây nhiễm gián tiếp: Qua vật môi giới trung gian truyền bệnh như các dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy dép, ủng, phương tiện vận chuyển,…
đã mang Oocyst cầu trùng từ bên ngoài khu vực chuồng nuôi vào Ngoài ra các loài côn trùng, các loài gặm nhấm cũng là những nguồn mang Oocyst từ khu vực chăn nuôi khác vào chuồng nuôi
Nghiên cứu về vấn đề này (Kolapxki and Paskin, 1980), loài gặm nhấm, côn trùng cũng làm lây lan bệnh rộng Điều này được Lê Minh (2008) làm sáng
tỏ khi nhóm tác giả này nghiên cứu khả năng mang Oocyst cầu trùng của các động vật có ở xung quanh chuồng nuôi Tất cả các động vật và côn trùng đều có khả năng mang mầm bệnh trong đó ở kiến là 27,27%, ruồi là 22,22% và gián là 16,67% Vì vậy tác giả đã sơ bộ kết luận các loài côn trùng như: Gián, chuột, ruồi, là tác nhân mang Oocyst cầu trùng từ bên ngoài vào
Về sự biến động của bệnh theo mùa vụ, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) đã kết luận: Bệnh cầu trùng gà phân bố không đồng đều qua các tháng trong năm Vào những tháng có khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều, nhiệt độ thích hợp từ
18 – 35C bệnh thường xuất hiện và dễ bùng phát hơn các tháng khác Vì vậy, ở nước ta mùa xuân và mùa hè là hai mùa có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn mùa đông và mùa thu
Tuổi của gà: Là yếu tố cần chú ý trong đặc điểm dịch tễ của bệnh
Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1984) đã nhận xét, bệnh cầu trùng
gà có tính lây lan mạnh, đặc biệt ở gà dưới 2 tháng tuổi, được coi như một bệnh truyền nhiễm của gà con 10 - 49 ngày tuổi Theo (Hồ Thị Thuận, 1985), gà nuôi
Trang 36công nghiệp ở một số tỉnh phía Nam nhiễm cầu trùng chủ yếu ở giai đoạn 3 - 6 tuần tuổi
Điều kiện chuồng trại và vệ sinh thú y
Chuồng trại chăn nuôi là yếu tố quan trọng liên quan đến dịch tễ bệnh cầu trùng gà Nuôi gà trong lồng và nuôi trên nền chuồng có tỷ lệ nhiễm cầu trùng khác nhau
Hoàng Thạch và Phan Địch Lân (1996) đã khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng cho thấy: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng
có đệm lót là trấu nhiễm 22,49 - 57,38% Như vậy, gà nuôi trong lồng không tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cấu trùng giảm rất thấp
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) đã nghiên cứu và cho thấy ở những cơ
sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng 5 – 10%, còn ở những cơ sở chăn nuôi có điều kiện không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm là từ 30 – 69%
2.3.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của gà bị bệnh cầu trùng
Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh cầu trùng thay đổi tùy thuộc vào độ tuổi của gà, loài cầu trùng, số lượng Oocyst có mặt trong từng cá thể gà; thời kỳ nung bệnh từ 4 đến 7 ngày
Triệu chứng bệnh cầu trùng nói chung do tác động phá huỷ niêm mạc đường tiêu hoá của cầu trùng Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1982); Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996); Nguyễn Thị Kim Lan và Nguyễn Văn Quang (1999), gà bị bệnh cầu trùng thường lờ đờ, chậm chạp, ăn kém hoặc bỏ
ăn, lông xù, cánh xã, phân loãng lẫn máu tươi, khát nước, uống nhiều nước, dễ chết do mất nước và mất máu
Đa số các tác giả khi nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của gà bị mắc bệnh cầu trùng ở các lứa tuổi đều thấy: Bệnh thường xảy ra ở thể cấp mãn tính và thể không có triệu chứng lâm sàng
Trang 37lẫn máu, nhiều khi toàn máu tươi Một số gà có triệu chứng thần kinh hoặc liệt chân, cánh
Gà thường chết sau 6 – 7 ngày bị nhiễm bệnh, tỷ lệ chết từ 50% trở lên Tỷ
lệ chết có thể lên đến 90 – 95%, thậm chí toàn bộ số gà nuôi đều bị chết hết nếu không can thiệp kịp thời
+ Thể mãn tính:
Thường thấy ở gà từ 45 – 90 ngày tuổi, các triệu chứng như ở thể cấp tính nhưng mức độ biểu hiện nhẹ hơn, thời gian ốm kéo dài hơn, tỷ lệ chết khoảng 25 – 45%
+ Thể không có triệu chứng lâm sàng:
Theo nhiều tác giả, đây là thể mang trùng của gà đã trưởng thành Gà hoàn toàn khỏe mạnh, ăn uống, đi lại bình thường Triệu chứng lâm sàng duy nhất nhận thấy được là đôi khi gà bị ỉa chảy, tỷ lệ đẻ không đều, năng suất trứng giảm
15 – 25% Khi xét nghiệm phân gà thấy có rất nhiều noãn nang cầu trùng
Các bệnh tích của gà mắc bệnh cầu trùng thường thấy mào, yếm, tích, kết mạc trắng bệch Trường hợp gà bị cầu trùng cấp tính do E tenella hoặc bị ghép với E coli bại huyết chủng O78 có hiện tượng phân nhiều máu tươi xác
gà chết béo
Trường hợp á cấp tính hoặc mạn tính thì xác gà ướt, xung quanh ổ nhớp dình bết phân, gà chết rất gầy và thiếu máu
Gà bị bệnh cầu trùng dù ở thể cấp hay thể mạn tính thì các bệnh tích cũng tập trung chủ yếu ở đường ruột Tổn thương của niêm mạc các đoạn ruột đó khác nhau tùy theo từng loài cầu trùng, độ tuổi của gà và nhiễm cầu trùng Bệnh tích chủ yếu ở ruột non manh tràng và trực tràng
Ruột non: Nhìn từ ngoài có những đốm xuất huyết lấm tấm kéo dài, ruột căng phồng chứa đầy chất không tiêu hóa được Niêm mạc có nhiều nốt xuất huyết và hoại tử, thành ruột dày, mỏng và gồ ghề Khi bị nhiễm kế phát bởi E.coli chủng O78, cả ruột non phình to, chứa nhiều hơi và phân lẫn máu
Manh tràng: Viêm, sung huyết, xuất huyết, phình to, có chưa đầy phân và máu Niêm mạc bị phá hủy làm vách manh tràng mỏng đi nhiều
Trực tràng: Bị tổn thương từng điểm nhỏ, viêm, xuất huyết, nạo chất chứa cho lên phiến kính soi thì có thể thấy E brunetti