Xuất phát từ tình hình dịch bệnh nói trên, việc nắm bắt được các được các đặc điểm dịch tễ học, biết được các quy luật của bệnh dịch tả lợn tại các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa; khảo sá
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyen Tài Năng
2 PGS TS Nguyen Bá Hiên
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Thắng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Thú y đã tạo điều kiện để tôi có thể học tập và thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Cô trong khoa Thú y đã giảng dạy, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu cho tôi Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Tài Năng và PGS.TS Nguyễn Bá Hiên đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo điều kiện cho tôi để tôi
có thể thực hiện nghiên cứu này đạt được kết quả tốt nhất
Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể ban lãnh đạo, cán bộ Chi cục thú tỉnh Thanh Hóa; Trạm thú y Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát và các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp
đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Thắng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Vài nét về lịch sử bệnh dịch tả lợn 3
2.1.1 Trên Thế giới 3
2.1.2 Ở Việt Nam 3
2.2 Dịch tể học bệnh dịch tả lợn 5
2.2.1 Căn bệnh 5
2.2.2 Hình thái cấu trúc của virus DTL 6
2.2.3 Động lực vủa virus dịch tả lợn 7
2.2.4 Loài vật, lứa tuổi và mùa vụ mắc bệnh 9
2.2.5 Đường xâm nhập và lây lan 11
2.2.6 Cơ chế sinh bệnh 11
2.2.7 Triệu chứng bệnh Dịch tả lợn 13
2.2.8 Bệnh tích 15
2.2.9 Các phương pháp chẩn đoán bệnh dịch tả lợn 16
2.2.10 Phòng bệnh 21
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Địa điểm nghiên cứu 26
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3 Đối tượng nghiên cứu 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 26
3.4.1 Điều tra tình hình bệnh dịch tả lợn trên địa bàn 3 huyện miền núi Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát - tỉnh Thanh Hóa 26
3.4.2 Điều tra khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn bằng phản ứng ELISA 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu 26
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.5.2 Phương pháp điều tra dịch tễ học 27
3.5.3 Phương pháp tính toán số liệu 27
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu: 29
3.5.5 Phương pháp chẩn đoán bệnh 29
3.5.6 Phương pháp xét nghiệm 29
Phần 4 Kết quả thảo luận 32
4.1 Tình hình chăn nuôi tại Thanh Hóa 32
4.2 Công tác tiêm phòng bệnh dịch tả lợn tại huyện Quan Sơn, Quan Hoa, Mường Lát từ năm 2014 - 2016 34
4.3 Nghiên cưu môt sô đăc điêm dich tê bênh dich ta lơn tai huyên Quan Sơn, Quan Hoa, Mường Lát tư năm 2014 - 2016 36
4.3.1 Xác định tỷ lệ mắc bệnh 36
4.3.2 Xác định tỷ lệ chết và tỷ lệ tử vong 37
4.3.3 Xác định tỷ lệ mắc DTL so với các bệnh khác ở đàn lợn tại Quan Sơn, Quan Hóa, Mường lát từ năm 2014 – 2016 39
4.3.4 Tình hình bệnh DTL ở lợn các lứa tuổi tại huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát từ năm 2014 – 2016 41
4.3.5 Tình hình bệnh DTL xảy ra ở các tháng trong năm ở huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát tỉnh Thanh Hóa từ năm 2014 – 2016 44
4.3.6 Tình hình bệnh DTL ở các hình thức chăn nuôi khác nhau 47
4.3.7 Tình hình bệnh DTL ở các giống lợn nuôi tại huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát tỉnh Thanh Hóa từ năm 2014 – 2016 49
4.3.8 Nguồn dịch 51
Trang 64.4 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn sau tiêm phòng vắc xin
tại 3 huyện Quan Sơn, Quang Hóa, Mường Lát bằng phản hứng ELISA 52
4.4.1 Kết quả khảo sát kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh lợn giết mổ tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát tỉnh Thanh Hóa 52
4.4.2 Kết quả khảo sát kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh lợn xét theo cơ cấu đàn tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát 53
4.4.3 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch kháng virus DTL sau tiêm phòng vắc xin ở các thời điểm 21, 90 và 180 ngày 55
Phân 5 Kết luận và kiến nghị 58
5.1 Kêt luân 58
5.1.2 Về khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn với vắc xin DTL 58
5.2 Đề nghị 58
Tài liệu tham khảo 59
Phụ lục 62
Một số hình ảnh 62
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Số lượng và sản phẩm chăn nuôi thời điểm 01/10/2016 32 Bảng 4.2 Công tác tiêm phòng bệnh dịch tả lợn tại huyện Quan Sơn, Quan Hóa,
Mường Lát từ năm 2014 – 2016 34 Bảng 4.3 Tình hình bệnh DTL ở huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát từ
năm 2014 - 2016 36 Bảng 4.4 Xác định tỷ lệ chết và tỷ lệ tử vong do bệnh DTL gây ra ở Quan Sơn,
Quan Hóa, Mường Lát từ năm 2014 - 2016 38 Bảng 4.5 So sánh tỷ lệ bệnh DTL với các bệnh khác ở đàn lợn trong các năm từ
2014 – 2016 40 Bảng 4.6 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở lợn các lứa tuổi tại huyện Quan Sơn,
Quan Hóa, Mường Lát từ năm 2014 - 2016 43 Bảng 4.7 Tình hình bệnh DTL xảy ra ở các tháng trong năm, từ năm 2014 –
2016 45 Bảng 4.8 Tình hình bệnh DTL ở các hình thức chăn nuôi khác nhau từ năm
2014 – 2016 48 Bảng 4.9 Tình hình dịch tả lợn ở các giống lợn tại huyện Quan Sơn, Quan Hóa,
Mường Lát tỉnh Thanh Hóa từ năm 2014 - 2016 50 Bảng 4.10 Kết quả kiểm tra kháng thể kháng virut DTL trong huyết thanh của lợn
lấy tại các điểm giết mổ lợn tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát 52 Bảng 4.11 Kết quả khảo sát kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh của
lợn xét theo cơ cấu đàn tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát 54 Bảng 4.12 Kết quả kiểm tra khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn ở các thời điểm
khác nhau sau khi tiêm phòng vacxin 56
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ tiêm phòng DTL các năm 2014-2016 35 Hình 4.2 So sánh tỷ lệ nhiễm DTL của lợn tại huyện Quan Sơn, Quan Hóa,
Mường Lát từ năm 2014 – 2016 37 Hình 4.3 So sánh tỷ lệ chết do bệnh DTL tại huyện Quan Sơn, Quan Hóa,
Mường lát từ năm 2014 - 2016 39 Hình 4.4 So sánh tỷ lệ bệnh DTL với các bệnh khác xảy ra ở đàn lợn năm
2014 tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát 41 Hình 4.5 So sánh tỷ lệ mắc bệnh dịch tả ở lợn các lứa tuổi nuôi tại huyện
Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát 44 Hình 4.6 Tình hình bệnh dịch tả lợn xảy ra ở các tháng trong năm tại 3 huyện
Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát từ năm 2014 - 2016 47 Hình 4.7 So sánh tỷ lệ mắc bệnh DTL ở các giống lợn 51 Hình 4.8 So sánh tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể DTL và tỷ lệ mẫu được
bảo hộ chống virut DTL cường độc của đàn lợn ở tuổi giết thịt 53 Hình 4.9 So sánh tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể và tỷ lệ mẫu được bảo hộ
xét theo cơ cấu đàn lợn 55
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Anh Thắng
Tên luận văn: “ Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn tại tỉnh Thanh Hóa năm 2014 – 2016 “
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định một số tình hình dịch tễ bệnh Dịch tả lợn ở đàn lợn trên địa bàn 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát của tỉnh Thanh Hóa
- Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau khi tiêm phòng vắc xin dịch tả
Phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng số liệu lưu trữ thứ cấp ở Chi cục thú y Thanh Hóa, trạm thú y huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát từ năm 2014 – 2016
- Phiếu trả lời kết quả chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn của Trung tâm chẩn đoán thú
y trung ương được lưu trữ tại Chi cục thú y Thanh Hóa
2 Phương pháp điều tra dịch tễ học
- Chẩn đoán qua triệu chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích
- Làm phản ứng ELISA xác định kháng thể có trong huyết thanh lợn
5 Phương pháp xét nghiệm
Cách thu thập mẫu
- Lấy máu từ tĩnh mạch tai, vịnh tĩnh mạch cổ lợn
- Lượng máu cần cho mỗi mẫu là 5 ml
- Sau khi lấy máu, để nghiêng ống nghiệm một góc 450 ở nhiệt độ phòng trong
Trang 112h, chắt huyết thanh sang ống nghiệm khác đã vô trùng; huyết thanh chưa sử dụng ngay thì bảo quản ở 1 - 40C
- Bệnh DTL xảy ra tập trung vào mùa hanh khô, nhiệt độ thấp Mùa dịch bắt đầu
từ tháng 11 năm trước kéo dài đến hết tháng 3 năm sau
- Bệnh DTL xảy ra chủ yếu ở hình thức chăn nuôi nông hộ Tỷ lệ lợn bị bệnh trung bình là: Nông hộ: 0,84%; Gia trại: 0,01%
- Các giống lợn đều có khả năng bị bệnh dịch tả Lợn bản địa và lợn rừng có sức
đề kháng tốt hơn so với lợn lai
2 Về khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn với vắc xin DTL
- Tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính là: 30,08%, tỷ lệ mẫu bảo hộ là: 19,1%
- Tỷ lệ mẫu dương tính và tỷ lệ đạt mức bảo hộ ở lợn đực giống khá cao: 85,7% và 57,1%; ở lợn nái là: 66,6% và 46,6%; ở lợn trên 2 tháng tuổi rất thấp: 47,5% và 22,5%
- Sau khi tiêm vắc xin 21 ngày, tỷ lệ lợn có kháng thể 85% và tỷ lệ mẫu đạt mức bảo hộ 72,5% Ở 90 ngày tương ứng là 78,95% và đạt mức bảo hộ là 71,05% Ở 180 ngày: 42,8% và tỷ lệ mẫu đạt mức bảo hộ là 36,76%
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Anh Thang
Thesis title: “Research on some epidemiological characteristics of Hog Cholera in Thanh Hoa province from 2014 to 2016”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
- Identifying some epidemiological situation of Hog Cholera on some herds in three districts of Thanh Hoa province as: Quan Son, Quan Hoa, Muong Lat
- Investigating ability of immune response on pigs after vaccinating with swine fever virus vaccines
Materials and Methods:
3 Method of data calculation
- The collected data is analysed by Microsoft Excel 2010 software and
4 Method of diagnosis
- Diagnosis by clinical symptoms, examination by pig operating
- Using ELISA test to determine antibody level in pig serum
5 Method of testing
- Taking sample from venous system of pig’s ears and neck
- 5 ml for each sample
- After taking the blood sample, tilting the test tube at 450 at room temperature
Trang 13for 2 hours, then purging the serum to another sterile tube; unused serum should be stored at 1 - 40C
Analysis:
Using ELISA test to determine the antibody level in pig’s serum
Main findings and conclusions:
From the results of research on some epidemiological characteristics of pig cholera in Thanh Hoa province from 2014 to 2016, we have some conclusions as follows:
1 Epidemic of pig cholera in Thanh Hoa province from 2014 to 2016:
- The average rate of infection with swine fever virus was 0.83% The average rate
of die was 0,61% and the rate of death was 90,80% of all infectious pigs with cholera
- Of all infectious pigs with cholera, pigs from 2-4 months were infected with the highest rate of 59,39%; suckling pigs 22,10%; pigs that older than 4 months 13,6%; Sows 3,82%; The lowest rate was boars 1,10%
- Cholera occurs in dry season, low temperature The disease starts from november last year to the end of march next year
- Cholera occurs mainly in household farms The average rate of infectious farms was: households 0,84%; household Farms 0,01%
- All breeds of pig are susceptible to cholera Indigenous pigs and wild pigs have better resistance than hybrid pigs
2 The immune response of pigs to vaccines for prevention cholera:
- The rate of positive samples was 30,08%; the rate of protected samples was 19,1%
- The rate of positive and protected samples in boars were quite high: 85,7% and 57,1%; in sows: 66,6% and 46,6%; in pigs over 2 months of age very low: 47,5% and 22,5%
- After vaccination for 21 days, the rate of positive pigs with antibodies was 85% and the rate of protected samples was 72,5% At 90 days, this rate respectively was 78,95% and 71,05% At 180 days was 42,8% and 36,76%
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Thanh Hóa ngày càng phát triển và góp phần lớn vào việc tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương Thanh Hóa là địa phương có tổng đàn lợn lớn thứ 2 vùng Bắc Trung Bộ (tính đến tháng 10 năm 2016 đàn lợn của Thanh Hóa có tổng số 945.034 nghìn con) Trong tổng đàn lợn, khu vực miền Núi (11 huyện) có 292.999 con, chiếm 30,9%; đồng bằng 309.405 con chiếm 32,7%, miền biển 342.900 con, chiếm 36,3% (Cục Thống kê Thanh Hóa, 2016)
Tuy nhiên, sự hiện diện của một số dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra gây tổn thất đáng kể cho ngành chăn nuôi của tỉnh Một trong những bệnh dịch nguy hiểm kể đến là bệnh Dịch tả lợn Bệnh dịch tả lợn (DTL) là bệnh truyền nhiễm của loài lợn, bệnh xảy ra quanh năm và cảm nhiễm trên mọi lứa tuổi của lợn, ở thể cấp tính bệnh gây chết nhiều lợn với tỷ lệ tử vong cao 90 – 100%, ở những thể khác tỷ lệ tử vong thấp hơn nhưng khiến lợn sụt cân, gầy mòn, làm giảm năng xuất chăn nuôi và ảnh hưởng đến chất lượng thịt
Theo thống kê của Chi cục thú y, hằng năm xảy ra nhiều ổ dịch lớn nhỏ khác nhau làm chết rất nhiều lợn của tỉnh Cụ thể 2 năm gần nhất, năm 2014 dịch xảy ra ở xã Phú Nhuận huyện Quan Hóa làm hơn 226 con lợn chết Năm 2016 dịch lại tiếp tục xảy ra tại các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Hậu Lộc, Nga Sơn làm gần 500 con lợn chết
Xuất phát từ tình hình dịch bệnh nói trên, việc nắm bắt được các được các đặc điểm dịch tễ học, biết được các quy luật của bệnh dịch tả lợn tại các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa; khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau tiêm phòng sẽ giúp địa phương đề ra các biện pháp phòng chống bệnh dịch tả lợn một cách hiệu quả hơn Được sự nhất trí của Khoa Thú y, thầy giáo hướng dẫn, Chi cục thú y tỉnh Thanh Hóa chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn tại tỉnh Thanh Hóa năm 2014 – 2016 ”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định một số tình hình dịch tễ bệnh Dịch tả lợn ở đàn lợn trên địa bàn
3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát của tỉnh Thanh Hóa
Trang 15- Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau khi tiêm phòng vắc xin dịch tả.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tiến hành nghiên cứu tình hình dịch tễ bệnh Dịch tả lợn trên địa bàn huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát của tỉnh Thanh Hóa từ năm 2014 – 2016 1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Sử dụng các phương pháp dịch tễ học để nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh Dịch tả lợn ở đàn lợn tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát của tỉnh Thành Hóa
- Sử dụng một số phương pháp chẩn đoán để xác định diễn biến của bệnh Dịch tả lợn và hiệu quả của công tác tiêm phòng
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo Fuchs (1968), bệnh dịch tả lợn lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh vào năm 1862 rồi lây sang các nước Châu Âu khác Bệnh xảy ra ở Nam Mỹ năm
1899 và ở Nam Phi năm 1990, các nhà khoa học Mỹ cho rằng bệnh có nguồn gốc
từ Châu Âu, sau đó lan truyền đi khắp thế giới
Hiện nay bệnh vẫn còn tồn tại nhiều nước trên thế giới, bệnh DTL có tính chất phân bố toàn cầu (Edwards, 1998) cho rằng bệnh xảy ra ở tất cả các lục địa hay tất cả các nước chăn nuôi lợn Theo OIE (1998), năm 1984 ở Mêhyco có 179 ổ dịch, Malaysia có 5 ổ dịch, Hàn Quốc có 45 ổ dịch Năm 1997 dịch tả lợn xuất hiện ở Italia, Tây Ban Nha và Bỉ đều có nguồn gốc từ Hà Lan (Mesplede et al., 1999)
Theo thống kê của tổ chức Thú y thế giới (OIE), bệnh dịch tả đã được khống chế và an toàn dịch bệnh ở phần lớn các nước Châu Âu Các nước đã thanh toán được bênh này là Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Anh, Ai xơ len, Ai len, Niu
Di Lân, Bồ Đào Nha, các nước vùng Scandinavia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Mĩ
Ở Mĩ năm 1962, một chương trình thanh toán bệnh DTL toàn liên bang đã được khởi động và đến năm 1976 đã thanh toán được DTL Tổng chi phí thanh toán bệnh DTL lên tới 140 triệu USD
2.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh DTL được phát hiện vào các năm 1923 - 1924 bởi Houdenner Cho đến nay bệnh vẫn còn tồn tại và luôn uy hiếp nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi trong nước
Năm 1960, bệnh DTL xảy ra ở các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ do việc vận
Trang 17chuyển lợn bệnh từ tỉnh ngoài vào Năm 1968 có tới 481 ổ dịch (Lê Độ, 1980)
Năm 1973, bệnh DTL xảy ra ở 11 trại lợn xung quanh thành phố Hồ Chí Minh Năm 1974 dịch xảy ra ở 17 tỉnh phía Bắc, làm thiệt hại trên 4 vạn lợn, 15 tỉnh Nam bộ có dịch, gây chết 145.078 con lợn (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989); năm 1983 dịch xảy ra ở Hải Hưng Trong những năm 1972-1973 dịch kéo dài ở Nghệ An, Hà Tĩnh do nhân dân mua lợn bệnh về trong dịp ăn tết
cổ truyền làm lây lan dịch bệnh Tại các tỉnh Trung bộ dịch xảy ra mạnh vào những năm 1976 - 1978; năm 1976 có 17 ổ dịch, 1977 có 36 ổ dịch, năm 1978 có
18 ổ dịch (Báo cáo dịch tễ tháng 11/1978 của Cục Thú y)
Từ những năm 1980, do việc tiêm phòng đã triển khai đồng bộ nên các ổ dịch lớn không xảy ra, nhưng bệnh vẫn tồn tại và diễn biến ngày càng phức tạp, có nhiều thay đổi về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích cũng như về độ tuổi mẫn cảm
Nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, Đào Trọng Đạt và Trần Tố Liên (1989), cho rằng, triệu chứng, bệnh tích của bệnh DTL ở lợn các lứa tuổi khác nhau và những biến đổi phức tạp, bệnh diễn ra ở thể mạn tính, không điển hình do các chủng virus bị giảm độc lực thường xảy ra đối với lợn nái chưa tiêm phòng, lợn con theo mẹ và gây chết nhiều nhất là lợn con
Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984); Nguyễn Xuân Bính (1998) đều cho rằng bệnh DTL xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn là ở lợn con theo mẹ và lợn con mới cai sữa Nguyễn Tiến Dũng và cs (1997) nghiên cứu
về khả năng thải virus cường độc ở lợn được tiêm vắc xin, cho thấy những lợn đã tiêm vắc xin DTL trước hoặc sau khi có khả năng miễn kháng chống sự xâm nhập của virus cường độc, phát bệnh hay không phát bệnh đều có hiện tượng thải virus cường độc sau khi bị nhiễm và gây bệnh qua tiếp xúc cho những lợn chưa
có miễn dịch cùng nhốt chung
Đào Trọng Đạt và cs (1988) nghiên cứu về miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng miễn dịch của lợn con chống virus DTL đã đi đến khuyến cáo nên tiêm phòng cho lợn con ở 40 - 50 ngày tuổi và lợn nái tiêm phòng trước khi phối giống
Theo báo cáo tháng 10/2006 của Cơ quan thú y vùng IV, tại các tỉnh Nam Trung bộ và Tây nguyên: tháng 5/2005 ở Khánh Hòa với 24 xã của 2 huyện có dịch, số lợn bị hủy là 161 con Tháng 10/2006 ở Quảng Ngãi có 16 xã có dịch, số lợn bị chết 169 con Tại Quảng Nam có 5 xã có dịch, số lợn chết 277 con Gia
Trang 18Lai có 6 xã có dịch, số lợn chết là 521 con Tại báo cáo số 01/TTV-BC ngày 15/01/2007 và Báo cáo số 11/TYV-BC, ngày 15/02/2007 của cơ quan Thú y vùng IV: Tại Quảng Ngãi và Bình Định có 20 xã có dịch, số lợn chết là 196 con Theo báo cáo số 234/BC - CTY, ngày 31/12/1997 của Cục Thú y, trong tháng 12/1997 toàn quốc có 56 xã của 31 tỉnh có dịch, với 3088 con lợn bị tiêu hủy; tháng 2 và tháng 7/1998 có 2512 con bị bệnh và gần đây là tháng 5/2005 có
123 xã của 46 huyện thuộc 17 tỉnh có dịch Tại báo cáo số 1860/TY-DT, ngày 25/12/2006 của Cục Thú y toàn quốc có 16 huyện của 8 tỉnh có DTL, với 36 ổ dịch, số lợn chết trong các ổ dịch này là 1518 con
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Duyên và cs (2000)cho thấy tỷ lệ nhiễm DTL mạn tính tại các tỉnh Duyên Hải Miền Trung là 46,87% Trong đó lợn dưới 20kg chiếm 60%, lợn từ 21 – 50 kg chiếm 38,29%
Kết quả xét nghiệm ELISA bằng kháng thể đơn dòng để phát hiện kháng nguyên P125 được ghi nhận từ Trung tâm Thú y vùng Cần Thơ (1999 – 2000), cho biết ở những đàn lợn khỏe mạnh tỷ lệ lợn có mang mầm bệnh biến động từ 0 – 4,17% Điều này cho thấy lợn hoàn toàn khỏe mạnh nhưng mang trùng cũng là nguyên nhân của những vụ dịch (Nguyễn Tiến Dũng, 2002)
Đến nay nhiều nghiên cứu trong nước cho nhận xét rằng do công tác tiêm phòng vacxin phòng bệnh DTL và áp dụng một số biện pháp phòng bệnh tốt nên đến nay bệnh DTL không gây chết hàng loạt như trước kia mà chỉ xảy ra âm ỉ, lẻ
tẻ, triệu chứng bệnh tích không điển hình, số ổ dịch giảm một nửa, số con chết giảm 3 lần và chủ yếu tập trung ở lợn con (Bùi Quang Anh và Nguyễn Xuân Thủy, 1999)
2.2 DỊCH TỂ HỌC BỆNH DỊCH TẢ LỢN
2.2.1 Căn bệnh
Năm 1885 Salmon và Smith cho rằng bệnh gây ra bởi một loại vi khuẩn
mà hai ông đặt tên là Bacillus cholerae suis (tức Salmonella suis) Nhưng đến năm 1903, Schweinitz và Dorset đã xác định được tác nhân gây bệnh DTL là một loại virus còn vi khuẩn Bacillus cholerae suis chỉ đóng vai phụ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) Năm 1947 Holmes đặt tên cho virus gây bệnh DTL là Tortor suis
Từ đó việc xếp loại virus này có nhiều ý kiến khác nhau Những nghiên cứu gần đây đã xác định virus gây bệnh DTL là thành viên của họ Togavirideae, giống Pestivirus cùng với virus gây bệnh tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus -
Trang 19BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus) Nhưng khi nghiên cứu về cấu trúc phân tử của Pestivirus cho thấy bộ gen của chúng (genome) tương ứng với virus thuộc họ Flaviridae (Nguyễn Văn Ty, 1975) Nên giống Pestivirus được xếp vào họ Flaviridae
2.2.2 Hình thái cấu trúc của virus DTL
Virus DTL thuộc loại ARN virus, một sợi đơn, có vỏ bọc là lipoprotein Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, virus có dạng cấu trúc hình cầu với nucleocapside đối xứng hình khối bao bọc bởi lớp màng ngoài Virion là đơn vị đặc hiệu của virus, có đường kính 40 - 50 nm (nanomet), đường kính của một khối nucleocapside là 29 nm, là lớp vỏ bao bọc sợi ARN của virus, có những gai lồi 6 - 8 nm tập trung trên bề mặt của virus Bộ gene của virus là một chuỗi đơn ARN, có độ dài 12 KB (Moormann and Hulot, 1998) Virus có 2 glycoprotein E55 và E46 KD ở trên bề mặt và 1 nucleocapside protein 36 KD (Enzmann and Weiland, 1978) Hệ số sa lắng là 140s - 180s Hạt virus gây nhiễm gồm 3 thành phần chính sau đây:
Nhân (core): nhân là một sợi đơn ARN nằm ở giữa hạt virus, nên virus chủ yếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ Theo Moening (1988), nhân vừa là yếu tố di truyền, vừa là yếu tố sinh sản của virus Theo Moorrman and Hulot (1998), bộ gene virus DTL là một chuỗi AND sợi đơn dài khoảng 12 kilobases (KB), có trình tự sắp xếp giống nhau giữa gene của virus DTL và virus gây tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus)
Vỏ protein (Nuleocapside): theo Van Oirchot (1992), vỏ protein mang những thành phần bên ngoài có độ dày 29 nm, trên bề mặt có những gai lồi 6 - 8
nm là thành phần có tính chất bảo vệ virus Theo Enzmann and Weiland (1978), lớp nucleocapside của virus bao gồm 2 glycoprotein có trọng lượng phân tử là 55
KD (Kilodanton) và 46 KD cùng với một lớp 36 KD Các protein này được đặt tên là Protein E1 (GP55), Protein E2 (GP46) và protein C (G36) Bằng phương pháp đánh dấu các phân tử, các tác giả đã nhận thấy E1 và E2 là những Glycoprotein nằm trên bề mặt của virus, E2 tạo nên các gai của virus Protein E1
chứa đựng các kháng nguyên chính của virus DTL Trong tế bào bị nhiễm, E1
luôn được liên kết với một lycopeptide khoảng 47 KD (Mesplede et al., 1999) Những nghiên cứu gần đây cho thấy lớp vỏ protein gồm 4 thành phần: GP55,
Trang 20GP48, GP44 và GP33 cùng một số các protein nhân 36KD, 23KD và 14KD (Taylor D, 1995) Bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ kết tủa, (Stark et al., 1990)
đã nhận thấy GP48 và GP44 có chung một trục Protein thông thường Cả 3 dạng này đều nằm ở dạng nhị trùng có cầu nối Disulfide trong virus ở tế bào bị nhiễm Theo Thiel (1991), những sự tương tác đồng hóa trị phức tạp như vậy giữa những Glycoprotein cấu trúc đến nay chưa được mô tả ở bất kỳ một ARN virus nào
Thứ tự các Glycoprotein trên bộ gene của virus DTL được sắp xếp như sau: NH2 - GP44/GP48 - GP33 - GP55 - COOH
Màng ngoài (Envelop): Theo Moenning (1988), là một lớp lypoprotein 2.2.3 Độc lực vủa virus dịch tả lợn
Năm 1939, Geiger đã kết luận rằng không có sự khác nhau cơ bản nào về tính kháng nguyên để sắp xếp các chủng virus DTL vào nhiều type virus khác nhau (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Nhưng từ những năm 1950, một số tác giả đã phát hiện được hiện tượng biến chủng của virus DTL và cũng nhận thấy độc lực của virus biến chủng thường thấp hơn độc lực của virus ban đầu
Theo Van Oirchot (1998), các chủng virus DTL được phân chia làm 2 nhóm: Nhóm 1:Gồm các chủng virus cường độc Alfort, chủng C, chủng Thiverval Nhóm 2: Gồm các chủng 331 và nhiều chủng khác phân lập được từ những lợn bị bệnh
Mới đây nghiên cứu về dịch tễ học phân tử cho thấy virus dịch tả lợn có 3 nhóm chính
Nhóm 1: Hầu hết là các chủng phân lập từ trước thập kỷ 70 ở Mỹ và châu Âu
Nhóm 2: Hầu hết là các chủng mới phân lập gần đây ở châu Âu và châu Á Nhóm 3: Chỉ có ở châu Á, ngoại trừ một chủng phân lập ở Anh năm 1966
Ở châu Á, nhóm 1 vẫn đang còn tồn tại, nhóm 2 đang trở thành nhóm gây bệnh chính
Ở Việt Nam, nhóm 1 tồn tại đến năm 1991, bệnh dịch tả lợn hiện nay do nhóm 2 gây ra cả Miền Bắc và Miền Nam
Theo Dunn (2000), độc lực của virus thường không ổn định, việc tăng cường độc lực có thể được tiến hành sau một hoặc nhiều lần tiêm truyền qua lợn
Trang 21Ngày nay, người ta đã sử dụng các phương pháp làm giảm độc lực của virus và thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vacxin như virus DTL chủng C, chủng IFFA, chủng GPE(-), chủng Thiverval
Trước đây người ta cho rằng kháng nguyên virus DTL đồng nhất, nhưng
áp dụng kĩ thuật kháng thể đơn dòng (MCAS) có thể phân biệt virus DTL thành một số nhóm kháng nguyên Độc lực của các chủng gây bệnh thay đổi rất lớn Các chủng độc lực cao gây bệnh thể cấp tính, tỉ lệ chết cao, trong khi đó các chủng có độc lực trung bình thường gây các nhiễm trùng á cấp tính và mãn tính Các chủng virus độc lực yếu chỉ gây bệnh nhẹ, tuy nhiên có thể gây chết thai lợn
và lợn con mới sinh Tùy thuộc vào độc lực của chủng virus gây bệnh mà tỷ lệ chết có thể từ 0 - 100%
Virus DTL có quan hệ với virus gây bệnh ỉa chảy ở bò (Bovine viral diarrhea virus - BVDV) về mặt cấu trúc kháng nguyên Virus BVDV lây nhiễm cho trâu, bò, gia súc nhai lại nhỏ và lợn Các lây nhiễm bẩm sinh với virus BDV (Border disease virus) gây nên bệnh Border ở cừu, dê và virus phân lập được từ hai loại này thường được gọi là virus Border (Terpstra, 1991)
thể động vật
+Nồng độ virus trong máu cao, thời gian tồn tại khá dài Thường nhiễm vào tế bào biểu
mô, tế bào lưới, đại thực bào trong hạch Amidan
+Thường giới hạn ở các tế bào biểu mô mạch quản
Trang 22Virus DTL phản ứng chéo với virus BVDV trong phản ứng miễn dịch khuếch tán và phản ứng miễn dịch huỳng quang, thậm chí virus DTL và BVDV ở một mức độ nhất định có thể hấp thụ kháng thể trung hòa của các loài virus pha tạp Các thí nghiệm giải độc chéo cho thấy rằng các chủng virus DTL có dạng là một nhóm pha tạp Trong khi đó các chủng virus BVD hình thành những nhóm đặc tính huyết thanh rõ ràng, khác hẳn với virus DTL
2.2.4 Loài vật, lứa tuổi và mùa vụ mắc bệnh
2.2.4.1 Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên chỉ có loài lợn mắc bệnh DTL, kể cả lợn nhà và lợn rừng Các giống, các lứa tuổi đều mắc nhưng cảm nhiễm nhất là lợn con theo mẹ và lợn mới cai sữa Lợn nái mắc bệnh thì con của nó cũng bị bệnh Lợn rừng cũng cảm thụ như lợn nhà, một số ổ dịch ở miền núi phía Bắc (Lào Cai, Cao Bằng) người
ta thấy bệnh lây từ lợn nhà sang lợn rừng Ngược lại có nơi thấy lợn rừng bị bệnh rồi lây sang lợn nhà Các loài động vật khác và người không mắc bệnh này (Nguyễn Lương, 1997)
Trong phòng thí nghiệm, nhiều tác giả đã gây bệnh cho chuột lang, chuột nhắt gà, ngựa, trâu vv nhưng không thành công Năm 1965, Biro đã tìm cách thích ứng virus qua thỏ cho cừu Năm 1941, Tenbroeck đã cho kết quả nuôi cấy thành công virus DTL trong môi trường tế bào dịch hoàn lợn trong dung dịch Tyrode Năm 1950, Coroel và Albis thực hiện tiêm truyền virus DTL vào phôi trứng vịt và đã thích ứng được virus DTL trên phôi trứng vịt Sau đời thứ 8 qua phôi vịt, virus đã mất độc lực với lợn nhưng không gây được miễn dịch cho lợn Giống lợn khác nhau mẫn cảm khác nhau Lợn ngoại ít mắc chủ yếu là lợn đực giống ngoại, số lượng ít đo được chăm sóc và tiêm phòng tốt Lợn lai tỷ lệ mắc thấp, hầu hết được nuôi theo hướng công nghiệp ở quy mô trang trại, gia trại Lợn nội tỷ lệ mắc bệnh cao, phụ thuộc vào quy mô, tập quán chăn nuôi ở các địa phương
Trang 23Do việc tiêm phòng vacxin đã được thực hiện nên theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989) thì tuổi mắc bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng và tình trạng miễn dịch của đàn lợn Điều này khác với tính chất lây lan mạnh ở mọi lứa tuổi và tỷ lệ chết 100% trong các ổ dịch của nhiều năm trước đây Tuy nhiên ở diện hẹp, nếu công tác tiêm phòng thực hiện không tốt như ở các huyện miền núi vùng Bắc Trung Bộ nên bệnh DTL vẫn xảy ra và làm chết lợn ở mọi lứa tuổi (Báo cáo dịch tễ của Trung tâm Thú y vùng Vinh 1998)
Theo Bùi Quang Anh (2001), DTL lợn xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn ở lợn
từ 2-6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc DTL cao nhất trong tổng số lợn mắc bệnh
Có thể nói thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh DTL phụ thuộc vào tỷ lệ tiêm phòng và mức độ kháng thể trong cơ thể lợn đã được tiêm phòng, thời điểm tiêm vacxin có kích thích sản sinh miễn dịch chủ động hay làm ức chế miễn dịch thụ động Như vậy ở những vùng có tỷ lệ tiêm phòng quá thấp hoặc không tiêm phòng lợn ở các lứa tuổi đều mẫn cảm, dịch vẫn có thể xảy ra gây
tỷ lệ chết cao
2.2.4.3 Mùa vụ mắc bệnh
Ở nước ta DTL phát ra quanh năm, tuy nhiên do ảnh hưởng của thời tiết
và biến động của đàn lợn trong năm nên tình hình bệnh có lúc tăng lúc giảm (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989) Tình hình DTL ở các tỉnh miền Bắc
từ năm 1960-1980 cho thấy các ổ dịch xảy ra từ tháng 11, tháng 12 năm trước đến tháng 1, tháng 2 của năm sau chiếm tới 80% số ổ dịch trong năm, các tháng còn lại chỉ chiếm khoảng 20% (Lê Độ, 1980) Nguyên nhân là trong vụ Đông Xuân do ảnh hưởng của bão lụt và khí hậu thời tiết nên các loại thức ăn bị thiếu cộng với hiện tượng thu gom lợn với số lượng lớn đê giết thịt trong dịp tết cổ truyền kết quả là dịch xảy ra nhiều trong thời gian này
Tình hình dịch còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tiêm phòng, lợn lớn đã được miễn dịch bị giết đi, lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ lợn mẫn cảm trong đàn tăng lên Việc tiêm phòng theo mùa vụ
và tiêm phòng bổ sung thường xuyên góp phần ổn định và hạn chế được dịch bệnh rất nhiều
Theo thống kê của Cục thú y, những năm gần đây dịch xảy ra hầu hết ở các tháng trong năm nhưng vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa các tháng của vụ Đông - Xuân và Hè - Thu
Trang 242.2.5 Đường xâm nhập và lây lan
Virus DTL xâm nhập vào cơ thể theo nhiều con đường khác nhau Qua đường hô hấp và tiêu hóa, qua mũi - hầu, niêm mạc hầu, ruột non, tuyến hạch nhân Virus xâm nhập theo con đường niêm mạc mắt, mũi, miêm mạc đường sinh dục, qua nhau thai (Bùi Quang Anh , 2001), virus có thể thâm nhập vào cơ thể qua da bị tổn thương do sây sát, do thiến hoạn,
Trong điều kiện tự nhiên virus xâm nhập vào cơ thể lợn thông qua con đường mũi - miệng (oronsal route) đôi khi xâm nhập vào vật chủ qua niêm mạc, dịch nhầy sinh dục hoặc vết trầy da Không phải tất cả các chủng virus đều truyền lây như nhau mà còn phụ thuộc vào độc lực của các chủng Chủng độc lực cao thường lây truyền nhanh hơn chủng độc lực thấp, do sự phát triển nhanh trong cơ thể và bài thải lượng lớn mầm bệnh ra bên ngoài cơ thể Những con đường lây truyền chủ yếu là:
Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh và con khỏe, nhất là mật độ chuồng nuôi cao và điều kiện vệ sinh kém
Truyền lây gián tiếp qua nước tiểu, đất và nước, thức ăn có nhiễm mầm bệnh, thức ăn dư thừa, thú sản, các dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, người chăn nuôi, phương tiện chuyên chở,…
Truyền lây qua động vật trung gian mang trùng như chuột, thú ăn thịt, chim, côn trùng hút máu,…
2.42.6 Cơ chế sinh bệnh
Virus khi xâm nhập vào cơ thể lợn gây bệnh đặc trưng qua các giai đoạn sau: giai đoạn nhiễm virus ở hạch, giai đoạn nhiễm virus ở máu và giai đoạn nhiễm virus ở phủ tạng
Khi xâm nhập vào cơ thể chúng nhanh chóng vào các tế bào thượng bì hạch lâm ba, hạch amidan, sau đó virus xâm nhập vào lớp mô lympho dưới và phát tán vào các hạch lympho vùng Tại đây virus tiếp tục tăng sinh và tạo ra một số lượng lớn nhất là ở các hạch dưới đường tiêu hóa, hạch lâm ba nội tạng, tủy xương, dẫn đến nồng độ virus trong máu cao Khi nồng độ virus trong máu cao thì đồng thời cơ thể lợn có phản ứng sốt cao 41 - 42oC (Trần Đình Từ, 1998) Từ trong máu, virus DTL xâm nhập vào các cơ quan chức năng như đường hô hấp từ đó gây ra rối loạn hô hấp và cản trở tuần hoàn
Trang 25Khi virus tác động lên hệ thống thần kinh trung ương gây ra hiện tượng co giật, bại liệt hai chân sau hoặc bại liệt nửa thân
Khi virus xâm nhập vào hệ thống lưới nội bì của thành mạch quản làm cho mạch quản xung huyết sưng to, mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số
bị tắc nghẽn dẫn đến những bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả lợn như là xuất huyết lấm tấm, nhồi huyết (lách),…(Bùi Quang Anh, 2001)
Trong một số trường hợp virus làm thành mụn loét ở ruột già sau khi gây hoại tử ở những nang lâm ba và làm đông sợi tơ huyết Những mụn loét xuất hiện dày, hình tròn, hình núm, hình cúc áo, trên mặt có những sợi huyết vẽ những vòng tròn đồng tâm
Ở những lợn nái mang thai có mắc bệnh, virus có thể lây qua tất cả các giai đoạn phát triển của bào thai Virus ở hạch lâm ba phân tán theo đường mạch quản qua hàng rào nhau thai, phát triển ở một hoặc vài nơi dọc theo nhau thai và cuối cùng virus lan truyền từ bào thai này tới bào thai (Bùi Quang Anh, 2001)
Sự phân bố của virus trong bào thai cũng giống như trong cơ thể lợn trưởng thành bị nhiễm bệnh DTL Đối với chủng virus có độc lực trung bình thì sự nhân lên của virus trong tế bào lại thấp hơn Còn những chủng virus có độc lực thấp khi gây bệnh người ta thấy chúng có thể xuất hiện trong máu hoặc không, thường các chủng này thường giới hạn ở các tế bào biểu mô quanh mạch
Tại các cơ quan nhiễm virus có sự đáp ứng miễn dịch tế bào thông qua hiện tượng thực bào của các tế bào đại thực bào, virus được giữ lại và phát triển tại các tế bào bạch cầu từ đó làm giảm số lượng bạch cầu, sau đó di hành trong máu, virus DTL dẫn đến chứng virus huyết (viremia)
Virus có thể tồn tại trong các đại thực bào, trốn tránh kháng thể và gây
sự cảm nhiễm dai dẵng
Một trong trường hợp đặc biệt ở lợn nái là cảm nhiễm trong tử cung
Sự cảm nhiễm này không gây chết phôi nhưng dẫn đến sự tự miễn dịch Có trường hợp huyết nhiễm virus dai dẵng, kéo dài và dung nạp miễn dịch (immunological tolerce) và thường xuyên bài thải virus
Sự suy giảm miễn dịch do virus DTL trong máu tạo thuận lợi cho sự
kế nhiễm các loại vi sinh vật khác, lúc này khả năng đáp ứng miễn dịch giảm vì các tế bào lympho T và B đã bị phá hủy do các tác động của virus Những vi khuẩn kế phát thường gặp là Salmonella cholera suis, Pasteurella mutocida
Trang 262.42.7 Triệu chứng bệnh Dịch tả lợn
Thể bệnh của bệnh DTL ngày nay có nhiều thay đổi, tùy thuộc vào lứa tuổi lợn, phương thức chăn nuôi, chủng virus, thời điểm nhiễm bệnh,…nhưng các thể bệnh chủ yếu thường gặp là: thể quá cấp, thể cấp tính, thể mãn tính và thể tiềm
ẩn (không điển hình)
2.2.7.1 Thể quá cấp
Lợn không có triệu chứng ban đầu, bệnh xuất hiện đột ngột, sốt cao kết hợp với trạng thái thương hàn Lợn bệnh tử vong trong vòng 24 - 48 giờ, con vật chưa kịp xuất hiện triệu chứng ỉa chảy Thể này còn gọi là thể bệnh DTL khô 2.2.7.2 Thể cấp tính
Thời gian nung bệnh từ 3 - 4 ngày ở thể này, lợn bệnh có triệu chứng điển hình là sốt cao từ 41 - 420C, kéo dài 3 - 5 ngày Con vật uể oải, mệt mỏi, ít vận động, kém ăn hoặc bỏ ăn Từ khi nhiễm bệnh đến 24 - 48 giờ thì mắt lợn sưng húp, viêm kết mạc, mắt chảy rỉ
Xuất huyết ngoài da cũng có thể xuất hiện cùng lúc với giai đoạn nhiệt độ tăng cao Các triệu chứng ngoài da như điểm xuất huyết điển hình màu đỏ (bằng đầu đinh ghim) hoặc có khi tạo thành mảng đỏ lớn ở vùng da mỏng chân, bụng, bên trong đùi, da gốc tai,…thường ở giai đoạn cuối của bệnh
Con vật bị viêm dạ dày, ruột, có triệu chứng nôn mửa Lúc đầu lợn đi táo,
có màng nhầy bao quanh cục phân Về sau ỉa chảy nặng, phân màu xám, mùi phân thối khắm rất đặc trưng
Virus tấn công vào đường hô hấp thì con vật bị viêm niêm mạc mũi, tụ huyết, xuất huyết ở phổi, rối loạn nhịp thở, khó thở Virus xâm nhập vào hệ thống thần kinh, gây xuất huyết màng não, con vật co giật, đi loạng choạng, liệt hai chân sau Những con vật không bị chết trong vòng 4 tuần sau khi nhiễm bệnh thì có thể phục hồi nếu hàm lượng kháng thể trung hòa cao hoặc chuyển thành thể mạn tính Lợn nái chửa thường giảm khả năng sinh sản, sảy thai, đẻ non, thai khô,…
Mức độ nghiêm trọng của thể bệnh cấp tính tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi con vật, khả năng đáp ứng miễn dịch, liều gây nhiễm và độc lực của virus Mổ khám thấy bệnh tích đặc trưng là xuất huyết hạch lâm ba
Huyết khối ở lách, rìa lách bị nhồi huyết có hình răng cưa Loét niêm mạc vùng van hồi manh tràng Trên bề mặt vết loét có phủ bựa, vẽ thành các vòng
Trang 27tròn đồng tâm, trông giống như hình cúc áo Xuất huyết thận, viêm cầu thận Các hạch lympho chứa đầy hồng cầu
2.2.7.3 Thể mạn tính
Khi lợn bị bệnh mà sống đến quá 30 ngày thì được coi là thể mạn tính Đặc trưng của thể bệnh này là lợn ăn rất ít hay bỏ ăn, sốt, ỉa chảy kéo dài hoặc ngắt quãng, bạch cầu giảm Thể này kéo dài vài tháng và cuối cùng cũng chết Các giai đoạn của thể mãn tính gồm:
- Giai đoạn đầu kéo dài 10 - 15 ngày, các triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn
- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thuyên giảm
- Giai đoạn ba: sẽ bị bội nhiễm các loại mầm bệnh khác; con vật gầy yếu,
Hậu quả của lây nhiễm trong giai đoạn mang thai nhẹ hay nặng phụ thuộc vào giai đoạn mang thai bị nhiễm virrus, khả năng đáp ứng miễn dịch của bào thai và độc lực của virus Nếu bào thai bị nhiễm ở giai đoạn đầu của quá trình mang thai, lúc mà bào thai chưa có khả năng sinh miễn dịch thì sau khi cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh, không có khả năng chống lại virus và trở thành vật mang trùng Lây nhiễm ở giai đoạn sau của quá trình mang thai thì bào thai sinh đáp ứng miễn dịch và làm giảm nguy cơ mang trùng; chỉ những con lợn bị nhiễm trong giai đoạn đầu của bào thai mới trở thành thể bệnh tiềm ẩn
Trang 28Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng phần lớn những lợn con của những nái đã bị nhiễm virus trong thời kỳ có thai đều dung nạp miễn dịch; chúng không hình thành được kháng thể mà mang virus thường xuyên; ngay cả sữa đầu cũng không xác định được ở những lợn con này mang trùng bởi vì kháng thể thường xuyên bị cố định bởi những virus lưu hành Van Oirchot (1998) cho thấy những lợn con sinh ra từ những lợn nái nhiễm virus lúc mang thai 90 ngày tuổi thì có thể sống được 2 - 3 tuần tuổi, nhưng cơ thể mang virus và không có kháng thể trung hòa
mổ khám Tỷ lệ sung huyết ở niêm mạc dạ dày – ruột chiếm 93,33%, xuất huyết điểm ở thận chiếm 80%, nhồi huyết ở lách và viêm phế quản phổi chiếm tỷ lệ 75%, tỷ lệ xuất huyết điểm ở bốn chân chiếm 71,67% Viêm phồi thùy có tỷ lệ thấp chỉ chiếm 8,3%, xuất huyết ở van hồi manh tràng chiếm tỷ lệ 48,33% Ngoài
ra, một số tổn thương khác cũng được quan sát thấy như: xuất huyết ở da (28,33%); loét ở miệng (16,77%); loét ở hạch amygdale (16,17%); loét ở ruột già (38,33%) Tổn thương xuất huyết thấy ở hầu hết các cơ quan: hạch lâm ba, thận,
dạ dày, ruột non, ruột già và trên da
c Bệnh tích ở thể mạn tính và không điển hình
Đây là thể bệnh rất khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có triệu chứng đặc trưng Thể không điển hình biểu hiện dưới các dạng khác nhau như rối loạn
Trang 29sinh sản hoặc bệnh lý sinh sản như sảy thai, thai gỗ, chết thai, thai dị hình, chết sau khi sinh,…Theo Nguyễn Lương (1997) đây là thể bệnh DTL khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có các thời kỳ rõ rệt; virus lưu hành một cách không rõ ràng, nhất là lợn sinh sản với các trường hợp ổ dịch nhỏ lẻ nổ ra khi có điều kiện thuận lợi Nguyên nhân của thể không điển hình có rất nhiều, như: Độc tố của virus, các nhiễm trùng thứ phát, sức đề kháng bẩm sinh, loại thức ăn, phương thức chăn nuôi
2.2.8.2 Bệnh tích vi thể
Đặc trưng nhất là ở hệ lưới nội bì của thành mạch quản, các tế bào nội bì sưng to, thoái hóa, thủy thũng; các mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắc mạch dẫn tới bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL là xung huyết, xuất xuyết, nhồi huyết (thường thấy ở lách, hạch lympho, thận và đường tiêu hóa), hoại tử, viêm não, viêm màng não đặc trưng bởi sưng và thoái hóa các tế bào nội bì, nghẽn mạch, thấm nhiễm lymphocyte quanh mạch
Theo Van Oirschot (1998), sự gia tăng về số lượng các đại thực bào và sự suy yếu của hệ đơn bào ở giữa hạch bạch huyết, lách, hạch amidan và những đám hạch ruột xảy ra trong trường hợp bệnh mạn tính
2.2.9 Các phương pháp chẩn đoán bệnh dịch tả lợn
Trước đây việc chẩn đoán bệnh DTL thường dựa vào các biểu hiện về triệu chứng, bệnh tích (OIE, 1998) Tuy nhiên, hiện nay bệnh DTL đã diễn biến phức tạp, do vậy phương pháp này tỏ ra không hiệu quả Virus DTL chỉ gây bệnh cho loài lợn, lợn là loài động vật cảm thụ duy nhất nên việc tiêm truyền cho động vật để chẩn đoán bệnh tốn kém về kinh tế hơn các động vật khác
Việc chẩn đoán, phát hiện virus trong cơ thể lợn là khó khăn vì số lượng virus trong cơ thể không nhiều Các phương pháp hiện nay đang được áp dụng là: phát hiện kháng nguyên hoặc phát hiện kháng thể trong các bệnh phẩm bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp; nuôi cấy phân lập virus trên môi trường tế bào hoặc tiêm truyền cho lợn; phản ứng trung hòa trên thỏ; phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu; công thức bạch cầu; phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch; phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (ELISA), tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng
2.2.9.1 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng, bệnh tích
Trong thực tế sản xuất tại các địa phương, việc dựa vào các triệu chứng,
Trang 30bệnh tích để chẩn đoán bệnh DTL là chủ yếu, tuy nhiên kết quả của phương pháp này có độ chính xác không cao; nhưng rất cần thiết để có kết quả sơ chẩn ban đầu trước khi tiến hành các phương pháp trong phòng thí nghiệm
2.2.9.2 Chẩn đoán virus học
Chẩn đoán virus học phải được tiến hành nhanh chóng ngay trong ngày khi lấy bệnh phẩm; phương pháp chẩn đoán virus học bao gồm: Kiểm tra máu và bệnh phẩm trên kính hiển vi bằng cách làm tiêu bản, tiêm truyền động vật thí nghiệm; phương pháp làm tăng cường độc lực của virus newcastle
a Mẫu bệnh phẩm
- Trên động vật chết: Lách, hạch lâm ba, thận, amidan
- Trên động vật sống: máu có chất chống đông, máu đựng trong ống nghiệm khô; thai sảy
b Phương pháp kiểm tra trên kính hiển vi bệnh phẩm máu và phủ tạng
Làm tiêu bản, nhuộm gram để kiểm tra trên kính hiển vi; nếu không thấy
vi khuẩn thì có thể nghi đó là bệnh DTL thuần túy sau khi đã có kết quả chẩn đoán lâm sàng (các triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL); trường hợp có vi khuẩn thì có thể nghi ghép với bệnh đã phát hiện ra vi khuẩn (Nguyễn Lương, 1997)
c Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm
Phương pháp phát hiện bệnh DTL cổ điển chính xác nhất là tiêm truyền cho lợn (Pearson, 1998) Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là tốn thời gian (Có thể 3 - 4 tuần lễ) và tiền của Phương pháp này thường được áp dụng khi các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích không đủ để kết luận bệnh hoặc để có
cơ sở pháp lý công bố dịch
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978), lấy hạch, lách, tủy xương của lợn nghi mắc bệnh trong ổ dịch nghiền với nước sinh lý, tiêm cho lợn khỏe (chưa tiêm vắc xin DTL lần nào) ở ngoài ổ dịch Bệnh phẩm là 1 ml máu và 0,5g lách của lợn nghi mắc bệnh pha thành huyễn dịch 1/10, xử lý kháng sinh rồi tiêm cho lợn vào dưới da Trong 3 ngày (nếu bệnh phẩm có virus) lợn được tiêm sẽ kém ăn, sốt cao, táo bón, có hiện tượng viêm kết mạc mắt, mắt có dử sau khoảng 1 tuần con vật đi tháo, phân có mùi tanh khắm đặc trưng ; nếu kéo dài con vật có biểu hiện thần kinh, liệt hai chân sau; cuối cùng con vật bị hạ thân nhiệt và chết Mổ khám thấy các bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL
Trang 31d Phương pháp làm tăng cường độc lực của virus newcastle
Người ta dùng môi trường tế bào một lớp chế từ dịch hoàn để cấy bệnh phẩm nghi có virus DTL, sau 5 ngày tiếp tục cấy virus newcastle, thấy virus newcastle nhân lên mạnh và gây bệnh tích tế bào, chứng tỏ trong bệnh phẩm có chứa virus DTL
2.2.9.3 Chẩn đoán huyết thanh học
Hiện nay ở Việt Nam thường dùng một số phản ứng huyết thanh học sau đây để nghiên cứu, chẩn đoán và giám sát bệnh DTL :
a Chẩn đoán bằng thí nghiệm trung hòa trên thỏ
Nguyên lý: Virus DTL cường độc và virus nhược độc có tính gây bệnh khác nhau cho thỏ và cho lợn, nhưng có tính kháng nguyên giống nhau Có thể dùng virus DTL cường độc tiêm cho thỏ để gây miễn dịch Sau đó chứng minh tính miễn dịch của thỏ đối với virus DTL bằng cách tiêm virus nhược độc DTL (Nguyễn Như Thanh và cs., 1997)
Dùng bệnh phẩm là lách, hạch của lợn nghi mắc bệnh DTL nghiền với nước sinh lý thành huyễn dịch 1/10 - 1/20, xử lý kháng sinh, sau đó tiêm cho 3 thỏ khỏe mạnh, mỗi con 1ml huyễn dịch vào tĩnh mạch tai Sau 5 - 10 ngày, dùng giống virus nhược độc DTL pha thành huyễn dịch 1/10 - 1/20 tiêm vào tĩnh mạch của 3 thỏ thí nghiệm nói trên; cũng đồng thời tiêm huyễn dịch này cho 3 thỏ khỏe mạnh đối chứng
Kết quả
- Phản ứng dương tính nếu ba thỏ thí nghiệm không có phản ứng sốt Trong khi đó thỏ đối chứng có sốt điển hình Lấy máu của 3 thỏ thí nghiệm này tiêm cho 3 thỏ khỏe mạnh khác, ba thỏ này cũng không sốt Điều đó chứng tỏ virus nhược độc DTL đã bị kháng thể DTL trung hòa Kết luận bệnh phẩm có virus DTL
b Phương pháp miễn dich khuyếch tán trên thạch
Chuẩn bị:
- Kháng thể chuẩn: chế bằng cách tối miễn dịch cho ngựa
- Kháng nguyên nghi: bệnh phẩm lấy là lách lợn bệnh, nghiền với nước sinh lý, theo tỷ lệ 1/1, có pha thêm 1 - 2% axit phenic, lọc qua gạc và ly tâm lấy nước trong
Trang 32- Kháng nguyên dương: là hạch, lách lợn đã tiêm virus cường độc DTL, cũng được chế như trên
- Kháng nguyên âm: là hạch, lách lợn khỏe mạnh, được chế như trên
- Đun nóng chảy thạch, để nhiệt độ hạ xuống còn 40 - 450C rồi đổ thạch vào đĩa petri hoặc trên phiến kính; để đông thạch; đục lỗ trên thạch, đường kính mỗi lỗ 6 mm, khoảng cách giữa các lỗ là 9 mm
+ Âm tính: ở phần thạch giữa lỗ kháng thể DTL và lỗ kháng nguyên nghi không có đường kết tủa màu trắng
c Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu
Bình thường virus DTL không hấp thụ được lên hồng cầu, do đó phải xử
lý hồng cầu bằng axit tanic 1%, chất này có một nhóm chức gắn với hồng cầu và một nhóm chức khác gắn với virus DTL ; khi đó virus dễ dàng hấp thụ lên hồng cầu thỏ, cừu, chuột lang nhưng không gây ngưng kết hồng cầu Khi gặp kháng thể tương ứng, virus DTL sẽ kết hợp với kháng thể đó, hồng cầu dính lại qua cầu nối kháng thể gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu
d Phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp
Nghiền hạch, lách của lợn nghi nhiễm bệnh, cấy trực tiếp vào môi trường
tế bào PK15; virus được phát hiện trong các tế bào bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang: Tế bào nhiễm virus được phát hiện khi kiểm tra trên kính hiển vi huỳnh quang có màu xanh của bào tương (Sự nhân lên của virus ARN được thực hiện trong bào tương), tế bào không nhiễm sẽ không bị bắt màu
Dùng kháng thể DTL đã được nhuộm màu huỳnh quang, cho tác động với kháng nguyên là bệnh phẩm nghi có chứa virus DTL (hạch, lách lợn bệnh) đã được cố định trên tiêu bản Nếu:
- Kháng thể DTL gặp kháng nguyên tương ứng tức là virsus có trong bệnh phẩm thì xuất hiện sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, phức
Trang 33hợp này sẽ bám chặt vào nhau, khi rửa nước không bị trôi đi Soi trên kính hiển
vi huỳnh quang sẽ thấy có sự phát sáng của phức hợp kháng nguyên - kháng thể DTL được nhuộm màu huỳnh quang
- Ngược lại, kháng thể DTL không gặp kháng nguyên tương ứng thì khi rửa nước sẽ bị trôi đi, do đó soi dưới kính hiển vi huỳnh quang sẽ không có sự phát sáng của chất huỳnh quang
e Phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (Enzyme linked immuno sorbent assay
- ELISA)
Nguyên lý: dùng kháng nguyên hoặc kháng thể kháng globulin có mang một enzym (phosphatase hoặc peroxidase) đã được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên hoặc kháng thể Sau đó cho cơ chất sinh mầu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân hủy tạo nên màu; đem so sánh với mầu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức phản ứng
Phản ứng ELISA có độ chính xác rất cao và tiết kiệm được thời gian (chỉ trong vòng 24 giờ)
f Phản ứng ELISA trực tiếp
Phản ứng này dùng để phát hiện kháng nguyên chưa biết Kết quả của phản ứng này phụ thuộc nhiều vào tính hấp thụ kháng nguyên lên mặt rắn cũng như tính chất kháng thể được dùng để phát hiện kháng nguyên Phản ứng gồm các bước sau:
- Hấp thụ kháng nguyên chưa biết lên pha rắn, rửa nước để loại bỏ kháng nguyên thừa
- Cho kháng thể gắn enzym vào, rửa nước
- Cho cơ chất vào
Nếu kháng nguyên tương ứng với kháng thể đặc hiệu thì bước 2 sẽ tạo ra phức hợp kháng nguyên - kháng thể, khi rửa nước sẽ không bị trôi đi, khi thêm
cơ chất vào thì enzym sẽ phân giải cơ chất thành màu có thể nhìn thấy được Trường hợp kháng thể không tương ứng với kháng nguyên thì không hình thành phức hợp kháng nguyên - kháng thể, khi rửa nước sẽ bị trôi đi, không còn enzym
để phân giải cơ chất nên không xuất hiện màu
g Phản ứng ELISA gián tiếp
Phản ứng này dùng để phát hiện và xác định hiệu giá kháng thể Kháng
Trang 34nguyên đã biết sẽ được hấp thụ lên pha rắn, enzym được gắn với kháng kháng thể chứ không gắn với kháng thể như phản ứng ELISA trực tiếp Phản ứng gồm các bước sau:
- Gắn kháng nguyên lên pha rắn, rửa nước để loại bỏ những kháng nguyên thừa
- Cho huyết thanh có chứa kháng thể pha loãng ở các hiệu giá khác nhau vào, rửa nước
- Cho kháng thể gắn enzym vào, tiếp tục rửa nước
- Cuối cùng là thêm cơ chất
Nếu trong huyết thanh có chứa kháng thể đặc hiệu tương ứng với kháng nguyên nên kháng thể không bị mất đi khi rửa, khi cho kháng thể gắn enzym vào thì phức hợp kháng nguyên - kháng thể được hình thành và khi cho cơ chất vào thì sẽ xuất hiện màu và ngược lại, nếu không hình thành phức hợp kháng nguyên
- kháng thể thì khi cho cơ chất vào sẽ không xuất hiện màu
2.2.10 Phòng bệnh
2.2.10.1 Mục đích
Mục đích của việc phòng bệnh là ngăn chặn sự xâm nhập của virus Việc nhập khẩu lợn và các sản phẩm từ thịt lợn chưa được xử lý nhiệt đều bị cấm, thêm vào đó là các loại thức ăn thừa của hành khách từ máy bay, tàu thủy, tàu hỏa liên vận đều được hủy để tránh mầm bệnh xâm nhập từ ngoài vào
Trong những năm 1980 việc ngừng và sau đó là cấm tiêm phòng vacxin ở các nước EU đã đòi hỏi đặt ra các biện pháp phòng bệnh chặt chẽ hơn, chú ý đến các yếu tố có nguy cơ lây lan như nước thải nhà bếp, tiếp xúc với các yếu tố lây nhiễm Theo thông báo của tổ chức Thú y thế giới (OIE), bệnh DTL đã được khống chế và an toàn dịch bệnh phần lớn ở các nước Châu Âu
Theo quy định của EC thì chỉ những lợn và sản phẩm từ thịt lợn của những nước vùng “chính thức an toàn dịch bệnh”(OF) DTL (có nghĩa là không
có ổ dịch nào xảy ra và không chủng vacxin trong vòng 12 trước đây và không còn lợn đã được chủng vacxin) mới được công nhận buôn bán tự do trong cộng đồng châu Âu (OIE, 1998)
Một số nước, khi có bệnh DTL xảy ra thì tất cả những lợn nghi nhiễm trong đàn sẽ bị giết hủy đồng thời với việc áp dụng các biện pháp vệ sinh để tiêu diệt mầm bệnh
Trang 352.2.10.2 Phòng chống bệnh DTL trên Thế giới
Đối với những nước đã thanh toán được bệnh DTL, để ngăn chặn bệnh DTL nhập từ nước ngoài vào người ta áp dụng biện pháp cấm nhập lợn sống hoặc thịt lợn và các sản phẩm chưa xử lý nhiệt Những thức ăn thừa của hành khách nhập cảnh từ máy bay, tàu thủy, đều phải hủy bỏ để tránh mầm bệnh mang từ ngoài vào
Một số nước, khi có bệnh DTL xảy ra thì tất cả những lợn nghi nhiễm trong đàn sẽ bị giết hủy đồng thời với việc áp dụng các biện pháp vệ sinh để tiêu diệt mầm bệnh
Theo quy định của EC, chỉ những lợn và sản phẩm của lợn từ những nước hoặc các vùng an toàn bệnh DTL mới được buôn bán tự do trong phạm vi cộng đồng Châu Âu (OIE, 1998)
Một số nước thanh toán bệnh DTL bằng các biện pháp sau đây:
- Nghiên cứu và áp dụng các phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy tại hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm
- Củng cố giám sát dịch bệnh và hệ thống thông tin để kịp phát hiện mức
- Một số nước dùng biện pháp tiêm phòng vắc xin; kinh nghiệm ở châu
Âu là có thể thanh toán bệnh DTL bằng cách thực hiện chương trình tiêm phòng vắc xin một cách nghiêm ngặt trong khoảng thời gian nhất định Chương trình này phải kết hợp với việc vệ sinh gia súc chu đáo (Terpstra, 1991) Để có hiệu quả, chương trình tiêm phòng vắc xin phải bắt buộc, đồng thời quy định rõ thời gian, độ tuổi phải tiêm phòng
2.2.10.3 Phòng chống bệnh DTL ở Việt Nam
Ngày 15/10/2011, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1791/QĐ-TTg về
cơ chế, chính sách hỗ trợ vắc xin tai xanh, vắc xin DTL nhằm đẩy mạnh sản xuất
Trang 36chăn nuôi, đảm bảo nguồn cung ứng thực phẩm và bình ổn giá thị trường Ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các chủ chăn nuôi lợn từ 50 con trở xuống, như sau:
Hỗ trợ vắc xin tai xanh và vắc xin DTL để tiêm phòng
Hỗ trợ kinh phí tổ chức tiêm phòng, mua dụng cụ, bảo hộ lao động cho người
đi tiêm và các chi phí khác phục vụ cho công tác tiêm phòng Thời gian thực hiện:
Từ ngày 01 tháng 10 năm 2011 đến ngày 31 tháng 8 năm 2012 Cục Thể là: giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mua dự trữ 500.000 liều vắc xin tai xanh để tiêm phòng bao vây khẩn cấp khi có dịch xảy ra, giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào đối tượng được hỗ trợ quy định tại Quyết định này, sử dụng kinh phí từ ngân sách địa phương mua vắc xin DTL, tiếp nhận vắc xin tai xanh và tổ chức tiêm phòng cho đàn lợn trên địa bàn
Ngày 24/01/2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thông tư số 04/2011/TY – BNNPTNT Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh DTL Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về các biện pháp phòng chống bệnh DTL, áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi.Con giống đảm bảo rõ nguồn gốc, đạt tiêu chuẩn chất lượng; được tiêm phòng đầy đủ vắc xin phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm theo quy định;người dân cam kết thực hiện “3 không”: không dấu khi lợn mắc bệnh, không bán chạy lợn bệnh, không vứt lợn chết bừa bãi và tuyên truyền để người chăn nuôi từng bước thay đổi phương thức chăn nuôi, chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi theo hướng quy mô trang trại tập trung, công nghiệp, áp dụng các biện pháp an toàn sinh học
Phòng bệnh bằng vắc xin, yêu cầu chủ vật nuôi phải thực hiện việc tiêm phòng bắt buộc theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêm phòng bắt buộc vắc xin cho gia súc, gia cầm Các địa phương phải thực hiện tiêm phòng vắc xin DTL định kỳ mỗi năm 2 lần vào tháng 3-4 và tháng 9-10 Tiêm phòng bổ sung đối với lợn mới sinh, lợn chưa được tiêm trong thời gian tiêm định kỳ, tiêm nhắc lại đối với lợn hết thời gian miễn dịch Việc sử dụng vắc xin theo hướng dẫn của nhà sản xuất
- Thực hiện chủ động giám sát, phát hiện bệnh: các tổ chức, cá nhân chăn nuôi lợn phải thực hiện giám sát lâm sàng đối với đàn lợn để chủ động phát hiện bệnh kịp thời: quan sát, phát hiện những triệu chứng lâm sàng, bệnh tích điển hình của lợn bệnh, lợn chết, những đặc điểm về dịch tễ học Các cơ sở chăn nuôi lợn giống phải thực hiện giám sát sự lưu hành của vi rút dịch tả lợn như:
Trang 37a) Định kỳ kiểm tra huyết thanh để xác định trạng thái mang trùng ở lợn nái và lợn đực giống
b) Khi phát hiện lợn nái và lợn đực giống mang trùng, phải thực hiện giết
mổ bắt buộc dưới sự giám sát chặt chẽ của Cơ quan Thú y
- Thực hiện kiểm dịch và kiểm soát vận chuyển
+ Kiểm dịch lợn tại nơi xuất phát và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch theo quy định đối với đàn lợn khỏe mạnh, đã được tiêm phòng vắc xin DTL và còn thời gian miễn dịch bảo hộ
+ Các trạm, chốt kiểm dịch động vật tại các đầu mối giao thông có nhiệm
vụ kiểm soát, phát hiện vận chuyển lợn mắc bệnh, lợn từ vùng có dịch và xử lý các trường hợp vi phạm như sau:
a) Tiêu huỷ lợn mắc bệnh
b) Buộc cách ly lợn có nguồn gốc từ vùng có dịch trong trường hợp không
có giấy chứng nhận kiểm dịch để theo dõi Nếu lợn sốt, có triệu chứng của bệnh DTL thì thực hiện tiêu hủy
c) Buộc chủ hàng thực hiện kiểm dịch đối với lợn khỏe mạnh, không có biểu hiện lâm sàng của bệnh nhưng không có giấy chứng nhận kiểm dịch
d) Đối với lợn có giấy chứng nhận kiểm dịch nơi xuất phát nhưng không hợp lệ thì tạm giữ để chủ hàng bổ sung hồ sơ
đ) Xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật
Vắc xin được sản xuất có hai loại là vắc xin vô hoạt và vắc xin nhược độc Vắc xin vô hoạt là vắc xin được chế từ vi sinh vật gây bệnh có tính kháng nguyên cao Để không gây bệnh cho con vật được tiêm phòng người ta tìm cách giết chết
vi sinh vật này nhưng vẫn giữ tính kháng nguyên của nó Qua trình này gọi là quá trình vô hoạt Loại thứ hai là tìm ra một loại vi sinh vật có cùng tính kháng
Trang 38nguyên nhưng không có tính gây bệnh Các loại vi sinh vật như vậy được gọi là các loại nhược độc
Đối với bệnh DTL, vắc xin vô hoạt ít được sử dụng Vì vắc xin vô hoạt cần một lượng kháng nguyên lớn, nhưng do virus DTL nhân lên kém nên lượng kháng nguyên thu được rất ít trong khi vắc xin vô hoạt cần lượng kháng nguyên cao Mặt khác, trong quá trình vô hoạt, virus dịch tả lợn bị biến dạng nhiều, do
đó tính kháng nguyên dễ bị thay đổi
Bệnh DTL tại Việt Nam đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định phải tiêm phòng bắt buộc theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo quy định về tiêm phòng bắt buộc vắc xin cho gia súc, gia cầm Các địa phương thực hiện tiêm phòng vắc xin DTL định kỳ mỗi năm hai lần vào tháng 3-4 và tháng 9-10 Tiêm phòng bổ sung đối với lợn mới sinh, lợn chưa được tiêm trong thời gian định kỳ, tiêm nhắc lại đối với lợn hết thời gian miễn dịch Việc sử vắc xin phải theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Vắc xin được sử dụng để tiêm phòng bệnh DTL và vắc xin DTL chủng C đây là loại vắc xin nhược độc được các nhà khoa học Trung Quốc tiêm truyền nhiều lần trên thỏ Nên vắc xin an toàn tuyệt đối cho lợn ở mọi lứa tuổi và có thể tiêm thẳng vào ổ dịch và tạo ra ngay sự bảo hộ cho lợn Vắc xin dùng tiêm bắp thịt, để gây miễn dịch chủ động phòng bệnh DTL Vắc xin gây miễn dịch từ ngày thứ 7 sau khi tiêm kéo dài 1 năm Lợn mẹ có thai được tiêm vacxin 3 tuần trước khi đẻ có thể truyền được miễn dịch cho con qua sữa ở tuần lễ đầu Đối với lợn con sinh ra từ lợn mẹ không được tiêm phòng vacxin DTL có thể tiêm lúc 7 ngày, tiêm nhắc lại sau 2 tuần Đối với lợn con được sinh ra từ mẹ đã tiêm phòng DTL thì mũi đầu tiêm lúc 30 ngày tuổi, tiêm nhắc sau 2 tuần Lợn nái tiêm vacxin trước khi phối giống 2 tuần Lợn đực giống mỗi năm tiêm 2 lần
Theo Trần Đình Từ (1998) thời gian tiêm phòng vắc xin như sau:
Đối với lợn nái: tiêm phòng trước khi phối giống 3 tuần hoặc trước khi đẻ
1 tháng để tạo kháng thể cao truyền sang con qua sữa đầu
Đối với lợn con: Nếu lợn mẹ chưa tiêm phòng thì nên tiêm vắc xin sớm vào 10 - 15 ngày tuổi, sau đó tiêm nhắc lại trước khi cai sữa Trường hợp lợn mẹ
đã được tiêm phòng thì tiêm phòng cho lợn con lúc 30 ngày và tiêm nhắc lại lúc
60 ngày tuổi
Lợn đực giống: tiêm phòng 1 - 2 lần/1 năm