1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỊNH VỊ PHÓNG SỰ TRONG BỨC TRANH THỂ LOẠI VĂN XUÔI VIỆT NAM. PHÂN BIỆT HƯ CẤU VÀ PHI HƯ CẤU

37 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 87,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỊNH VỊ PHÓNG SỰ TRONG BỨC TRANH THỂ LOẠI VĂN XUÔI VIỆT NAM. PHÂN BIỆT HƯ CẤU VÀ PHI HƯ CẤU LỜI MỞ ĐẦU Tiến trình văn học là một quá trình vận động phát triển không ngừng. Văn học ngày càng hoàn thiện với nhiều thể loại văn học được hình thành và tạo một cột móc đánh dấu một giai đoạn lịch sử văn học văn minh, theo kịp xu hướng văn học của thời đại. Đến nay, đã có biết bao nhiêu nhà văn học có cách chia về thể loại văn học. Theo cách chia hiện hành của nền văn học 19301945, ta chọn cách chia thể loại văn học gồm: tự sự, trữ tình, kịch. Nhìn chung, mỗi thể loại đều phát triển một cách vượt bậc để lại nhiều dấu ấn độc đáo trong nền văn học nước nhà với một số tác gia nổi tiếng cùng một số tác phẩm văn chương đạt đến mức hoàn mỹ. Xét riêng về thể loại tự sự, nó bao gồm nhiều loại thể nhỏ cụ thể hơn. Bức tranh văn xuôi Việt Nam mang một nét phong phú trong thể loại tự sự. Nó gồm: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, ký,… Ký là một loại thể mới, gây bao sự tò mò phấn khích cho độc giả khi đọc tác phẩm về thể loại này. Ký gồm nhiều tiểu loại nhỏ, đặc biệt hơn cả chính là “Phóng sự”. Phóng sự là thể loại khá mới mẻ và vô cùng ấn tượng với độc giả, nó khơi gợi được trong cảm thức của con người về sự thấu hiểu, nhìn nhận về sự thật cuộc sống qua lăng kính ngôn từ chân thực và bối cảnh hiện thực trong cuộc sống. Cho đến nay, trải qua gần một thế kỷ phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ, lý luận về thể văn phóng sự ngày càng được bổ sung, phát triển và từng bước được hoàn thiện. Phóng sự là tiểu loại góp phần làm nên một mảng màu đa dạng cho bức tranh văn xuôi Việt Nam. Bài tiểu luận này sẽ làm rõ hơn, đi sâu hơn về vấn đề: “Định vị Phóng sự trong bức tranh văn xuôi Việt Nam” và tính hư cấu, phi hư cấu trong thể kí.   LỜI MỞ ĐẦU Tiến trình văn học là một quá trình vận động phát triển không ngừng. Văn học ngày càng hoàn thiện với nhiều thể loại văn học được hình thành và tạo một cột móc đánh dấu một giai đoạn lịch sử văn học văn minh, theo kịp xu hướng văn học của thời đại. Đến nay, đã có biết bao nhiêu nhà văn học có cách chia về thể loại văn học. Theo cách chia hiện hành của nền văn học 19301945, ta chọn cách chia thể loại văn học gồm: tự sự, trữ tình, kịch. Nhìn chung, mỗi thể loại đều phát triển một cách vượt bậc để lại nhiều dấu ấn độc đáo trong nền văn học nước nhà với một số tác gia nổi tiếng cùng một số tác phẩm văn chương đạt đến mức hoàn mỹ. Xét riêng về thể loại tự sự, nó bao gồm nhiều loại thể nhỏ cụ thể hơn. Bức tranh văn xuôi Việt Nam mang một nét phong phú trong thể loại tự sự. Nó gồm: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, ký,… Ký là một loại thể mới, gây bao sự tò mò phấn khích cho độc giả khi đọc tác phẩm về thể loại này. Ký gồm nhiều tiểu loại nhỏ, đặc biệt hơn cả chính là “Phóng sự”. Phóng sự là thể loại khá mới mẻ và vô cùng ấn tượng với độc giả, nó khơi gợi được trong cảm thức của con người về sự thấu hiểu, nhìn nhận về sự thật cuộc sống qua lăng kính ngôn từ chân thực và bối cảnh hiện thực trong cuộc sống. Cho đến nay, trải qua gần một thế kỷ phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ, lý luận về thể văn phóng sự ngày càng được bổ sung, phát triển và từng bước được hoàn thiện. Phóng sự là tiểu loại góp phần làm nên một mảng màu đa dạng cho bức tranh văn xuôi Việt Nam. Bài tiểu luận này sẽ làm rõ hơn, đi sâu hơn về vấn đề: “Định vị Phóng sự trong bức tranh văn xuôi Việt Nam” và tính hư cấu, phi hư cấu trong thể kí.  

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN



PHÓNG SỰ VŨ TRỌNG PHỤNG

ĐỊNH VỊ PHÓNG SỰ TRONG BỨC TRANH THỂ LOẠI VĂN XUÔI VIỆT NAM.

PHÂN BIỆT HƯ CẤU

VÀ PHI HƯ CẤU

Thực hiện : Nhóm 5

Hướng dẫn : TS Nguyễn Thành Thi

NĂM HỌC 2016 – 2017

Trang 2

THÀNH VIÊN NHÓM 5

Nguyễn Thị Quỳnh Như K40.601.104

Nguyễn Thị Sơn Tuyền K40.601.141

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Các khái niệm chung 2

1.1 Về khái niệm phi hư cấu và hư cấu 2

1.2 Về khái niệm phóng sự 3

2 Định vị phóng sự trong bức tranh thể loại văn xuôi Việt Nam 7

2.1 Sự phân chia thể loại và sự biến đổi hệ thống thể loại văn học Việt Nam 7

2.2 Khái niệm loại kí 8

2.3 Đặc trưng của loại kí văn học 9

2.3.1 Hình tượng tác giả trong thể loại kí 9

2.3.2 Đặc điểm về văn phong, ngôn từ nghệ thuật của kí 12

2.3.3 Hư cấu và phi hư cấu trong kí 14

2.4 Thể loại phóng sự 17

2.4.1 Xã hội Việt Nam trong buổi giao thời 17

2.4.1.1 Đổi thay về phương diện chính trị - xã hội 17

2.4.1.2 Những biến đổi trong đời sống kinh tế 18

2.4.1.3 Những tiền đề văn hóa 19

2.4.1.4 Sơ lược tình hình văn học và báo chí 20

2.4.1.5 Sự xâm nhập lẫn nhau giữa văn và báo 21

2.4.2 Điều kiện hình thành và phát triển của thể phóng sự ở nước ta 23

2.4.2.1 Phóng sự ra đời như một quy luật phát triển tất yếu của đời sống văn hóa xã hội thời hiện đại 23

2.4.2.2 Ảnh hưởng của một số phóng sự nước ngoài 25

2.4.3 Vai trò của phóng sự 30

LỜI KẾT LUẬN 33

Tài liệu tham khảo 34

Trang 4

Tiến trình văn học là một quá trình vận động phát triển không ngừng Văn họcngày càng hoàn thiện với nhiều thể loại văn học được hình thành và tạo một cột mócđánh dấu một giai đoạn lịch sử văn học văn minh, theo kịp xu hướng văn học của thờiđại Đến nay, đã có biết bao nhiêu nhà văn học có cách chia về thể loại văn học Theocách chia hiện hành của nền văn học 1930-1945, ta chọn cách chia thể loại văn họcgồm: tự sự, trữ tình, kịch Nhìn chung, mỗi thể loại đều phát triển một cách vượt bậc

để lại nhiều dấu ấn độc đáo trong nền văn học nước nhà với một số tác gia nổi tiếngcùng một số tác phẩm văn chương đạt đến mức hoàn mỹ Xét riêng về thể loại tự sự,

nó bao gồm nhiều loại thể nhỏ cụ thể hơn Bức tranh văn xuôi Việt Nam mang mộtnét phong phú trong thể loại tự sự Nó gồm: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, ký,

… Ký là một loại thể mới, gây bao sự tò mò phấn khích cho độc giả khi đọc tác phẩm

về thể loại này Ký gồm nhiều tiểu loại nhỏ, đặc biệt hơn cả chính là “Phóng sự”.Phóng sự là thể loại khá mới mẻ và vô cùng ấn tượng với độc giả, nó khơi gợi đượctrong cảm thức của con người về sự thấu hiểu, nhìn nhận về sự thật cuộc sống qualăng kính ngôn từ chân thực và bối cảnh hiện thực trong cuộc sống Cho đến nay, trảiqua gần một thế kỷ phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ, lý luận về thể vănphóng sự ngày càng được bổ sung, phát triển và từng bước được hoàn thiện Phóng

sự là tiểu loại góp phần làm nên một mảng màu đa dạng cho bức tranh văn xuôi ViệtNam Bài tiểu luận này sẽ làm rõ hơn, đi sâu hơn về vấn đề: “Định vị Phóng sự trongbức tranh văn xuôi Việt Nam” và tính hư cấu, phi hư cấu trong thể kí

Trang 5

1 Các khái niệm chung

1.1 Về khái niệm phi hư cấu và hư cấu

Với nghĩa là một hoạt động, hư cấu là vận dụng trí tưởng tượng để sáng tạonên những nhân vật, câu chuyện, những tác phẩm nhằm phản ánh cuộc sống và thựchiện những mục đích nghệ thuật nhất định

Qua hoạt động hư cấu, nghệ sĩ nhào nặn, tổ chức chất liệu được rút ra từ cuộcsống để tạo ra những tính cách, những số phận, những hiện tượng mới, những “sinhmệnh” mới có ý nghĩa điển hình, vừa biểu hiện tập trung chân lý cuộc sống, vừa biểuhiện cá tính sáng tạo, phong cách độc đáo và lí tưởng thẩm mỹ của mình Vì vậy, hưcấu là một trong những hoạt động cơ bản của tư duy nghệ thuật, là một trong khâu có

ý nghĩa quyết định của quá trình sáng tạo nghệ thuật M Go-rơ-ki cho rằng, đối vớinhà văn, quan sát, nghiên cứu và hiểu biết vẫn chưa đủ, còn cần phải “bịa đặt”, sáng

tạo ra nữa, cho nên “không có hư cấu thì không thể và cũng không tồn tại được tính

nghệ thuật” Bàn về hư cấu, Lỗ Tấn viết: “Đại để trong việc viết ra đều có một chút duyên do nghe thấy hoặc trông thấy, nhưng quyết không dùng nguyên một sự thực ấy,

mà chỉ lấy một phần rồi cải tạo thêm, phát triển ra cho đến khi hầu như có thể phát biểu trọn vẹn ý kiến của tôi mới thôi Nguyên mẫu nhân vật cũng vậy, không dùng nguyên một người nào, thường là miệng ở Chiết Giang, mặt ở Bắc Kinh, quần áo ở Sơn Tây, là một vai được ghép lại”.

Trong tác phẩm cụ thể, các nghệ sĩ có cá tính sáng tạo riêng với những thể loạinghệ thuật và phương pháp sáng tác khác nhau, quá trình hư cấu đã diễn ra với nhữngcách thức và mức độ khác nhau Song hư cấu bao giờ cũng là một hoạt động cơ bản,tất yếu của sáng tạo nghệ thuật

Nhưng cần ghi nhớ rằng, hoạt động hư cấu có thể đưa lại những hình tượngnghệ thuật hấp dẫn, có ý nghĩa khái quát lớn lao; mặt khác, sự hư cấu tùy tiện lại cóthể tạo ra những hình tượng nghệ thuật giả tạo, xuyên tạc chân lí cuộc sống

Trang 6

Với nghĩa danh từ, hư cấu nhằm chỉ bản thân sản phẩm của trí tưởng tượngsáng tạo, nhằm chỉ kết quả đích thực của hoạt động hư cấu Chẳng hạn, nhân vật chị

Dậu trong Tắt đèn là một hư cấu; nhân vật Khắc trong vở Vỡ bờ là một hư cấu.

Phi hư cấu đối lập với hư cấu, là chuyện thật, người kể chuyện chứng kiến câuchuyện được kể lại Đó không phải là câu chuyện được tưởng tượng mà là những sựkiện có thật, có thể được kiểm chứng một cách khách quan

1.2 Về khái niệm phóng sự

Cho đến nay, trải qua gần một thế kỷ phát triển và đạt được những thành tựurực rỡ, lý luận về thể văn phóng sự ngày càng được bổ sung, phát triển và từng bướchoàn thiện

Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây - cái nôi sản sinh ra thể văn phóng sự - đãcho rằng thể loại phóng sự ra đời rất sớm, từ thế kỷ 16, cùng với sự xuất hiện của báochí và các phương tiện in ấn công nghiệp Song khi mới ra đời, phóng sự còn mangnặng tính chất thông tin giản đơn về các sự kiện

Giáo sư Caren Xtơ dạy tại khóa Báo chí trường Đại học Sác Lơ (Tiệp Khắc cũ)cho rằng phóng sự đã xuất hiện đầu tiên trên đất nước Anh với nội dung là “Sự mô tảmột kỳ họp Quốc hội, những trận lụt, những đám cháy và những cuộc chiến tranh”

Người Pháp quan niệm rằng “Phóng sự là những bài viết của các phóng viêntrong quá trình điều tra các sự việc, hiện tượng, có chứa đựng những điều bí ẩn”

Trong khi ấy, vào thế kỷ 18 – 19 , người Đức cũng chỉ coi phóng sự “là sự đưatin một cách giản đơn” rất gần với những văn bản thông báo tin tức

Nhà văn, nhà báo người Mỹ Mac Tuên cũng coi phóng sự chỉ là “sự ghi lại mộtcách đơn giản và máy móc về những con người và sự kiện, không bao hàm yếu tốsáng tạo”

Trang 7

Chính vì thế các cuốn từ điển cũ của Đức đã định nghĩa phóng sự như mộtthông báo tin tức Từ điển của Mỹ cùng viết : “Phóng sự là sự mô tả, tường thuật mộtcuộc họp Quốc hội”.

Mặc dù vậy, thể phóng sự mới thật sự phát triển mạnh mẽ trên thế giới, nhất là

ở các nước Âu – Mỹ từ sau đại chiến thế giới thứ nhất (1914 – 1918) với những têntuổi như Giăng Cốctô; Giróctơ Gira, Ăngđrê Môroa Phóng sự đã bỏ qua thời kỳ giảnđơn và ấu trĩ phản ánh các tin tức và sự kiện, vươn lên tìm tòi và phát hiện nhữnghình thức biểu đạt mới, phản ánh những khuynh hướng xã hội và đạo đức thời đại,chiếm lĩnh những mảng hiện thực xã hội rộng lớn, trở thành một thể tư liệu giàuthông tin, đáp ứng nhu cầu của xã hội Không khí bức xúc nóng bỏng có quy mô củanhững biến động mang tính toàn cầu của thế chiến I; của cuộc Cách mạng ThángMười Nga long trời lở đất, đã thực sự là mảnh đất màu mỡ cho hàng loạt những thiên

phóng sự ưu tú ra đời như: Mười ngày rung chuyển thế giới của nhà báo Mỹ Giôn Rít, viết về cuộc cách mạng Tháng Mười; Vượt qua núi Anpơ của Hab Bớttơn; Viết

dưới giá treo cổ của Giuliut Phuxich…

Dẫu sao, phóng sự vẫn và đang là thể loại hết sức trẻ trung, đang được tiếp tụchoàn thiện và phát triển từng bước Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, việc tìm ra một địnhnghĩa thật chuẩn mực và thống nhất về thể loại phóng sự, vẫn còn là một công việckhông mấy dễ dàng Ngay trong cuốn Từ điển Nga, người Nga cũng đã dùng tới 3 từ:PENOPTA*,OТЧËТ.KOPPECПOHДEHЩИЯ để chỉ chung một khái niệm phóngËТ.KOPPECПOHДEHЩИЯ để chỉ chung một khái niệm phóngТ.KOPPECПOHДEHЩИЯ để chỉ chung một khái niệm phóngOHДEHЩИЯ để chỉ chung một khái niệm phóngEHЩИЯ để chỉ chung một khái niệm phóngsự: Cuốn Từ điển Nga - Việt, do nhà xuất bản Tiếng Nga Mátxcơva in năm 1977, Tập

2, trang 273 cũng chỉ định nghĩa phóng sự rất giản lược là :

1.Bài, sự tường thuật về một sự việc (trận đấu bóng)

2.Sự việc tường thuật

Ngay cuốn Từ điển Ôgiêgốp - một cuốn từ điển lớn của Nga, xuất bản tại

Maxcơva năm 1984 cũng định nghĩa phóng sự (trang 589) như sau:

1.Thông báo về các tin tức, sự kiện (trên báo viết, báo nói, báo hình)

Trang 8

2.Tường thuật công việc.

Người Trung Quốc cũng quan niệm về phóng sự một cách khá rộng rãi với các

từ: Ký sự, thông tấn, phỏng vấn ký, trát ký và báo cáo văn học Cuốn Từ Hải (Biển

từ) do nhà xuất bản từ thư Thượng Hải tái bản năm 1989 đã định nghĩa phóng sự(trang 1188) với 2 nội dung:

1.Một thể loại báo chí có khả năng phản ánh sinh động và khách quan về người

và việc điển hình, có thể dùng lối trần thuật, miêu tả, nghị luận,…thường giúpgiới thiệu con người về sự việc, các kinh nghiệm công tác

2.Chỉ các loại thư tín chuyển đạt qua đường bưu điện (từ điện tín)

Giáo sư Prômin thuộc khoa Báo chí trường Đại học Tổng hợp Lômôxốp cũng đã đưa

ra định nghĩa : “Phóng sự là một cách đặc biệt để thông tin về một sự việc, như sựviệc đó diễn ra trước mắt người viết… Thực chất phóng sự là đưa tin về hoạt độngcủa con người, nghĩa là trước hết phải nêu được những hoạt động của con người”

Ở nước ta, phóng sự mới chỉ thực sự phát triển từ thập kỷ 30 nhưng mau chóngđạt được những thành tựu rực rỡ, đóng vai trò là một trong những “thể văn xungkích” trên mặt trận báo chí Đã có hàng loạt nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu của ta,

từ trong thực tiễn sống động của xã hội và sự chiêm nghiệm của chính mình qua thểtài phóng sự, đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về thể loại này

Cuốn Từ điển tiếng Việt ( do NXB Khoa học xã hội in năm 1967) nêu ra định nghĩa :

“Phóng sự là thể loại văn chú trọng diễn tả sự thật mà anh trông thấy và giải pháp các

vấn đề do sự thật ấy nêu ra” Từ điển học sinh lại cho rằng : “Phóng sự là thể văn

phản ánh, phân tích kịp thời những sự việc tai nghe, mắt thấy có tính chất điều tra”.Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam viết: “Giá trị của một phóng sự trước hết ở vấn

đề nó nêu ra là cấp thiết, có bằng chứng cụ thể, xác thực (số liệu, biểu đồ, bản thống

kê, tư liệu khoa học) và kết luận gợi lên là đúng đắn Phóng sự sẽ có thêm giá trị vănhọc khi nó đi sâu khắc họa thế giới nội tâm, miêu tả tính cách nhân vật, với lời văngiàu hình ảnh và cảm xúc” “Phóng sự là một thể thuộc loại ký, nhằm ghi chép cụ thểtình hình một vấn đề, một sự việc nào đó có ý nghĩa thời sự So với tùy bút, bút ký,phóng sự có mục đích cụ thể, trực tiếp, phạm vi sự việc và địa điểm được quy định

Trang 9

chặt chẽ Đó là thể văn gắn với khoa học hơn là nghệ thuật, giàu yếu tố thông tin hơn

là yếu tố trữ tình” Cũng gần với ý kiến trên, Giáo sư Phương Lựu đã đặt phóng sựvào nhóm thể ký phi cốt truyện theo kết cấu – liên tưởng, trong đó “xen kẽ giữa sựkiện con người với những đoạn nghị luận trữ tình với tỷ lệ khá lớn của nhân vật trầnthuật”

Giáo sư Hà Minh Đức cũng đã trình bày quan điểm của mình “Phóng sự cũnggần gũi với ký sự, cả hai thể loại đều quan tâm đến việc ghi chép, phản ánh những sựkiện mới trong đời sống khách quan, cả hai đều có thể mở rộng quy mô phản ánh đếnmức thể hiện trọn vẹn một sự kiện lớn trong xã hội Những chỗ khác nhau giữa ký sự

và phóng sự cũng khá rõ rệt Phóng sự đặt biệt chú ý đến tính chất thời sự của hiệntượng xã hội đang được quan tâm chung, và mọi người muốn được tìm hiểu và giảiđáp Cũng vì thế phóng sự phải kịp thời Một phóng sự mất thời gian tính sẽ hạn chếhẳn tác dụng Sự kiện lịch sử mà phóng sự quan tâm phản ánh thường bao hàm ởdạng vấn đề, một vấn đề được làm sáng tỏ, được trình bày cụ thể và người viết cũngbộc lộ rõ chính kiến và thái độ giải quyết”

Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, trong khi so sánh các đặc điểm về thể loại

đã nhận xét “Có lẽ phóng sự là tiểu loại ký báo chí hơn cả” Tác giả Đức Dũng, trong

cuốn Ký báo chí do NXB Thông tin ấn hành năm 1992, trang 60 đã đưa ra định nghĩa

về phóng sự: “Là thể loại đứng giữa văn học và báo chí, có khả năng trình bày, diễn

tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh, pháttriển, đồng thời thẩm định hiện thực đó thông qua cái tôi trần thuật, vừa tỉnh táo, lý trívừa cảm xúc với một bút pháp giàu tính văn học”

Như vậy, trải qua một quá trình vận động và phát triển, lý luận về phóng sựngày một hình thành và từng bước phát triển, từng bước được cụ thể hóa, có đườngnét, có góc cạnh rõ ràng Thể loại phóng sự trên thế giới và ở nước ta đến nay đã dầndần ổn định và trở thành một chỉnh thể có nội dung và hình thức khu biệt Nó nằmtrong nhóm ba (nhóm ký báo chí) của hệ thống thể loại báo chí, có diện mạo riêng, có

lý luận thể loại riêng Ở phương tây đã đúc kết nội dung phóng sự thành công thức5W; tương ứng với 5 câu hỏi What: Cái gì đã xảy ra ? Where: Sự việc xảy ra ở đâu ?

Trang 10

When: Sự việc xảy ra vào lúc nào? Who: Có những nhân vật nào? Why: Tại sao lạixảy ra?

Thực tế phát triển của trào lưu phóng sự trong và ngoài nước còn chỉ ra rằngngoài việc nhằm giải đáp các vấn đề theo nội dung 5W đã nêu, phóng sự muốn vươntới sự phản ánh sâu sắc trên phương diện nội dung và tư tưởng, thường dành khánhiều công sức để đưa ra những kiến nghị và giải pháp, tức là tạo ra hướng mở đểgiải quyết triệt để, tận gốc vấn đề Đó là phần kết của mỗi phóng sự, tuy không dàidòng nhưng lại tập trung được sức nặng, có ý nghĩa quan trọng đối với tác phẩm.Như vậy, với tư cách là “Thể văn xung kích” trong nhóm ký báo chí, phóng sự đãthật sự phát huy được sức mạnh của mình trong việc phản ánh những sự việc, hiệntượng nổi bật và bức xúc của thời cuộc với những hình thức biểu hiện đa dạng phongphú bằng sự phản ánh kịp thời, sâu sắc và rộng lớn của mình

2 Định vị phóng sự trong bức tranh thể loại văn xuôi Việt Nam

2.1 Sự phân chia thể loại và sự biến đổi hệ thống thể loại văn học Việt Nam

Về sự phân chia loại hình và thể loại văn học cho đến nay phổ biến tồn tại

“cách chia ba” và “cách chia bốn” Cách chia ba có từ thời cổ đại, từ thời Aristote,văn học được chia làm ba loại theo phương thức, phương tiện biểu đạt của chúng: tự

sự, trữ tình, kịch Cách chia bốn xuất hiện muộn hơn, chia văn học làm bốn loại: thơ

ca, tiểu thuyết, kịch, kí (tản văn)

Nền văn học viết ở nước ta xuất hiện trong thế kỉ X và suốt mười thế kỉ (từ thế

kỉ X đến cuối thế kỉ XIX), nền văn học ấy tồn tại trong môi trường xã hội phong kiếntrung đại Văn học trung đại đã hình thành một hệ thống thể loại khá hoàn chỉnhnhưng chậm biến đổi Hệ thống thể loại ấy gồm hai bộ phận chính: các thể loại đượctiếp nhận từ văn học Trung Hoa và các thể loại có nguồn gốc dân tộc Ở vị trí trungtâm của hệ thống ấy là các thể loại có tính công cụ hành chính (như chiếu, hịch, cáo,biểu, luận ), rồi mới đến các thể loại văn chương nghệ thuật (như truyện, kí, thơ,phú)

Bên cạnh các thể loại được tiếp nhận từ Trung Hoa, văn học Trung đại ViệtNam cũng sáng tạo ra những thể loại đặc thù, phần lớn có cội nguồn từ văn học dângian và được viết bằng chữ Nôm như: truyện thơ, ngâm khúc, hát nói, tuồng…

Trang 11

Vào đầu thế kỉ XX, đất nước ta diễn ra những chuyển biến lớn lao trong đời sống xãhội và đời sống văn hoá tinh thần Hoàn cảnh ấy tạo cơ sở làm nảy sinh yêu cầu đổimới nền văn học theo hướng hện đại hóa Một trong những nội dung quan trọng củahiện đại hóa văn học là biến đổi các thể loại văn học theo hướng hiện đại.

Trong giai đoạn giao thời khoảng vài chục năm đầu thế kỉ, các thể loại quenthuộc trong văn học trung đại vẫn còn được các tác giả xuất thân Nho học sử dụng,nhưng đã nhường chỗ dần cho các thể loại mới xuất hiện Từ đầu những năm 30, bứctranh thể loại của nền văn học đã biến đổi hẳn, với một hệ thống thể loại mang tínhhiện đại đã thực sự hình thành và phát triển khá hoàn thiện Các thể loại có tính công

cụ hành chính trong thời kì trung đại đã hầu như không còn được sử dụng, hoặc đãthay đổi chức năng (ví dụ: các thể phú, văn tế chủ yếu chỉ được dùng trong phongcách trào phúng) Kịch nói được du nhập từ phương Tây đã bổ sung một thể loại sânkhấu hiện đại bên cạnh các thể kịch hát truyền thống (tuồng, chèo) Sự phát triển củabáo chí đã thúc đẩy thể phóng sự ra đời Phê bình văn học được phát triển và trởthành một hoạt động chuyên biệt, tham gia tích cực vào đời sống văn học

Thể loại văn xuôi Việt Nam bao gồm truyện và kí Kí được phân chia thànhnhiều tiểu loại nhỏ như kí sự, bút kí, phóng sự, nhật kí, hồi kí, tùy bút, du kí Nhưvậy, phóng sự là một tiểu loại của kí

2.2 Khái niệm loại kí

Qua sự hình thành loại kí cần phải nhận thức đây là một lĩnh vực văn học đặcthù và Kí không đơn giản là nhóm tác phẩm văn xuôi không quy được vào truyện,thơ, kịch thì quy vào kí Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh từng cho rằng, vè dân gianchính là một hình thức của nhân dân Kí tự nó có đặc trưng riêng quy tụ các tác phẩmcùng loại

Trong lí luận văn học hiện đại hiện vẫn có những ý kiến khác nhau về kháiniệm và đặc trưng của loại kí Có nhà nghiên cứu nhận xét: “Về kí, thực tế là khôngthể nói đến cái gì xác định được đặc trưng thể loại của nó”; lại có người cho kí là

“loại thể văn học đặc biệt và phức tạp”, lại có ý kiến cho rằng “Kí là một thể loại vănhọc đặc thù nằm giữa văn học và báo chí” Ta cũng có thể thấy cách hiểu đa dạng quacác cuộc trao đổi về thể kí trên Tạp chí Văn học (năm 1966) các bài báo, các côngtrình nghiên cứu, các giáo trình lí luận văn học khi đề cập tới vấn đề này

Tuy nhiên, kí có cái hạt nhân làm thành đặc trưng riêng của nó Ở loại nàyngười ta đặc biệt quan tâm đến các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, những biểu hiện củađời sống có thực ngoài đời và đồng thời muốn bộc lộ trực tiếp cá tính sáng tạo và tinhthần trách nhiệm xã hội của tác giả “Với thể loại kí, từ sự thôi thúc của cuộc sống màtác giả có nhu cầu được công bố kịp thời những nhận xét, những đánh giá, những ý

Trang 12

tưởng…Kí ghi được rất rõ ràng những nét mang dấu ấn của một sự kiện, của một thời

kì, của một lớp người, của một vùng miền” (Lê Minh, Nghệ thuật truyện ngắn và kí).

Chính vì các tính chất nói trên mà loại kí có một phạm vi biểu hiện đời sống rấtrộng lớn Kí có thể thiên về ghi chép sự việc, hiện tượng như phóng sự, kí sự, có thểthiên về biểu hiện những cảm xúc trữ tình như tùy bút, tản văn, có thể nghiêng vềnghị luận như chính luận, có thể nghiêng về ghi chép kiến văn, tri thức như tạp kí lịchsử…

Chính vì cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong nhìn nhận và khai thác các sự kiệncủa đời sống cũng như năng động phát huy vai trò sáng tạo của người cầm bút màloại kí rất đa dạng và tác phẩm kí cụ thể luôn độc đáo

2.3 Đặc trưng của loại kí văn học

2.3.1 Hình tượng tác giả trong thể loại kí

So với các loại tác phẩm tự sự, trữ tình hay kịch, hình tượng tác giả trong cáctác phẩm kí có vị trí, vai trò đặc biệt nổi bật và quan trọng Trong tác phẩm kí, sự thậtcủa cuộc sống vẫn còn nguyên vẹn tính xác thực mà không còn là một tập hợp ngẫunhiên, thô mộc nữa, nhờ tác giả mà chúng đã trở thành những chất liệu, những yếu tốtạo nên chỉnh thể thế giới nghệ thuật

Tác giả kí là người trực tiếp tiếp cận, nghiên cứu cuộc sống, phát hiện vấn đề,tìm tòi và khái quát ý nghĩa xã hội thẫm mĩ của các chi tiết, sự kiện, con người đượcghi chép, phản ánh trong tác phẩm Như đã nói, kí cũng có thể sử dụng hư cấu, tưởngtượng nhưng trước hết và chủ yếu bức tranh cuộc sống trong kí được dựng bằngnhững gì mà tác giả quan sát, nghe, nhìn, cảm thấy… Các tác giả kí thường đi nhiềuđến mức gắn bó hòa nhập, thân thuộc, hiểu biết tỉ mỉ, chính xác, nắm bắt được nhữngchi tiết xác thực nhiều mặt về đối tượng phản ánh của mình Nguyễn Tuân kể từng

nhiều lần đi lại vùng Tây Bắc khi viết Sông Đà Ông cũng biết cặn kẽ về lịch sử và

địa lí vùng đất Vĩnh Linh, biết chính xác tên gọi, độ rộng, độ dải của sông từng khúc,từng chỗ; nắm vững độ dài và số ván gỗ của cầu, biết số lượng, hình thức và nơi cắm,đóng cột mốc giới tuyến… khi viết về sự chia cắt Bắc - Nam

Cũng vậy, đây là cách Trần Đăng viết kí những năm kháng chiến chống Phápqua hồi tưởng của Nguyễn Đình Thi: “Trần Đăng đi hết chiến dịch này đến chiếndịch khác Thu đông 47 ở Yên Thế thượng, La Hiên, mùa xuân 48 ở chung quanh HàNội, xuân 49 ở đường số 4, men theo Lũng Phầy, cái thung lũng lửa đã trở thànhnghĩa địa của các binh đoàn thiết giáp thực dân, mùa hè 49 trên sông Thao, thu đông

Trang 13

49 lại lên Đông bắc, vượt qua đường 13 tiến sâu vào những núi đá và đồi trọc hoang

vu vùng địch hậu Trần Đăng đi mải miết, không nghỉ, không mệt (…) Trần Đăngviết ngoài mặt trận, ở cơ quan, trên đường đi, giữa hai chiến dịch, giữa hai chặngđường Anh ghi trong sổ tay: “Chỉ có sống, sống cái khách quan và kể lại Hãy khoan

là một tấm sơn mài Hãy làm nhiều croquys (bức vẽ nhanh) cho thật đúng, hệt, giản

dị, thành thực và thật” Các tờ báo đăng lần lượt: Trong rừng Yên Thế, Những ngày

cuối năm, Trận Phố Ràng, Người chính trị viên trong đề lao Bắc Cạn, những trang

viết mỗi ngày một vững chắc” Người đọc như được tận mắt quan sát những chi tiếtsống động của cuộc sống, con người được chuyển tải xác thực nhờ cái nhìn trực tiếp

chứng kiến của tác giả Chẳng hạn, Trong rừng Yên Thế, một cảnh đồng bào chạy

giặc: “Ngoài đường dân chúng dân chúng lõm bõm, lướt thướt, lũ lượt, gồng gánhkéo nhau đi tản cư Họ phải đi hơn hai cây số đường dốc và trơn nữa, mới đến chỗnghỉ chân dưới đèo Ở đấy, ông già, đàn bà, con trẻ đang chen chúc nhau trong mấyquán hàng chật Có đến hai ba nhà đang rầm rĩ mổ lợn để tiếp tế bộ đội, để đem vàorừng ăn, để bán rẻ cho đồng bào tản cư Giặc đến mà không đem đi được hết thì khổ

Mà giặc cách năm cây số, chưa biết sẽ đánh được lên đường nào” Không chứng kiếntận nơi, tận mắt khó mà ghi lại được sinh động, xác định và sâu sắc hoàn cảnh, việclàm của người dân tản cư như thế Cũng phải là người trong cuộc, trực tiếp chứngkiến, tham gia vào sự kiện mới có thể khắc họa sống động và truyền cảm lòng cămthù giặc của những người lính vệ quốc: “Người trung đội trưởng nín lặng, nhắc taycầm lấy mảnh giấy, không hỏi gì thêm, không nói nửa lời, anh đứng sững, môi mímchặt, mắt nhìn vào khoảng không Các đội viên dán mắt vào anh, chờ ánh lửa rungrinh lên hai bên vách những bóng người ngồi im như tượng Rõ ràng những nét mặtquê mùa ấy đang gân lên, những cặp mắt chất phác long lanh, những quai hàm thôkệch banh ra Tất cả sức mạnh phi thường, vô địch của những người Vệ quốc thânthiện chiến, hiện ra trong cái phút cả một trung đội xếp bằng tròn, im phăng phắc màchờ mệnh lệnh”

Tác giả kí cũng là người trực tiếp tham gia vào thế giới hình tượng nghệ thuậtcủa tác phẩm, phát huy khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, nối kết các chitiết, sự kiện: trực tiếp trình bày tư tưởng, tình cảm của mình để hướng dẫn người đọccảm thụ cuộc sống bằng bó đuốc của những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm của tác giả,

là “sự nhức nhối của trí tuệ” Ví dụ, kể về con sông giới tuyến những năm đất nước tacòn bị chia cắt, Nguyễn Tuân nối cái so le của cột mốc, số ván cầu với sự khác biệt

cơ bản giữa hai miền: “ Ai cũng biết rằng miền Bắc và miền Nam là hai chế độ kinh

tế hoàn toàn khác nhau, miền Bắc đang hòa bình kiến thiết xã hội chủ nghĩa và miềnNam, Mĩ – Diệm đang tàn phá và chiến tranh hòng biến nửa Tổ quốc ta thành thuộcđịa kiểu mới của Mĩ Cái hơn thua của hai chế độ, không ai lẩm bẩm đi so đo về mấy

Trang 14

cọc tuyến bên hơn bên kém; mà chính là ăn nhau ở cái phẩm chất chính trị của chế độmình nó có triển vọng lịch sử, hay là nó cũng cùng đường mạt lộ như tất cả bè lũ phátxít trên thế giới Nói về chỗ hai miền hơn thua nhau tôi muốn lấy cái ý của nhà thơĐức Bertol Brescht mà phát triển thành ra: “Tổ quốc là thuộc quyền sở hữu chế độnào làm cho đất nước đó tốt đẹp hơn lên” Chính cách nối kết đó của tác giả đã làmcho cách thuyết giải vấn đề hơn thua Bắc Nam trở nên tin cậy, thuyết phục nhưnhững số liệu, những tài liệu chính xác về sông giới tuyến… Hầu như trong thế giớinghệ thuật của tác phẩm kí nào cũng xuất hiện hình tượng tác giả như điểm nhìntrung tâm gắn kết, đánh giá các chi tiết, sự kiện của đời sống Cái “tôi” (hay “chúngtôi”) – tác giả ấy cũng thường trực tiếp giao tiếp với bạn đọc, dắt dẫn người đọc xâmnhập cuộc đời Chẳng hạn, tập Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọc Tường có tới8/9 tác phẩm nhân vật “tôi” xuất hiện ngay từ những câu đầu: “Cuối buổi chiều, Huế

thường trở về trong một nổi yên tĩnh lạ lùng, đến nỗi tôi cảm thấy…” (Rất nhiều ánh

lửa): “Buổi chiều đến trạm sớm, tôi ra ngoài bờ sông Among…” (Như con sông từ nguồn ra biển); “Đọc kí của anh Nguyễn Tuân viết về Cà Mau, tôi nhớ một nhân

vật…” (Rừng nước mặn); “Đã lâu chưa về thăm lại làng trà, lòng tôi cứ thấp thỏm không yên…” (Miếng trầu đỏ); “Hồi chiến tranh, có lần tôi đi qua khu vựa phi quân

sự cũ…” (Đánh giặc trên hàng rào điện tử); “Con tàu tôi đưa về đất Mũi…” (Đất

Mũi); “Gió mùa khô đã thổi hết những chiếc lá tre vừa rụng xuống Tôi đi dọc theo

một con đường làng rộng và sạch nhẵn…” (Còn mãi đến giờ) Trong kí của nhiều tác

giả khác cũng có hiện tượng như vậy: “Hỡi người gia nhân tôi gặp trên đường đời…”

(Vài trang nhật kí Thôi Hữu); “Mình cứ tưởng sức sống của Thủ đô…” (Ngày độc lập ở Thủ đô - Thôi Hữu) “Đêm nay là một đêm chuẩn bị Ngày mai chúng tôi sẽ ra

trận…” (Đường chúng ta đi - Nguyễn Trung Thành); “Trong đơn vị chúng tôi có một

nữ trinh sát” (Trận đánh bắt đầu từ hôm nay - Nguyễn Trung Thành)….

Ở vị trí một hình tượng trung tâm trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm kí,hình tượng tác giả thường “bộc lộ rõ lập trường, tư tưởng, chính kiến của nhà văn” vềnhững hiện tượng nào đó của cuộc đời Với nhiệt huyết thuyết phục trong trình bày,phân tích, lí giải các hiện tượng của cuộc sống, hình tượng của tác giả trong kí là cơ

sở khiến “kí mang sức giác ngộ, động viên, giáo dục mạnh mẽ”

Trang 15

2.3.2 Đặc điểm về văn phong, ngôn từ nghệ thuật của kí

Theo Nguyễn Tuân: “Cách diễn đạt của thể kí cũng rất đa dạng và phức tạp”

Có nhà nghiên cứu cho rằng: đặc điểm văn học của kí lộ rõ nhất ở văn phong, ngôn từnghệ thuật

Trước hết, ngôn từ nghệ thuật của kí hướng và miêu tả phong tục qua nhữngđặc điểm môi trường hoặc những nét tính cách tiêu biểu của cuộc sống Vì thế vừa cụthể, vừa sinh động, đậm chất đời thường, vừa khái quát Đặc điểm phổ biến này củacác tiểu loại kí thường biểu hiện rõ nhất ở phóng sự, kí sự Chẳng hạn, để ghi lại “cái

cảnh giàu sang của chúa thực” trong phủ Chúa Trịnh, tác giả Thượng kinh kí sự viết:

“Tôi ngẩng đầu lên, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đuathắm, gió đưa thoang thoảng mùi thơm Những dãy hành lang quanh co nối nhau liêntiếp Người giữ cửa truyền bảo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi (…)

Đi được vài trăm bước, qua mấy làn cửa mới tới cái điếm “Hậu mã quân túc trực”.Điếm làm bên một cái hồ, có những cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ Trong điếm,cột và bao lon lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp (…) Qua dãy hành lang phíaTây, đến một cái nhà lớn thật là cao và rộng Hai bên là hai cái kiệu để vua chúa đi

Đồ nghi trượng đều sơn son thếp vàng Trên sập mắc một cái võng điều đỏ Trướcsập và hai bên bày bàn ghế, những đồ đạc dân gian chưa từng thấy” Các chi tiết cảnhvật được ghi lại rất tự nhiên theo cái nhìn của người trong cuộc, nhưng tái hiện khánổi bật cảnh sống xa hoa nhàn tản của vương hầu…

Do vai trò đặc biệt nổi bật và quan trọng của tác giả trong tác phẩm kí, ngoàinhững đặc điểm chung của ngôn ngữ văn học, ngôn từ nghệ thuật trong kí cũng mangđậm tính chủ thể, gắn liền với đặc điểm cá tính sáng tạo của tác giả

Ngôn từ trong tác phẩm kí văn học chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả người chứng kiến và tái hiện các hiện tượng đời sống Đồng thời, tác giả luôn làngười đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ của các nhân vật khác

-So với ngôn từ nghệ thuật của các loại tác phẩm khác, ngôn từ của kí luôn có xuhướng mở rộng, thừa nhận, dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo Nóinhư Nguyễn Tuân, “kí có quyền dùng tất cả các cách của truyện, kịch, thơ ca, và cảcác cách thức của điện ảnh, sân khấu, ca vũ, hội họa, điêu khắc,… Chẳng hạn, mộtđoạn trong bút kí Người dũng sĩ dưới chân núi Chu Pông của Nguyễn Trung Thành:

“Trận đánh đầu tiên bằng súng của Kơ Lơng là một trận chống cản Một cây súngMát với ba viên đạn Kơ Lơng bám gót bọn giặc từ tờ mờ sáng đến đứng trưa, vẫnchưa bắn Anh Bờ Lang đã dặn đi dặn lại: “Một viên đạn phải lấy một đầu giặc, bắn

Trang 16

trật phải đền đạn cho du kích” Bắn trật thì nhất định Kơ Lơng không thể bắn trật rồi.Đối với một người du kích Gia Rai, bắn trật là một điều xấu hổ lớn Nhưng mỗi viênđạn chỉ hạ được một thằng cũng uổng lắm Kơ Lơng quần mãi với lũ giặc Chúng nó

ăn cơm trưa, vẫn chưa bắn được Chúng nó tập hợp Thời cơ đây rồi! Kơ Lơng kêsúng lên một gốc cây, nổ một phát đúng vào một hàng lính đứng dọc trước mặt Viênđạn đầu tiên trong đời Kơ Lơng xâu luôn một hàng năm tên giặc, giết chết cả nămtên Bọn giặc kinh hoàng, rối loạn Kơ Lơng rê súng, lừa một lúc, nổ tiếp phát thứhai, xâu táo luôn ba tên nữa, hai tên bỏ mạng, một tên bị thương Còn một viên đạn,

Kơ Lơng nhét kĩ vào lưng quần, đem về trả cho Bờ Lang” Rõ ràng trong đoạn ghichép này có cả lời người kể, lời Bờ Lang, lời của Kơ Lơng; có cả kể, tả, biểu hiện…

Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí thường rất linh hoạt về giọng điệu Kíthường không chỉ trần thuật, mà cùng với trần thuật là phân tích, khái quát ý nghĩacủa các hiện tượng đời sống được đề cập, phản ánh trong tác phẩm Ta có thể thấy rõ

điều này ở đoạn đầu của tùy bút Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành Sau

lời trần thuật: “Thường vẫn vậy đấy, bắt đầu hầu như chẳng có gì cả Chỉ là mộtgiọng hát Đội trưởng chúng tôi vừa tắt đài Trên đài, một người con gái nào đó vừahát một bản dân ca của đất nước ta trong đêm khuya…” là sự phân tích: “một giọnghát dân ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời,

có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp, có lúc tinh nghịch, duyên dángnhư những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa chạy trên những con đường làng trộnlẫn bóng tre và bóng nắng…; là sự khái quát: “Đó chính là quê hương ta đang cất lêntiếng hát Tiếng ngân nga dội lên từ trong lòng đất (…) Đó là tiếng ngân của mặt đất,của dòng sông, của những xóm làng, sau một ngày lao động và chiến đấu”…

Cùng với trần thuật hoặc trên nền trần thuật, kí cũng khêu gợi xúc cảm ở bạnđọc, truyền xúc cảm, cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả tới bạn đọc Ngôn từ nghệthuật trong kí không thường hướng về đối tượng được phản ánh, mà là thứ ngôn từthuyết phục trực tiếp và tích cực hướng về gây hiệu quả nhận thức, làm rung độngtình cảm của người đọc Ví dụ: từ giọng hát của người con gái trên đài, nhân vật “tôi”

- người lính cũ khiêu gợi người đọc về đất nước và con người Việt Nam ta, trong lịch

sử và trong hiện tại

Chính vì có những phẩm chất riêng so với những thể loại khác, kí có vai tròquan trọng trong sự vận động và phát triển của văn học Trong gia đình văn học, kíkhông phải là “thể loại đàn em” Kí góp phần làm cho văn học phát triển hài hòa,phong phú, kịp thời song hành cùng cuộc sống, nhất là ở những giao điểm vận động

Trang 17

của lịch sử, đáp ứng kịp thời và trực tiếp nhu cầu nhận thức nhiều mặt của con người.

Sự phát triển của loại tác phẩm kí ở Anh đầu thế kỉ XVIII, ở Nga giữa thế kỉ XIX; sựnảy nở phong phú của các tác phẩm kí của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng vàcác tác giả khác những năm 30 của thế kỉ XX về đời sống của dân nghèo và về các tệnạn của xã hội thực dân hóa, cũng như sự xuất hiện của nhiều tác phẩm kí trong đờisống văn học nửa cuối những năm 1980, khi đất nước ta bước vào thời kì đổi mới vàtrong giai đoạn hiện tại… là những ví dụ

Kí không chỉ phản ánh, lưu giữ những hiện tượng, cảm xúc vừa nổi bật, vừa cótính thời sự mà còn mang cảm hứng nghiên cứu, thể hiện tính tổng hợp về tài liệu vàcác phương thức phản ánh Kí không những không thua kém các thể loại khác về màusắc thẩm mĩ mà còn có thể linh hoạt vận dụng, kết hợp các phương thức tiếp cận, lígiải, phản ánh, khái quát hiện thực của các thể loại khác, tạo nên giá trị phong phú vàđộc đáo riêng của mình

Kí cũng là loại tác phẩm văn học bộc lộ rõ tính tư tưởng, tính khuynh hướngtrong việc tái hiện và tích cực tác động đến đời sống xã hội

2.3.3 Hư cấu và phi hư cấu trong kí

Xét từ gốc gác và bản chất, kí trước hết nhằm thông tin sự thật Chức năng “đểghi nhớ không quên” có từ cội nguồn thể loại khiến các nhà viết kí trước hết phảihướng về tìm tòi, nghiên cứu, phát hiện rồi ghi lại những “người thật, việc thật”,những biến cố, những vấn đề của đời sống Phần nhiều tác phẩm kí ra đời như bộc lộphản ứng trực tiếp với những biến cố thời sự, những vấn đề nóng bỏng đang được đặt

ra trong đời sống Chính đặc điểm này làm cho kí văn học gần với kí báo chí Các thểhoặc các tiểu loại khác nhau của thể loại kí thường đặc biệt phát triển cùng với sựphát triển của báo chí, đáp ứng những nhu cầu thời sự bức xúc về nhận thức và đổimới đời sống xã hội Người viết kí không chỉ đặc biệt quan tâm và tôn trọng những

sự kiện xã hội - lịch sử, mà còn chú ý tới tất cả những biểu hiện, những dạng hướngtồn tại phát triển của cuộc sống, truyền đạt trung thực những gì mà theo tác giả là cógiá trị, ý nghĩa với con người Với thể loại kí, “cõi thực vốn là bản gốc của tácphẩm”, “tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của kí” Sức hấp dẫn, sức thuyếtphục của tác phẩm kí thường gắn bó chặt chẽ với tính chất có thật, xác thực của sựviệc được phản ánh trong tác phẩm

Lấy điểm tựa ở sự thật khách quan của đời sống, kí văn học có khả năng mạnh

mẽ trong việc tạo ra giá trị nhận thức, tạo ra sức thuyết phục, sức lay động đối với

người đọc Bộ Sử kí khổng lồ của Tư Mã Thiên (145-90 tr.CN) gồm 130 thiên với

Trang 18

526.500 chữ ghi chép việc 3000 năm lịch sử Trung Hoa từ Hoàng đế trong truyềnthuyết đến Hán Vũ Đế, được coi là công trình sử học mẫu mực, một tác phẩm tư liệu

nổi tiếng của văn học thế giới Theo Lê Quý Đôn, văn của Sử kí hay vì “Tư Mã

Thiên…chỉ thấy sự việc thì ghi, không hề để tâm làm văn” Những năm đầu thế kỉ

XX, Lê Nin đánh giá rất cao tác phẩm kí Mười ngày rung chuyển thế giới của John

Reed “vì tác phẩm đã mô tả một cách đúng đắn và sinh động lạ thường những sự kiện

có một tầm quan trọng rất lớn để hiểu rõ cách mạng là gì và chuyên chính vô sản làgì” Giữa năm 1917, Reed đã sang Nga, và sau đó được chứng kiến tận mắt cuộc cáchmạng tháng Mười vĩ đại Ông thu thập được rất nhiều tài liệu Năm 1918, John Reed

trở về Niu Oóc và viết Mười ngày rung chuyển thế giới Như chính Reed đã viết

trong lời Tựa của tác phẩm, “quyển sách này kể lại một giai đoạn lịch sử quyết liệt đãdiễn biến dưới mắt tôi” Trong quá trình của cuộc chiến đấu, tôi không phải kẻ bàngquan Nhưng kể lại những ngày lịch sử vĩ đại ấy, tôi muốn nhận xét sự việc với conmắt của một người ghi chép có lương tâm, cố gắng ghi lại sự thực” Do được ghi lạimột cách trung thực, con người, sự việc trong tác phẩm kí tác động đến người đọc

mạnh mẽ hơn Đọc tác phẩm kí Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi viết về chị Út

Tịch, “lòng yêu thương và ngưỡng mộ đối với người anh hùng đã trở nên sâu nặnghơn khi người ta biết rằng một người mẹ như vậy đã sống thực, và đã đánh giặc ởmột mảnh đất gọi là “xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh” có thực của Tổquốc” Nhiều tác phẩm kí văn học có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá, có ýnghĩa và tác dụng to lớn với nhận thức của người đọc và ngay cả với những sáng tạonghệ thuật về sau Không phải ngẫu nhiên mà kí còn được gọi là “văn học báo cáo”,

“văn học tư liệu - nghệ thuật”

Khởi nguồn từ những sự kiện, những nhu cầu có ý nghĩa thời sự của đời sống,hướng tới thông tin sự thật một cách trung thực, kí văn học vẫn có những đặc điểmkhác với kí báo chí Trên cơ sở thông báo kịp thời về những sự kiện, con người, tìnhhuống mới xuất hiện, kí báo chí thỏa mãn nhu cầu thông tin về cái mới, cái thời sựcho bạn đọc Kí báo chí – cũng như các thể loại báo chí nói chung - chịu sự chi phốigắt gao của áp lực thời sự Áp lực này có khi đòi hỏi đến từng phút Chính áp lực nàychi phối toàn diện đến dung lượng , ngôn từ bút pháp, cách tổ chức tác phẩm và hàngloạt yếu tố khác Nguyên tắc bao trùm của kí báo chí là ngắn gọn, rõ ràng, dễ đọc,

dễ nghe, dễ hiểu, dễ nhớ, ngôn từ thiên về thông tin, thông báo và đặc biệt chú ý đến

sự chính xác, cụ thể của tin tức về con người, sự việc, sự kiện trong không gian vàthời gian… Một sự kiện đã mất tính thời sự thì không có giá trị đối với báo chí.Ngược lại, trong kí văn học, tính thời sự thì không phải là tiêu chí hàng đầu Nhà vănviết kí ngoài yêu cầu chưng cất các sự kiện hiện thực, tác giả sử dụng những chất liệuhiện thực và ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc để xây dựng những hình tượngnghệ thuật vừa mang đậm dấu ấn đời sống, vừa biểu hiện quan niệm thẩm mĩ độc đáo

Ngày đăng: 20/03/2021, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đình Sử (Chủ biên) - Phan Huy Dũng - La Khắc Hòa - Phùng Ngọc Kiếm - Lê Lưu Oanh, Giáo trình Lí luận văn học Tập II - Tác phẩm và thể loại văn học, NXB Đại học Sư phạm Khác
2. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
3. Trần Đình Sử - Phương Lựu – Nguyễn Xuân Nam, Giáo trình Lí luận văn học tập II, NXB Giáo Dục Khác
4. TS. Trần Đăng Thao, Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng, NXB Thanh Niên Khác
5. Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w