1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SO SÁNH KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ TRUYỆN KIỀU

72 5K 38

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 412 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ TRUYỆN KIỀU MỞ ĐẦU Xưa nay, hễ nhắc tới Truyện Kiều, người ta thường liên hệ đến Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng dễ hiểu, bởi lẽ chính Kim Vân Kiều Truyện đã tạo nguồn cảm hứng để Nguyễn Du sáng tạo nên thi phẩm ưu tú nhất của nền văn học Việt Nam. Dẫu biết cốt truyện của Truyện Kiều được mượn từ Kim Vân Kiều truyện, nhưng cũng cần phải hiểu rằng Nguyễn Du đã thổi hồn dân tộc vào tác phẩm của mình, tạo cho nó một hình ảnh mới, một giọng điệu mới, và một sức sống mãnh liệt chưa từng thấy. Thế nên hàng trăm năm qua, Truyện Kiều đã sống chan hòa trong đời sống dân tộc không riêng gì văn học Việt Nam mà còn cả trên văn đàn thế giới. Cũng thật hiếm những tác phẩm chinh phục được đông đảo trái tim của bạn đọc như Truyện Kiều. Vậy phần nào là phần sáng tạo của Nguyễn Du, phần nào theo ý của Thanh Tâm Tài Nhân ? Điều đó đến nay vẫn còn nhiều ý kiến đánh giá khác nhau và chưa giải quyết một cách triệt để. Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu và sự tìm tòi phân tích của nhóm, chúng tôi xin đưa ra một vài điểm tương đồng cũng như khác biệt của hai tác phẩm nói trên.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1

MÔN: NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU

TRUYỆN KIỀU

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Thu Yến

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NGÀY 21 THÁNG 09 NĂM 2017

Trang 2

MỞ ĐẦU

Xưa nay, hễ nhắc tới Truyện Kiều, người ta thường liên hệ đến KimVân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Cũng dễ hiểu, bởi lẽ chính KimVân Kiều Truyện đã tạo nguồn cảm hứng để Nguyễn Du sáng tạo nên thiphẩm ưu tú nhất của nền văn học Việt Nam Dẫu biết cốt truyện của TruyệnKiều được mượn từ Kim Vân Kiều truyện, nhưng cũng cần phải hiểu rằngNguyễn Du đã thổi hồn dân tộc vào tác phẩm của mình, tạo cho nó một hìnhảnh mới, một giọng điệu mới, và một sức sống mãnh liệt chưa từng thấy.Thế nên hàng trăm năm qua, Truyện Kiều đã sống chan hòa trong đời sốngdân tộc không riêng gì văn học Việt Nam mà còn cả trên văn đàn thế giới.Cũng thật hiếm những tác phẩm chinh phục được đông đảo trái tim của bạnđọc như Truyện Kiều Vậy phần nào là phần sáng tạo của Nguyễn Du, phầnnào theo ý của Thanh Tâm Tài Nhân ? Điều đó đến nay vẫn còn nhiều ý kiếnđánh giá khác nhau và chưa giải quyết một cách triệt để Trên cơ sở thamkhảo một số công trình nghiên cứu và sự tìm tòi phân tích của nhóm, chúngtôi xin đưa ra một vài điểm tương đồng cũng như khác biệt của hai tác phẩmnói trên

Trang 3

và 5 quận công Bản thân ông là người học rộng biết nhiều, am tường cảNho, Phật, Đạo

Ông là một con người tài năng Xuất thân trong một gia đình phongkiến đại quý tộc có danh vọng vào loại bậc nhất đương thời nhưng Nguyễn

Du sống trong cuộc sống nhung lụa không được bao lâu Bởi vì nhà thơ lớnlên giữa lúc gia đình đang sụp đổ nhanh chóng theo đà sụp đổ của tập đoànphong kiến thống trị Lê-Trịnh Nguyễn Du phải sớm đương đầu với nhữngbiến cố lớn lao của gia đình và xã hội Nhà thơ đã từng chịu nhiều nỗi bấthạnh Ông có một thời gian dài khoảng hơn 10 năm sống lưu lạc ở quê vợ ởThái Bình, quê cha Hà Tĩnh Ông trải qua "mười năm gió bụi", có lúc ốmđau không có thuốc, mái tóc sớm bạc Ông tự xưng là "Hồng Sơn liệp hộ"(người đi săn ở núi Hồng), "Nam Hải điếu đổ" (Người câu cá ở biển NamHải):

Trang 4

"Hồng Sơn cao ngất mấy tầng,

Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu!".

Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan Chỉ trong vònghơn 10 năm, ông đã bước lên đỉnh cao danh vọng: làm Chánh sứ sang TrungQuốc (1813- 1814), giữ chức Hữu tham tri bộ Lễ Năm 1820, lần thứ hai,ông lại được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, nhưng chưa kịp đi thì bịbệnh, qua đời Những năm tháng bất hạnh ấy có ảnh hưởng trực tiếp quyếtđịnh đến sự hình thành con người nghệ sĩ vĩ đại ở ông.Nguyễn Du là mộtnhà thơ có tấm lòng nhân đạo sâu xa

Sống một cuộc đời chịu nhiều gió bụi của chiến tranh loạn lạc,Nguyễn Du đã nhiều phen phiêu dạt nơi đất khách, sống những tháng ngày

lo âu chốn quan trường, mệt nhoài trong bệnh tật Tâm hồn ông đã kinh quanhiều nỗi bi kịch, nhiều cảnh đời trái ngang và hơn hết, đọng lại trong tâmhồn đa sầu đa cảm của thi nhân là những giọt nước mắt thương mình, thươngđời, thương người

Nguyễn Du có một tâm hồn lớn, trái tim lớn, nhạy bén với thời cuộc

và có cái nhìn toàn diện về cuộc đời Bản thân ông là một tác gia, một tấmgương lớn của thời đại

Về con đường văn nghiệp thì Nguyễn Du là một tác gia văn họckhông chỉ thành công về mặt chữ Nôm mà còn có thành tựu nghệ thuật vềmặt chữ Hán Sáng tác của ông nặng trĩu tâm tâm tư của con người ưu thờimẫn thế, thấm đẫm giá trị hiện thực và nhân văn cũng như nghệ thuật viếtthật điêu luyện

- Tác phẩm chữ Nôm gồm có:

Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi Đau Đứt ruột-Tên phổ

biến là Truyện Kiều), Được viết bằng chữ Nôm, gồm 3254 câu thơ theo thể

Trang 5

lục bát Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện củaThanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc Nội dung chính của truyện xoay quanhquãng Đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vậtchính trong truyện, một cô gái có tài sắc Về thời Điểm sáng tác, Từ Điểnvăn học (bộ mới) ghi: "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông Đi

sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi Đi sứ, cóthể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809) Thuyết sauĐược nhiều người chấp nhận hơn"

Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế

mười loại chúng sinh), hiện chưa rõ thời Điểm sáng tác Trong văn bản doĐàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “ĐôngDương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùadịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông Đất nước âm khínặng nề, và ở khắp các chùa, người ta Đều lập Đàn giải thoát Để cầu siêucho hàng triệu linh hồn Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Duviết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở QuảngBình (1802-1812) Tác phẩm Được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184câu thơ chữ Nôm

Thác lời trai phường nón, 48 câu, Được viết bằng thể lục bát Nội

dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phườngvải

Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, Để bày

tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác

- Tác phẩm chữ Hán gồm có:

“Thanh Hiên thi tập” 1786-1804

Trang 6

“Nam trung tạp ngâm” 1805-1812

“Bắc hành tạp lục” 1813-1814.

Cả ba tập thơ đã được tập hợp lại thành tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Du

do nhóm Lê Thước và Trương Chính giới thiệu, xuất bản năm 1965 gồm 243

bài thơ

Thơ chữ Hán có một vị trí khá quan trọng trong hành trình sáng tác

của Nguyễn Du Đó là tập hợp những tư liệu phản ánh trực tiếp đời sống tưtưởng, tình cảm của nhà thơ trong khoảng ba mươi năm gió bụi cuộc đời Batập thơ chữ Hán có sự phân định như sau:

- “Thanh Hiên thi tập”: Gồm 78 bài thơ Nguyễn Du sáng tác trong khoảng

thời gian từ 1786 đến 1804 Đó là khoảng thời gian mười năm gió bụi ôngnương náu ở quê vợ, sau đó trở về dưới chân núi Hồng, rồi ra làm quan ởBắc Hà

- “Nam trung tạp ngâm”: Tập hợp 40 bài thơ được viết từ 1805 đến cuối

1812 khi Nguyễn Du thăng hàm Đông các điện học sĩ, làm quan trong Kinhcho đến hết thời kì làm Cai bạ dinh Quảng Bình

- “Bắc hành tạp lục”: Gồm 132 tác phẩm được sáng tác trong chuyến đi sứ

Trung Quốc 1813 - 1814

1.1.2 Tác phẩm.

Truyện Kiều tên gốc là Đoạn trường tân thanh, là truyện thơ chữ Nômtheo thể lục bát của Nguyễn Du, gồm 3254 câu lục bát, dựa theo tiểu thuyết,dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (TrungQuốc)

Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc(1814-1820) Lại có thuyết nói ông viết trước khi sứ, có thể vào khoảng thờigian làm Cai bạ ở Quảng Bình(1804-1809) Thuyết sau được nhiều người

Trang 7

chấp nhận hơn Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in vàlưu hành rộng rãi Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu VănĐường(1871) và bản của Duy Minh Thị(1872), đều ở thời vua Tự Đức.

Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bánmình chuộc cha của Thúy Kiều- nhân vật chính trong truyện là một cô gái “sắc nước hương trời” và có tài “cầm, kỳ, thi, họa” nhưng cuộc đời lại gặplắm truân chuyên

Tác phẩm đã dựng lên một bức tranh xã hội rộng lớn phản ánh tìnhtrạng xã hội đương thời Trong đó nhà thơ đã lên án, tố cáo những thế lựcchà đạp lên quyền sống, quyền được hạnh phúc của con người Đó là sứcmạnh đen tối của đồng tiền phi nghĩa, nó đã trở thành kẻ đồng lõa với lòngtham, sự bất công và cái ác Vì tham tiền mà thằng bán tơ vu khống Vươngông, vì tham tiền mà Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh…đã dựnglên cả một hệ thống nhà chứa, vì tham tiền mà sinh ra những kẻ phản trắc,nhẫn tâm như Sở Khanh, Ưng Khuyển… Đó là chế độ nhà chứa được dungtúng đã giam cầm, lừa lọc con người, đặc biệt là người phụ nữ Biết baongười con gái đã bị chôn vùi tuổi thanh xuân chốn lầu xanh nhơ nhớp ấy màĐạm Tiên và Thúy Kiều là số phận tiêu biểu Giá trị hiện thực của tác phẩmcòn thể hiện ở việc tố cáo sự thối nát của chính quyền phong kiến mà đạidiện là Hồ Tôn Hiến và bè lũ tay sai… Chúng chẳng những tàn bạo, lậtlọng, tham lam mà còn là một phường phán trắc dâm ô

Về nội dung thì sách “ Đoạn Trường Tân Thanh” thì tác giả khôngchia ra từng hồi, nhưng ta có thể xét theo mạch lạc mà chia ra làm ba phần,gồm 13 chương như sau:

Phần Thứ Nhất: HỘI NGỘ

A-Phát Đoạn

a) Tài mệnh tương đố

Trang 8

c)Về nhà - nghĩ vẩn vơ - Mộng Đạm Tiên- Than thân.

C-Đi lại với Kim Trọng

a) Kim Trọng tương tư - thuê nhà

b)Kim Trọng gặp Kiều - giao ước

c)Kiều tìm Kim Trọng- thề nguyền - nói răn

Phần Thứ Hai:LƯU LẠC

A- Gia biến

Kim Trọng sang Liêu Dương

Cha và em Kiều mắc nạn- Kiều quyết bán mình

Mã Giám Sinh mua Kiều

Vương ông được tha- Kiều khuyên giải

Kiều phó thác tâm sự cho em

B- Vào lầu xanh lần thứ nhất

a) Mã Giám Sinh rước Kiều: Về trú phường- về Lâm Tri

b) Đến lầu xanh- Tú bà ra oai- Kiều tự vẫn

c) Tú bà lập mưu- dỗ Kiều- Kiều ở lầu Ngưng Bích- bị Sở Khanh lừa- Tú bàhành tội

d) Kiều tiếp khách

C- Lấy Thúc Sinh

a) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra

b) Bị Thúc ông cáo quan- quan xử đoàn tụ

c) Sợ vợ chính- Kiều khuyên Thúc Sinh về nhà

Trang 9

d) Hoạn Thư căm giận- Thúc Sinh về nhà không dám thù

e) Thúc Sinh đi, Hoạn Thư lập mưu bắt Kiều- Thúc Sinh tưởng Kiều chết

D - Mắc tay Hoạn Thư

a) Kiều bị bắt nộp cho Hoạn bà

b) Kiều phải sang hầu Hoạn Thư

c) Hoạn Thư làm nhục Kiều trước mặt Thúc Sinh

d) Kiều được tu ở Quan Âm các

e) Thúc Sinh lên thăm Kiều bị Hoạn Thư bắt được

E-Vào lầu xanh lần thứ hai

a) Kiều sợ trốn vào am Chiêu Ẩn

b)Giác Duyên sợ lụy gửi Kiều cho Bạc Bà

c) Bạc Bà lừa bán Kiều cho lầu xanh

G- Lấy Từ Hải- Hết nợ đoạn trường

a) Được Từ Hải chuộc ra

b)Từ Hải thành công-Kiều báo ân báo oán- Giác Duyên nói vận mệnh- TừHải hùng cứ

c) Hồ Tôn Hiến dùng mưu dụ hàng- Từ Hải đầu hàng và bị giết

d)Kiều bị ép lấy thổ quan- Tự tử ở Tiền đường

e) Giác Duyên gặp sư Tam Hợp nói chuyện Kiều- thuê thuyền vớt Kiều

Phần thứ ba: ĐOÀN VIÊN

A- Kim Trọng trở lại vườn Thúy

a) Trở về thấy cảnh điêu tàn

b) Gặp gia đình Thúy Kiều

c) Nuôi cha mẹ Kiều-lấy Thúy Vân

Trang 10

B- Tìm Thúy Kiều

a) Kim Trọng, Vương quan thi đậu và được bổ quan

b) Hỏi được tin Kiều ở Lâm Tri

c) Hỏi được tin Kiều ở Hàng Châu- tưởng Kiều đã chết

C- Sum họp một nhà

a) Gặp đàn Tế - gặp Giác Duyên

b) Giác Duyên dẫn đi tìm Kiều- Kiều từ giả Giác Duyên

c) Mừng đoàn viên- Kiều cố từ việc kết hôn không được

d) Kim Trọng hứa xem nhau là bạn bè- Kiều đành đoạn kết liều đời bạcmệnh

D- Kết Thúc

a) Tài và mệnh

b) Thiện tâm sửa được số mệnh

Về nội dung, Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giátrị nhân đạo Tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với

bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận những người bị áp bức, đaukhổ, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ

Về nghệ thuật,Truyện Kiều đã đạt được những thành tựu to lớn vềnhiều mặt, nổi bật là ngôn ngữ và thể loại Đến Truyện Kiều, ngôn ngữ tiếngViệt đã đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật ở cả ba phương diện biểuđạt, biểu cảm và thẩm mĩ ; kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ bình dân và ngôn

Trang 11

ngữ bác học Đồng thời nghệ thuật tự sự và miêu tả trong tác phẩm cũng rất

đa dạng

Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản với số lượnglớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánhgiá rất cao về Truyện Kiều Và có thể nói rằng kiệt tác Truyện Kiều có sứcchinh phục khá lớn đối với nhiều thế hệ đọc giả cả trong và ngoài nước

1.2 Kim Vân Kiều Truyện.

Ngoài Kim Vân Kiều Truyện, ông còn viết bộ kịch “Tứ thanh viên”

(Vượn kêu bốn tiếng) gồm bốn vở Ngư dương lộng, Thúy nương mộng, Hoa mộc lan và Nữ trạng nguyên.

1.2.2 Tác phẩm.

Kim Vân Kiều Truyện là một trong vô vàn tiểu thuyết Minh Thanh

(cuối Minh đầu Thanh), là cuốn tiểu thuyết chương hồi có kết cấutruyền thống theo kiểu văn xuôi cổ điển Trung Quốc, với chủ đề chính

là tình và khổ Tác phẩm viết về cuộc đời của Vương Thúy Kiều - côgái sống ở đời Minh, tài sắc vẹn toàn nhưng không tránh khỏi kiếp hồngnhan bạc mệnh Cuộc sống của cô như một trò đùa của định mệnh, cô

Trang 12

phải sống lưu lạc, chịu nhiều khổ sở, đắng cay: “Thanh lâu hai lượt,thanh y hai lần.” ( Kiều hai lần vào lầu xanh và hai lần làm nữ tỳ) Cuốntiểu thuyết gồm 20 hồi, trước mỗi hồi đều có phần giới thiệu, tóm tắtnội dung và bình luận Kết cấu tác phẩm được viết theo thời gian tuyếntính, diễn biến theo các sự kiện và hoạt động của nhân vật chính KimVân Kiều Truyện thiên về mô tả sự kiện, đi sâu miêu tả thực tại, khắchọa chân dung nhân vật một cách cụ thể- điều mà đôi khi ta cảm thấyhơi khó chịu.

Cũng như các tiểu thuyết chương hồi khác, tác phẩm gần như không

đề cập đến diễn biến tâm lý nhân vật mà chỉ có các biến cố, hành độngcủa nhân vật Tác phẩm lại đặc biệt coi trọng mâu thuẫn xung đột, tậptrung mô tả nhiều chi tiết để tô đậm một tính cách nào đấy của nhân vật.Diện mạo nhân vật gần như chỉ là những nét chấm phá chứ không miêu

tả cụ thể.Trong tác phẩm, tác giả cũng đã đưa vào những đoạn thơ, bàiphú miêu tả thiên nhiên, nhưng thiên nhiên ấy lại bị tách rời khỏi cốttruyện và đôi khi lại không gắn bó gì với tâm trạng của nhân vật

Nội dung từng hồi trong Kim Vân Kiều Truyện:

Hồi 1: Lược thuật gia thế họ Vương, sau đó là tài sắc của chị em ThúyKiều, cùng gặp gỡ Kim Trọng khi đi thăm mộ Đạm Tiên

Hồi 2: Thúy Kiều về nhà mộng thấy Đạm Tiên và họa thơ bạc mệnh.Kim Trọng giả danh du học đến thuê nhà ở vườn Thúy, rồi được hộingộ, trao thoa đổi quạt với Thúy Kiều

Hồi 3: Nhân dịp cha mẹ đi ăn lễ sinh nhật ở ngoại gia, Thúy Kiều cáobệnh ở nhà gặp gỡ Kim Trọng Hai người hẹn ước trăm năm

Hồi 4: Kim Trọng phải sang Liêu Dương hộ tang Chàng vừa đi thìnhà Thúy Kiều mắc họa Nàng định bán mình chuộc cha, trước khi đi

có nhờ em gái là Thúy Vân thay mình giữ lời hẹn ước với Kim Trọng

Trang 13

Hồi 5: Vương ông cùng cả nhà không ai chịu cho Thúy Kiều bánmình Nàng hết lời phân giải thiệt hơn, Vương ông cũng không nghe,toan tự vẫn.

Hồi 6: Mã Giám Sinh đưa tiền trang trải xong xuôi mọi việc ThúyKiều cảm ơn Chung Sự là người lo toan mọi việc, nhận làm kế phụ Hồi 7: Thúy Kiều viết thư từ biệt Kim Trọng rồi chết ngất đi ThúyVân thuật chuyện tâm sự của chị cho cha mẹ nghe Mã Giám Sinh rướcKiều đi, nàng nghi ngờ thái độ của Mã nên thủ sẵn một con dao đểphòng thân Ngày thứ ba, Mã đưa Kiều về Lâm Tri

Hồi 8: Về đến Lâm Tri, Kiều biết mình đã vào lầu xanh nên phản đối,

bị Tú bà đánh đòn Kiều rút dao tự tử nhưng không chết Tú bà chạythuốc, dỗ ngọt, cho nàng tịnh dưỡng ở lầu Ngưng Bích và hứa sẽ gảchồng Tại đây, Kiều gặp Sở Khanh

Hồi 9: Kiều mắc mưu Sở Khanh, nhờ hắn cứu thoát, bị người của Tú

bà chạy theo bắt về, phải chịu đòn đau

Hồi 10: Tú bà ép Kiều phải tiếp khách Sở Khanh quay lại, toan hànhhung để che lấp xấu hổ nhưng bị kỷ nữ chửi mắng nên bỏ đi Tú bà dạycho Thúy Kiều bảy chữ tám nghề

Hồi 11: Kiều ở lầu xanh, than thở cảnh mình và hát để tiêu sầu Nànggặp Thúc Sinh, cùng vui đùa ngâm vịnh khiến chàng say mê

Hồi 12: Thúc Sinh giấu Kiều ở một nơi rồi lập kế chuộc ra Được mộtnăm, cha Thúc Sinh đến, kiện con ở phủ đường bắt ly dị Nhưng bài thơ

“Mộc giả” của Thúy Kiều khiến quan phủ xiêu lòng, xử cho đoàn tụ Hồi 13: Hoạn Thư là vợ chính của Thúc Sinh nghe tin, nhưng làm ngơ

để tiện thi độc kế Kiều khuyên chồng về thú với Hoạn Thư, Thúc ôngcũng khuyên Vợ chồng ngâm vịnh khi tiễn biệt Về đến nhà, tưởng

Trang 14

Hoạn Thư vẫn chưa biết nên chàng giấu Được một năm, Thúc Sinh trởlại Lâm Tri, Hoạn Thư qua bàn với mẹ lập mưu bắt Kiều.

Hồi 14: Hoạn Thư sai gia đình dò đường tắt đi bắt Thúy Kiều ThúcSinh về đến nơi, tưởng kiều đã bị chết cháy Kiều bị mẹ con Hoạn Thưhành hạ, Thúc Sinh về nhà thăm vợ thì Hoạn Thư bắt Kiều ra chào.Hồi 15: Thúc Sinh và Thúy Kiều gặp nhau mà không dám rỉ răng.Kiều phải hầu tiệc, Hoạn Thư bắt Thúc Sinh tra sao Kiều có vẻ buồn,sau đồng ý để nàng ra tu ở Quan Âm các sau vườn

Hồi 16: Thúc Sinh ra thăm Kiều, khuyên nàng trốn đi, Hoạn Thư bắtđược Thúy Kiều sợ, trộm chuông khánh trốn đi, được sư Giác Duyênthu dụng

Hồi 17: Hoạn Thư cho đi tầm nã nhưng Thúc Sinh can Ở am Chiêu

Ân, vì có người biết nên Kiều phải thú với sư Giác Duyên chuyện ăntrộm chuông khánh Bà vãi cho Kiều trốn ở nhà Bạc bà là một tay bợmgià Bạc bà lừa gả Kiều cho cháu là Bạc Hạnh để bán nàng vào lầu xanh

ở Thái Châu Ở đây, nàng gặp Từ Hải là một kẻ cự phú hào hoa Từ cảmmấy lời tri kỷ, chuộc Kiều ra, ở với nhau được một năm thì Từ đi làmgiặc

Hồi 18: Từ Hải đi được 3 năm, lập nên sự nghiệp, cho người về rướcKiều đến đại doanh Kiều xin báo ân báo oán Hồ Tôn Hiến đem quânđến tiểu trừ, thấy thế giặc mạnh phải lập mưu chiêu hàng Tôn Hiến dụhàng, Từ không nhận lễ nhưng Kiều khuyên nên nhận

Hồi 19: Kiều lấy lời trung hiếu khuyên khiến Từ Hải phải xuôi, nhậnlời với sứ giả Nhưng khi Từ đã giải bình thì Tôn Hiến đánh úp, trở mặt

Từ Hải chết đứng, đến khi Thúy Kiều ôm khóc thì mới ngã xuống TônHiến ép gả Kiều cho một người tù trưởng mới hàng Kiều nhớ đến lờibáo mộng của Đạm Tiên, trầm mình xuống sông Tiền Đường Giác

Trang 15

Duyên theo lời tiên tri của sư Tam Hợp, vớt cứu được Kiều Khi nàng

mê mẩn, gặp Đạm Tiên trả lại tập thơ Đoạn trường và báo cho nàng biếtđược sống lại

Hồi 20: Cuối cùng là cuộc tái ngộ với Kim Trọng Từ khi chàng trở vềvườn Thúy, thi đỗ làm quan, dò la tin tức của Thúy Kiều Cho đến khitưởng Kiều đã chết, lập đàn giải oan và được sư Giác Duyên dẫn đi gặpKiều Thúy Kiều nể lời cha mẹ và Kim Trọng nên nhận lời tái hợp.Nhưng thấy thân đã nhục không đáng hiến cho kẻ chung tình, xin KimTrọng xem mình như một người bạn

2 Điểm tương đồng và khác biệt giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện.

2.1 Điểm tương đồng.

Về nội dung cơ bản cả hai đều nói về một nhà viên ngoại họ Vương, sống vào năm Gia –Tĩnh triều Minh, có 3 người con, người con út là Vương Quan rất chăm chỉ và hiếu học, có hai chị gái là Vương Thúy Kiều và VươngThúy Vân đều xinh đẹp, mỗi người một vẻ, đặc biêt là với Thúy Kiều không chỉ có nhan sắc mà còn có tài cầm kì thi họa Nhân lễ tết thanh minh, 3 chị e

vô tình viếng mộ một ca kỹ yểu mệnh là nàng Đạm Tiên Biết chuyện cuộc đời đoạn trường của Đạm Tiên khiến Thúy Kiều thương xót cho người mà cũng lo lắng cho mình Gặp Kim Trọng đem lòng yêu mến và thề nguyền lứađôi Chẳng bao lâu Kim Trọng vì việc nhà phải trở về, gia đình Kiều lại mang họa án oan, để cứu gia đinh thoát vòng lao lí, Kiều phải bán mình cho

Mã giám sinh để chuộc cha Rồi nàng bị lừa và lưu lạc vào chốn lầu xanh, bị

Sở Khanh và Tú Bà lừa tiếp khách, nàng rơi xuống vũng bùn của xã hội Tại lầu xanh, nàng quen biết với Thúc Sinh và được chàng chuộc về Vợ chàng Thúc Sinh là Hoạn Thư vì ghen ghét đã hành hạ, và giam lỏng nàng, ép nàngchép kinh Thừa cơ hội bỏ trốn, nàng tìm đến và nương nhờ sư Giác Duyên

Trang 16

Rồi vì lo ngại sống không yên, Thúy Kiều ra đi va bị Bac Bà và Bạc Hạnh lừa vào lầu xanh lần nữa May thay lần này nàng gặp được người anh hùng

Từ Hải cứu về làm phu nhân Từ Hải Mượn thanh thế và quyền lực của Từ Hải,Thúy kiều đã báo ân và báo oán cho mình Nàng khuyên Từ Hải đầu hang triều đình để cầu cuộc sống bình yên, Từ Hải đồng ý Quan phủ nuốt lời, Từ Hải phải chết, Kiều bị ép gã cho Thổ quan, quá phẫn chí, nàng nhảy xuống Sông Tiền Đường tự vẫn, được sư Giác Duyên cứu sống Đúng lúc Kim Trọng theo tin tức tới khóc điếu nàng thì gặp nhau, cả gia đình đoàn tụ.Dây cũng chính là điểm giống nhau về nội dung của hai tác phẩm

Về thống nhân vật: Nguyễn Du hầu như đã lấy toàn bộ hệ thống nhânvật chính của Kim Vân Kiều truyện để sáng tạo cho tac phẩm Truyện Kiều

Cụ thể các nhân vật chính bao gồm: Vương ông, Vương bà, Thúy Kiều,Thúy Vân, Vương Quan, Đạm Tiên, Kim Trọng, Thằng bán tơ, Mã GiámSinh, Tú bà, Sở Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Hoạn phu nhân, Thúc ông,Khuyển, Ưng, Giác Duyên, Bạc bà, Bạc hạnh, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến

Nhìn một cách tổng quát, cả hai cuốn truyện này đều có những điểmtương đồng ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng tín ngưỡng dân gian Trướchết, cả hai đều khởi đầu bằng thuyết lý “Hồng nhan bạc mệnh” như một thứđịnh luật cố hữu theo niềm tin của người Đông phương và đặc biệt là TrungHoa Dưới cách nhìn của phương Đông, những kẻ tài sắc thường bị mệnhbạc, tạo hóa ghen ghét mà theo lý giải của dân gian cho rằng họ đã tạonghiệp trong kiếp trước; kiếp này sinh ra có sắc có tài, nhưng tài sắc ấy chỉlàm cho họ khổ lụy như là hậu quả của việc gây nhân từ kiếp trước Nhânvật Đạm Tiên có thể xem là một bằng chứng cho lý thuyết ấy cũng như một

dự báo trước cho Thúy Kiều, một người cũng có tài sắc:

Trang 17

“Chắc vì hoàn cảnh không may dun dủi vào nơi bể lửa vùi dập ngày xuân Vậy thì thuyền trước thuyền sau, biết đâu chị em mình lại chẳng

là kiếp sau của người đó?” ( Kim Vân Kiều Truyện)

Và với Nguyễn Du, ông vẫn giữ lại ý tưởng này nhưng triển khai rộnghơn nhắm đến thân phận của đàn bà nói chung, trong đó có những kẻ hồngnhan:

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Phũ phàng chi bấy hóa công, Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha”.

Và rằng “Hồng nhan tự nghìn xưa,

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”.

Ngoài ra, trong cả hai cuốn truyện này đều nhấn mạnh số kiếp và địnhnghiệp đời Kiều Định nghiệp có lẽ bắt nguồn từ nghiệp nhân kiếp trướcnhưng bây giờ trước mắt Kiều cái định nghiệp ấy như một thứ ám ảnh đeođuổi và không thể chối từ dù bằng cái chết của mình:

Trong Kim Vân Kiều Truyện, Thanh Tâm Tài Tử qua lời Đạm Tiên đã nhắcnhở Thúy Kiều:

“Huống chi trong lúc mình vừa chợp mắt, rõ ràng Đạm Tiên đã bảo:

“Món nợ oan nghiệt chưa trang trải xong, vội thoát cõi trần sao được? Như vậy mà cứ liều chết, chẳng những nợ của kiếp trước chưa

Trang 18

hoàn, mà nợ oan nghiệt kiếp này còn chồng chất lên nữa, thì đến kiếp nào mới trả xong?” ( Kim Vân Kiều Truyện)

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ông vẫn giữ nguyên ý kiến củaThanh Tâm Tài Tử về định nghiệp, nhưng lại khoác vào đó một nguyên nhântối thượng rất gần với tâm hồn Việt Nam là ông Trời Song ông Trời ở đây

có lẽ chỉ nên hiểu như một biểu tượng của màn lưới bao trùm định nghiệpoan tiền nghiệp chướng ấy:

“Kể rằng: “Nhân quả dở dang,

Để toan trốn nợ đoạn tràng được sao!

Số còn nặng kiếp má đào, Người dù muốn quyết trời nào đã cho!”

Trang 19

Trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Tên tiểu thuyết

là Kim Vân Kiều Truyện đơn thuần chỉ là câu chuyện của ba nhân vật chính,

hợp nhất tên của ba nhân vật Kim Trọng, Vương Thúy Vân, Vương ThúyKiều mà thôi

Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc đã sáng tác Truyện Kiều, truyện thơ

bằng chữ Nôm, một kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam Tác phẩm được

nhà thơ lấy tên là Đoạn trường tân thanh với nghĩa là tiếng kêu mới xé lòng

đứt ruột Ngay trong nhan đề, tác phẩm đã thể hiện được tấm lòng nhân đạosâu sắc của thi nhân Tác phẩm tự sự này xoay quanh kể về cuộc đời nhânvật chính là nàng Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bị những thếlực hắc ám vùi dập, đọa đày một cách thương tâm Đó cũng là sự đại diệncho số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội xưa

2.2.2 Về thể loại.

2.2.2.1 Kim Vân Kiều Truyện.

Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thuộc thể loại vănxuôi, thiên về mô tả sự kiện, nó có điều kiện đi sâu vào mô tả thực tại, khắchọa chân dung nhân vật một cách cụ thể, chi tiết hơn qua việc phối hợp cáchình thức đối thoại - kể chuyện - phân tích tâm lí một cách tương đối tự do,linh động Là một tác phẩm văn xuôi, một tiểu thuyết chương hồi, Kim VânKiều truyện được kết cấu theo tuyến thời gian, theo một trình tự diễn biếncác sự kiện, theo quá trình hành động của các nhân vật chính Thường trầnthuật một cách liên tục, hết một hồi là hết một truyện nhỏ, một hồi kết thúc ởchỗ hay, chỗ cao trào hay một "nút thắt" Hồi này móc vào hối kia tạo ra mộtthể liên hoàn, để tăng thêm phần hấp dẫn, hồi thường kết thúc bằng câu:

"Muốn biết thế nào xem hồi sau sẽ rõ" Song tư duy tiểu thuyết loại này cóđăc điểm riêng, mang rõ dấu ấn chủ quan của người viết, thể hiện rõ quađiểm “văn dĩ tải đạo”, đan xen giữa cốt truyện và lời phê bình, chỉ dẫn

Trang 20

2.2.2.2 Truyện Kiều.

Truyện Kiều của Nguyễn Du được thể hiện bằng văn vần, toàn bộ câuchuyện được tái hiện bằng ngôn ngữ thơ, vừa thông qua cảm xúc chuyểndịch của chủ quan nhà thơ trên cơ sở một tác phẩm cũ, vừa liên kết xây dựngvăn bản mới với nguồn mạch cảm hứng trữ tình có nhiều thay đổi, động thờilại vừa phải tuân theo vần điệu, nhạc tính, hình ảnh và thể cách của thể thơlục bát Truyện Kiều của Nguyên Du chính là một đỉnh cao rực rỡ của loạiTruyện thơ Nôm Thể thơ lục bát đến Truyện Kiều cũng được quy chuẩn vàhoàn thiện hơn Với 3254 câu Lục bát, Nguyễn Du đã huy động hầu hết các

bộ vần trong tiếng Việt vào tác phẩm Với thể thơ Lục bát Truyên Kiều,Nguyễn Du đã phát huy tối đa khả năng diễn tả vốn có của câu thơ Lục bát

Nó có thể miêu tả, có thể kể chuyện, có thể bình luận triết lí…nó có thể đốithoại, cũng có thể độc thoại…có thể diễn tả cái hùng, cái bi, cái cao thượng,cái hài hước…Khả năng diễn đạt của Lục bát chẳng kém gì văn xuôi, thậmchí còn có thể hơn văn xuôi

2.2.3 Về nhân vật.

Khi viết tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện, Thanh Tâm Tài Nhân đãsáng tạo ra một hệ thống nhân vật như: Kim Trọng, Thúy Vân, Hoạn Thư,Thúc Sinh, Tú Bà, sở Khanh, Mã Giám Sinh, Giác Duyên, Tam Hợp đạo cô.Đến Truyện Kiều, Nguyễn Du thấy hệ thống nhân vật như vậy là đủ, khôngcần thêm bớt gì nữa Nhưng đi vào chi tiết thì mức độ sáng tạo của Nguyễn

Du là cao hơn Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật hết sức thành công củamình, Nguyễn Du đã làm cho các nhân vật trở nên quen thuộc với mọi ngườiViệt Nam Tên các nhân vật gắn liền với tính cách, chẳng hạn như hai chữ

“Thúy Kiều” được dùng để chỉ những thiếu nữ tài sắc, “Thúc Sinh” để chỉnhững chàng trai hào hoa, “Hoạn Thư” để chỉ những mụ vợ ghen tuông cay

Trang 21

nghiệt, hay những cái tên như “Sở Khanh”, “Tú Bà” thành tên gọi chỉ kẻ xảotrá và chủ nhà chứa,…

Cá tính nhân vật có sự khác nhau giữa hai tác giả Ở Thanh Tâm TàiNhân tuy có miêu tả chi tiết, cử chỉ, ngôn ngữ nhân vật nhưng chưa khắc họa

rõ chiều sâu cá tính Chẳng hạn như việc tác giả muốn thể hiện Từ Hải nhưmột anh hùng uy vũ nhưng rồi lại tốn không ít bút mực miêu tả các chi tiết o

ép sứ giả, người hùng cùng quân binh đại bại như thế nào; việc nắm lấyngười làm giá che đỡ, đến khi chết đứng mà không chịu ngã khiến đám quânlính không dám đến gần Nhưng do văn của Thanh Tâm Tài Nhân chưa xuấtchúng nên các tình tiết tác giả đưa ra còn vụn về chưa thể hiện được cá tínhmạnh mẽ của Từ Hải Còn đến với Nguyễn Du, Từ Hải xuất hiện trongTruyện Kiều là một trang anh hùng cái thế, hoàn toàn toàn không có mộtchút biểu hiện của một tên tướng cướp giặc cỏ, từ hình hài dung mạo đến khíphách phong độ:

-"Râu hùm hàm én mày ngài Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.

-Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài,

-Một tay gây dựng cơ đồ, Bấy lâu bể sở sông Ngô tung hoành"

Người anh hùng ấy còn có một tính cách, một tấm lòng bao dung:

"Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng, -Sao cho muốn dặm một nhà, Cho người thấy mặt là ta cam lòng."

Còn là một tấm lòng ngay thẳng Vì ngay thẳng mà chết oan chết đứng, chếtkhông nhắm mắt

Trang 22

Ngoài ra Kim Vân Kiều Truyện còn khắc họa tâm lý nhân vật rất sơlược Mục đích chính của tác phẩm là kể lại cuộc đời đầy bi kịch của mộtthiếu nữ tài cao bạc mệnh Đồng thời tấn bi kịch đó cũng liên quan đến bikịch của các nhân vật khác như Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải Trong khithuật lại những tấn bi kịch đó, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ chú trọng đến việcmiêu tả tình tiết mà không mấy chú ý đến biểu hiện tâm lý nhân vật nênchưa dễ hấp dẫn đối với người đọc Chẳng hạn như cách miêu tả nổi đau khổ

của Kim Trọng khi biết được Thúy Kiều lưu lạc chỉ giản lược: “Càng khóc càng thương, khóc cho đến khi miệng ứa máu tươi, ngất đi rồi tỉnh, tỉnh rồi lại khóc”.

Đến Đoạn trường tân thanh thì không thế Những chỗ chưa nhất quán

và không hợp lí trong nguyên tác đều được Nguyễn Du nói lại theo cách củamình Nguyễn Du vẫn muốn thể hiện Thúy Kiều như một thiếu nữ đáng yêuđáng kính song không quá cường điệu ý nghĩa luân lý mà hết sức chú trọngmiêu tả những biến động và cảnh ngộ chua cay trong cuộc đời của ThúyKiều Trong một vài cảnh ngộ, phản ứng của nàng có khi quyết liệt, có khinhẫn chịu, nhưng không phải không hợp tự nhiên, không khác với ứng xửcủa con người đời thường Điều đó cho thấy sự nhất quán trước sau trongtính cách Thúy Kiều

Trong Đoạn trường tân thanh, ngôn ngữ và cử chỉ nhân vật cũng đượcmiêu tả hết sức sinh động, phù hợp với mỗi thân phận và cá tính cụ thể.Chẳng hạn như đoạn diễn tả phong thái Thúy Kiều khi bán mình:

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng.

Hoặc đoạn diễn tả thái độ nàng trước việc cả nhà khuyên nhủ hãy cùngchàng Kim tái hợp:

Hết lời, khôn lẽ chối lời,

Trang 23

Cúi đầu, nàng những ngắn dài thở than…

Ngoài ra, ngay cả ngôn ngữ, cử chỉ nhân vật phụ cũng được thể hiện khá phùhợp, ví như Mã Bất Tiến:

Trước thầy sau tớ lao xao…

Không chỉ có thế, mỗi nhân vật cũng đều có cá tính rất rõ ràng Điều

đó giải thích nguyên nhân vì sao tên tuổi các nhân vật kia trở thành nhữngdanh từ tiêu biểu trong kho tang ngôn ngữ tiếng Việt Chẳng hạn mỗi cử chỉ,hành động, lời nói của Từ Hải đều biểu hiện rõ ràng tính cách anh hào, mạnh

mẽ, không chịu trói buộc, tuy có say đắm Thúy Kiều nhưng không vì thế màđánh mất tráng chí bốn phương:

Nửa năm hương lửa đương nồng Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.

Sau khi lấy Thúy Kiều làm phu nhân, khác với Từ Hải trong nguyêntác chỉ chăm chú tới vinh hoa phú quý, Từ Hải bộc bạch:

Cười rằng: “Cá nước duyên ưa, Nhớ lời nói những bao giờ hay không?

Anh hùng mới biết anh hùng, Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?”

Trang 24

Một điểm khác nữa, tác giả Kim Vân Kiều Truyện chưa chú trọng đếnmiêu tả ngoại hình nhân vật mà chỉ nói một cách giản lược “người kiềudiễm, đang độ thanh xuân” (Thúy Kiều), “vẻ tựa Phan Anh, tài ngang TửKiến” (Kim Trọng)…Nguyễn Du ngược lại, với nhân vật nào cũng đều nhậpthần với bút pháp tô điểm, ước lệ, khắc họa chân dung và phong thái cực kìđộc đáo Chẳng hạn như khi miêu tả Thúy Kiều:

Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

Hay như miêu tả Từ Hải:

"Râu hùm hàm én mày ngài Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.

-Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.”

Có khi miêu tả Tú Bà:

Thoắt trông lờn lợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao!

Nhưng thành tựu nghệ thuật to lớn nhất của Nguyễn Du chính là đãthể hiện được thế giới tình cảm và tâm lý nhân vật Thi nhân không hề tiếcbút mực để trau chuốc, khắc họa cho được tâm trạng Thúy KIều nương theomỗi cảnh ngộ cụ thể Chẳng hạn việc diễn tả tâm lí Thúy Kiều khi bị giamgiữ chốn lầu xanh tưởng nhớ Kim TRọng:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ.

Bên trời gốc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?

Trang 25

Cho đến mười mấy năm sau, một lần nữa nổi niềm thương nhớ Kim Trọnglại được thể hiện sâu sắc, không hề trùng lập:

Tiếc thay! Chút nghĩa cũ càng, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

2.2.4 Về tình tiết và nội dung.

Cũng như các tiểu thuyết tài tử giai nhân khác, Kim Vân Kiều Truyệnđược kể thành hồi (20 hồi) với môtíp thông dụng của đôi tài tử giai nhân yêunhau rồi đau khổ, chia ly, lưu lạc để đến hồi đoàn tụ Chỉ có điều nhân vật ratay cứu nạn ở đây lại là người anh hùng Từ Hải và cảnh đoàn tụ lại có khúc

bi ai giữa Thuý Kiều và Kim Trọng Trong những tiểu thuyết tài tử giai nhânchỉ có sự việc và sự việc, chúng tập trung ở từng hồi một thành những mưu

mô Những mưu mô này lại móc xích với nhau một cách khá lỏng lẻo để mỗimưu mô có tính độc lập riêng với nhiều tình tiết tỉ mỉ, chi li và người đọc cóthể đọc hồi sau, không cần biết hồi trước nói gì mà vẫn hiểu được Kim VânKiều Truyện cũng được kết cấu như vậy nên có rất nhiều mưu mô như KimTrọng tìm cách chiếm được trái tim Kiều, bọn sai nha lo xoay sở tống tiền,Thuý Kiều bàn tính để cha mẹ bằng lòng cho được bán mình… Các mưu mô

ở đây được trình bày khéo léo nên lôi cuốn được người đọc

Các chi tiết nhỏ nhặt, Thanh Tâm Tài Nhân đều giải thích đầy đủ,nhưng Nguyễn Du bỏ hết, ông chọn những chi tiết nào thật cần thiết mới giữlại và cũng trình bày theo cách kể của ông Nguyễn Du vay mượn hệ thốngnhân vật cũng như sự kiện nên không tránh khỏi việc tiếp thu những yếu tốnày nhưng ông không đơn thuần chỉ theo nguyên truyện mà sáng tạo lại vàphát huy những điểm mạnh để làm cho đúng theo ý đồ nghệ thuật của mình.Tuy nhiên từ Kim Vân Kiều Truyện bước sang Truyện Kiều là một thế giớikhác hẳn, Nguyễn Du hầu như bỏ hết các sắp đặt tính toán, để cho sự việc

Trang 26

diễn ra theo cái lôgic khách quan của cuộc sống, không có mưu mô của conngười

Khi kể chuyện, Nguyễn Du thường đơn giản hoá sự kiện, hành động

và tập trung vào nhân vật chính – Thuý Kiều Câu chuyện của Thanh TâmTài Nhân đã được Nguyễn Du bỏ hẳn những sự kiện, nhân vật và những gìkhông liên quan trực tiếp đến việc thể hiện tính cách của nàng Kiều

Ông còn bỏ đi trên hai chục nhân vật trong truyện của Thanh Tâm TàiNhân Không những thế, dù có giữ lại một số sự kiện hay hành động của cácnhân vật, ông cũng đổi lại và thêm vào nhiều điểm mới Thí dụ trong KimVân Kiều Truyện, ở hồi thứ năm, Vương Bà đập đầu vào cột được ThuýKiều khuyên giải rồi đến cuối hồi này Vương Ông lại lao đầu vào tường,nhưng Nguyễn Du chỉ giữ lại một chi tiết sau:

“0665 Theo lời càng chảy dòng châu, Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi.

0667 Vội vàng kẻ giữ người coi, Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can…”

Với Kim Trọng thì ở hồi thứ tư, Kiều đã viết 8 bài Kinh Mộng Giác (8bài thơ Khiếp sợ khi tỉnh mộng ), rồi sang hồi thứ bảy, lại lấy một mảnhquần lụa trắng cắn rách ngón tay giữa, lấy máu thảo một lá thư tình nhờThuý Vân gửi lại cho chàng… và Nguyễn Du đã bỏ hẳn những tình tiết này Những đoạn như vậy còn rất nhiều cho nên có đến 2/3 Kim Vân KiềuTruyện đã bị lược bỏ Ví như đoạn Bạc Hạnh cưới xong Kiều đưa nàng đếnChâu Thai, Kim Vân Kiều Truyện kể:

“Sớm hôm sau, Bạc Hạnh ra bến sông thuê thuyền để đưa nhau về Chiết Giang Khi tới Châu Thai, Hạnh bảo:

- Nàng hãy ở trong quán trọ, để tôi thu xếp nhà cửa, rồi sẽ đến đón sau “Đi độ nửa ngày thì Hạnh trở về, lại có đem theo một người đàn ông,

Trang 27

giới thiệu đây là người làm công trong tiệm của mình, đến để chào mừng nàng đó Thuý Kiều tự trong bước ra nhìn thấy người kia lông mày rậm, mắt

to, môi đen râu xồm, giống như một tên tướng cướp Nàng đáp lễ hai tiếng

“Vạn phúc”rồi vào nhà trong hỏi Bạc Hạnh về việc nhà cửa thu xếp ra sao?

“Hạnh đáp:

- Vì tôi đi vắng lâu ngày, ở nhà có người hàng xóm dọn đến ở đậu, tôi

đã bảo chiều nay họ phải dọn đi nơi khác, để tiện sớm mai chúng tôi dọn về.

“Lúc ấy người làm công đã bảo nhà hàng dọn rượu để Bạc Hạnh mời chủ quán cùng uống Ba người thù tạc mãi đến canh hai mới thôi “Tiệc tan, Bạc Hạnh trở vào phòng Thuý Kiều hỏi:

- Cái người đến đó, sao mà giống như một tên tướng cướp vậy?

“Hạnh đáp:

- Anh ấy sinh trưởng ở trên mặt bể, cho nên tướng mạo như thế, nàng đừng nên sợ, đợi khi về tiệm nhìn thấy luôn luôn, rồi cũng quen mắt, chẳng sao Thôi chúng mình đi ngủ kẻo mệt “Nguyên tên Bạc Hạnh là kẻ buôn người chuyên nghiệp Y thường giả khách sang đi mua con gái và tì thiếp các nơi, lấy tiếng mua làm vợ, kỳ thực y đem đến thành thị nào đó, để ngụ trong một quán cơm, tự nhiên có người sẽ thay y để tìm chỗ bán “Ngày nay

y đem Thuý Kiều về, thì chính tên mắt đen râu xồm là kẻ mối lái cho ổ buôn người bán thịt, hôm nay y thay mụ chủ lầu xanh đến để coi người, định giá

là 240 lạng bạc, số bạc này phần Bạc Hạnh 200, còn 40 lạng về phần chủ nhà trọ và kẻ trung gian môi giới

“Ngày hôm sau, thức dậy ăn lót dạ xong, Bạc Hạnh bảo Thuý Kiều rằng:

- Nàng hãy ở đây để tôi về tiệm bảo người đánh xe lại trở hành lý, và

có một chiếc xe riêng để đón nàng, nàng chỉ việc lên xe cho khỏi bận bịu.

“Nói xong Bạc Hạnh vội vàng đi ngay”

Trang 28

Đoạn trích trên kể lại việc Bạc Hạnh đưa Thuý Kiều về Châu Thai,liên hệ với người “bạn”, bố trí để lừa nàng vào lầu xanh rồi đi thẳng đã đượcNguyễn Du kể như sau:

“2137 Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi, Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày.

2139 Cũng nhà hành viện xưa nay, Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.

2141 Xem người định giá vừa rồi, Mối hàng một đã ra mười, thì buông.

2143 Mượn người thuê kiệu rước nàng, Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa.”

Trên một trang sách được Nguyễn Du viết lại thành 8 câu Tám câuđược chia làm 4 ý rất cụ thể và rành mạch: Thuyền đỗ, Bạc lên tìm, tả nơiBạc đến, mặc cả và bán hàng rồi thuê kiệu rước Kiều mà chuồn thẳng Cứhai dòng một ý mà đầy đủ công việc, ta tưởng như bằng văn xuôi cũng khó

có thể nêu rõ được như vậy chỉ trong hai dòng Tác giả đã bỏ hoàn toànnhững câu đối thoại và những lời kể tỉ mỉ về số bạc mà Bạc Hạnh kiếmđược… nhưng người, việc hiện lên rất rõ với thái độ cũng là cách nhìn củangười kể chuyện vô hình cùng cái óc trào lộng của tác giả khi ông chơi chữtrong cách dùng chữ bạc ở Bạc đem mặt bạc (hay Bạc ) ở trên mà ta có thểhiểu theo ba cách: bạc là bạc bẽo , bạc là Bạc Hạnh hay bạc mặt là số tiềnmặt mà hắn mang đi

Khi kể lại câu chuyện về nàng Kiều, Nguyễn Du đã bớt kể nhưng tăngmiêu tả và kể chuyện theo đường dây tâm lý, trong đó hệ thống sự kiện hànhđộng không phải là yếu tố thúc đẩy dòng tự sự vận động mà chính là tâm lýnhân vật sẽ quyết định mạch tự sự Ông đi sâu vào tâm lý để xây dựng hìnhtượng nhân vật, những con người có cá tính riêng không lẫn được với những

Trang 29

nhân vật khác Đồng thời ông cũng cho độc giả thấy được động cơ vànguyên nhân của hành động của các nhân vật Ví như đoạn Kiều mắc lừa HồTôn Hiến sau đây:

“2457 Đóng quân làm chước chiêu an, Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng.

2459 Lại riêng một lễ với nàng, Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.”

Đó là mấy dòng viết về kế hoạch của Hồ Tôn Hiến mở đầu cho mỹnhân kế của lão bằng cách đánh vào lòng tham của Kiều, từ Ngọc vàng gấmvóc đến lại riêng một lễ với nàng Bốn dòng thơ này cùng với sáu câu giớithiệu Hồ Tôn Hiến (2451-2460) là 10 câu tóm tắt gần nửa sau hồi 18 dài gần

10 trang trong Kim Vân Kiều Truyện

Thiên nhiên đã giúp Nguyễn Du nói hộ được rất nhiều điều khi diễn tảtâm trạng nhân vật Nếu trong Kim Vân Kiều Truyện không có một cảnhthiên nhiên nào thì ở những thời điểm mà tâm trạng nhân vật khó bộc lộ nhấttrong Truyện Kiều, thiên nhiên xuất hiện vì ngôn ngữ của con người cónhững hạn chế của nó

Những cảnh thiên nhiên tuy chỉ mang tính chất tượng trưng theo kiểuchấm phá, có khi chỉ một vài chi tiết nhưng đã lột tả hết cái thần của cảnhvật nói lên tâm trạng của con người

Cảnh Kim Trọng chia tay Thuý Kiều để về Liêu Dương hộ tang chú

trong Kim Vân Kiều Truyện không có lấy một câu tả cảnh: “Chẳng ngờ nàng vừa nói đặng mấy câu thì hai dòng lệ đã không tài nào giữ nổi Chàng Kim thấy vậy cũng khóc nức nở Giữa lúc hai người đang khóc thì tên thư đồng lại đến gõ cửa thúc giục đi ngay Chàng Kim đành phải gạt lệ, tạm biệt cùng nàng, tất tưởi chạy về bên nhà, thấy ngựa đã đóng yên cương đứng chờ trước cửa, rồi chàng cùng với thân phụ sang thẳng Liêu Dương”.

Trang 30

Còn ở Truyện Kiều là 5 câu miêu tả thiên nhiên trong số 14 câu diễn

tả cảnh chia tay:

“0559 Dùng dằng chưa nỡ dời tay, Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà.

0561 Ngại ngùng một bước một xa.

Một lời trân trọng, châu sa mấy hàng.

0563 Buộc yên quẩy gánh vội vàng, Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai.

0565 Buồn trông phong cảnh quê người, Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa.

0567 Não người cữ gió tuần mưa, Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.

0569 Nàng còn đứng tựa hiên tây, Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.

0571 Trông chừng khói ngất song thưa, Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng.”

Đoạn thơ gồm 14 dòng có thể chia thành 7 khổ thơ từ không gian thời gian, thái độ, hành động lúc chia tay, phong cảnh quê người, nỗi nhớthương của Kiều và tâm sự của nàng cùng cảnh khói ngất song thưa đểchuyển sang đoạn “gia biến” Rất cụ thể mà đầy hình tượng, nặng chất trữtình Chữ trân trọng ở đây có lẽ chỉ có nghĩa là hãy giữ gìn sức khỏe trong

-“Bảo trọng”khi chia tay, chứ không có nghĩa như ngày nay là tỏ ý quý, coitrọng

Trong Kim Vân Kiều Truyện, Thúc Sinh chia tay Thuý Kiều cũngkhông có một câu nào mô tả thiên nhiên: “Không thể lưu luyến được nữa,chàng chỉ ngập ngừng nói lên hai tiếng “Bảo trọng”rồi gạt lệ bước ra Nàngmuốn tiễn ra khỏi cửa, bỗng thấy Thúc Ông và những người làm công cùng

Trang 31

các bạn thân đến tiễn, chàng vội quay ra chào hỏi Nàng phải đứng lại sautấm bình phong Chàng trao hành lý cho xe ngựa xong rồi mới quay lại bảo

nàng: - Thôi ta đi đây, nàng nên bớt sự phiền não”

Nguyễn Du còn chọn những thời điểm có tính chất bước ngoặt để tậptrung vào kể tỉ mỉ những biến cố trong cuộc đời Kiều Bằng việc miêu tả tâmtrạng, hành động trong những thời điểm nhất định, cách kể tạo ra cảm giácngưng đọng với sự chậm chạp trong dòng chảy của thời gian ở thời điểmchuyển tiếp đặc biệt giữa tối sáng, đêm ngày…

Sau 14 dòng thơ kể về buổi du xuân ở hội Đạp thanh, tác giả kể baonhiêu sự việc: Cảnh lễ hội lúc cao trào, lúc hội tan, chị em Kiều đi lần theodòng khe nhỏ để xem phong cảnh thấy dòng nước, thấy chiếc cầu rồi mớithấy ngôi mộ chưa được sửa sang vắng tanh hương khói, từng cảnh một nhưhiện lên theo bước chân chầm chậm của chị em Kiều:

0045 “Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân…

0051 Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về….

0057 Sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

0059 Rằng: - “Sao trong tiết Thanh minh,

“Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”

Sau khi nghe Vương Quan kể về Đạm Tiên, Kiều làm thơ khấn vái…Rồi gặp Kim Trọng, đến tối về nhà Kiều mơ thấy Đạm Tiên, nghĩ đến KimTrọng, khóc lóc, tâm sự với Vương Bà… Câu chuyện chỉ xảy ra trong mộtngày mà Nguyễn Du kể lại từ câu 0039 đến câu 0242 - trên 200 câu trong3.254 câu thơ nghĩa là dùng 1/16 tác phẩm chỉ để kể lại một ngày

Trang 32

Có đoạn Nguyễn Du cũng kể lại sự việc đầy đủ như trong Kim VânKiều Truyện nhưng với một cách tiếp cận khác hẳn, ông xem sự việc như cái

cớ để tái hiện tâm tình nhân vật Đây là đoạn tả việc Thúc Sinh nhờ vị đạo sĩxin được hỏi về người vợ vừa bị chết cháy trong Kim Vân Kiều Truyện:

“Cách mấy hôm sau nghe nói trong vùng có một đạo hiệu là Động Huyền có phép đốt bùa triệu tướng, phán hỏi hồn ma Chàng bèn sai người đem lễ đón rước về nhà, thiết lập đàn tràng để luyện phù phép Đạo sĩ xuất thần giờ lâu, trở về cho biết: - Số nàng vẫn còn nặng kiếp oan gia, chưa thể chết được, hiện nay cung Bột (cung vợ chồng) đương mắc nạn to Sau một năm nữa mới được gặp mặt, mà đường tơ duyên không thể chắp nối được nữa.

“Chàng Thúc nghe xong hỏi lại thầy rằng: - Người đã chết đi đâu lại có chuyện âm hồn trở về dương thế?

“Đạo sĩ rằng: - Ông chớ hồ nghi, sau một năm nữa thì sẽ gặp mặt, nhưng trong khi gặp gỡ, đôi bên không dám hỏi nhau câu nào Chừng ấy mới tin thầy đây không hề nói dối “Nhưng dầu sao thì vẫn nửa tin nửa ngờ!

“Sau khi tạ ơn đạo sĩ, chàng ngày đêm thảm thiết nhớ thương, không tả xiết được”

Nguyễn Du đã kể lại nội dung trên đây bằng 22 dòng thơ, chi tiếtkhông kém gì bản gốc mà không cần nói đến đạo hiệu của ông thầy, khôngcần chỉ rõ tên của cung vợ chồng là cung Bột , cũng không cần nêu nhữngcâu đối đáp của Thúc Sinh và Đạo sĩ… nhưng vẫn nêu được lời phán củaông thầy, tái hiện được tâm tình của Thúc Sinh cũng như những cảm nhậncủa chàng trước những lời đoán của ông thầy:

1683 Gần miền nghe có một thầy, Phi phù trí quỷ cao tay thông huyền.

1685 Trên Tam đảo, dưới Cửu tuyền, Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.

Trang 33

1687 Sắm sanh lễ vật rước sang, Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han.

1689 Đạo nhân phục trước tĩnh đàn, Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.

1691 Trở về minh bạch nói tường:

- “Mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra.

1693 “Người này nặng kiếp oan gia,

“Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho.

1695 “Mệnh cung đang mắc nạn to,

“Một năm nữa, mới thăm dò được tin.

1697 “Hai bên giáp mặt chiền chiền,

“Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!”

1699 Nghe lời nói lạ đường này,

Sự nàng đã thế, lời thầy dám tin!

1701 “Chẳng qua đồng cốt quàng xiên, Người đâu mà lại thấy trên cõi trần”.

1703 Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân:

“Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên!”

Như vậy, ta càng thấy rõ cách Nguyễn Du đã kể không còn như trướcnữa Lời kể của người kể chuyện ở đây lời kể có tính văn học cao, vừa cóchất thơ, vừa có chất truyện lại đậm chất dân gian Với một thứ ngôn ngữ kểchuyện bước đầu đã có cá tính hoá, mang đậm màu sắc chủ quan, mang đậmsắc thái tình cảm, Nguyễn Du thực sự đã có những đổi mới về mặt lời kểkhông chỉ so với Kim Vân Kiều Truyện hay những tác phẩm truyện Nômđương thời mà lời kể chuyện của ông đã có một số đặc điểm của lời kểchuyện trong tiểu thuyết hiện đại

2.2.5 Về hình thức biểu đạt.

Trang 34

Bàn về thành tựu nghệ thuật của Nguyễn Du hẳn không thể xem nhẹcác hình thức biểu đạt nghệ thuật của ông Trên phương diện này, đặc biệt làgiá trị nghệ thuật diễn tả phong cảnh, Nguyễn Du rất hay dùng phong cảnh

để điểm xuyến cho các tình tiết, sự kiện với một bút pháp tả cảnh hết sứcsinh động, tinh tế Chẳng hạn tả cảnh nấm mồ hoang của Lưu Đạm Tiên:

Nao nao dòng nước uống quang, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Sè sè nấm đất bên đàng, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Đồng thời ông cũng hay sử dụng bút pháp lấy cảnh nói tình Chẳnghạn tả phong cảnh trước lầu Ngưng Bích để bày tỏ tâm trạng Thúy Kiều:

Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Lại như lúc chia tay giữa Thúc Sinh với Thúy Kiều cũng lấy cảnh nóitình:

Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Trông người đã khuất mấy hàng dâu xanh.

Ngoài ra Nguyễn Du còn hay mượn cảnh để thể hiện sự biến chuyểncủa thời gian:

Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.

Thật khó có gì sánh được với những câu thơ như thế Có thể nói rằngmỗi cảnh được miêu tả trong Đoạn trường tân thanh đều là một bức tranh

Trang 35

thủy mặc tinh xảo rất có hồn những bức tranh đó đã giúp cho tác phẩm cóđược chất thơ sâu lắng đồng thời cũng gia tăng tính nghệ thuật mà khôngmột truyện thơ nào có thể sánh được.

Những thành tựu trên có được chính là nhờ nghệ thuật sử dụng từ ngữcủa Nguyễn Du Tác gải là nhà Nho có vốn Hán học sâu sắc nên ngôn từtrong Đoạn trường tân thanh rất điêu luyện thường sử dụng nhiều điển cốTrung Quốc song vẫn gần gũi, bình dị, có phong vị ca dao mang đậm sắcthái Việt Nam Việc kết hợp ngôn từ văn chương Hán với ca dao ngowuwoifViệt một cách nhuần nhuyễn đạt đến thanh thoát trong sáng chính là biểuhiện của thiên tài nghệ thuật Nguyễn Du Đó là nguyên nhân khiến TruyệnKiều được tất cả mọi người yêu thích

3 Bàn về ý kiến của ông Đổng Văn Thành và Nguyễn Huệ Chi.

3.1 Ý kiến của Đổng Văn Thành.

Tác giả Đổng Văn Thành, Giáo sư Văn học Trung Quốc tại TrườngĐại học Liêu Ninh Theo nhà nghiên cứu Đài Loan Trần Ích Nguyên, ĐổngVăn Thành là học giả Trung Quốc đầu tiên đã nghiên cứu so sánh giữa KimVân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và Truyện Kiều của Nguyễn Du

 Khen

Nguyễn Du đã dùng hình thức thơ lục bát và chữ Nôm của Việt Nam

để cải biên tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thànhmột truyện thơ, lúc đầu đặt tên là Đoạn trường tân thanh, sau đó lưu truyềnrộng rãi bằng tên Truyện Kim Vân Kiều Tác phẩm cùng tên của Trung Quốc

và Việt Nam phân biệt rõ về mặt hình thức bề ngoài: một bên là tiểu thuyếtHán văn, một bên là thơ trường thiên Việt Nam Tuy nhiên, Truyện Kiều củaViệt Nam nhận được rất nhiều yêu thích, có sự ảnh hưởng lớn đối với đời

Trang 36

sống, ai cũng thuộc Kiều và nó được dịch ra nhiều thứ tiếng Nó được thếgiới biết đến nhiều hơn bản của Thanh Tâm Tài Nhân Chính vì thế, Giáo sưĐổng Văn Thành rất muốn tìm hiểu bản Việt Nam để biết vì sao TruyệnKiều lại nổi tiếng đến thế Truyện Kiều - Nguyễn Du được giới nghiên cứuViệt Nam tôn là tác phẩm thành công nhất, lớn nhất, điển hình nhất trongtoàn bộ văn học Việt Nam Sau khi truyện dịch sang Trung văn, giới nghiêncứu Trung Quốc cũng đánh giá rất cao, là tác phẩm lớn vạch thời đại, đứngngang hàng với các tác phẩm của các đại thi hào trên thế giới Trong khi đóKim Vân Kiều truyện thì bị lãng quên, độc giả trong nước không quan tâm,ngoảnh mặt, giới phê bình không đề cao.

 Chê

Giáo sư Văn học Đổng Văn Thành, Trường đại học Liêu Ninh đã viết:

“Nhìn tổng thể, tôi – tức Đổng Văn Thành – thấy Truyện Kiều của Nguyễn

Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc –

“Truyện Kiều” của Trung Quốc – mà nó mô phỏng” Một chỗ kháctrong Minh Thanh tiểu thuyết giám thưởng từ điển, Đổng quân còn nói trắng

ra rằng Truyện Kiều là “bản dịch” từ Thanh Tâm Tài Nhân như NguyễnKhắc Phi đã lưu ý

Sau khi đọc được Kim Vân Kiều truyện của nước mình tại thư việnĐại Liên năm 1981, GS Đổng Văn Thành liền viết bài chiêu tuyết cho KimVân Kiều truyện, in trong Minh Thanh Tiểu Thuyết Giám Thưởng từ điển.Tuy bài viết đã công nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm văn họcnổi tiếng thế giới nhưng lại cho rằng Truyện Kiều chẳng qua chỉ là dùng thểthơ lục bát của Việt Nam để dịch lại một cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc

mà thôi

Ngày đăng: 20/03/2021, 13:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w