1. Những vấn đề chung 1.1. Thời đại –cuộc đời Nguyễn Du 1.1.1. Thời đại Đại thi hào Nguyễn Du sinh ra trong thời đại có nhiều biến động dữ dội (cuối thế kỉ XVIII — đầu thế kỉ XIX). Xã hội phong kiến Việt Nam đã đi đến hồi kết của sự khủng hoảng. Nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền, cũng như tư tưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân, đồng tiền và quyền lực chi phối các giá trị của cuộc sống, trở thành mục tiêu để vua quan tranh giành quyền lợi, chém giết lẫn nhau, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra liên miên, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn “Một phen thay đổi sơn hà”. Sau đó, phong trào Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. Đại thi hào đã sống qua ba thời đại: Lê – Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, trải qua những cuộc binh biến tàn khốc của các tập đoàn phong kiến và các cuộc khởi nghĩa đòi quyền sống của tầng lớp nông dân. Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh bãi bể hóa nương dâu, cảnh sống xa hoa, đồi trụy cũng như sự thống trị dã man, tàn ác của giai cấp phong kiến, cảnh đau khổ vì nghèo đói, cảnh đày đọa và những áp bức bất công của đại đa số quần chúng nhân dân. Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đứng đầu là anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ với những luồng tư tưởng tiến bộ, đã tác động đến tâm hồn đa cảm trước thời cuộc của Nguyễn Du. 1.1.2. Cuộc đời, gia thế và sự nghiệp Thời đại là một cơ sở sâu xa tạo nên sự xuất hiện gương mặt thiên tài văn học Nguyễn Du. Nguyễn Du ( 17651820) tự là Tố Như. Hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà thơ sống vào giai đoạn lịch sử xã hội Việt Nam có nhiều biến động dữ dội, nhất là khoảng 30 năm đầu của cuộc đời nhà thơ. Nguyễn Du đã có dịp chứng kiến những biến cố lịch sử trọng đại nhất: Sự sụp đổ thảm hại của tập đoàn phong kiến thống trị Lê – Trịnh, vận mệnh ngắn ngủi nhưng rạng rỡ của phong trào Tây Sơn và triều đại Quang Trung, công cuộc trung hưng của nhà Nguyễn. Ông đã sống trong một thời đại mà truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc được kết tinh một cách rực rỡ. Những biến cố xã hội, truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc của thời đại đã để lại những âm hưởng, những màu sắc trong nhân cách cũng như sáng tác của nhà thơ. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc, trí thức, tài hoa và có danh vọng vào bậc nhất đương thời. Không những thế, gia đình này còn có một truyền thống về văn học. Hoàn cảnh gia đình đã có những tác động rõ rệt đối với sự hình thành thiên tài văn học ở Nguyễn Du. Gia đình Nguyễn Du có nhiều người đậu đạt cao và làm quan to tại triều đình. Hoàn cảnh gia đình đã để lại những dấu ấn vàng son trong tâm hồn nhà thơ và cũng chắc chắn rằng qua thực tiễn của gia đình, ông cũng đã nhận thức được nhiều điều về giới quan lại đương thời. Dòng họ này còn có truyền thống văn học. Thân sinh của ông là Nguyễn Nghiễm là một sử gia cũng là một nhà thơ. Nguyễn Khản giỏi thơ Nôm, tương truyền có dịch Chinh phụ ngâm. Nguyễn Hành, Nguyễn Thiện (cháu gọi Nguyễn Du bằng chú) đều là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đương thời. Ông là một con người tài năng. Xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc có danh vọng vào loại bậc nhất đương thời nhưng Nguyễn Du sống trong cuộc sống nhung lụa không được bao lâu. Bởi vì nhà thơ lớn lên giữa lúc gia đình đang sụp đổ nhanh chóng theo đà sụp đổ của tập đoàn phong kiến thống trị Lê Trịnh. Nguyễn Du phải sớm đương đầu với những biến cố lớn lao của gia đình và xã hội. Nhà thơ đã từng chịu nhiều nỗi bất hạnh. Ông có một thời gian dài khoảng hơn 10 năm sống lưu lạc ở quê vợ ở Thái Bình, quê cha Hà Tĩnh. Ông trải qua “mười năm gió bụi”, có lúc ốm đau không có thuốc, mái tóc sớm bạc. Ông tự xưng là “Hồng Sơn liệp hộ” (người đi săn ở núi Hồng), “Nam Hải điếu đổ” (Người câu cá ở biển Nam Hải): “Hồng Sơn cao ngất mấy tầng, Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu” Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, ông đã bước lên đỉnh cao danh vọng: Làm Chánh sứ sang Trung Quốc (1813 – 1814), giữ chức Hữu tham tri bộ Lễ. Năm 1820, lần thứ hai, ông lại được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, qua đời. Những năm tháng bất hạnh ấy có ảnh hưởng trực tiếp quyết định đến sự hình thành con người nghệ sĩ vĩ đại ở ông. Nguyễn Du là một nhà thơ có tấm lòng nhân đạo sâu xa. Nhà thơ đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán, ông có ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên): 1786 – 1804. Nam trung tạp ngâm: 1805 – 1812. Bắc hành tạp lục: 1813 – 1814. Cả ba tập thơ đã được tập hợp lại thành tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Du do nhóm Lê Thước và Trương Chính giới thiệu, xuất bản năm 1965 gồm 243 bài thơ. Về chữ Nôm: Ðoạn trường tân thanh (tên Truyện Kiều là do quần chúng đặt cho tác phẩm). Văn chiêu hồn (còn gọi là Văn tế thập loại chúng sinh). Sinh tế Trường Lưu nhị nữ. Thác lời trai phường nón. 1.2. Quan niệm về thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ hán 1.2.1. Qua góc nhìn văn hóa Từ góc nhìn văn hoá có thể thấy Nguyễn Du rất am hiểu về văn hoá và văn học Trung Hoa. Nguyễn Du đã tiếp nhận thành tựu của thi ca Trung Quốc trên quê hương đất nước mình. Trong dịp đi sứ hơn một năm, ông đã có cơ hội được thể hiện khả năng thi ca của bản thân ngay trên mảnh đất được coi là nguồn mạch của dòng sông thi ca vừa lâu đời vừa rộng lớn. Sự trở lại mảnh đất cội nguồn này Phạm Ánh Sao gọi là sự hoàn nguyên của Nguyễn Du. Trong cuộc hành trình hoàn nguyên đó Nguyễn Du đã có đối thoại siêu thời gian cùng với cổ nhân để kể câu chuyện buồn về thế sự và nhân sinh. Phạm Ánh Sao đã đi tìm những điểm tương đồng và khả năng tiếp biến sáng tạo của Nguyễn Du qua đối sánh giữa hai bài thơ cùng viết về lầu Hoàng Hạc một di tích lịch sử văn hoá được coi là “tam đại danh lâu” ở miền Nam Trung Quốc, giữa Nguyễn Du và nhà thơ Thôi Hiệu. Từ đó Phạm Ánh Sao nêu rõ: Nguyễn Du không chỉ cho thấy, ông đã tiếp nhận đến mức nhuần nhuyễn nguồn tri thức văn hoá văn học từ bên ngoài cho mình, hơn nữa bằng trái tim đầy lòng yêu thương và trắc ẩn, ông còn khẳng định được nhân cách văn hoá và tài năng văn chương của mình ở chính nơi được coi là ngọn nguồn của văn hoá, văn học mà ông từng tắm gội. Thơ đăng làm của ông đã cho thấy thái độ tiếp nhận trân trọng, tầm vóc tri thức uyên bác, khả năng tiếp biến và sáng tạo đặc biệt của ông. Nhìn chung, ở hướng tiếp cận từ góc nhìn văn hoá này, các công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán đều cho thấy Nguyễn Du là người có vốn văn hoá sâu rộng, không chỉ là văn hoá của con người và quê hương ông mà còn là văn hoá của đất nước Trung Hoa rộng lớn, lâu đời. Chính vốn văn hoá sâu rộng này đã giúp Nguyễn Du có được cơ hội vượt qua mọi ranh giới về thời gian và không gian để tiếng thơ của ông đến được với thế giới con người và cuộc sống rộng lớn hơn phạm vi lãnh thổ của dân tộc mình. 1.2.2. Qua lời bình của các nhà thơ Bước đầu đi vào tìm hiểu quan niệm thơ của Nguyễn Du thông qua lời bình thơ của nhà thơ. Nguyễn Đăng Na là người chú trọng nhấn nhấn mạnh những lời bình thơ của Tố Như về tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định. Trong bài viết: Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo, ông đã trích dẫn các bài thơ của Lê Quang Định có lời bình của Tố Như. Từ những lời bình này Nguyễn Đăng Na đã xem Nguyễn Du không chỉ là một đại thi hào mà còn là một người bình thơ sâu sắc. Trong bài viết này Nguyễn Đăng Na đã xem xét 16 bài thơ có lời bình của Ngô Lễ Khê và Nguyễn Du. Đối sánh giữa lời bình của hai tác giả, Nguyễn Đăng Na cho rằng đặc điểm nổi bật trong cách bình của Tố Như là ông rất kiệm lời. Số chữ mà Tố Như dùng để bình một bài thường rất ít, phần lớn chỉ bằng 15 Ngô Lễ Khê, thậm chí một số bài chỉ bằng 120 như khi bình bài thơ Quá Khởi Kính than đề Mã Phục Ba từ (Qua thác Khởi Kính, đề đền thờ Mã Phục Ba). Lời bình của Nguyễn Du cô đọng mà ý nhiều, thiên về nhận xét phong cách, khí cốt và chất thơ. Từ những lời bình này, Nguyễn Đăng Na đã có được nhận định xuất phát từ quan niệm về thơ của Nguyễn Du: Tố Như thích lối thơ tự nhiên, có lực mà không phải dụng lực, ý sâu trầm lắng mà không thấy người cầm bút phải bươn bả truy tìm. Có thể thấy hướng tiếp cận này mang đến một hiệu quả nhất định. Trước hết nó làm phong phú thêm hướng tiếp cận về tác phẩm cũng như con người Nguyễn Du. Sau nữa, nghiên cứu kỉ các bài thơ được Tố Như bình ta sẽ hiểu thêm khuynh hướng tình cảm và khuynh hướng sáng tác của Nguyễn Du. 1.3. Sơ lược một số tác phẩm chữ hán tiêu biểu Nhắc tới Nguyễn Du hẳn người ta sẽ nhớ ngay tới Truyện Kiều –tác phẩm được xem là kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong văn học Việt Nam. Song, bên cạnh truyện Kiều, Nguyễn Du còn có : Thác lời trai phường Nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn) và thơ chữ Hán. Có thể thấy toàn bộ tác phẩm của ông, chữ Nôm cũng như chữ Hán, đều chan chứa một tình yêu thương đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ. Không phải chỉ Truyện Kiều, mà cả thơ chữ Hán và Văn chiêu hồn đều góp phần tạo nên một đại thi hào Nguyễn Du. Nếu Truyện Kiều được đánh giá là câu chuyện của ngàn tâm trạng “Máu rỏ đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy” (Mộng Liên Đường), thì thơ chữ Hán là thế giới tâm trạng con người trong đó bức chân dung tự hoạ về Nguyễn Du hiện lên sắc nét với đầy đủ những nỗi niềm trước cuộc đời dâu bể, là thế giới của những tấm lòng yêu thương, ngợi ca con người, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách con người. Thơ chữ Hán giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du, bởi nó vừa là nhật ký tâm trạng, vừa là nhật ký có tính hành trình của chính đại thi hào trong suốt một thời kỳ dài. Đó là mảng thơ ông sáng tác gần như trọn đời (khoảng trên dưới 30 năm), qua nhiều vùng lãnh thổ khác nhau. Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập: Thơ chữ Hán Nguyễn Du (NXB Văn hóa, 1959) chỉ gồm có 102 bài. Đến năm 1965 NXB Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 250 bài như sau: Thanh Hiên thi tập còn gọi là Thanh Hiên tiền hậu tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 67 đề mục, cộng là 78 bài thơ trong giai đoạn 17861804, gồm 10 năm gió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng, và 2 năm làm quan ở huyện Bắc Hà. Tập thơ là các bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 27 đề mục, cộng là 40 bài, giai đoạn 18051812, ông được thăng hàm Đông các đại học sĩ, làm quan ở Kinh Đô 5 năm và làm cai bạ ở Quảng Bình 3 năm. Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 132 bài thơ, giai đoạn 18131814, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.
Trang 2M c L c ục Lục ục Lục
1 Những vấn đề chung 3
1.1 Thời đại –cuộc đời Nguyễn Du 3
1.1.1 Thời đại 3
1.1.2 Cuộc đời, gia thế và sự nghiệp 3
1.2 Quan niệm về thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ hán 5
1.2.1 Qua góc nhìn văn hóa 5
1.2.2 Qua lời bình của các nhà thơ 6
1.3 Sơ lược một số tác phẩm chữ hán tiêu biểu 7
2 Nội dung 8
2.1 Thanh Hiên thi tập 8
2.1.1 Hoàn cảnh sáng tác 8
2.1.2 Nội dung và một số bài thơ tiêu biểu 8
2.1.2.1 Cuộc sống xa quê hương, vất vả, bệnh tật với cái nghèo đeo đẳng và tâm sự của Nguyễn Du……… 8
2.1.2.2 Nỗi buồn trước thói đời loạn lạc 11
2.1.2.3 Hình ảnh thiên nhiên mang tâm trạng con người 11
2.2 Nam trung tạp ngâm 13
2.2.1 Hoàn cảnh sáng tác 13
2.2.2 Nội dung và một số bài thơ tiêu biểu 13
2.2.2.1 Nỗi nhớ quê hương 13
2.2.2.2 Nguyễn Du bất mãn trước thời cuộc 16
2.2.2.3 Nguyễn Du không màn đến danh lợi 16
2.3 Bắc hành tạp lục 19
2.3.1 Hoàn cảnh sáng tác 19
2.3.2 Nội dung và một số bài thơ tiêu biểu 19
2.3.2.1 Niềm trăn trở trước số phận con người 19
2.3.2.2 Cảm sử 22
2.3.2.3 Cảnh thiên nhiên 25
Trang 33 Đóng góp thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong nền văn học nước nhà 28
4 Tổng kết 30
Tài liệu tham khảo 31
Trang 4là anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ với những luồng tư tưởng tiến bộ, đã tácđộng đến tâm hồn đa cảm trước thời cuộc của Nguyễn Du.
1.1.2 Cuộc đời, gia thế và sự nghiệp
Thời đại là một cơ sở sâu xa tạo nên sự xuất hiện gương mặt thiên tài vănhọc Nguyễn Du Nguyễn Du ( 1765-1820) tự là Tố Như Hiệu là Thanh Hiên, quê
ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Nhà thơ sống vào giai đoạn lịch sử xã hội Việt Nam có nhiều biến động dữdội, nhất là khoảng 30 năm đầu của cuộc đời nhà thơ Nguyễn Du đã có dịp chứngkiến những biến cố lịch sử trọng đại nhất: Sự sụp đổ thảm hại của tập đoàn phongkiến thống trị Lê – Trịnh, vận mệnh ngắn ngủi nhưng rạng rỡ của phong trào TâySơn và triều đại Quang Trung, công cuộc trung hưng của nhà Nguyễn Ông đãsống trong một thời đại mà truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc được kếttinh một cách rực rỡ Những biến cố xã hội, truyền thống nhân văn và tinh thần dân
Trang 5tộc của thời đại đã để lại những âm hưởng, những màu sắc trong nhân cách cũngnhư sáng tác của nhà thơ
Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc, trí thức, tàihoa và có danh vọng vào bậc nhất đương thời Không những thế, gia đình này còn
có một truyền thống về văn học Hoàn cảnh gia đình đã có những tác động rõ rệtđối với sự hình thành thiên tài văn học ở Nguyễn Du Gia đình Nguyễn Du cónhiều người đậu đạt cao và làm quan to tại triều đình
Hoàn cảnh gia đình đã để lại những dấu ấn vàng son trong tâm hồn nhà thơ
và cũng chắc chắn rằng qua thực tiễn của gia đình, ông cũng đã nhận thức đượcnhiều điều về giới quan lại đương thời Dòng họ này còn có truyền thống văn học.Thân sinh của ông là Nguyễn Nghiễm là một sử gia cũng là một nhà thơ NguyễnKhản giỏi thơ Nôm, tương truyền có dịch Chinh phụ ngâm Nguyễn Hành, NguyễnThiện (cháu gọi Nguyễn Du bằng chú) đều là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếngđương thời
Ông là một con người tài năng Xuất thân trong một gia đình phong kiến đạiquý tộc có danh vọng vào loại bậc nhất đương thời nhưng Nguyễn Du sống trongcuộc sống nhung lụa không được bao lâu Bởi vì nhà thơ lớn lên giữa lúc gia đìnhđang sụp đổ nhanh chóng theo đà sụp đổ của tập đoàn phong kiến thống trị Lê -Trịnh Nguyễn Du phải sớm đương đầu với những biến cố lớn lao của gia đình và
xã hội Nhà thơ đã từng chịu nhiều nỗi bất hạnh Ông có một thời gian dài khoảnghơn 10 năm sống lưu lạc ở quê vợ ở Thái Bình, quê cha Hà Tĩnh Ông trải qua
“mười năm gió bụi”, có lúc ốm đau không có thuốc, mái tóc sớm bạc Ông tự xưng
là “Hồng Sơn liệp hộ” (người đi săn ở núi Hồng), “Nam Hải điếu đổ” (Người câu
cá ở biển Nam Hải):
“Hồng Sơn cao ngất mấy tầng,
Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu!”
Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan Chỉ trong vòng hơn 10 năm,ông đã bước lên đỉnh cao danh vọng: Làm Chánh sứ sang Trung Quốc (1813 –1814), giữ chức Hữu tham tri bộ Lễ Năm 1820, lần thứ hai, ông lại được cử làmChánh sứ sang Trung Quốc, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, qua đời Những năm
Trang 6tháng bất hạnh ấy có ảnh hưởng trực tiếp quyết định đến sự hình thành con ngườinghệ sĩ vĩ đại ở ông Nguyễn Du là một nhà thơ có tấm lòng nhân đạo sâu xa.
Nhà thơ đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng bằng chữ Hán và chữ Nôm
Về chữ Hán, ông có ba tập thơ:
Cả ba tập thơ đã được tập hợp lại thành tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Du do nhóm
Lê Thước và Trương Chính giới thiệu, xuất bản năm 1965 gồm 243 bài thơ
Về chữ Nôm:
- Ðoạn trường tân thanh (tên Truyện Kiều là do quần chúng đặt cho tácphẩm)
1.2 Quan niệm về thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ hán
1.2.1 Qua góc nhìn văn hóa
Từ góc nhìn văn hoá có thể thấy Nguyễn Du rất am hiểu về văn hoá và vănhọc Trung Hoa Nguyễn Du đã tiếp nhận thành tựu của thi ca Trung Quốc trên quêhương đất nước mình Trong dịp đi sứ hơn một năm, ông đã có cơ hội được thểhiện khả năng thi ca của bản thân ngay trên mảnh đất được coi là nguồn mạch củadòng sông thi ca vừa lâu đời vừa rộng lớn Sự trở lại mảnh đất cội nguồn này PhạmÁnh Sao gọi là "sự hoàn nguyên" của Nguyễn Du Trong cuộc hành trình "hoànnguyên" đó Nguyễn Du đã có "đối thoại siêu thời gian" cùng với cổ nhân để kể câuchuyện buồn về thế sự và nhân sinh Phạm Ánh Sao đã đi tìm những điểm tươngđồng và khả năng tiếp biến sáng tạo của Nguyễn Du qua đối sánh giữa hai bài thơcùng viết về lầu Hoàng Hạc - một di tích lịch sử văn hoá được coi là “tam đại danhlâu” ở miền Nam Trung Quốc, giữa Nguyễn Du và nhà thơ Thôi Hiệu Từ đó Phạm
Trang 7Ánh Sao nêu rõ: "Nguyễn Du không chỉ cho thấy, ông đã tiếp nhận đến mức nhuầnnhuyễn nguồn tri thức văn hoá - văn học từ bên ngoài cho mình, hơn nữa bằng tráitim đầy lòng yêu thương và trắc ẩn, ông còn khẳng định được nhân cách văn hoá
và tài năng văn chương của mình ở chính nơi được coi là ngọn nguồn của văn hoá,văn học mà ông từng tắm gội Thơ đăng làm của ông đã cho thấy thái độ tiếp nhậntrân trọng, tầm vóc tri thức uyên bác, khả năng tiếp biến và sáng tạo đặc biệt củaông"
Nhìn chung, ở hướng tiếp cận từ góc nhìn văn hoá này, các công trìnhnghiên cứu về thơ chữ Hán đều cho thấy Nguyễn Du là người có vốn văn hoá sâurộng, không chỉ là văn hoá của con người và quê hương ông mà còn là văn hoá củađất nước Trung Hoa rộng lớn, lâu đời Chính vốn văn hoá sâu rộng này đã giúpNguyễn Du có được cơ hội vượt qua mọi ranh giới về thời gian và không gian đểtiếng thơ của ông đến được với thế giới con người và cuộc sống rộng lớn hơn phạm
vi lãnh thổ của dân tộc mình
1.2.2 Qua lời bình của các nhà thơ
thơ của nhà thơ Nguyễn Đăng Na là người chú trọng nhấn nhấn mạnh những lờibình thơ của Tố Như về tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định Trongbài viết: "Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo", ông đãtrích dẫn các bài thơ của Lê Quang Định có lời bình của Tố Như Từ những lờibình này Nguyễn Đăng Na đã xem Nguyễn Du không chỉ là một đại thi hào mà còn
là một người bình thơ sâu sắc
Trong bài viết này Nguyễn Đăng Na đã xem xét 16 bài thơ có lời bình củaNgô Lễ Khê và Nguyễn Du Đối sánh giữa lời bình của hai tác giả, Nguyễn Đăng
Na cho rằng đặc điểm nổi bật trong cách bình của Tố Như là ông rất kiệm lời Sốchữ mà Tố Như dùng để bình một bài thường rất ít, phần lớn chỉ bằng 1/5 Ngô LễKhê, thậm chí một số bài chỉ bằng 1/20 như khi bình bài thơ Quá Khởi Kính than
đề Mã Phục Ba từ (Qua thác Khởi Kính, đề đền thờ Mã Phục Ba) Lời bình củaNguyễn Du cô đọng mà ý nhiều, thiên về nhận xét phong cách, khí cốt và chất thơ
Từ những lời bình này, Nguyễn Đăng Na đã có được nhận định xuất phát từ quanniệm về thơ của Nguyễn Du: "Tố Như thích lối thơ tự nhiên, có lực mà không phảidụng lực, ý sâu trầm lắng mà không thấy người cầm bút phải bươn bả truy tìm" Có
Trang 8thể thấy hướng tiếp cận này mang đến một hiệu quả nhất định Trước hết nó làmphong phú thêm hướng tiếp cận về tác phẩm cũng như con người Nguyễn Du Saunữa, nghiên cứu kỉ các bài thơ được Tố Như bình ta sẽ hiểu thêm khuynh hướngtình cảm và khuynh hướng sáng tác của Nguyễn Du.
1.3 Sơ lược một số tác phẩm chữ hán tiêu biểu
Nhắc tới Nguyễn Du hẳn người ta sẽ nhớ ngay tới Truyện Kiều –tác phẩmđược xem là kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong vănhọc Việt Nam Song, bên cạnh truyện Kiều, Nguyễn Du còn có : Thác lời traiphường Nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Văn tế thập loại chúng sinh (còngọi là Văn chiêu hồn) và thơ chữ Hán
Có thể thấy toàn bộ tác phẩm của ông, chữ Nôm cũng như chữ Hán, đềuchan chứa một tình yêu thương đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ Khôngphải chỉ Truyện Kiều, mà cả thơ chữ Hán và Văn chiêu hồn đều góp phần tạo nênmột đại thi hào Nguyễn Du Nếu Truyện Kiều được đánh giá là câu chuyện củangàn tâm trạng “Máu rỏ đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy” (Mộng LiênĐường), thì thơ chữ Hán là thế giới tâm trạng con người trong đó bức chân dung
tự hoạ về Nguyễn Du hiện lên sắc nét với đầy đủ những nỗi niềm trước cuộc đờidâu bể, là thế giới của những tấm lòng yêu thương, ngợi ca con người, tôn vinh vẻđẹp tâm hồn, nhân cách con người
Thơ chữ Hán giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp văn chương củaNguyễn Du, bởi nó vừa là nhật ký tâm trạng, vừa là nhật ký có tính hành trình củachính đại thi hào trong suốt một thời kỳ dài Đó là mảng thơ ông sáng tác gần nhưtrọn đời (khoảng trên dưới 30 năm), qua nhiều vùng lãnh thổ khác nhau Nhữngtác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mớiđược ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch,chú thích và giới thiệu tập: Thơ chữ Hán Nguyễn Du (NXB Văn hóa, 1959) chỉgồm có 102 bài Đến năm 1965 NXB Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tậpmới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm
250 bài như sau:
Thanh Hiên thi tập còn gọi là Thanh Hiên tiền hậu tập (Tập thơ của ThanhHiên) gồm 67 đề mục, cộng là 78 bài thơ trong giai đoạn 1786-1804, gồm 10 nămgió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng, và 2
Trang 9năm làm quan ở huyện Bắc Hà Tập thơ là các bài viết chủ yếu trong những nămtháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.
Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 27 đề mục,cộng là 40 bài, giai đoạn 1805-1812, ông được thăng hàm Đông các đại học sĩ, làmquan ở Kinh Đô 5 năm và làm cai bạ ở Quảng Bình 3 năm
Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm
132 bài thơ, giai đoạn 1813-1814, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc
10 năm gió bụi, sống ở Thái Bình quê vợ; 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng và
2 năm làm quan ở huyện Bắc Hà
2.1.2 Nội dung và một số bài thơ tiêu biểu
2.1.2.1 Cuộc sống xa quê hương, vất vả, bệnh tật với cái nghèo
đeo đẳng và tâm sự của Nguyễn Du
Bao trùm lên toàn tập thơ là tâm trạng buồn bã, u uất Những bài thơ làm ởThái Bình là những lời than thử về cuộc sống long đong, nay đây mai đó như chiếcthuyền lênh đênh giữa dòng nước, hết ở nhà người này lại ở nhà người khác “thânthế phó mặc cho giố bụi”, “mới rét đã thấy khổ vì thiếu áo” Những bài thơ làmtrong thời gian về Tiên Điền cũng mang tâm trạng chán chường như thế với bao lo
âu, u buồn, than thở cho cuộc đời nghèo túng, già cả và bệnh tật
Đến với Thanh Hiên thi tập, ấn tượng đọng lại trong lòng chúng ta là một nỗi buồnsâu sắc, qua ngòi bút của nhà thơ mà nó trở nên ám ảnh, day dứt vô cùng:
“Bất tri tam bách dư niên hậuThiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Trang 10(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữaTrong thiên hạ có ai khóc Tố Như chăng?) (Độc Tiểu Thanh kí)Câu thơ như tiếng khóc, như tiếng lòng đồng cảm sâu sắc với nàng thiếu nữ tài sắcnhưng bạc mệnh mà chạnh lòng nghĩ đến mình Cả cuộc đời ông gắn bó với sách
vở, thơ văn và để lại cho hậu thế biết bao tác phẩm bất hủ Cũng như nàng TiểuThanh tài sắc vẹn toàn, khi thác xuống rồi liệu có ai khóc cho nàng như Tố Như?Rất nhiều lần trong Thanh Hiên thi tập, Nguyễn Du nhắc đến bệnh tật và tuổi già:
“Sinh vị thành danh thân dĩ suyTiêu tiêu bạch phát mộ phong suy”
(Ở trên đời chưa thành danh, mà đã suy yếuGió chiều lùa vào mái tóc bạc)
(Tự thán)
“Niên thâm cách giác lão tuỳ thân”
(Năm tháng trôi qua biết mình đã già) (U cư)
“Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng”
(Mái tóc bạc bơ phờ trên gối chốn tha hương) (Trệ khách)
“Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu”
(Bệnh đến giữa lúc phiêu bạt giang hồ đã lâu ngày rồi) (Xuân dạ)
“Lão khứ vị tri sinh kế chuyết”
Trang 11(Già rồi vẫn chưa biết là mình vụng đường kiếm sống) ( Thôn dạ)
“Giàm mặc tang sinh lão bệnh dư”
(Già yếu rồi nên nín lặng để được yên thân) (Tạp thi)
“Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng”
(Ngày xuân thân này đâu còn trẻ khoẻ nữa) (Thanh minh ngẫu hứng)
“Ánh lí tu mi khan lão hỹ”
(Soi gương ngắm râu tóc thấy già rồi) (Lạng Sơn đạo trung)Qua những câu thơ trên ta có thể cảm nhận được nỗi day dứt, ám ảnh của tác giả vềtuổi già Nỗi lo lắng, muộn phiền này dường như kéo dài, xuyên suốt tập thơ Mộtmặt nó thể hiện những vất vả, khó khăn, khổ sở của tác giả Mặt khác nó thể hiệnnỗi cảm khái của nhà thơ trước quy luật tự nhiên: sinh, lão, bệnh, tử; một cảm quanmang tính nhân sinh mà không phải bất cứ người nào cũng có được Cái già đếnvới mỗi con người một cách tự nhiên như một quy luật: đông qua thì xuân đến, hoa
nở rồi hoa sẽ tàn Cuộc đời đầy sóng gió của Nguyễn Du cùng với tình hình xã hộilúc bấy giờ không cho phép ông thực hiện được hoài bão, lí tưởng một cách trọnvẹn Ông cảm than cho số phận không phải vì những lo sợ của một con người thếtục mà nỗi lo ở đây là sự lo sợ sự nghiệp chưa thành mà tuổi già đã đến Đó là bikịch của một con người giàu hoài bão, giàu lý tưởng Thời gian cứ tôi qua mộtcách vô tình, tuổi già ngày càng đến gần Trong tận sâu thẳm tâm hồn, những bềbộn cảm xúc luôn thường trực rồi dâng trào thấm vào từng vần thơ, lan ra cả ngoàiđầu bút
Cái nghèo chốn thôn dã cũng làm cho Nguyễn Du phải cảm khái viết thànhthơ, không chỉ để ca thán, than thở về nỗi nghèo khổ của mình mà qua đó khắc họa
Trang 12toàn cảnh của người dân lúc bấy giờ với những khó khăn, vất vả đang đè lên vai,lên cuộc sống của những người nghèo khổ.
2.1.2.2 Nỗi buồn trước thói đời loạn lạc
Bên cạnh nỗi buồn trước cuộc sống nghèo khổ, tâm sự của một con ngườimang bao lý tưởng thì Thanh Hiên thi tập còn khắc họa được hiện thực với thói đờiloạn lạc:
“Tiễu đề tuẫn tục can qua tếGiàm mặc tàng sinh lão bệnh dư”
(Thời chiến loạn khóc cười cũng phải theo thế tụcGià yếu rồi nên phải nín lặng để yên thân)
(Tạp thi)Câu thơ có một chút mỉa mai cho thói đời, cho thực tế loạn lạc của xã hội và chiếntranh Sống giữa một xã hội như thế, những thói quen, phản ứng của con ngườicũng trở nên trần tục Những thói quen “giả vụng về để phòng thói tục”, “vì muốngiữ toàn sinh mạng nên luôn sợ người ta” được Nguyễn Du nhắc đến rất nhiều.Chính vì vậy, tác giả thương xót trước cảnh đời, trước xã hội trần tục này đã đẩycon người sống trong đó cũng trở nên thế tục hơn Vì để “yên thân” mà con ngườitrở nên nín lặng, lạnh lùng trước cuộc đời, trước những bất công của cuộc sống màkhông dám nói lên tiếng nói của mình
2.1.2.3 Hình ảnh thiên nhiên mang tâm trạng con người
“Môn yểm tà phi nhất viện bần”
(Cổng đóng, cánh nghiêng ngả, một ngôi nhà nghèo nàn) ( U cư)
“Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai”
(Sương tuyết che mờ xóm nghèo, tiếng tù vào buổi sớm nghe bi ai) (Thu chí)
Trang 13Cuộc sống của con người cứ lặng lẽ trôi theo thời gian, cứ bàng bạc lạnh lẽo khiếncho lòng người buồn lại càng buồn hơn.
“Vạn sơn thâm xứ tuyệt phong trầnThái lạc sài môn bế mộ vân”
(Nơi sâu kín giữa muôn trùng núi non, cách biệt hẳn chốn gió bụiVài cái cổng tre rào rải rác đây đó khép kín mây chiều)
Dường như nỗi buồn lan tỏa ra cảnh vật xung quanh Phần lớn những hình ảnhthôn quê, thiên nhiên trong bực tranh tổng thể của bài thơ đều mang phong tháinhư vậy: lặng lẽ, đượm buồn Có thể nói cảnh và người hòa vào nhau, đồng điệucùng nhau Một con người vốn đa cảm, thừa nỗi sầu khổ như Nguyễn Du trướcchốn u tịch như thế này đã cảm tác thành thơ hay chính nỗi buồn của tác giả đã thảhồn vào thiên nhiên, cảnh sắc nơi đây? Trong cảnh vật mang màu sắc u buồn, tĩnhmịch của nơi thôn dã, nhà thơ dường như thấm thía hơn nỗi buồn, thấm thía sâusắc hơn với những gì mình đã trải qua Cuộc sống lưu lạc nơi thôn dã, gần gũi với
tự nhiên là điều kiện để Nguyễn Du có thể suy nghĩ, trải nghiệm và ý thức mộtcách sâu sắc thấm thía nhất Có thể nói, tâm trạng con người lan tỏa ra khắp cảnhvật xung quanh hay ngược lại, cảnh vật dân dã, tĩnh mịch mang điệu buồn manmác tác động đến tâm hồn nhà thơ Cảnh và người hòa vào nhau tạo nên những vầnthơ, góp phần khắc họa bức tranh đượm màu tâm sự trong toàn bộ tập thơ
Trang 14“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầuNgười buồn cảnh có vui bao giờ”.
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)Như vậy, tóm lại giá trị nội dung của tập thơ chữ Hán Thanh Hiên thi tậpchủ yếu là giá trị hiện thực Tập thơ đã phản ánh hiện thực nghèo khổ, bệnh tật,tuổi già, buồn thương của Nguyễn Du trước cuộc sống của nhân dân trong thời kìloạn lạc ở những nơi mà tác giả đã đi qua Tất cả những gì ông viết trong tập thơkhông chỉ là một lớp váng nổi trên bề mặt xã hội mà nó còn là những tâm sự,những cảm xúc day dứt, ám ảnh xuyên suốt tập thơ của tác giả Một nỗi buồn manmác vượt lên cả những nỗi buồn thế tục: tuổi già, cơm áo, bệnh tật Ngoài cảmthức nhân sinh, nhà thơ còn cảm thức thời thế Nhưng ở đây, cảm thức thời thế chỉgợi lên trong lòng người đọc cảm giác về nỗi buồn, về những tâm sự có phần bấtđắc chí chứ không được thể hiện rõ ràng như cảm thực nhân sinh
2.2 Nam trung tạp ngâm
2.2.1 Hoàn cảnh sáng tác
Nam Trung Tạp Ngâm gồm 40 bài Nguyễn Du làm trong thời gian giữ chứcquan ở Phú Xuân và Quảng Bình rồi lại trở về Phú Xuân, từ năm 1804 cho đếnnăm ông qua đời (1820), là 16 năm.Năm 1804, Nguyễn Du cáo bệnh, xin về hưu,
từ quan, nhưng chỉ được có hơn một tháng thì có chỉ vua triệu vào cung giữ chứcĐông các điện học sĩ, nên đành phải đi Bài Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành làmlúc lên đường trẩy kinh (tháng giêng năm Ất Sửu, 1805)
2.2.2 Nội dung và một số bài thơ tiêu biểu
Nguyễn Du vốn là người thích cuộc sống tự do tự tại, không bon chen xahoa với đời mặc dù ông có xuất thân từ tầng lớp quý tộc Con đường ra làm quancủa Nguyễn Du chỉ mang tính chất “bắt buộc” lệnh vua phải tuân Ông có mộtkhoảng thời gian dài sống ở dãy núi Hồng với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ, ônghòa mình vào đó để chiêm ngưỡng, để yêu một cách cuồng nhiệt, quyện vào đóbiết bao kỉ niệm mà sau này nó cho ông cảm giác nhớ thương da diết
2.2.2.1 Nỗi nhớ quê hương
Trang 15Như chúng ta đã nói Nam trung tạp ngâm được sáng tác khi Tố Như phảituân lệnh triệu kiến của vua Trịnh, một phần là lệnh vua không thể cãi, mặt khácgia tộc của ông trước đây chịu sự hậu thuẩn của vua thêm vào đó vì kế sinh nhainên ông đành chấp nhận rời bỏ nơi là chiếc nôi, là nguồn cảm hứng và nơi tudưỡng tâm hồn cao đẹp thanh thoát và đầy sự tài hoa của ông.
Mặc dù xa quê sống nơi kinh thành đầy xa hoa nhưng trong lòng ông lúc nàocũng hướng về nơi quê hương bình yên nơi có sông Lam núi Hồng nên thơ cuộcsống thật an nhàn, nơi đó như là hơi thuở của gia đình, ông ôm ấp ở đó biết bao kỉniệm với khóm trúc vàng với kho tàng nghệ thuật mà tổ tiên còn xót lại Ông nhớlắm những ngày tháng sống ở đó
Tản phát cuồng ca tứ sở chi Lục tần phong khởi, tịch dương vi Bạch vân lưu thuỷ đồng vô tận Ngư phủ phù âu lưỡng bất nghi
Vô luỵ vị ưng chiêu quỷ trách Bất tài đa khủng tốc quan phi Niên niên thu sắc hồn như hử Nhân tại tha hương bất tự tri
(Giang Đầu Tản Bộ - Bài 1)
Tố Như cứ chìm đấm trong nỗi nhớ quê hương da diết dần dần nó biến ôngthành một người có khát khao có ước vọng hướng về quá khứ Ông muốn quay vềnhà nơi có sông Lam núi Hồng nơi ông có thể sáng tác ra những vần thơ trong trẻo
về thiên nhiên tuyệt sắc nơi đó Ông nhận ra được Kinh thành không dành chomình, ông sống quá mệt mỏi, cuộc sống thật chán chường và tẻ nhạt, đọc câu thơnày lên có thể chúng ta có thể cảm nhận sự lạc lõng Nguyễn Du như một đứa trẻlạc mong tìm được đường về nhà nơi mà cho ông cảm giác an toàn và bình yênnhất
Trang 16“Cô thành nhật mộ khởi âm vânThanh thảo man man đáo hải tầnKhoáng dã biến mai vô chủ cốtThù phương độc thác hữu quan thân
Sự lai đồ lệ giai kiêu ngãLão khứ văn chương diệc tị nhânVọng ngoại Hồng Sơn tam bách lí Tương tòng hà xứ vấn tiền lân”
(Tạp Ngâm)Thương nhớ Hồng Sơn từ chốn quan trường là thương nhớ về một thuở nào thongdong đuổi thú, xua chó đi săn trong non ngàn tràn đầy sự tự do ngoài vòng cươngtỏa:
“Nghêu ngao vui thú yên hà,