CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ MỘT SỐ LOẠI CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG KÌ THI THPT QUỐC GIA 1. Câu hỏi hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản 1.1 Cơ sở thiết kế câu hỏi đọc hiểu văn bản Thường dựa vào thang Bloom(1951) gồm 6 bậc: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Năm 2001 thang Bloom được chỉnh sửa bởi Aderson và Krathwohl gồm 6 bậc: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo, thang này được vận dụng rộng rãi trong tất cả các môn học cho học sinh. Thang nhận thức này được sử dụng rộng rãi trong tất cả các môn học. 1.2 Các loại câu hỏi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản 1. Câu hỏi hướng dẫn HS nhớ Dựa vào SGK em hãy trình bày những hiểu biết của em về tác giả Nguyễn Du? Tại sao nói Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới > Câu hỏi này giúp chú ý ghi nhớ những chi tiết quan trọng về thân thế và sự nghiệp của tác giả Nguyễn Du 2. Câu hỏi hướng dẫn HS hiểu Trong bài “Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt” , em hãy xác định nghĩa đen và nghĩa bóng của các từ gạch chân : “ ...Mình đã quen cảnh an nhàn oai vệ rồi, sa xuống hạ giới lầm lụi, đầu tro mặt muội, mình chịu sao nổi?” > Câu hỏi trên giúp HS Nam bộ có cơ hội tiếp xúc và hiểu các thành ngữ Bắc bộ. Việc hiểu ý nghĩa của các từ này là cơ sở để hiểu văn bản ở cấp độ cao hơn như nghệ thuật dùng từ, tính cách nhân vật... 3. Câu hỏi hướng dẫn HS vận dụng • Câu hỏi giúp học sinh liên hệ, suy ngẫm về những vấn đề trong văn bản với những vấn đề tình huống tương tự trong cuộc sống thực: “Qua đoạn trích Trao duyên, em nghĩ hành động nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng của Kiều có đúng hay không? Nếu là em, em sẽ làm như thế nào?” • Câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức của tác phẩm vừa được đọchiểu để phân tích một tác phẩm tương tự “Dựa vào những gì được học ở đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du, phân tích bài thơ Tâm sự của nàng Thúy Vân của Trương Nam Hương” • Câu hỏi bài tập đọc hiểu tạo ra những tình huống để học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng vừa học trong quá trình đọc để giải quyết tình huống được đặt ra: “Đoạn trích Trao duyên đã đề cao nhân phẩm cao quý nhất của Kiều chính là lòng vị tha và hy sinh vì tình yêu. Liên hệ với cuộc sống hiện đại, giới trẻ thường không yêu đương nghiêm túc, yêu hời hợt, yêu vụ lợi hoặc khi bị tình yêu sâu sắc phản bội thì họ trả thù hay khi tình yêu tan vỡ họ thường có xu hướng đổ lỗi cho người yêu. Theo em như thế nào là yêu? Trong tình yêu, nếu em phát hiện đối phương không còn yêu em nữa, em sẽ sẽ làm gì?” 4. Câu hỏi giúp học sinh phân tích “Em hãy lý giải nguyên nhân tại sao Thúy Kiều lại chọn cách bán mình để chuộc cha và trao duyên cho em gái? Từ đó cho thấy được đời sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa” > Câu hỏi này giúp HS xác định các nguyên nhân, tìm kiếm thông tin để dẫn chứng chứng minh cho luận điểm. Qua đó thấy được mối liên hệ là hoàn cảnh tác động lên cách tư duy, xử trí vấn đề của nhân vật 5. Câu hỏi giúp HS phê phán, đánh giá “Thành công và hạn chế của nội dung tác phẩm Trăng nơi đáy giếng Trần Thùy Mai” > Câu hỏi trên đòi hỏi HS phải tư duy 2 mặt của vấn đề để cho thấy cách hiểu và giải quyết vấn đề của HS 6. Câu hỏi giúp học sinh sáng tạo “Đặt giả thuyết trong bài “Trao duyên”, Thúy Kiều vẫn đang lưỡng lự giữa “hiếu” và “tình” chứ chưa quyết định trao duyên cho Thuý Vân, em hãy vẽ sáng tạo ra một bức tranh hoặc một sơ đồ để giải quyết vấn đề đó giúp Kiều theo cách của em và thuyết minh về nó” > Câu hỏi này khuyến khích HS sáng tạo không nhất thiết phải bó buộc vào việc HS nhớ lại vẽ lại mà là sáng tạo một bức tranh; có thể sáng tạo về hình thức: vẽ tranh bằng bút bi, vẽ sơ đồ tư duy hoặc sáng tạo thêm về nội dung: sáng tạo những hình ảnh, chi tiết không có trong tác phẩm để giải quyết vấn đề.
Trang 1CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ MỘT SỐ LOẠI CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN
HỌC TRONG KÌ THI THPT QUỐC GIA
1 Câu hỏi hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
1.1 Cơ sở thiết kế câu hỏi đọc hiểu văn bản
Thường dựa vào thang Bloom(1951) gồm 6 bậc: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Năm 2001 thang Bloom được chỉnh sửa bởi Aderson và Krathwohl gồm 6 bậc: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo, thang này được vận dụng rộng rãi trong tất cả các môn học cho học sinh Thang nhận thức này được sử dụng rộng rãi trong tất cả các môn học
1.2 Các loại câu hỏi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản
1 Câu hỏi hướng dẫn HS nhớ
Dựa vào SGK em hãy trình bày những hiểu biết của em về tác giả Nguyễn Du? Tại sao nói Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới -> Câu hỏi này giúp chú ý ghi nhớ những chi tiết quan trọng về thân thế và sự nghiệp của tác giả Nguyễn Du
2 Câu hỏi hướng dẫn HS hiểu
Trong bài “Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt” , em hãy xác định nghĩa đen và nghĩa bóng của các từ gạch chân : “ Mình đã quen cảnh an nhàn oai vệ rồi, sa xuống hạ giới lầm lụi, đầu tro mặt muội, mình chịu sao nổi?”
-> Câu hỏi trên giúp HS Nam bộ có cơ hội tiếp xúc và hiểu các thành ngữ Bắc
bộ Việc hiểu ý nghĩa của các từ này là cơ sở để hiểu văn bản ở cấp độ cao hơn như nghệ thuật dùng từ, tính cách nhân vật
3 Câu hỏi hướng dẫn HS vận dụng
Trang 2 Câu hỏi giúp học sinh liên hệ, suy ngẫm về những vấn đề trong văn bản với những vấn đề/ tình huống tương tự trong cuộc sống thực:
“Qua đoạn trích Trao duyên, em nghĩ hành động nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng của Kiều có đúng hay không? Nếu là em, em sẽ làm như thế nào?”
Câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức của tác phẩm vừa được đọc-hiểu để phân tích một tác phẩm tương tự
“Dựa vào những gì được học ở đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du, phân tích bài thơ Tâm sự của nàng Thúy Vân của Trương Nam Hương”
Câu hỏi/ bài tập đọc hiểu tạo ra những tình huống để học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng vừa học trong quá trình đọc để giải quyết tình huống được đặt ra:
“Đoạn trích Trao duyên đã đề cao nhân phẩm cao quý nhất của Kiều chính là lòng vị tha và hy sinh vì tình yêu Liên hệ với cuộc sống hiện đại, giới trẻ thường không yêu đương nghiêm túc, yêu hời hợt, yêu vụ lợi hoặc khi bị tình yêu sâu sắc phản bội thì họ trả thù hay khi tình yêu tan vỡ họ thường có xu hướng đổ lỗi cho người yêu Theo em như thế nào là yêu? Trong tình yêu, nếu
em phát hiện đối phương không còn yêu em nữa, em sẽ sẽ làm gì?”
4 Câu hỏi giúp học sinh phân tích
“Em hãy lý giải nguyên nhân tại sao Thúy Kiều lại chọn cách bán mình để chuộc cha và trao duyên cho em gái? Từ đó cho thấy được đời sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa”
-> Câu hỏi này giúp HS xác định các nguyên nhân, tìm kiếm thông tin để dẫn chứng chứng minh cho luận điểm Qua đó thấy được mối liên hệ là hoàn cảnh tác động lên cách tư duy, xử trí vấn đề của nhân vật
5 Câu hỏi giúp HS phê phán, đánh giá
Trang 3“Thành công và hạn chế của nội dung tác phẩm Trăng nơi đáy giếng- Trần
Thùy Mai”
-> Câu hỏi trên đòi hỏi HS phải tư duy 2 mặt của vấn đề để cho thấy cách hiểu
và giải quyết vấn đề của HS
6 Câu hỏi giúp học sinh sáng tạo
“Đặt giả thuyết trong bài “Trao duyên”, Thúy Kiều vẫn đang lưỡng lự giữa
“hiếu” và “tình” chứ chưa quyết định trao duyên cho Thuý Vân, em hãy vẽ sáng tạo ra một bức tranh hoặc một sơ đồ để giải quyết vấn đề đó giúp Kiều theo cách của em và thuyết minh về nó”
-> Câu hỏi này khuyến khích HS sáng tạo không nhất thiết phải bó buộc vào việc HS nhớ lại vẽ lại mà là sáng tạo một bức tranh; có thể sáng tạo về hình thức: vẽ tranh bằng bút bi, vẽ sơ đồ tư duy hoặc sáng tạo thêm về nội dung: sáng tạo những hình ảnh, chi tiết không có trong tác phẩm để giải quyết vấn đề
2 Câu hỏi Biết:
Mục tiêu: để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ liệu, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm… Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
Các từ để hỏi thường là: lấy ví dụ, liệt kê, gọi tên, cái gì, bao nhiêu, hãy định nghĩa, cái nào, hãy mô tả, cho biết
VD: Trình bày những hiểu biết của anh/chị về tác giả Nguyễn Tuân?
Con sông Đà được tác giả Nguyễn Tuân miêu tả qua những hình ảnh nào?
3 Câu hỏi Hiểu:
Mục tiêu: để kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ liệu, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa… Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả
Trang 4năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố
cơ bản trong nội dung đang học
Các cụm từ để hỏi thường là: tóm tắt, giải thích, phân biệt, chứng tỏ rằng, tại sao, hãy phân tích, hãy so sánh…
VD: Tóm tắt lại tác phẩm “Hai đứa trẻ” bằng sự hiểu biết của anh/chị?
Em hiểu như thế nào về cụm từ “động lòng bốn phương”?
4 Câu hỏi Vận dụng:
Mục tiêu: để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, các khái niệm… có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết, vận dụng các phương án vào thực tiễn
Các cụm từ để hỏi thường là: làm thế nào, giải quyết, minh họa, tính toán, đưa vào thực tế, bày tỏ…
VD: Nếu là nhân vật Phùng, khi thấy người đàn ông đánh đập vợ mình, anh/chị
sẽ giải quyết như thế nào?
5 Câu hỏi Phân tích:
Mục tiêu: để kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận.Việc đặt câu hỏi phân tích đòi hỏi học sinh phải giải thích được các nguyên nhân từ thực tế Các câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải (thể hiện sáng tạo)
Các cụm từ để hỏi thường là: tại sao , đi đến kết luận; em có nhận xét gì, hãy chứng minh, lựa chọn, chỉ ra sự khác biệt…
Trang 5VD: Em có nhận xét gì về tâm thế khi ra đi của người anh hùng Từ Hải?
6 Câu hỏi Tổng hợp:
Mục tiêu: để kiểm tra xem học sinh có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết vấn
đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy
sự sáng tạo của học sinh, các em phải tìm ra những nhân tố và ý tưởng mới để
có thể bổ sung, cho nội dung Để trả lời câu hỏi học sinh phải: dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra các câu trả lời sáng tạo
Các cụm từ để hỏi thường là: hãy đưa ra kết luận, hãy đề ra biện pháp, thiết kế, báo cáo, xây dựng…
Ví dụ: Em hãy rút ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử?
7 Câu hỏi Đánh giá:
Mục tiêu: kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
Các cụm từ để hỏi thường là: kết luận, phê bình, lý do của là gì, trên cơ
sở những tiêu chuẩn sau đánh giá giá trị của
VD: Qua sự hi sinh và cam chịu của người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa, anh/chị thấy người đàn bà hàng chài đáng thương hay đáng trách?
Có ý kiến cho rằng nhân vật Từ Hải “bốn bể anh hùng còn dại gái”, ý kiến của anh/chị về vấn đề này?
Loại câu hỏi hướng dẫn học sinh đọc văn bản
1/Nhân vật chính là ai?
Tìm các chi tiết, từ ngữ thể hiện…
(hình ảnh bà Tú, cảnh ngày hè, tính
Hướng dẫn HS tìm các chi tiết quan trọng trong văn bản, ghi nhớ thông tin, phát triển vai trò giải mã văn bản
Trang 6cách nhân vật…).
2/Phân tích các chi tiết, hình ảnh…
Tác dụng của biện pháp nghệ thuật… ?
Lời nói… của nhân vật thể hiện điều gì
về tâm trạng/suy nghĩ/tính cách của
nhân vật ?
So sánh chi tiết/nhân vật A với các chi
tiết/nhân vật B…
3/Hãy tóm tắt cốt truyện ?
Chủ đề tác phẩm là gì ?
4/Tác giả đã thể hiện chủ đề của tác
phẩm tốt đến mức nào ?
Đặc sắc nghệ thuật nổi bật của tác
phẩm này là gì? Hạn chế của tác phẩm
là gì?
Em đánh giá như thế nào về hành động
của nhân vật ?
5/Theo em, thông điệp mà tác giả
muốn gửi gắm trong văn bản là gì ?
6/Nếu em ở trong hoàn cảnh của nhân
Rèn kĩ năng phân tích, so sánh, phát triển vai trò giải mã văn bản
Rèn kĩ năng tổng hợp, phát triển vai trò giải mã văn bản
Rèn kĩ năng tổng hợp, phát triển vai trò giải mã văn bản
Khơi gợi kiến thức nền của HS, phát triển vai trò kiến tạo nghĩa cho văn bản
Khơi gợi năng lực sáng tạo, tưởng tượng của HS, giúp HS, phát triển vai
trò kiến tạo nghĩa cho văn bản.
Khơi gợi kiến thức nền và năng lực tưởng tượng của HS
Trang 7vật, em sẽ phản ứng/hành động/suy
nghĩ như thế nào?
7/Theo em, tựa đề của văn bản, bìa của
cuốn sách có thể thể hiện nội dung gì?
8/Ý nghĩ đầu tiên của em khi đọc văn
bản là gì?
Vãn bản này đánh thức kí ức nào, gợi
em nhớ đến người nào, địa điểm hay
kinh nghiệm nào?
9/Theo em, người anh hùng/người
chồng tốt/người vợ đảm đang… là
người như thế nào ?
Khơi gợi kỉ niệm, vốn sống của HS, khơi gợi cảm xúc của HS, giúp
HS liên hệ văn bản với thực tế, làm cho nội dung văn bản gần gũi với cuộc sống của người đọc
Khơi gợi kỉ niệm, vốn sống của HS, khơi gợi cảm xúc của HS, giúp
HS liên hệ văn bản với thực tế, làm cho nội dung văn bản gần gũi với cuộc sống của người đọc
Giúp HS liên hệ thực tế, nêu quan điểm cá nhân
Ví dụ: Khi dạy bài “Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử Giáo viên có thể đưa ra
một số câu hỏi theo thang Bloom để kích thích khả năng tìm tòi, phát hiện của học sinh từ mức thấp đến cao
Giáo viên có thể hỏi: Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chia làm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần?, với câu hỏi này, học sinh sẽ sử dụng nguồn thông
tin có sẵn trong văn bản để trả lời, và chỉ có một đáp án duy nhất đúng cho câu
hỏi này Hay với câu Em nhận xét gì về bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ buổi ban
Trang 8mai?, học sinh sẽ vận dụng những gì đã tìm hiểu, đã phân tích để đưa ra nhận xét theo sự nhìn nhận, hiểu biết của mỗi cá nhân Câu hỏi: Hình ảnh “áo em trắng quá” và “sương khói mờ nhân ảnh” gợi cho em suy nghĩ gì? thì câu trả
lời rất phong phú, tùy theo kinh nghiệm sống và độ sâu sắc trong tâm hồn, suy nghĩ của từng học sinh Để khơi gợi năng lực tưởng tượng, khả năng kiến tạo
nghĩa cho văn bản của học sinh, giáo viên có thể nêu những câu hỏi Theo anh/chị đây là một bài thơ về tình yêu hay là tình quê? Hay Có người cho rằng, bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử chỉ thể hiện tình yêu đối với người con gái xứ Huế Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên? Những câu hỏi như vậy sẽ tạo
cho học sinh cơ hội được thể hiện chính kiến của bản thân đối với các vấn đề trong quá trình đọc hiểu văn bản
1.3 Thực trạng sử dụng câu hỏi và đề xuất giải quyết
1.3.1 Đánh giá thực trạng sử dụng câu hỏi đọc – hiểu môn Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay
Đối với việc dạy của giáo viên:
Giáo viên đi theo lối mòn của việc giảng dạy đọc hiểu bằng cách hiểu hộ, đọc
hộ, trả lời thay học sinh những câu hỏi mình đưa ra Chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh Giáo án về nội dung chứ không phải là giáo án để dạy phương pháp đọc hiểu văn bản cho người học
Phần lớn những câu hỏi hướng dẫn đọc văn bản trong sách giáo khoa và trong
giờ đọc hiểu hiện nay giới hạn ở loại câu hỏi: Tìm chi tiết thể hiện sự lam lũ, tảo tần của nhân vật…; Chi tiết có ý nghĩa gì?’ Phân tích… Những câu hỏi trên
đều hướng vào chức năng nhận thức: giúp HS hiểu tác phẩm, nhớ các thông tin, chủ đề, giải mã văn bản, không chú trọng khơi gợi cảm xúc, kinh nghiệm sống của học sinh, không khuyến khích những cách hiểu khác nhau về văn bản, cũng không giúp học sinh nhận biết văn bản có tác động hoặc có ý nghĩa như thế nào với chính các em
Trang 9 Đối với việc học của học sinh:
Bên cạnh hệ thống câu hỏi mà GV định hướng, HS còn được trang bị một
số câu hỏi từ SGK trong phần hướng dẫn học bài, chuẩn bị bài ở nhà Chuẩn bị bài là một yêu cầu quan trọng trong việc dạy và học môn Ngữ văn (đây là yêu cầu chung cho tất cả các môn học, tuy nhiên đối với môn Ngữ văn đây lại là yêu cầu mang tính đặc thù) Có chuẩn bị bài tốt thì học sinh (HS) mới có thể lĩnh hội tốt kiến thức trong quá trình Đọc - hiểu văn bản Vì thế trong SGK bất cứ môn học nào, không ngoại trừ môn Ngữ văn đều có hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài ở phần sau nội dung bài học Tuy nhiên thực tế giảng dạy và học tập môn Ngữ văn hiện nay cho thấy, HS chuẩn bị bài trên cơ sở câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa (SGK) chỉ để đối phó, chiếu lệ, có em còn không chuẩn bị bài ở nhà mà đến trường mới bắt đầu tiếp nhận tác phẩm Các câu hỏi
GV đưa ra cho HS đều trong phần bài giảng rồi gợi ý cho các em trả lời còn ở nhà chỉ là đọc tác phẩm và trả lời các câu hỏi cuối bài
Về phía học sinh, tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng Chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học, lười suy nghĩ, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở
Học sinh thiếu nhiều về kiến thức ngữ văn, chưa hiểu rõ về khái niệm đọc hiểu, rất ít học sinh đọc sách để thấy được cái hay cái đẹp, biết rung động trước những tác phẩm văn học hay
1.3.2 Đề xuất giải quyết thực trạng
Từ những thực trạng nêu ra trên đây, tôi xin đưa ra một số biện pháp để góp phần phát huy hiệu quả phương pháp nêu câu hỏi trong dạy học Ngữ văn ở THPT
Thứ nhất, việc đặt câu hỏi đối với mỗi bài học phải mang tính hệ thống, có tác dụng định hướng để khai thác nội dung bài học Tính hệ thống của câu hỏi phụ thuộc vào cách tiếp cận đối tượng và vấn đề
Thứ hai, để hỏi có hiệu quả, HS hiểu câu hỏi và có hứng thú để trả lời, để tham gia bài học, câu hỏỉ không trở thành “nỗi sợ hãi” cho HS, thì người GV cần chú
ý đến kĩ thuật hỏi: Từ ngữ trong câu hỏi cũng như cách đặt câu hỏi phải phù hợp
Trang 10với sự hiểu biết của học sinh Người giáo viên phải chuẩn bị tốt câu hỏi, dự kiến những khả năng và mức độ trả lời Những câu hỏi cần được đưa ra một cách tự nhiên thân mật, có mối liên hệ chặt chẽ với mạch suy nghĩ của học sinh và phải tạo ra hứng thú trao đổi, tranh luận Tùy vào mức độ khó dễ mà chỉ định học sinh nào trả lời Nên tránh lặp lại câu hỏi hoặc dùng những câu hỏi trùng ý Không nên nhắc nhiều lần một câu hỏi như “khủng bố” tinh thần học sinh
Xử lí các câu hỏi của học sinh cần bình tĩnh, nhẹ nhàng, cần tạo điều kiện thời gian để cho học sinh trả lời trọn vẹn ý Phải tôn trọng và chấp nhận ý kiến thông minh của học sinh và cần biểu dương sự trả lời thành thật của các em Phải biết uốn nắn, bổ sung khi cần thiết với những ý kiến chưa đầy đủ và đúng đắn Phải tạo điều kiện tốt để học sinh vừa trả lời vừa đặt câu hỏi cho giáo viên một cách đúng đắn Giáo viên có trách nhiệm trả lời những câu đặt ra của học sinh, nghiêm túc, không lảng tránh, bịa đặt,
`Thứ ba, trong quá trình giảng dạy, yêu cầu chuẩn bị bài một cách nghiêm túc
đã trở thành một công việc thật sự hữu ích cho quá trình học tập của mỗi HS Với môn Ngữ văn, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn bởi lẽ để tiếp cận một tác phẩm văn học cần phải hội tụ nhiều kĩ năng, phải có sự tiếp cận bề mặt văn bản trên cơ sở đó cảm nhận những giá trị thẫm mĩ ẩn chứa sau từng con chữ Việc HS chuẩn bị tốt bài ở nhà là đã làm tốt công việc tiếp cận bề mặt văn bản Đây có thể nói là yếu tố "nền" để khi lên lớp kết hợp với những tri thức của GV cung cấp, HS sẽ có một cái nhìn tương đối trọn vẹn về tác phẩm văn học được học (ở mức độ phổ thông) Xuất phát từ thực tế ấy, thiết nghĩ trên nền tảng gợi ý của hệ thống câu hỏi trong SGK, GV giảng dạy Ngữ văn có thể biên soạn một
hệ thống câu hỏi khác cụ thể hơn, gắn liền với bài giảng của GV hơn HS được
GV cung cấp hệ thống câu hỏi cho bài học mới sau mỗi tiết dạy Đây chính là điều kiện thuận lợi để HS có thể chuẩn bị bài tốt hơn và GV có thể tiết kiệm được nhiều thời gian trên lớp Như vậy nếu thực hiện tốt công việc này, vấn đề"cháy giáo án" trong giảng dạy Ngữ văn sẽ phần nào được giải quyết Đồng thời từ hệ thống những câu hỏi ấy GV sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng tự tiếp cận tác phẩm, thoát li dần và không còn phụ thuộc một cách thụ động với những sách "học tốt"
Để cải thiện thực trạng trên, trong dạy học đọc hiểu văn bản, giáo viên chỉ nên
là người dẫn dắt, nêu vấn đề để học sinh trao đổi thảo luận, thiết kế các hoạt động để có thể giúp học sinh tự vận dụng kỹ năng phân tích, suy luận và đưa ra