1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái niệm trọng tài thương mại - Bài tập nhóm môn Luật Trọng tài thương mại

11 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 27,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài Khái niệm trọng tài thương mại là bài tập nhóm môn Luật Trọng tài thương mại

Trang 1

Đề tài: Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế

MỞ ĐẦU

Ngày nay, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được xem như phương thức phổ biến nhất, đặc biệt đối với các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế Trọng tài không chỉ xét xử những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân với cá nhân,

mà thậm chí cả những tranh chấp giữa cá nhân với quốc gia hay quốc gia với quốc

gia Để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm em xin phép được lựa chọn đề “Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế “ làm đề tài cho bài tập nhóm của mình.

NỘI DUNG

I Khái quát về trọng tài thương mại quốc tế

1 Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế

Trọng tài thương mại quốc tế là trọng tài xét xử các tranh chấp trong thương mại quốc tế, nói một cách dễ hiểu thì là trọng tài thương mại mang tính chất quốc tế, tổ chức trọng tài mang tính chất quốc tế nó thể hiện một trong ba dấu hiệu sau:

Thứ nhất: Các bên tham gia thỏa thuận trọng tài, tại thời điểm kí kết thỏa thuận

trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau

Thứ hai: Một trong những địa điểm sau đây được đặt ở ngoài quốc gia nơi các bên

có trụ sở kinh doanh: nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thỏa thuận trọng tài; nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất

Thứ ba: Các bên đã thỏa thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thỏa thuận trọng tài liên

quan đến nhiều nước

(Điều 1(3) Luật mẫu của UNCITRAL 1985 về trọng tài thương mại quốc tế)

Pháp luật về trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam không có khái niệm cũng như giải thích rõ thế nào là trọng tài thương mại quốc tế, tuy nhiên, trong Luật trọng tài thương mại 2010 tại các Điều 10 và 14 đã có những quy định áp dụng riêng đối với trọng tài giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài cụ thể như sau: Khoản 2 – Điều 10 – Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định về ngôn ngữ:

“ Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài

Trang 2

do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định.”

Khoản 2, 3 – Điều 14 – Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định:

“ 2 Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.

3 Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc

áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”

Như vậy, chúng ta cũng có thể nói trọng tài thương mại quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp mà sự bắt đầu của nó dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài (yếu tố quốc tế) bởi một hội đồng trọng tài bao gồm một hoặc một số lẻ các trọng tài viên, trên

cơ sở trình tự thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận chọn ra

2 Thẩm quyền của trọng tài thương mại quốc tế

-Trọng tài thương mại quốc tế không có thẩm quyền đương nhiên, chỉ có thẩm quyển khi các bên thỏa thuận lựa chọn

-Thỏa thuận trọng tài có thể phát sinh trước hoặc sau thời điểm phát sinh tranh chấp

-Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực khi nội dung của trọng tài phải thể hiện ý chí chung của các bên, hiệu lực của trọng tài phải được thể hiện dưới hình thức văn bản

-Thẩm quyền của trọng tài còn bị ảnh hưởng bởi phạm vi các tranh chấp: bị giới hạn xét xử trong một số những quan hệ thương mại , hay những tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân, gia đình, thừa kế

3 Các hình thức thỏa thuận trọng tài

Trang 3

- Các hình thức thỏa thuận trọng tài gồm:

+Trọng tài thường trực: được quản lý bởi 1 tổ chức trọng tài nhất định và tuân theo các quy tắc trọng tài của tổ chức đó Mỗi một tranh chấp trọng tài đều có một bộ nguyên tắc trọng tài riêng, các bên tranh chấp không phải tự xây dựng trình tự thủ tục

+Trọng tài vụ việc: do các bên tham gia trọng tài xây dựng lên

-Sau khi có quyết định của trọng tài thì sẽ nộp đơn xin công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài tại nước ngoài

II Vai trò của trọng tài thương mại quốc tế

Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế ngày 21/ 6/ 1985 của UNCITRAL thì trọng tài sẽ mang tính chất quốc tế khi:

– Vào thời điểm giao kết thỏa thuận trọng tài, các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau hoặc;

– Một trong những yếu tố sau đây ở ngoài lãnh thổ nơi các bên có trụ sở kinh doanh: nơi xét xử trọng tài hoặc nơi thực hiện phần chủ yếu của nghĩa vụ trong quan hệ thương mại hoặc nơi có quan hệ mật thiết với nội dung tranh chấp hoặc;

– Các bên đã thỏa thuận rõ ràng là nội dung chủ yếu của thỏa thuận trọng tài liên quan đến ít nhất là hơn một nước

Tính thương mại của trọng tài quốc tế: Các quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm: các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, thuê mua xây dựng công trình, tư vấn kỹ thuật, li xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hợp đồng thăm dò, khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác liên doanh; vận tài hàng hóa hoặc hành khách bằn đường hàng không, biển, sắt hoặc đường bộ

Trang 4

Như vậy, trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ tư pháp quốc tế, nhất là các quan hệ thương mại quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết được bằng trọng tài Theo phương thức này, các bên nhất trí thỏa thuận với nhau sẽ đưa

1.Ưu điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế

Thứ nhất: Thời gian giải quyết nhanh chóng: đối với tất cả chúng ta thời gian vô

cùng quy giá chẳng vì vậy mà thời gian được so sánh với vàng, đối với nhưng doanh nhân thời gian còn quan trọng hơn rất nhiều bất cứ sự trì hoãn kéo dài nào cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc kinh doanh của họ thì giải quyết bằng phương thức trọng tài luôn là lựa chọn giải quyết được những vấn đề về thời gian do Tòa

án là hệ thống được tổ chức theo các cấp xét xử và thủ tục tư pháp phức tạp

Thứ hai: Giải quyết một cách trung lập nhất: phương pháp trọng tài sẽ giúp cho

các bên tranh chấp tự do và bình đẳng để lựac chọn địa điểm xét sử trọng tài, ngôn ngữ sử dụng, sẽ không có bất kì định kiến hay sự thiên vị nào xuất hiện

Thứ ba: Mang lại sự bảo mật cao: những tranh chấp thương mại luôn là những

rắc rối ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp liên quan tới bí mật thương mại, các mặt tiêu cực của hàng hóa, chất lượng sản phẩm,… Hội đồng trọng tài được thành lập để xét xử tranh chấp theo cách thức xét xử kín tách rời khỏi sự chú ý của dư luận

Thứ tư: Phán quyết của trọng tài thương mại quốc tế là chung thẩm: đa số các

phán quyết của trọng tài đều được thi hành với sự trợ giúp của nhà nước trừ trường hợp phán quyết bị hủy bởi tòa án do vi phạm các thủ tục tố tụng trọng tài Vì có tính chung thẩm nó buộc các bên phải thi hành

2.Nhược điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế

Hiện nay, nhược điểm lớn nhất mà việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế đang gặp phải đó là do được xây dựng và đề cao sự thỏa thuận cũng như thiện chí của các bên nên giải quyết bằng trọng tài thương mại quốc tế đang gặp phải là một khi sự thiện chí của các bên không còn việc giải quyết bằng phương pháp trọng tài rất khó được thực hiện cũng như thi hành

Trang 5

III Các loại trọng tài thương mại quốc tế

Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế ngày 21/6/1985 của UNCITRAL thì trọng tài sẽ mang tính chất quốc tế khi:

– Vào thời điểm giao kết thỏa thuận trọng tài, các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau hoặc;

– Một trong những yếu tố sau đây ở ngoài lãnh thổ nơi các bên có trụ sở kinh doanh: nơi xét xử trọng tài hoặc nơi thực hiện phần chủ yếu của nghĩa vụ trong quan hệ thương mại hoặc nơi có quan hệ mật thiết với nội dung tranh chấp hoặc;

– Các bên đã thỏa thuận rõ ràng là nội dung chủ yếu của thỏa thuận trọng tài liên quan đến ít nhất là hơn một nước

Như vậy, trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ tư pháp quốc tế, nhất là các quan hệ thương mại quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết được bằng trọng tài Theo phương thức này, các bên nhất trí thỏa thuận với nhau sẽ đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan trọng tài nhất định nào đó

 Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài

 Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan

 Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật

 Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên

 Nguyên tắc giải quyết một lần

Các loại trọng tài thương mại quốc tế

1 Trọng tài thương mại ad – hoc

Trang 6

Trọng tài thương mại là trọng tài được thành lập bởi các bên đương sự, nhằm giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể nào đó, sau khi giải quyết xong tranh chấp thì nó tự giải thể

+ Đặc điểm: không có trụ sở cố định như trọng tài thường trực; không lệ thuộc vào bất kì quy tắc xét xử nào cả và thường chỉ có một trọng tài viên duy nhất do các bên thống nhất lựa chọn

+ Ưu điểm: rất gọn nhẹ và linh hoạt; thời gian xét xử ngắn, hai bên dễ đi đến thỏa thuận chung, chi phí ít;

+ Nhược điểm: nó phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của các bên Và vì nó không

có quy tắc tố tụng riêng nên phụ thuộc vào hệ thốn luật nơi xét xử của trọng tài

2.Trọng tài thường trực

Trọng tài thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thường xuyên, có trụ sở và điều lệ, có quy tắc xét xử riêng Ban trọng tài có thể là một trọng tài viên được chọn trong số trọng tài viên niêm yết của trung tâm trọng tài hoặc có thể có ba trọng tài viên

IV Cơ chế pháp lý giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế

Luật áp dụng để xét xử tranh chấp là luật mà trọng tài dùng để xem xét việc thực hiện nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng Luật này được gọi là luật áp dụng cho hợp đồng

Đối với các tranh chấp thương mại nội địa, đương nhiên, luật áp dụng trong hợp đồng là luật quốc gia, chẳng hạn như ở Việt Nam thì căn cứ vào luật thương mại, pháp lênh hợp đồng kinh tế, luật đất đai… Vấn đề chọn luật áp dụng trong hợp đồng không đặt ra với các hợp đồng nội

Trong thương mại quốc tế, luật của rất nhiều nước liên quan đến quan hệ của các bên trong hợp đồng và cùng có khả năng điều chỉnh hợp đồng ngang nhau Giữa các nguồn luật đó luôn tồn tài hiện tượng xung đột luật, vì thế khi đưa tranh chấp

Trang 7

ra trong tài, các bên đương sự phải thoả thuận thống nhất về luật áp dụng trong hợp đồng Các nguồn luật áp dụng trong thương mại quốc tế bao gồm: Các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và luật quốc gia

Điều ước quốc tế: là những văn bản có chứa những quy phạm pháp luật được các

quốc gia và các chủ thể khác xây dựng, ký kết, công nhận và có hiệu lực pháp lý đối với chủ thể của các quốc gia thành viên Nó có thể là: Hiệp ước, Hiệp định, Nghị định thư, công hàm trao đổi… khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhưng không được quy định hoặc quy định không đầy đủ thì các bên có thể đưa điều ước quốc tế vào để xử lý vấn đề đó Các điều ước này không có giá trị bắt buộc đối với các quan hệ thương mại quốc tế nếu như nó chưa được quốc gia đó phê chuẩn Khi quốc gia đã phê chuẩn, tất cả những trường hợp mà hợp đồng không dẫn chiếu thì điều ước đó vẫn đương nhiên được áp dụng

Có hai loại điều ước quốc tế trong lĩnh vực mua bán hàng hoá: Thứ nhất, loại điều ước quốc tế đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho hoạt động thương mại, nó không điều chỉnh trực tiếp các vấn đề quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm pháp

lý của các bên tham gia hợp đồng mà chỉ đề ra các nguyên tắc pháp lý có tính chất định hướng, chỉ đạo: ví dụ như Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam – EU, Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ; Hiệp định cắt giảm thuế quan với ASEAN… Thứ hai, là loại điều ước quốc tế trực tiếp điều chỉnh đến các vấn đề có liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong ký kết và thực hiện hợp đồng Đây chính là nguồn quy phạm pháp luật dùng để giải quyết tranh chấp, thường được các bên và cơ quan tiến hành tố tụng viện dẫn trong quá trình giải quyết tranh chấp Loại điều ước này điển hình có Công ước Brussel 1964 về chuyên chở hàng hoá, Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế

Tập quán thương mại: là những quy tắc xử sự có hệ thống, những thói quen

thương mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài và phải có nội dung rõ ràng mà qua đó có thể xác định được quyền và nghĩa vụ đối với nhau Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý và có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể ký kết khi nó được quy định hoặc dẫn chiếu vào hợp đồng Điều 135 quy tắc ICC về trọng tài quy định “Các trọng tài không chỉ

áp dụng luật áp dụng mà còn phải dùng tới các điều khoản trong hợp đồng và

Trang 8

những “Tập quán thương mại” thích hợp để giải quyết vụ việc” Trong những luật trọng tài của các quốc gia cũng quy định như vậy

Một ví dụ về tập quán thương mại quốc tế thông dụng được phòng thương mại quốc tế soạn thảo và ban hành đó là các bản Incoterm: quy định về điều kiện cơ sở giao hàng Hay là quy tắc thống nhất và thực hành tín dụng chứng từ – UCP cũng

tỏ ra rất hữu dụng trong việc hướng dẫn đến một chuẩn mực quốc tế duy nhất cho quyền và nghĩa vụ của các bên

Ngoài ra, đối với các quốc gia theo hệ thống “common law” còn có các án lệ là các quy tắc xét xử được hình thành từ thực tiễn xét xử Khi lựa chọn luật của các quốc gia này, các chủ thể cần để ý đến những án lệ này

Luật quốc gia: trong thực tiễn và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tê,

bên cạnh các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và án lệ, luật quốc gia cũng đóng một vai trò khá quan trọng và trong nhiều trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Tuy nhiên luật quốc gia chỉ trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trong các trường hợp sau:

– Khi các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng.

– Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan, luật quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng cho hợp đồng đó.

Nói đến luật quốc gia như một nguồn luật của thương mại quốc tế không có nghĩa

là tất cả các luật đều được áp dụng mà chỉ có một số luật, văn bản pháp luật có liên quan đến thương mại quốc tế được áp dụng, bởi vì luật quốc gia không chỉ điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế mà nó còn điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ khác

Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là luật của nước nào có quan hệ gần nhất với hợp đồng, tuy theo cách xác định, nhưng phải là luật đặc trưng, thường là luật của nước bên bán, luật của nước nơi hợp đồng được

Trang 9

ký kết, nhưng cũng có thể là luật của bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ của hợp đồng được thực hiện…

Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế điều khoản luật áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để tránh tình trạng khó xác đinh luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Việc thoả thuận luật quốc gia

áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải thông thạo luật của nước mình mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước khác quan hệ với hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của mình, tránh được những thiệt thòi do sự thiếu hiểu biết pháp luật gây ra

Tuy nhiên việc áp dụng luật của quốc gia nào để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng đôi khi không chỉ phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của một chủ thể mà thường

bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như: tương quan lực lượn giữa các bên tham gia hợp đồng, do điều kiện đặc thù khi triển khai hợp đồng đó… Trường hợp phải áp dụng luật của nước thứ ba, ít nhất phải hiểu được luật của nước đó có tiện cho người mua hay người bán, liên quan đến hợp đồng đã ký kết như thế nào, những điểm gì kiêng kị cần tránh…

Đôi khi các bên thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi hợp đồng

đã được ký kết Trường hợp này thường xảy ra khi ký kết hợp đồng, vì một lý do khách quan nào đó, các bên tiến hành rất nhanh chóng (để chớp thời cơ…) nên chưa kịp nêu điều khoản luật áp dụng trong hợp đồng

V Khả năng công nhận và cho thi hành của phán quyết trọng tài thương mại quốc tế

Vào giai đoạn công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài thương mại quốc

tế được đặt ra, nguyên tắc thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước cũng như các quy

tắc tố tụng trọng tài quốc tế Về nguyên tắc, điều khoản trọng tài độc lập với phần còn lại của hợp đồng Điều này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Do đó, các bên có quyền thoả thuận một luật riêng để điều chỉnh điều khoản trọng tài mà không phải dựa vào luật điều chỉnh nội dung hợp đồng Nếu muốn một luật riêng như vậy, họ cần thoả thuận rõ về việc áp dụng luật đó trong hợp đồng hoặc một

Trang 10

văn bản riêng Tuy nhiên trên thực tế, hiếm khi các bên thoả thuận áp dụng luật riêng cho thoả thuận trọng tài mà mặc nhiên sử dụng ngay luật điều chỉnh nội dung hợp đồng (thường được thoả thuận dưới dạng một điều khoản hợp đồng)

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận như vậy, nhiều hệ thống pháp luật

thừa nhận nguyên tắc luật của quốc gia nơi phán quyết trọng tài được tuyên sẽ

thay thế Nguyên tắc này được tìm thấy gián tiếp qua các quy định về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong các luật trọng tài trên thế giới

Ví dụ:

– Khoản 1 điều 54 Luật Trọng tài Thuỵ Điển 1999 quy định: “Phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành ở Thuỵ Điển nếu bên bị chống lại quyền lợi chứng minh được rằng… thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được thoả thuận như vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”.

– Khoản II điều 38 Luật Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả thuận trọng tài không có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu thiếu điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”.

– Nội dung tương tự cũng được ghi nhận tại điều 103(2)(b) Luật Trọng tài Anh

1996: “Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng minh được rằng, thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước các bên đã chấp thuận nó, nếu không có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên.”

Theo điều 34(2)(a)(i) Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế 1985 của

UNCITRAL: “Một quyết định chỉ có thể bị toà án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thoả thuận nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ” Nội dung tương tự cũng được thể

hiện tại điều V Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của

trọng tài nước ngoài: “Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối,

Ngày đăng: 20/03/2021, 11:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w