Yếu tố liên quan với sử dụng rượu bia chưa hợp lý là tuổi, hút thuốc lá và tuổi uống rượu bia lần đầu.Tỉ lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý ở nam giới từ 15-65 tuổi tại phường Trần Phú, thà
Trang 1BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TỈ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG RƯỢU BIA Ở NAM GIỚI TỪ 15 – 60
TUỔI TẠI PHƯỜNG TRẦN PHÚ THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI NĂM 2017
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: BS Trần Minh Đức
Ths Phạm Thị Vân Phương
Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2018
Trang 2BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TỈ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG RƯỢU BIA Ở NAM GIỚI TỪ 15 – 60
TUỔI TẠI PHƯỜNG TRẦN PHÚ THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI NĂM 2017
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài
Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2018
Trang 31 BS Trần Minh Đức
2 Ths Phạm Thị Vân Phương
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP UBND phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 7
1.1 Phân loại rượu bia 7
1.2 Các thuật ngữ và chỉ số dùng đánh giá việc sử dụng rượu bia 8
1.3 Mức độ sử dụng rượu bia và nguy cơ 11
1.4 Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia 13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Đối tượng nghiên cứu 19
2.4 Thu thập dữ kiện 20
2.5 Xử lí dữ kiện 21
2.6 Phân tích dữ kiện 26
2.7 Nghiên cứu thử 27
2.8 Y đức 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 29
3.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 29
3.2 Tần suất và mức độ sử dụng rượu bia 31
3.3 Sử dụng rượu bia theo phân loại AUDIT 33
3.4 Tuổi lần đầu uống rượu bia và hành vi hút thuốc lá 36
Trang 53.5 Bối cảnh sử dụng rượu bia 37
3.6 Sử dụng rượu bia chưa hợp lý phân bố theo đặc điểm dân số-xã hội 40
3.7 Sử dụng rượu bia chưa hợp lý phân bố theo tình trạng hút thuốc lá và tuổi lần đầu uống rượu bia 44
3.8 Các yếu tố liên quan đến rượu bia trong mô hình hồi quy Logistic đa biến… 45
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu: 47
4.2 Tần suất và mức độ sử dụng rượu bia 48
4.3 Sử dụng rượu bia theo phân loại của AUDIT 50
4.4 Bối cảnh sử dụng rượu bia 51
4.5 Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia chưa hợp lý (AUDIT≥8) 52
4.6 Những yếu tố không tìm thấy mối liên quan với sử dụng rượu bia chưa hợp lý (AUDIT≥8) 54
4.7 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 56
4.8 Điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 56
KẾT LUẬN 58
ĐỀ XUẤT 59
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt
Chữ viết tắt Nguyên văn
VĐLQRB Vấn đề liên quan rượu bia
Tiếng Anh
Chữ viết tắt Nguyên văn Nghĩa tiếng Việt
ICD International Classification of
Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam tnăm
2015
Trang 7DANH MỤC BẢNG/BIỂU ĐỒ/HÌNH BẢNG
Bảng 1.1 Lượng cồn nguyên chất/1 ĐVR tại một số quốc gia 9
Bảng 1.2 Lượng cồn khuyến cáo cho tại một số quốc gia 11
Bảng 1.3 Lượng cồn sử dụng với nguy cơ thấp (Đơn vị: gram/người/ngày) 12
Bảng 3.1 Đặc điểm dân số-xã hội của nam giới tham gia nghiên cứu (n=276) 29
Bảng 3.2 Tần suất và mức độ sử dụng rượu/bia của nam giới có uống rượu bia 12 tháng qua (n=237) 31
Bảng 3.3 Phân loại sử dụng rượu bia theo AUDIT của nam giới tham gia nghiên cứu (n=276) 33
Bảng 3.4 Tỉ lệ % các nhóm điểm AUDIT theo đặc tính dân số-xã hội của nam giới tham gia nghiên cứu (n=276) 34
Bảng 3.5 Tuổi lần đầu uống rượu bia, hành vi hút thuốc lá của nam giới có sử dụng rượu bia 12 tháng vừa qua (n=237) 36
Bảng 3.6 Tuổi trung vị lần đầu uống rượu bia của nam giới có sử dụng rượu bia 12 tháng vừa qua (n=237) 36
Bảng 3.7 Bối cảnh sử dụng rượu/bia của nam giới có sử dụng rượu bia trong 12 tháng qua (n=237) 37
Bảng 3.8 Bối cảnh sử dụng rượu/bia của nam giới có sử dụng rượu bia trong 12 tháng qua (n=237) (tt) 38
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lý với đặc điểm dân số-xã hội của nam giới tham gia nghiên cứu 40
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lý với đặc điểm dân số-xã hội của nam giới có uống rượu bia trong 12 tháng qua 42
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lý với hút thuốc lá và tuổi lần đầu uống rượu bia ở nam giới có sử dụng rượu bia 12 tháng qua 44
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lý và các đặc điểm dân số-xã hội, hút thuốc lá, tuổi uống rượu bia lần đầu ở nam giới có sử dụng rượu bia 12 tháng qua theo mô hình hồi quy Logistic đơn biến và đa biến 45
Trang 8HÌNH
Hình 1.1 Công thức quy đổi ra lượng cồn nguyên chất trong đồ uống 9
Trang 9THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia ở nam giới từ
15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi năm 2017
60 tuổi tại phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi năm 2017.Thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên 276 nam giới độ tuổi từ 15-60 được lựa chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Bộ công cụ AUDIT được sử dụng để đánh giá việc sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu Nguy cơ ở các nhóm đối tượng được đánh giá bằng hồi quy logistic và tỉ số số chênh (OR) trong mô hình đa biến Kết quả:Tỉ lệ sử dụng rượu bia trong 12 tháng qua của 276 nam giới tham gia nghiên cứu là 86% Tỉ
lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý (điểm AUDIT≥8) là 44% Các bối cảnh sử dụng
Trang 10rượu bia phổ biến nhất là: ngày cuối tuần, buổi tối, vỉa hè/quán nhậu/quán bia, lý do uống rượu bia là gặp gỡ bạn bè, sử dụng bia có nhãn hàng nước ngoài Yếu tố liên quan với sử dụng rượu bia chưa hợp lý là tuổi, hút thuốc lá và tuổi uống rượu bia lần đầu.Tỉ lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý ở nam giới từ 15-65 tuổi tại phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi hiện ở mức cao, đây là vấn đề cần được sự quan tâm chú ý của các ban ngành địa phương
4 Kết quả chính đạt được:
Công bố trên tạp chí trong nước và quốc tế (tên bài báo, tên tạp chí, năm xuất bản):
Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia ở nam giới từ
15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi năm 2017 Tạp chí Y học Tp.Hồ Chí Minh, 2018
5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:
Kết quả nghiên cứu được chuyển giao (Tên sản phẩm, tên đơn vị nhận chuyển giao, giá trị chuyển giao): Trạm y tế phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, Quảng Ngãi
Phạm vi và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu (tên đơn vị ứng dụng kết quả nghiên cứu/tên bài giảng được trích dẫn kết quả NC sử dụng trong giảng dạy đại học và sau đại học): Phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, Quảng Ngãi
Trang 11MỞ ĐẦU
Sử dụng đồ uống có cồn là phong tục đã xuất hiện và tồn tại từ lâu đời ở nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới [52].Đến thời đại công nghiệp, các hình thức rượu bia có nguồn gốc từ châu Âu được sản xuất với số lượng lớn và dần dần
du nhập vào những khu vực khác như Châu Phi, Châu Á qua quá trình khai thác thuộc địa, tạo điều kiện cho rượu bia được sản xuất và tiêu thụ dễ dàng ở nhiều nơi trên thế giới [31].Như một hệ quả, các vấn đề do lạm dụng rượu bia xuất hiện và gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế cũng như sức khỏe cộng đồng của nhiều quốc gia [52]
Gánh nặng bệnh tật do sử dụng rượu bia quá mức đã và đang tiếp tục được cảnh báo bằng các số liệu nghiên cứu qua từng năm Theo Nghiên cứu gộp về Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2015, lạm dụng rượu bia đứng thứ 9 trong 10 yếu tố nguy cơ hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật và tử vong trên thế giới [21].Tại thời điểm năm 2015, lạm dụng rượu bia góp phần gây ra gần 85 triệu số năm mất đi do bệnh tật và tử vong sớm (DALYs) và hơn 2,7 triệu trường hợp tử vong do các bệnh liên quan [21]
Theo Phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD10), rượu bia là một trong những yếu tố căn nguyên dẫn đến hơn 200 bệnh và chấn thương, trong đó các bệnh chính có thể kể đến như xơ gan, viêm tụy, các bệnh về tâm thần kinh, các loại chấn thương, hội chứng ngộ độc rượu ở thai nhi…[52] Hơn nữa, người thường xuyên say xỉn hay nghiện rượu bia còn có nguy cơ bị mất đi thu nhập, thất nghiệp, gia đình tan vỡ, xã hội kì thị [17] Không chỉ ảnh hưởng dưới góc độ sức khỏe của người uống, rượu bia còn có thể gây ra nhiều hậu quả cho những người xung quanh cũng như toàn xã hội, cả về mặt sức khỏe lẫn kinh tế - xã hội [52] Bạn bè, người sống chung nhà và cả người không quen biết với người sử dụng rượu bia đều có nguy cơ
là nạn nhân của các hành vi gây gổ, quấy nhiễu, bỏ bê trách nhiệm trong gia đình, gây tai nạn giao thông [52]
Việt Nam là nước có lượng rượu bia tiêu thụ bình quân đầu người tăng nhanh, gắn liền với sự phát triển kinh tế sau thời kì chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường [35] Lượng cồn tiêu thụ bình quân đầu người (từ 15 tuổi trở lên) ở Việt
Trang 12Nam tăng nhanh từ 3,8 l/người/năm (giai đoạn 2003 – 2005) lên 6,6 l/người/năm (giai đoạn 2008 – 2010), nhanh hơn tốc độ trung bình của khu vực Châu Á Thái Bình Dương (từ 5,4 lên 6,8 l/người/năm) và thế giới (từ 6,1 lên 6,2 l/người/năm) [52] Vấn đề lạm dụng rượu bia ảnh hưởng lớn đến tình hình sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam khi nó xếp thứ tư trong các yếu tố nguy cơ hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật, tử vong [21] Theo Tổ chức y tế thế giới tại thời điểm năm 2012, 71,7% các trường hợp xơ gan và 36,2% các trường hợp tai nạn giao thông ở nam giới Việt Nam có liên quan đến sử dụng rượu bia [52] Một nghiên cứu gần đây do Nam Phuong Nguyen cùng cộng sự thực hiện tại 3 bệnh viện tỉnh và Trung ương ở Việt Nam cho thấy 29,1% người lái xe máy hoặc ô tô bị tai nạn giao thông có nồng độ cồn vượt ngưỡng cho phép, trong đó nam giới có nguy cơ vượt ngưỡng nồng độ cồn cho phép gấp 10,5 lần phụ nữ [42] Điều tra quốc gia về bệnh mãn tính của Việt Nam năm 2015 trên hơn 3000 người độ tuổi từ 18-69 báo cáo tỉ lệ nam giới sử dụng rượu bia trong 30 ngày qua là 77,3% với 44% nam giới tham gia nghiên cứu uống quá chén (≥6 đơn vị rượu (ĐVR)) trong 1 tháng qua
Trước xu hướng thay đổi phức tạp của tình hình sử dụng rượu bia trong nước, cũng như những tác động xấu mà rượu bia gây ra cho sức khỏe cộng đồng, việc thực hiện các nghiên cứu nhằm đánh giá rõ hơn thực trạng sử dụng rượu bia là cần thiết Các đặc tính kinh tế - xã hội như tuổi, thu nhập, trình độ học vấn… là những yếu tố quan trọng quyết định hành vi của con người, và mức độ nhạy cảm trước các vấn đề sức khỏe là khác nhau ở đối tượng thuộc các tầng lớp kinh tế - xã hội khác nhau Vì thế, vấn đề sử dụng rượu bia trong cộng đồng dân cư và các tác hại của nó cần được đánh giá trong mối liên quan với các đặc tính kinh tế - xã hội nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách và chương trình can thiệp Các nghiên cứu trong tương lai cần được thực hiện trên các cộng đồng và nhóm đối tượng khác nhau, cả nông thôn và thành thị do việc sử dụng rượu bia và các vấn đề liên quan tại Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa – xã hội, các yếu
tố ngoại cảnh, bối cảnh [35] Đến thời điểm hiện tại, đa phần các nghiên cứu về rượu bia tại Việt Nam tập trung vào các khu vực nông thôn trong khi các vấn đề liên
Trang 13quan đến sử dụng rượu bia tại các khu vực thành thị lại chưa được nhìn nhận thấu đáo [26, 35]
Tại Quảng Ngãi, cùng với sự phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các con đường mới, các quán ăn quy mô nhỏ có phục vụ rượu bia (còn gọi là “quán nhậu”) dường như cũng tăng lên về số lượng làm cho việc tiếp cận đồ uống có cồn ngày càng dễ dàng hơn trước đối với người dân địa phương Nhiều vấn đề xã hội, y tế liên quan đến sử dụng rượu bia quá chén cũng đã được cảnh báo qua các phương tiện thông tin đại chúng như ẩu đả, đánh nhau, tai nạn giao thông…[6-8] Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại tỉnh Quảng Ngãi để đánh giá chính xác thực trạng sử dụng rượu bia và các yếu tố ảnh hưởng mang đặc thù của địa phương như đặc điểm dân số - xã hội và nhất là những yếu tố bối cảnh liên quan đến việc uống rượu bia(thời gian, địa điểm, đồ uống ) Phường Trần Phú, tính đến năm 2005, có mật độ dân số đông thứ ba so với các phường thuộc thành phố Quảng Ngãi (6.551 người/km2), dân số 14.281 người, chiếm đa số là dân tộc Kinh [9] Đây
là phường gần khu vực trung tâm của thành phố và có các trục đường chính như Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trương Định đi qua, có chợ Thu Lộ là một chợ tồn tại
từ lâu đời của thành phố [9] Vì thế, những biến động về kinh tế - xã hội của phường đa phần gắn liền với sự thay đổi của thành phố Quảng Ngãi Xuất phát từ
những nguyên nhân trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia ở nam giới từ 15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi năm 2017”
Trang 14CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1 Tỉ lệ sử dụng rượu bia theo 4 mức độ phân loại của AUDIT (nguy cơ thấp, nguy
cơ, có hại, phụ thuộc/nghiện rượu bia), tỉ lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý và tỉ
lệ các đặc điểm về bối cảnh sử dụng rượu bia của nam giới từ 15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi trong năm 2017 là bao nhiêu?
2 Có hay không mối liên quan giữa các đặc điểm dân số - xã hội, tuổi lần đầu uống rượu bia và tình trạng hút thuốc lá với sử dụng rượu bia chưa hợp lý ở nam giới từ 15-60 tuổi?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
1 Xác định tỉ lệ sử dụng rượu bia theo 4 mức độ phân loại của AUDIT (nguy cơ thấp, nguy cơ, có hại, phụ thuộc/nghiện rượu bia), tỉ lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý (AUDIT≥8) và tỉ lệ các đặc điểm về bối cảnh sử dụng rượu bia ở nam giới từ 15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi năm 2017
2 Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm dân số - xã hội, tuổi lần đầu uống rượu bia và tình trạng hút thuốc lá với sử dụng rượu/bia chưa hợp
lý ở nam giới từ 15-60 tuổi
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỉ lệ sử dụng rượu bia ở 4 mức độ phân loại của AUDIT (nguy
cơ thấp, nguy cơ, có hại, phụ thuộc/nghiện rượu bia), tỉ lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý (AUDIT≥8) ở nam giới từ 15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi năm 2017
2 Xác định tỉ lệ các đặc điểm về bối cảnh sử dụng rượu bia: ngày uống trong tuần, thời điểm uống trong ngày, mục đích uống, địa điểm uống, số lượng người uống cùng, mối quan hệ với người uống cùng, uống kèm đồ
ăn, loại đồ uống thường dùng ở nam giới từ 15 – 60 tuổi tại phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi năm 2017
Trang 153 Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm dân số - xã hội (tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, tình trạng hôn nhân) với: sử dụng rượu bia chưa hợp lý (điểm AUDIT≥8)
4 Xác định mối liên quan giữa tuổi uống rượu bia lần đầu và hành vi hút thuốc lá với sử dụng rượu bia chưa hợp lý (điểm AUDIT ≥8)
Trang 16Bối cảnh sử dụng rượu bia
Ngày uống trong tuần Thời điểm uống trong ngày Mục đích uống Địa điểm uống
Số lượng người uống cùng Mối quan hệ với người uống
cùng Uống có kèm theo thức ăn
Loại đồ uống
Sử dụng rượu bia chưa hợp lý
Yếu tô liên quan khác
Tuổi uống rượu bia lần đầu
Hút thuốc lá
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Phân loại rượu bia
1.1.1 Phân loại theo phương thức sản xuất
Đồ uống lên men
Bia: loại đồ uống thường được làm từ lúa mạch lên men, có thể được tăng thêm mùi vị, độ đắng bằng cách cho thêm hoa bia Bia thường có độ
chứa cồn vào để đạt mức 20% nồng độ cồn
Đồ uống chưng cất
Tên gọi chung nhất là rượu mạnh (liquor/spirit), được sản xuất bằng cách chưng cất các dung dịch ban đầu, làm lạnh và thu được sản phẩm chứa ít nước và nhiều cồn trong thành phần hơn Tùy vào thành phần chính mà loại đồ uống này có những tên gọi khác nhau như bourbon (Whiskey Mỹ, làm từ ngô), vodka (khoai tây), rum (mía), brandy (rượu vang), scotch (mạch nha/lúa mạch) Nồng độ cồn thường ở khoảng 40%
Tại Việt Nam, rượu chưng cất có thể được đóng chai, đăng ký nhãn hiệu để bán rộng rãi trên thị trường, hoặc chỉ được bán và tiêu thụ trong phạm vi một cộng đồng nhỏ hay gia đình bằng cách nấu tại nhà Một số tên gọi thường gặp là rượu trắng, rượu gạo, rượu nếp, rượu thuốc… Nồng độ cồn của các sản phẩm này thường
ở mức 30 – 50% [36]
1.1.2 Phân loại theo sự quản lí của nhà nước
Đồ uống trong tầm quản lí của nhà nước
Trang 18Đồ uống trong tầm quản lí của nhà nước (recoded alcohol) là tất cả những
loại đồ uống có cồn được nhà nước quản lí, thu thuế và ghi nhận vào hệ thống báo cáo, thống kê [52] Các loại đồ uống này theo các tiêu chuẩn được
quy định về nhãn mác, thành phần, chất lượng…
Đồ uống nằm ngoài sự quản lí của nhà nước
Đồ uống nằm ngoài sự quản lí của nhà nước (unrecorded alcohol) là tất cả những loại đồ uống có cồn không được nhà nước quản lí, thu thuế, vì vậy cũng không được đảm bảo về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ Những loại đồ uống này thường tồn tại dưới các hình thức như: rượu bia nấu thủ công (được sử dụng tại gia đình hoặc với mục đích thương mại), rượu tự pha (rượu thuốc, rượu ngâm…),rượu bia nhập lậu, các sản phẩm chứa cồn không phải đồ uống (cồn công nghiệp/y khoa,
nước súc miệng, nước hoa…), rượu bia xách tay từ nước ngoài…[52]
Cách phân loại này được sử dụng trong việc ước tính Lượng cồn tiêu thụ bình quân đầu người của TCYTTG [52]
1.1.3 Phân loại của TCYTTG theo nồng độ cồn
Gồm 3 loại:
Bia: thường có độ cồn 5%
Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12 – 15%
Rượu mạnh: thường có độ cồn khoảng 40%[5]
Tại Việt Nam, “bia” có thể gồm các loại chai hoặc lon, thể tích thường là 330
ml “Rượu nhẹ” thường thấy dưới hình thức các loại rượu vang “Rượu mạnh” thường là các loại rượu xuất xứ từ trong nước hoặc nước ngoài và được bán với sự quản lí của nhà nước, hoặc các loại rượu tự nấu/pha (rượu gạo, rượu nếp, rượu thuốc, rượu trắng…) [35]
1.2 Các thuật ngữ và chỉ số dùng đánh giá việc sử dụng rượu bia
1.2.1 Đơn vị rượu
Để thuận tiện cho mục đích nghiên cứu và khuyến cáo, nhiều quốc gia sử dụng một đơn vị riêng biệt, phổ biến nhất là thuật ngữ “standard drink” hay “đơn vị rượu” (ĐVR) Tại Anh cũng như các cuốc gia khác, ĐVR chủ yếu được sử dụng
Trang 19trong các khuyến cáo sử dụng rượu bia an toàn nhằm giúp người uống dễ ước lượng, và trong các nghiên cứu có sử dụng bộ câu hỏi hoặc phỏng vấn[33]
Mỗi ĐVR thường tương đương với một lượng ethanol hay cồn nguyên chất nhất định được quy đổi ra ao-xơ (ounce), milimet… tùy quốc gia, nhưng thông thường nhất là gram Mỗi quốc gia lại có một quy chuẩn riêng về lượng cồn nguyên chất tương đương với 1 ĐVR, chủ yếu phụ thuộc vào dung tích và độ cồn của các loại đồ uống thịnh hành ở các quốc gia đó Theo một nghiên cứu của Turner, định nghĩa ĐVR tại nhiều quốc gia trên thế giới rất đa dạng, thay đổi từ 8 đến 23,5 gam cồn nguyên chất/1 ĐVR [33] Dưới đây là lượng cồn nguyên chất/1 ĐVR tại một số quốc gia:
Bảng 1.1 Lượng cồn nguyên chất/1 ĐVR tại một số quốc gia
Hoa Kỳ
[33]
Canada [33]
Vương quốc Anh [38]
Iceland [38] Áo [38] Úc [30]
Hình 1.1 Công thức quy đổi ra lượng cồn nguyên chất trong đồ uống
1.2.2 Uống quá chén
“Uống quá chén” (UQC – “Binge drinking”) chỉ việc sử dụng một lượng cồn lớn bất thường trong một khoảng thời gian nào đó Hiện có 2 định nghĩa chính cho thuật ngữ này
Trang 20Định nghĩa của TCYTTG năm 2014: thuật ngữ “Heavy episodic drinking”
(HED) được sử dụng tương đương với “binge drinking”, là việc tiêu thụ từ 60 gram (tương đương với 6 ĐVR) cồn trở lên vào bất kì thời điểm nào của mỗi tháng (1 ĐVR = 10g cồn – theo WHO) [52]
Định nghĩa của NIAAA năm 2016 (Viện nghiên cứu quốc gia về lạm dụng
và nghiện rượu bia Hoa Kỳ - National Institute on Alcohol Abuse and Alcoholism): UQC (“binge drinking”) là hành động uống rượu bia làm cho nồng độ cồn trong máu đạt tới 0,08 g/dL, tương đương với việc uống 4 đơn vị rượu (56g cồn) ở nữ hoặc 5 đơn vị rượu (70g cồn) ở nam trong khoảng 2 tiếng đồng hồ (1 ĐVR = 14g cồn – theo NIAAA) [40]
Khái niệm UQC giúp nhận diện được người có nguy cơ cao đối với các tác hại cấp tính của rượu bia như ngộ độc, chấn thương, bạo lực…, giúp cho việc đánh giá sử dụng rượu bia được toàn diện hơn khi kết hợp với các tiêu chuẩn đánh giá uống rượu bia mang tính chất thường xuyên [46, 52]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm UQC của TCYTTG để đồng nhất với bộ công cụ AUDIT được sử dụng
1.2.3 Rối loạn do sử dụng đồ uống có cồn
Rối loạn do sử dụng đồ uống có cồn (Alcohol Use Disorders – AUDs) là tác hại rõ ràng và thường gặp nhất ở những người sử dụng rượu bia không hợp lý Theo ICD-10 (International Classification of Diseases 10th revision – Phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10) do TCYTTG xuất bản vào năm 1992, AUDs gồm 2 giai đoạn:
1.2.3.1 Sử dụng rượu bia một cách có hại
Sử dụng rượu bia một cách có hại (Harmful use of alcohol) là việc sử dụng
đồ uống có cồn gây nên tác hại về mặt thể chất (vd: xơ gan) hoặc tâm thần (vd: đợt trầm cảm sau sử dụng rượu bia quá mức) cho cơ thể [52]
1.2.3.2 Phụ thuộc/nghiện rượu bia/hội chứng nghiện rượu bia:
Là tập hợp các triệu chứng về hành vi, nhận thức, sinh lý xuất hiện sau khi sử dụng rượu bia nhiều lần Chẩn đoán hội chứng nghiện rượu bia khi có ít nhất 3 trong các tiêu chí dưới đây đã từng xảy ra một vài lần trong 12 tháng qua:
Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng
Trang 21 Khó khăn trong việc kiểm soát tập tính sử dụng: thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, mức sử dụng
Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng hoặc giảm liều
1.3 Mức độ sử dụng rượu bia và nguy cơ
1.3.1 Khuyến cáo về sử dụng rượu bia
Theo IARD (International Alliance for Responsible Drinking – Tổ chức quốc
tế về uống rượu bia có trách nhiệm), đến thời điểm tháng 1 năm 2017 chưa có khuyến nghị mang tính quốc tế nào liên quan đến sử dụng rượu bia được ban hành bởi TCYTTG hoặc các cơ quan khác có thể áp dụng cho dân số chung[30] Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã có những hướng dẫn hay khuyến nghị riêng về sử dụng rượu bia hợp lý cho công dân trong nước Chủ yếu các khuyến cáo trình bày theo ĐVR khuyến nghị/người/ngày, được quy đổi ra gram cồn/người/ngày và khác nhau cho từng giới tính [30]
Lượng cồn khuyến cáo/sử dụng rượu bia vừa phải
Quy định về lượng cồn khuyến cáo (recommended consumption) hay sử dụng rượu bia vừa phải (moderate drinking - NIAAA) khác nhau cho từng quốc gia,
từ 8 – 40,5g/người/ngày cho nam và 8 – 27g/người/ngày cho nữ Tại Việt Nam, lượng cồn khuyến cáo là 2 ĐVR (20g cồn)/người/ngày cho nam và 1 ĐVR (10g cồn)/người/ngày cho nữ Bảng 1.2 trình bày lượng cồn khuyến cáo cho 1 người/ngày tại một số quốc gia [30]
Bảng 1.2 Lượng cồn khuyến cáo cho tại một số quốc gia
(Đơn vị: gram/người/ngày) Canada Pháp Hoa Kỳ Australia Việt
Nam
Hà Lan
Trang 22Sử dụng rượu bia nguy cơ thấp
Ngoài khái niệm “lượng cồn khuyến cáo”, nhiều quốc gia còn quy định về sử dụng rượu bia nguy cơ thấp (low-risk drinking) với lượng cồn (g)/người/ngày hay lượng cồn (g)/người/tuần thường lớn hơn mức khuyến cáo và nhỏ hơn mức UQC [24] Bảng 1.3 trình bày lượng rượu bia nguy cơ thấp một số quốc gia quy định
Bảng 1.3 Lượng cồn sử dụng với nguy cơ thấp (Đơn vị: gram/người/ngày)
Canada Pháp Hoa Kỳ Australia Nhật Bản Hà Lan
1.3.2 Phân loại sử dụng rượu bia theo AUDIT
AUDIT (The Alcohol Use Disorders Identification Test – bộ công cụ nhận biết các rối loạn liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn) là bộ công cụ dùng đánh giá đánh giá và sàng lọc nguy cơ liên quan đến sử dụng rượu bia, đã được chuẩn hóa và
sử dụng ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới [5, 15, 26] Tùy vào các mức điểm
từ 0 – 40, nguy cơ trong sử dụng rượu bia được chia làm 4 mức độ:
Sử dụng rượu bia hợp lý, nguy cơ thấp: (tổng điểm < 8) những hậu
quả lên sức khỏe do sử dụng rượu bia thường ở mức tối thiểu
Sử dụng rượu bia ở mức nguy cơ (Hazardous use of alcohol): (tổng
điểm từ 8-15) sử dụng rượu bia ở mức độ này dẫn đến nguy cơ gây hại cho người uống Những người này có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tim mạch… hoặc nguy cơ giảm khả năng làm việc, bạo lực, chấn thương hay hành vi liên quan đến pháp luật và gặp phải các vấn đề
xã hội do tình trạng nhiễm độc rượu bia cấp tính gây nên
Sử dụng rượu bia ở mức có hại (Harmful use of alcohol): (tổng điểm
từ 9-16) người sử dụng ở mức độ này có nguy cơ gặp những tổn hại về thể chất (tổn thương gan, suy chức năng gan, tim mạch…) hay tâm thần
Trang 23(trầm cảm, loạn thần…) hoặc các hậu quả xã hội khác (giảm khả năng làm việc, bạo lực, tai nạn thương tích…)
Phụthuộc/nghiện rượu bia: (tổng điểm ≥20) được định nghĩa theo
ICD-10 [5]
1.4 Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia
1.4.1 Các đặc điểm dân số, kinh tế - xã hội của người sử dụng rượu bia
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa sử dụng rượu bia và các yếu tố: tuổi, giới, thu nhập cá nhân, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân [52]
1.4.1.1 Tuổi
Theo TCYTTG, người lớn tuổi có khuynh hướng uống rượu bia thường xuyên hơn với lượng thấp dần khi tuổi càng tăng, trong khi người trẻ lại dễ uống quá chén hơn [52] Báo cáo về các yếu tố không lấy nhiễm ở hơn 3000 người trưởng thành tại Việt Nam vào năm 2015 (STEPS 2015) cho thấy rõ đặc điểm trên khi có tới 29,9% những người 50-69 tuổi ở cả hai giới có sử dụng rượu bia hàng ngày so với 15,2% ở nhóm 30-49 tuổi và 2,1% ở nhóm 18-29 tuổi Tuy nhiên khi xét về lượng cồn trung bình mỗi lần uống, kết quả ở các nhóm tuổi trên lần lượt là 4,1 ĐVR, 5,1 ĐVR và 6 ĐVR Gần một nửa những người tham gia nghiên cứu thuộc nhóm dưới 50 tuổi từng có ít nhất 1 lần uống từ 6 đơn vị cồn trở lên trong vòng 30 ngày qua, tỉ lệ này chỉ là 28,5% ở nhóm trên 49 tuổi [2] Kết luận tương tự cũng được rút ra trong nghiên cứu của Kim Bảo Giang và cộng sự trên gần 3500 đối tượng từ 18 – 60 tuổi tại vùng nông thôn ở Việt Nam [26] Tại Nhật Bản, uống quá chén được báo cáo với tỉ lệ cao nổi bật ở nhóm dân số trẻ [43] Một nghiên cứu xuất bản năm 2014 tại Úc cho thấy nhóm tuổi từ 25 trở xuống có xu hướng dễ có các hành vi nguy cơ ngắn hạn (uống quá chén) hơn và dễ gặp các vấn đề về sử dụng rượu bia hơn [19]
1.4.1.2 Giới
Nam giới chiếm tỉ lệ cao đáng kể so với phụ nữ về tiêu thụ rượu bia và mắc phải các vấn đề liên quan đến rượu bia Tỉ lệ nam:nữ sử dụng rượu bia trong năm vừa qua trong một nghiên cứu tại vùng nông thôn ở Việt Nam là khoảng 8,6:1 (87,3%:10,2%), tương đối gần với tỉ lệ từ STEPS 2015 và STEPS 2010 là khoảng
Trang 247:1, trong khi tỉ lệ này là 2,3:1 trong một nghiên cứu tại vùng nông thôn ở Campuchia [2, 26, 53, 55] Xét về tác hại khi sử dụng rượu bia, Breen và cộng sự cho thấy rằng nữ giới ít có nguy cơ gặp các vấn đề liên quan sử dụng rượu bia hơn (OR= 0,25; KTC95% 0,19-0,33) [19] Trong nghiên cứu của Yeung tại Campuchia, nam giới có nguy cơ cao hơn nhiều so với nữ giới về AUDs (ORhc = 13.6; 95% CI = 3.58-69.4) và UQC (ORhc = 3.47; 95% CI = 1.19-10.6) [53] Một số nghiên cứu tại Việt Nam trên cộng đồng lớn hay trên đối tượng sinh viên đều đi đến kết luận nguy
cơ gặp các vấn đề liên quan rượu bia ở nam là lớn hơn nhiều so với nữ [26, 45] Rõ ràng việc nam giới sử dụng rượu bia thường xuyên hơn và nhiều hơn nữ giới đã kéo theo sự gia tăng nguy cơ liên quan tới rượu bia ở những đối tượng này
1.4.1.3 Các đặc điểm kinh tế - xã hội khác
Tác giả Kim Bảo Giang và cộng sự đánh giá mối liên hệ giữa các đặc điểm kinh tế -xã hội với sử dụng rượu bia và các nguy cơ liên quan trong nghiên cứu tại vùng nông thông miền Bắc Việt Nam Kết quả cho thấy người thất nghiệp uống nhiều gấp 4 lần trở lên so với người có nghề; tình trạng ly hôn, ly thân, góa làm tăng nguy cơ gặp VĐLQRB (tính bằng điểm AUDIT >7) (OR=2.7; KTC95% 1.4–5.2) [26]
Nghiên cứu tại huyện Gia Lâm, Hà Nội của Nguyễn Hiền Vương năm 2015 cho kết quả tỉ lệ sử dụng rượu bia cao nhất ở nhóm có trình độ học vấn (TĐHV) trên trung học phổ thông (THPT) với 79% người có uống rượu bia trong vòng 12 tháng qua hay những người làm công chức/viên chức nhà nước (84,6%), theo sau là người thất nghiệp (75%) [12]
Breen và cộng sự kết luận rằng người đang sống độc thân hoặc sống chung với bạn tình mà không kết hôn dễ uống quá chén hơn (OR=1,58; KTC95% 1,28-1,94) và dễ gặp VĐLQRB hơn (OR=1,72; KTC95% 1,27-2,32), người có thu nhập
≥ 700 đô la Úc/tuần cũng gặp các nguy cơ tương tự[19] Trong nghiên cứu trên 120 người nam và nữ ở Campuchia của Yeung và cộng sự, thu nhập cao cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ có AUDs và UQC [53]
Một nghiên cứu của Hong tại và cộng sự tại Hàn Quốc trên hơn 15.000 người cho thấy người có TĐHV đại học/cao đẳng hoặc THPT thường gặp ít nguy
Trang 25cơ về sử dụng rượu bia hơn so với người chỉ có TĐHV dừng lại ở cấp tiểu học Những người làm công việc phụ tá văn phòng và ngành dịch vụ/bán hàng dễ gặp phải các tác hại do sử dụng rượu bia hơn các nhóm ngành nghề khác [28]
Trong một nghiên cứu quy mô lớn gần đây trên khoảng 31.800 người Anh
≥16 tuổi, Beard và cộng sự đã đánh giá “nghịch lý về tác hại của rượu bia” (Alcohol Harm Paradox) khi mà người có tình trạng kinh tế - xã hội tốt hơn có xu hướng sử dụng rượu bia nhiều và thường xuyên hơn nhưng người thuộc mức kinh tế - xã hội thấp lại có nguy cơ cao hơn về các tác hại của rượu bia cũng như dễ bị phụ thuộc rượu bia hơn Cụ thể, nhóm thấp nhất về thu nhập, trình độ học vấn, trình độ lao động, không có nhà riêng, không có công việc toàn thời gian có điểm AUDIT-tác hại cao nhất trong các nhóm Người có thu nhập càng thấp càng có nguy cơ phụ thuộc rượu bia hơn Nhóm người không có nhà/xe riêng và không có công việc toàn thời gian dễ bị phụ thuộc rượu bia hơn [16]
1.4.1.4 Hút thuốc lá
Mối quan hệ giữa hút thuốc lá và các VĐLQRB là khá rõ ràng và đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu Đây được coi là một biến số quan trọng khi đánh giá nguy cơ sử dụng rượu bia Một số nghiên cứu có kể đến như nghiên cứu của Hart và cộng sự, Anthony và cộng sự đã cho thấy mức độ song hành của hút thuốc lá và sử dụng rượu bia là rất phổ biến, hơn nữa 2 hành vi này có thể gây ra tác hại cộng hợp lớn hơn khi chúng đứng riêng rẽ [13, 27] Nghiên cứu vào năm 2008 của Kim Bảo Giang tại Việt Nam cũng tìm được sự liên quan giữa người hút thuốc
lá và nguy cơ rơi vào nhóm điểm AUDIT ≥8
1.4.1.5 Tuổi lần đầu uống rượu bia
Ảnh hưởng của tuổi uống rượu bia lần đầu lên thói quen uống rượu bia cũng như nguy cơ gặp các vấn đề về rượu bia trong tương lai đã được nhiều tác giả nghiên cứu [23, 37, 39, 54] Đa phần, câu hỏi “liệu rằng tuổi lần đầu uống rượu bia của một người càng thấp có làm cho nguy cơ gặp VĐLQRB như UQC, AUDs của người đó càng cao về sau này không?” Kết quả nhiều nghiên cứu cắt ngang gợi ý mối liên quan trên có tồn tại Trong nghiên cứu mang tầm quốc gia của Hoa Kỳ do tác giả York thực hiện vào năm 2004, tuổi uống rượu bia lần đầu càng trẻ có liên
Trang 26quan với lượng rượu bia tiêu thụ càng cao, tần suất uống càng lớn, thời gian uống càng dài ở thời điểm hiện tại [54] Nghiên cứu của Cranford được tiến hành trên sinh viên đại học cho thấy nguy cơ UQC ở người bắt đầu uống rượu bia sớm cao hơn người bắt đầu uống rượu bia muộn 4 lần (OR=4,15; P<0,05) [23] Tuy nhiên, một nghiên cứu tổng quan được thực hiện gần đây bởi Maimaris cho thấy các nghiên cứu đoàn hệ không đưa ra được bằng chứng rõ ràng về mối liên quan giữa tuổi uống rượu bia lần đầu và VĐLQRB trong tương lai [37] Trong các nghiên cứu đoàn hệ trên, mối liên quan này mất đi khi được đánh giá trong các mô hình đa biến Nhìn chung, các nghiên cứu trong tương lai cần đánh giá cặn kẽ hơn tác động của tuổi uống rượu bia lần đầu trong các mô hình đa biến có kiểm soát chặt chẽ các yếu
tố khác
1.4.2 Các yếu tố về bối cảnh sử dụng rượu bia
Trong nghiên cứu của John Clapp xuất bản năm 2002, ông nêu lên sự tương tác lẫn nhau giữa sử dụng rượu bia và môi trường xung quanh Đây là mối tương tác phức tạp và luôn vận động, trong đó việc sử dụng rượu bia vừa ảnh hưởng lên điều kiện môi trường, vừa bị môi trường xung quanh tác động Tương tự, các vấn đề liên quan đến rượu bia cũng có mối quan hệ qua lại với môi trường mà chủ yếu gồm các yếu tố: sự sẵn có của rượu bia (availability), chuẩn mực xã hội (social norms), bối cảnh sử dụng rượu bia (contexts), các loại luật và quy định Chính vì thế mà các chương trình can thiệp giảm tác hại của rượu bia không chỉ nên nhắm vào từng cá nhân mà nên được thực hiện ở phạm vi rộng lớn và toàn diện về nhiều mặt trên cộng đồng Giả thuyết của Clapp về sự tương tác giữa môi trường và sử dụng rượu bia được phát triển và áp dụng chủ yếu trên đối tượng sinh viên và học sinh, phục
vụ cho cả mục đích nghiên cứu và can thiệp [20]
Trong một nghiên cứu xuất bản vào năm 2007, tác giả Neighbors tổng hợp từ một số nghiên cứu trước theo dõi việc sử dụng rượu bia ở học sinh, sinh viên và ghi nhận một số đặc trưng: (1)việc sử dụng rượu bia thay đổi theo từng thời điểm trong năm và cao hơn ở đầu và cuối năm học, (2)việc uống rượu bia thay đổi theo ngày trong tuần, thường vào cuối tuần lượng rượu bia tiêu thụ nhiều gấp 4 lần trong cả tuần, (3)học viên thường uống rượu bia ít nhất vào mùa thi và nhiều nhất khi được
Trang 27nghỉ lễ hay tham gia các sự kiện đặc biệt.Dựa vào thực tế trên, các nghiên cứu và chương trình can thiệp tác động tới sự kiện cũng như bối cảnh sử dụng rượu bia được xây dựng cho đối tượng sinh viên và học sinh [41]
Tác giả Phạm Bích Diệp tiến hành nghiên cứu vai trò của động cơ uống (drinking motives) và bối cảnh uống (contexts) đối với việc sử dụng rượu bia ở sinh viên 3 trường đại học ở Việt Nam Đã có tổng cộng hơn hơn 6000 sinh viên tham gia nghiên cứu Nghiên cứu cho ra kết quả với nhiều mối liên quan giữa bối cảnh uống và lượng rượu bia tiêu thụ tương đương như: thời gian của buổi uống diễn ra càng ngắn thì lượng rượu bia tiêu thụ càng ít (p <0,001), uống rượu bia kèm theo ăn
là yếu tố làm lượng rượu bia sử dụng tăng lên (p <0,001), uống trong nhóm càng ít người thì lượng rượu bia sử dụng càng ít (p =0,001) [25] Những kết quả này có giá trị ứng dụng cao cho can thiệp thực tế
Nhiều nghiên cứu ở học sinh – sinh viên trên thế giới cho thấy mối liên quan giữa bối cảnh sử dụng rượu bia và lượng rượu bia sử dụng tương ứng[29, 34, 50] Điều này cho thấy tầm quan trọng của các yếu tố bối cảnh trong việc nghiên cứu sử dụng rượu bia và tác hại Ở phạm vi cộng đồng lớn, bối cảnh có thể mang tính chất rộng hơn như: đặc điểm khu vực sinh sống, tính sẵn có của rượu bia, tính ổn định và bạo lực của cộng đồng Ngoài ra, yếu tố văn hóa cũng là một thành phần trong bối cảnh uống rượu bia của cộng đồng, ảnh hưởng đến cách người ta nhìn nhận và sử dụng rượu bia [48]
Tại Việt Nam, Nguyễn Hiền Vương và cộng sự đã mô tả bối cảnh sử dụng rượu bia ở một số vùng nông thôn tại Việt Nam với các biến số như thời gian, địa điểm, người cùng sử dụng rượu bia, loại rượu bia thường sử dụng được, thời gian di chuyển đến nơi kinh doanh rượu bia… [11, 12] Một số kết quả trong nghiên cứu có thể kể đến là: 79% người tham gia nghiên cứu thường uống rượu bia vào buổi tối, 61,1% uống tại nhà, hơn 60% hay uống cùng bạn bè/đồng nghiệp, loại đồ uống có cồn thường được mua nhất là bia
Nhìn chung, vai trò của các yếu tố kinh tế - xã hội và bối cảnh đối với việc
sử dụng rượu bia tại Việt Nam đã và đang được nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên,
Trang 28vẫn còn chưa nhiều các nghiên cứu đi sâu vào phân tích sự ảnh hưởng của các yếu
tố trên lên việc sử dụng rượu bia và tác hại từ rượu bia
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian
Tháng 05/2017
Địa điểm
Phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
2.3 Đối tượng nghiên cứu
p là tỉ lệ ước lượng, chọn p = 0,33 là tỷ lệ sử dụng rượu bia chưa hợp lý (AUDIT ≥8) theo phân loại nguy cơ dựa trên bộ công cụ AUDIT trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hiền Vương tại xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội [12]
d = 0,06 là sai số lựa chọn
Như vậy, cỡ mẫu tính theo công thức trên là n = 236 người
Dự trù tỉ lệ mất mẫu hay không tiếp cận được là 15%, do đó cỡ mẫu tính được là 271 người Cỡ mẫu thực tế thu thập được là 276 người
2.3.4 Kỹ thuật chọn mẫu
Trang 30Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn dựa trên danh sách nam giới
15-60 tuổi đang sinh sống tại phường Trần Phú được cung cấp bởi Ủy ban nhân dân phường Trần Phú
2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu
Tiêu chí đưa vào
Nam giới từ 15 – 60 tuổi đang cư trú trên địa bàn phường Trần Phú tại thời điểm nghiên cứu
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Sự tham gia của người chưa đủ tuổi công dân (15 – 17 tuổi) được thông qua bởi cả cá nhân người đó và cha mẹ hoặc người giám hộ Sự tham gia của người không có năng lực dân sự (câm điếc, dị tật, thiểu năng trí tuệ…) và những thông tin liên quan đến nghiên cứu được ghi nhận thông qua người giám hộ
2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Chọn đối tượng theo đúng tiêu chí chọn vào và loại ra
Tập huấn kĩ càng, cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về đối tượng được phỏng vấn nhằm đảm bảo điều tra viên tham gia phỏng vấn gặp đúng đối tượng
Trường hợp mất mẫu, đối tượng bổ sung được chọn từ danh sách dự khuyết
2.4 Thu thập dữ kiện
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện
Sử dụng bộ câu hỏi (BCH) soạn sẵn và phỏng vấn trực tiếp đối tượng
2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện
BCH soạn sẵn có sử dụng bộ công cụ AUDIT về đánh giá và sàng lọc nguy
cơ liên quan đến sử dụng rượu bia, đã được chuẩn hóa và sử dụng ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới [5, 15, 26]
Bộ câu hỏi gồm 3 phần:
Đặc điểm dân số - xã hội: gồm 5 câu
Nguy cơ sử dụng rượu bia (bộ công cụ AUDIT): gồm 10 câu
Trang 31 Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia: gồm 10 câu Thông tin về các yếu tố liên quan này được khai thác nếu người được phỏng vấn trả lời có
sử dụng rượu bia trong 12 tháng qua
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin
Các nhóm tuổi được phân dựa trên những nghiên cứu về sử dụng rượu bia đã được thực hiện trước đây [16, 26, 28]
Dân tộc là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
Trang 32Nghề nghiệp chính trong 12 tháng vừa qua là biến số danh định, gồm 7 giá
2.5.1.2 Biến số sử dụng rượu bia
Tần suất uống rượu bia trong 12 tháng vừa qua là biến số thứ tự, gồm 5
giá trị:
Chưa bao giờ
≤1 lần/tháng
2-4 lần/tháng
Trang 33 2-3 lần/tuần
≥4 lần/tuần
Lượng rượu bia thường uống trong một ngày là biến số thứ tự, gồm 5 giá
trị:
1 hoặc 2 đơn vị rượu
3 hoặc 4 đơn vị rượu
5 hoặc 6 đơn vị rượu
7 hoặc 8 hoặc 9 đơn vị rượu
≥ 10 đơn vị rượu Một đơn vị rượu tương đương với 10 gam ethanol hay cồn nguyên chất [5]
Tần suất uống hết 6 đơn vị rượu hoặc nhiều hơn nữa hay Uống quá chén
Hằng ngày hoặc gần như hằng ngày
2.5.1.3 Biến số các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia
Hút thuốc lá trong 12 tháng qua là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
Có
Không
Tuổi lần đầu uống rượu bia là biến số định lượng
Ngày trong tuần hay được chọn để uống rượu bia trong 12 tháng qua là
biến số danh định, gồm 4 giá trị:
Ngày đi làm
Ngày cuối tuần
Bất cứ ngày nào trong tuần
Ngày lễ Thời điểm trong ngày hay được chọn để uống rượu bia trong 12 tháng qua là biến số danh định, gồm 4 giá trị:
Trang 34 Nửa đêm (từ 0h – trước 4h)
Sáng/trưa (từ 4h – trước 14h)
Chiều (từ 14h – trước 17h)
Tối (từ 17h – trước 0h ngày hôm sau)
Địa điểm thường uống rượu bia trong 12 tháng qua là biến số danh định,
Karaoke/sàn nhảy/quán bar
Số lượng người cùng uống trong một lần uống rượu bia điển hình trong
12 tháng qua là biến số danh định, gồm 4 giá trị:
0 người (uống một mình)
1 – 3 người
4 – 9 người
≥10 người
Quan hệ với người thường uống rượu/bia cùng trong 12 tháng vừa qua
là biến số danh định, gồm 4 giá trị:
Người trong gia đình/họ hàng
Bạn bè thân/đồng nghiệp cùng cơ quan
Trang 35Thường uống rượu/bia kèm ăn thức ăn/đồ nhắm trong 12 tháng qua là
biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
2.5.1.4 Biến số mức độ và nguy cơ sử dụng rượu bia theo AUDIT
Điểm AUDIT được tính theo hướng dẫn sử dụng bộ công cụ AUDIT của TCYTTG Việc phân loại các nhóm sử dụng rượu bia được thực hiện dựa trên các điểm cắt đã được chuẩn hóa và khuyến cáo sử dụng của WHO[15]
Sử dụng rượu bia chưa hợp lý là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
Có
Không Được xác định khi tổng điểm AUDIT ≥8
Sử dụng rượu bia mức nguy cơ là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
Có
Không Được xác định khi tổng điểm AUDIT từ 8 đến 15
Sử dụng rượu bia mức có hại là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
Có
Không Được xác định khi tổng điểm AUDIT từ 16 đến 19
Trang 36Phụ thuộc rượu bia là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
Có
Không Được xác định khi tổng điểm AUDIT ≥20
Đối với biến số định lượng liên tục có phân phối bình thường: mô tả bằng trung bình và độ lệch chuẩn
2.6.2 Thống kê phân tích
Hồi quy Poisson đơn biến với phương sai robust được sử dụng để ước lượng
PR với khoảng tin cậy 95% để đánh giá mối liên quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi p<0,05 và khoảng tin cậy không chứa giá trị 1
Do số lượng ít, các nhóm trình độ học vấn Mù chữ, Không qua trường lớp, Dưới tiểu học, tiểu học, Trung học cơ sở được gộp lại thành nhóm Trung học cơ sở hoặc thấp hơn để phân tích Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lý với các đặc điểm dân số-xã hội, hút thuốc lá, tuổi sử dụng rượu bia lần đầu được đánh giá trên những người có sử dụng rượu bia 12 tháng qua
Hồi quy Logistic đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan bằng tỉ số
số chênh OR với khoảng tin cậy 95%, mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi p
<0,05 và khoảng tin cậy không chứa giá trị 1 Sử dụng phương pháp Stepwise backwards để lựa chọn ra mô hình tối ưu có khả năng giải thích mối quan hệ giữa biến số phụ thuộc là SDRB chưa hợp lý trong 12 tháng qua với biến số độc lập gồm
Trang 37nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hút thuốc lá, tuổi uống rượu bia lần đầu Tiêu chuẩn để loại ra các biến không phù hợp là khi p≥0,05
2.6.3 Kiểm soát nhiễu
Kiểm soát nhiễu của các biến số sau khi thu thập bằng mô hình đa biến
2.7 Nghiên cứu thử
Sử dụng BCH phỏng vấn thử trên 30 người trước khi tiến hành phỏng vấn thật để có những điều chỉnh phù hợp về cách diễn đạt và nội dung
2.8 Y đức
2.8.1 Ảnh hưởng lên đối tượng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm mục đích cung cấp bằng chứng khoa học về nguy cơ của rượu bia đối với cộng đồng cho các nhà lãnh đạo địa phương, nhà hoạch định chính sách và ngành y tế địa phương để đánh giá đúng thực trạng sử dụng rượu bia, từ đó có những chính sách và chương trình y tế phù hợp cho cộng đồng
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi với các nội dung không xâm phạm đến thể chất, sự riêng tư cũng như quyền lợi hay tự do cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi đối tượng đã được giải thích rõ ràng
về mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu
Đối tượng có quyền đồng ý hoặc từ chối tham gia nghiên cứu Trong quá trình phỏng vấn, đối tượng có quyền không trả lời bất kì câu hỏi nào hoặc dừng trả lời phỏng bất kì lúc nào
Thông tin chỉ được thu thập trong quá trình nghiên cứu Thông tin nhận dạng của đối tượng sẽ không được ghi vào phiếu câu hỏi Đảm bảo các thông tin cá nhân của đối tượng phỏng vấn được giữ bí mật hoàn toàn
2.8.2 Ảnh hưởng lên xã hội
Các số liệu và thông tin thu thập được chỉ nhằm mục đích nghiên cứu Việc tham gia trả lời phỏng vấn sẽ không đem lại bất kì mói nguy hại nào đối với các nhân và cộng đồng
2.8.3 Xin phép và phê duyệt
Trang 38Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có được sự cho phép của chính quyền địa phương nơi thực hiện nghiên cứu
Trang 39CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 3.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm dân số-xã hội của nam giới tham gia nghiên cứu (n=276)
41,6 9,8
Trang 40Tính chung, có tất cả 276 người từ 15 đến 60 tuổi tham gia vào nghiên cứu Trong đó, tất cả đều là dân tộc Kinh Tỉ lệ các nhóm tuổi phân bố tương đối đồng đều, thấp nhất ở nhóm 55-60 tuổi (15,5%), cao nhất ở nhóm 35-44 tuổi (22,8%) Hơn một nửa số người được khảo sát có trình độ học vấn trên Trung học phổ thông (54,6%), chiếm thiểu số là nhóm học vấn dưới THCS (không quá 20%) Trên 40% người được khảo sát là CC-VC nhà nước hoặc làm công việc văn phòng trong 12 tháng vừa qua, xếp thứ hai là nhóm công nhân (22,1%), tỉ lệ người thất nghiệp hoặc
đã về hưu thấp hơn 10% Xét về tình trạng hôn nhân của những người tham gia nghiên cứu, số người đã kết hôn chiếm gấp gần 3 lần người còn độc thân
Có 85,9% trong tổng số 276 nam giới được hỏi cho biết có uống rượu/bia trong
12 tháng vừa qua