khảo sát kỹ thuật châm cứu đạt cảm giác đắc khí trong châm cứu dưới hướng dẫn của máy siêu âm y học [50]; Litscher G và cộng sự nghiên cứu sử dụng phương pháp cứu dọc theo lộ trình đường
Trang 1BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
KHẢO SÁT SỰ THAY ĐỔI NHIỆT ĐỘ
BỀ MẶT DA KHI CHÂM TẢ HUYỆT LIỆT KHUYẾT, ỦY TRUNG
Mã số: 12/2017/HĐ-NCKH
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS TRỊNH THỊ DIỆU THƯỜNG
BS VŨ THANH LIÊM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
KHẢO SÁT SỰ THAY ĐỔI NHIỆT ĐỘ
BỀ MẶT DA KHI CHÂM TẢ HUYỆT LIỆT KHUYẾT, ỦY TRUNG
Mã số: 12/2017/HĐ-NCKH
Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS TRỊNH THỊ DIỆU THƯỜNG
BS VŨ THANH LIÊM
Trang 31.Tên đề tài:
Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da khi châm tả huyệt
Liệt khuyết, Ủy trung
2 Mã số
3 Chỉ số phân loại
4 Thời gian thực hiện: Từ 01 / 10 / 2016 đến 30 / 08 / 2017
5 Dự toán tổng kinh phí: 5 triệu đồng
Trường cấp: 5 triệu đồng
Tài trợ khác: không có
6.Thuộc chương trình (nếu có):
7.Thuộc khoa /Bộ môn: Khoa Y học cổ truyền, Bộ môn châm cứu
8 Họ và tên chủ nhiệm đề tài:
Học hàm, học vị chuyên môn: Phó Giáo sư Tiến sĩ Bác sĩ Trịnh Thị Diệu Thường
Chức vụ: Phó trưởng khoa YHCT, Trưởng bộ môn Châm cứu
Địa chỉ (CQ/NR): 221B, Hoàng Văn Thụ, Phường 8, Quận Phú Nhuận, TP.HCM Điện thoại cá nhân: 0906810102; Email: drdieuthuong@gmail.com
Họ và tên: Vũ Thanh Liêm
Cơ quan công tác: Học viên lớp cao học YHCT 2015-2017
Điện thoại: 01234591163; Email: vuotvominh@live.com
9 Cán bộ cộng tác:
10 Cơ quan phối hợp (kể cả trong nước và quốc tế)
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Huyệt vị châm cứu 4
1.2 Huyệt vị dùng trong đề tài nghiên cứu 12
1.3 Điều hòa nhiệt độ cơ thể 14
1.4 Phương pháp ghi nhiệt bằng hồng ngoại 18
1.5 Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3 Vấn đề y đức 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 34
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da ở 4 nhóm nghiên cứu 38
3.3 So sánh nhiệt độ bề mặt da giữa các nhóm 47
Trang 53.5 Tác dụng không mong muốn khi châm tả huyệt Liệt khuyết, Ủy
trung 53
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54
4.1 Bàn luận về số liệu thống kê 54
4.2 Nhận xét phương pháp tiến hành nghiên cứu 57
4.3 Bàn luận về sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại huyệt 58
4.4 Bàn về sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da dọc theo đường kinh nổi trên bề mặt da61 4.5 Bàn về sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại vùng tác dụng đặc hiệu sau châm tả63 4.6 Bàn về ảnh hưởng của một số yếu tố nguy cơ đến sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da 65
4.7 Mối tương quan giữa huyệt với vùng tác dụng đặc hiệu 66
4.8 Tác dụng phụ không mong muốn khi châm tả huyệt Liệt khuyết, Ủy trung 67 4.9 Những điểm mới và tính ứng dụng của đề tài 67
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Phiếu theo dõi đối tượng tham gia nghiên cứu
PHỤ LỤC 2: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu
PHỤ LỤC 3: Giấy chấp thuận tham gia nghiên cứu
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
YHCT Y học cổ truyền
YHHĐ Y học hiện đại
IRT Infrared thermography
LU 7 huyệt Liệt khuyết
BL 40 huyệt Ủy trung
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1 Cơ chế tác dụng của châm cứu 12
Hình 1.2 Vị trí giải phẫu huyệt Liệt khuyết (LU 7) 13
Hình 1.3 Vị trí giải phẫu huyệt Ủy trung (BL 40) 13
Hình 1.4 Cấu trúc giải phẫu của da 16
Hình 1.5 Hình ảnh hồng ngoại về sự phân bố nhiệt độ bề mặt da đối xứng ở cơ thể người 19
Hình 1.6 Nguyên lý đo bằng thiết bị đo nhiệt độ hồng ngoại (IRT) 20
Hình 1.7 Máy camera hồng ngoại Testo 870-1 21
Hình 2.1 Thang đo nhiệt độ "cầu vồng (rainbow)" 28
Hình 3.1 Nhiệt độ khu vực bề mặt da tại huyệt Ủy trung T trước – sau châm 37
Hình 3.2 Nhiệt độ khu vực bề mặt da tại huyệt Ủy trung P trước – sau châm 38
Hình 3.3 Nhiệt độ khu vực bề mặt da tại huyệt Liệt khuyết T trước – sau châm38 Hình 3.4 Nhiệt độ khu vực tại huyệt Liệt khuyết P trước – sau châm 39
Hình 3.5 Nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh Túc Thái dương Bàng quang T trước - sau châm 40
Hình 3.6 Nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh Túc Thái dương Bàng quang P trước - sau châm 40
Hình 3.7 Nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh Thủ Thái âm Phế T trước – sau châm 41
Hình 3.8 Nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh Thủ Thái âm Phế P trước – sau châm 41
Hình 3.9 Nhiệt độ bề mặt da vùng lưng trước – sau châm huyệt Ủy trung T 42
Hình 3.10 Nhiệt độ bề mặt da vùng lưng trước – sau châm huyệt Ủy trung P 43 Hình 3.11 Nhiệt độ bề mặt da vùng cổ trước – sau châm huyệt Liệt khuyết T 44 Hình 3.12 Nhiệt độ bề mặt da vùng cổ trước – sau châm huyệt Liệt khuyết T 45
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Những loại thủ thuật bổ và tả thường dùng hiện nay 9
Bảng 2.1 Quy trình châm các huyệt vị 30
Bảng 3.1 Sự khác biệt về tuổi giữa 4 nhóm nghiên cứu 34
Bảng 3.2 So sánh chỉ số mạch, huyết áp trước và sau châm nhóm 1A 35
Bảng 3.3 So sánh chỉ số mạch, huyết áp trước và sau châm nhóm 1B 35
Bảng 3.4 So sánh chỉ số mạch, huyết áp trước và sau châm nhóm 2A 36
Bảng 3.5 So sánh chỉ số mạch, huyết áp trước và sau khi châm nhóm 2B 36
Bảng 3.6 So sánh nhiệt độ bề mặt da tại vị trí huyệt trước và sau châm nhóm 1A 37
Bảng 3.7 So sánh nhiệt độ bề mặt da tại vị trí huyệt trước và sau châm nhóm 1B37 Bảng 3.8 So sánh nhiệt độ bề mặt da tại vị trí huyệt trước và sau châm nhóm 2A 38
Bảng 3.9 So sánh nhiệt độ bề mặt da tại vị trí huyệt trước và sau châm nhóm 2B38 Bảng 3.10 So sánh nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh nổi trước và sau châm nhóm 1A 39
Bảng 3.11 So sánh nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh nổi trước và sau châm nhóm 1B 40
Bảng 3.12 So sánh nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh nổi trước và sau châm nhóm 2A 41
Trang 9Bảng 3.13 So sánh nhiệt độ bề mặt da dọc đường kinh nổi trước và sau châm
Trang 10Bảng 3.26 Ảnh hưởng BMI đến sự thay đổi nhiệt độ da sau châm ở nhóm
2B 50
Bảng 3.32 Ảnh hưởng của giới tính đến nhiệt độ da sau châm của Nhóm 2A-2B50 Bảng 3.33 Mối tương quan giữa nhiệt độ bề mặt da tại huyệt với nhiệt độ tại
đường kinh và vùng lưng của nhóm 1A-1B 51
Bảng 3.34 Mối tương quan giữa nhiệt độ bề mặt da tại huyệt với nhiệt độ tại
đường kinh và vùng lưng của nhóm 2A-2B 51
Bảng 3.35 Mô tả tác dụng phụ của 4 nhóm nghiên cứu 52
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới tính 33 Biểu đồ 3.1 Phân bố BMI ở 4 nhóm nghiên cứu 34
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Châm cứu là một phương pháp chữa bệnh cổ truyền của phương đông với hơn 2500 năm phát triển, phương pháp này hình thành qua quá trình tích lũy kinh nghiệm thực hành và xác nhận việc hàng loạt các bệnh có thể được điều trị hiệu quả với phương pháp châm cứu Đến năm 1970 châm cứu đã được sử dụng trên toàn thế giới, chính vì vậy năm 1979 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công nhận châm cứu
là phương pháp chữa bệnh quốc tế[23, 49, 59] Tuy nhiên phương pháp châm cứu thiếu các nghiên cứu khoa học để chứng minh cơ chế và các tác dụng sinh lý của châm cứu trong điều trị bệnh, vẫn còn nhiều tranh cãi về vai trò của châm cứu trong
y học lâm sàng Hơn nữa, hầu hết các khía cạnh của châm cứu vẫn chưa được kiểm tra đầy đủ [23] Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm bằng chứng hóa cấu trúc của huyệt
và kinh lạc cũng như cơ chế và tác dụng của châm cứu là việc cần thiết
Đã có nhiều công trình khoa học như: nghiên cứu áp dụng kỹ thuật hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) thấy rằng châm cứu điều chỉnh các hệ limbic - paralimbic - neocortical khi châm cứu các huyệt Hợp cốc, Túc tam lý, Thái xung, Hành gian, Nội đình và ghi nhận sự tồn tại của điểm châm cứu và khu vực ở não có tương quan cụ thể [27, 28, 36] Một số nghiên cứu dùng máy khám cảm giác đau để khảo sát vùng ảnh hưởng ngoài da của các nhóm huyệt [8, 12]; nghiên cứu của Park
J khảo sát kỹ thuật châm cứu đạt cảm giác đắc khí trong châm cứu dưới hướng dẫn của máy siêu âm y học [50]; Litscher G và cộng sự nghiên cứu sử dụng phương pháp cứu dọc theo lộ trình đường kinh dưới quan sát của máy ghi nhiệt hồng ngoại
để tìm đường đi của đường kinh [22, 44]; một số nghiên cứu tác dụng tăng nhiệt độ của châm cứu bằng máy ghi nhiệt độ hồng ngoại đánh giá tác dụng tại chỗ của các huyệt Nội quan, Khúc trì, Đại chùy, Chí dương, Túc tam lý, Hợp cốc [16, 34, 45, 46]; hay đánh giá tác dụng huyệt theo lý luận đường kinh như Quang minh, Túc tam lý,…[54, 64]; các nghiên cứu khảo sát tác dụng của nhóm huyệt đặc hiệu như Lục
Trang 13nhiều kết quả thuyết phục làm sáng tỏ phần nào cấu trúc của huyệt, hệ kinh lạc cũng như cơ chế và tác dụng của châm cứu trong điều trị bệnh Các nghiên cứu trên đa phần khảo sát cơ chế và tác dụng của huyệt vị, chủ yếu khảo sát tác dụng tại chỗ của huyệt và tác dụng của huyệt theo cơ sở lý luận đường kinh, ít có nghiên cứu khảo sát tác dụng của nhóm huyệt đặc hiệu
Chính vì vậy, trong đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiếp tác dụng của nhóm huyệt đặc hiệu, mà cụ thể là nhóm Lục tổng huyệt Rất nhiều nghiên cứu đánh giá tác dụng của hai huyệt Lục tổng là Hợp cốc và một số nghiên cứu về huyệt Túc tam lý, trong khi bốn huyệt còn lại là: Liệt khuyết, Ủy trung, Tam âm giao, Nội quan rất ít nghiên cứu Trong giới hạn về thời gian, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá tác dụng trị bệnh hai huyệt trong nhóm Lục tổng huyệt là Liệt khuyết
và Ủy trung Theo một nghiên cứu phân tích hệ thống gánh nặng toàn cầu về bệnh tật trong năm 1990 - 2013 cho thấy đau lưng là nguyên nhân hàng đầu và đau cổ là nguyên nhân đứng thứ 4 trong số 10 nguyên nhân chính gây ra thương tật trên toàn thế giới [29] Do vậy hai huyệt Liệt khuyết, Ủy trung thường được ứng dụng nhiều trên thực tế lâm sàng điều trị các bệnh lý cấp tính gây đau vùng cổ gáy, đau vùng lưng-thắt lưng theo Y học cổ truyền [4, 6, 13] Vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi muốn làm sáng tỏ phần nào tác dụng trị bệnh của huyệt Liệt khuyết, Ủy trung
Để đánh giá tác dụng của hai huyệt này chúng tôi dùng camera hồng ngoại
để khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da khi châm tả vào hai huyệt này, đây là một phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, an toàn và giúp thiết lập một bản đồ nhiệt độ định lượng và định tính của nhiệt độ bề mặt da, có thể đánh giá các tình trạng bệnh
lý khác nhau, nhiệt độ và vi tuần hoàn [26]
Trang 14Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Khi châm tả huyệt Ủy trung, Liệt khuyết thuộc nhóm Lục tổng huyệt có làm
thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại chỗ châm và bề mặt da dọc theo đường kinh chứa
huyệt đó hay không?
Khi châm tả huyệt Liệt khuyết bên trái có làm thay đổi nhiệt độ bề mặt da
của toàn vùng cổ hay chỉ thay đổi nhiệt độ vùng cổ bên trái và ngược lại? Khi châm
huyệt Ủy trung bên trái có làm thay đổi nhiệt độ bề mặt da của toàn vùng lưng-thắt
lưng hay chỉ thay đổi nhiệt độ vùng lưng-thắt lưng bên trái và ngược lại?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát: Xác định sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da khi châm tả từng
huyệt Liệt khuyết, Ủy trung thuộc nhóm Lục tổng huyệt
Mục tiêu cụ thể:
1 Khảo sát nhiệt độ bề mặt da tại vị trí huyệt Liệt khuyết, Ủy trung
2 Khảo sát nhiệt độ bề mặt da tại vùng cổ gáy đối với huyệt Liệt khuyết, vùng
lưng-thắt lưng đối với huyệt Ủy trung
3 Khảo sát nhiệt độ bề mặt da nhánh nổi đường kinh Thủ thái âm Phế đối với
huyệt Liệt khuyết và Túc thái dương Bàng quang đối với huyệt Ủy trung
4 Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ bề mặt da sau châm
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Huyệt vị châm cứu
1.1.1 Định nghĩa huyệt [1, 5]
Theo sách Linh khu thiên Cửu châm thập nhị nguyên viết “Sở ngôn tiết giả, thần khí chi sở du hành xuất nhập dã” ý nói Huyệt là nơi lưu hành ra vào của thần khí, nó được phân bố khắp ngoài cơ thể
Sách Linh khu thiên Cửu châm thập nhị nguyên viết “Ngũ tạng lục phủ sở xuất chi xứ sở xuất vi tỉnh, sở lưu vi huỳnh, sở chú vi du, sở hành vi kinh, sở nhập
vi hợp lục phủ hữu thập nhị nguyên, thập nhị nguyên giả, ngủ tạng chi sở dĩ bẩm thụ tam bách lục thập ngủ tiết khí vị dã” ý nói Huyệt là nơi khí của ngũ tạng lục phủ xuất ra ở 12 kinh mạch, nơi xuất ra là tỉnh, nơi chảy qua là huỳnh, nơi đổ vào là du, nơi chảy xiết là kinh, nơi tụ hội là hợp Lục phủ có 12 huyệt nguyên, huyệt nguyên
là nơi tập trung khí hóa và dinh dưỡng của 365 huyệt bẩm thụ từ ngũ tạng
Huyệt là nơi khí của tạng phủ xuất ra ở lưng, tụ lại ở bụng Hoạt Bá Nhân (theo Nạn Kinh điều 67) viết: Du và mộ là tên gọi chung của huyệt của ngũ tạng, ở ngực bụng là âm là mộ, ở lưng là dương là du Mộ là nơi kinh khí tụ lại, du là nơi kinh khí từ đó thấu ra da
Theo sách Tố vấn thiên Khí phủ luận viết “Huyệt là khí phủ…mạch khí sở phát giả”, nội dung này Trương Chí Thông chú “mạch giả huyết khí chi phủ, huyệt giả, mạch khí sở phát” y nói Huyệt là nơi tụ tập khí của Tạng Phủ kinh lạc, hay nói cách khác hơn là nơi tập trung cơ năng hoạt động của mỗi tạng phủ, kinh lạc…nằm
ở một vị trí cố định nào đó trên cơ thể con người Việc kích thích tại những huyệt vị này (bằng châm hay cứu) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được kết quả điều trị mong muốn
Sách linh khu thiên Kinh cân viết “Dĩ thống vi du” ý nói ở kinh cân thì điểm đau là huyệt
Trang 16Huyệt không những có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và các biểu hiện bệnh lý của cơ thể, mà còn giúp cho việc chẩn đoán và phòng chữa bệnh một cách tích cực
Theo các sách xưa, huyệt được gọi dưới nhiều tên khác nhau: du huyệt, khổng huyệt, kinh huyệt, khí huyệt, cốt huyệt Ngày nay huyệt là danh từ được sử dụng rộng rãi nhất
1.1.2 Tác dụng của huyệt
1.1.2.1 Tác dụng sinh lý
Huyệt có quan hệ mật thiết với kinh mạch và tạng phủ mà nó phụ thuộc Huyệt là nơi dinh khí, vệ khí vận hành qua lại, nơi tạng phủ, kinh lạc dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, góp phần giữ cho các hoạt động của cơ thể luôn ở trạng thái cân bằng
1.1.2.2 Tác dụng trong bệnh lý
Huyệt cũng là cửa ngõ xâm lấn của các nguyên nhân gây bệnh từ bên ngoài Khi sức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì các nguyên nhân bên ngoài (y học cổ truyền gọi là tà khí) dễ xâm lấn vào cơ thể qua các cửa ngõ này để gây bệnh
Mặt khác, bệnh của các tạng phủ kinh lạc cũng được phản ánh ra ở huyệt: hoặc đau nhức tựnhiên, hoặc ấn vào đau, hoặc màu sắc ở huyệt thay đổi (trắng nhợt,
đỏ thẫm), hoặc hình thái thay đổi (bong biểu bì, mụn nhỏ hoặc sờ cứng bên dưới huyệt)
1.1.2.3 Tác dụng chẩn đoán
Dựa vào những thay đổi ở huyệt đã nêu trên (đau nhức, đổi màu sắc, co cứng ) ta có thêm tư liệu giúp chẩn đoán nhất là chẩn đoán vị trí bệnh (ví dụ huyệt Tâm du đau hoặc ấn đau làm ta nghĩ đến bệnh ở Tâm)
Trang 17Những biểu hiện bất thường ở huyệt thường chỉ có giá trị gợi ý cho chẩn đoán Để có được chẩn đoán xác định cần dựa vào toàn bộ phương pháp chẩn đoán của y học cổ truyền
1.1.2.4 Nguyên tắc chữa bệnh bằng châm cứu
Điều hòa âm dương: âm dương mất cân bằng thì có bệnh, và trị bệnh tất cầu
kì bản Trong châm cứu điều mấu chốt để châm có hiệu quả là biết điều hòa
âm và dương Âm và dương được điều hòa thì tinh khí sung mãn , hoạt động của hình và khí kết hợp Hài hòa với nhau làm thần khí tàng được ở trong cần quan sát kĩ nơi có rối loạn âm dương để điều hòa Và muốn đạt yêu cầu này thì Dương thắng (âm hư) chữa âm, Âm thắng (dương hư) chữa dương
Phù chính khu tà trong trạng thái bình thường thì chính khí luôn đủ sức chống lại tà khí, và cơ thểở trạng thái khỏe mạnh Khi tà khí mạnh hơn chính khí nó có thể xâm nhập vào cơ thể làm âm dương mất cân bằng và gây bệnh
Đe lập lại cân bằng người ta dùng nguyên tắc hư thì bổ hư, thực thì tả thực
Sơ thông kinh lạc: phận nào đó của cơ thể bị bệnh thì phần kinh lạc nuôi dưỡng bộ phận đó cũng bị liên lụy, kinh lạc bị rối loạn thì huyết khí tuấn hoàn trong đó cũng bị rối loạn, huyết khí rối loạn thì bệnh khó lành Vì vậy
để chữa bệnh cần phải sơ thông kinh lạc
1.1.2.5 Tác dụng phòng và chữa bệnh
Huyệt còn là nơi tiếp nhận các kích thích khác nhau Tác động lên huyệt với một lượng kích thích thích hợp có thể làm điều hòa được những rối loạn bệnh lý, tái lập lại hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể
Tác dụng điều trị này của huyệt tùy thuộc vào mối liên hệ giữa huyệt và kinh lạc tạng phủ, ví dụ: Phế du (bối du huyệt của Phế) có tác dụng đối với chứng khó thở, ho…; Túc tam lý (hợp huyệt của kinh Vị) có tác dụng đối với chứng đau bụng
1.1.3 Phân loại huyệt
Căn cứ vào học thuyết Kinh lạc, có thể chia huyệt làm 3 loại chính:
Trang 18 Huyệt nằm trên đường kinh (huyệt của kinh - kinh huyệt): là nhữn huyệt trên 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm, Đốc Một cách tổng quát, tất cả các huyệt vị châm cứu đều có những tác dụng chung trong sinh lý và bệnh lý như đã nêu ở trên Tuy nhiên, có những huyệt có vai trò quan trọng hơn những huyệt khác trong điều trị và chẩn đoán Những huyệt này đã được người xưa tổng kết lại và đặt thêm tên cho chúng như Nguyên, Lạc, Khích, Ngũ du, Bối du, Bát hội huyệt, Giao hội huyệt, Lục tổng huyệt,…
Huyệt nằm ngoài đường kinh (huyệt ngoài kinh - ngoại kỳ huyệt): Được những nhà châm cứu xếp vào nhóm huyệt ngoài kinh là những huyệt không thuộc vào
12 kinh chính Một cách tổng quát, huyệt ngoài kinh thường nằm bên ngoài các đường kinh Tuy nhiên cũng có một số huyệt, dù nằm trên đường tuần hoàn của kinh mạch chính, song không phải là huyệt của kinh mạch ấy, như huyệt Ấn đường nằm ngay trên mạch Đốc, nhưng không phải huyệt của mạch Đốc
Từ năm 1982, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học với sự tham gia của nhiều chuyên gia châm cứu của những quốc gia được xem là hàng đầu trong lĩnh vực châm cứu (những Hội nghị liên vùng) nhằm thống nhất nhiều nội dung quan trọng của châm cứu như số lượng huyệt kinh điển, danh xưng quốc tế của kinh lạc, huyệt ngoài kinh, đầu châm, hệ thống đơn vị đo lường… Năm 1984, Hội nghị Tokyo đã chấp nhận 31 huyệt ngoài kinh
Tất cả những huyệt trên đều là những huyệt ngoài kinh đã được ghi trong sách kinh điển và rất thông dụng Hội nghị Hong Kong năm 1985 chấp nhận thêm 5 huyệt ngoại kỳ kinh điển và thêm 12 huyệt ngoại kỳ mới Huyệt ngoại kỳ đã được thảo luận và chọn dựa theo những tiêu chí sau: phải là những huyệt thông dụng, phải có hiệu quả trị liệu lâm sàng, phải có vị trí giải phẫu rõ ràng, phải cách tối thiểu huyệt kinh điển (huyệt trên đường kinh) 0,5 thốn
Nếu huyệt ngoài kinh có tên trùng với huyệt kinh điển thì phải thêm phía trước tên huyệt ấy một tiếp đầu ngữ (prefix) Có tất cả 48 huyệt ngoài kinh đáp ứng đủ những tiêu chí trên, gồm 15 ở đầu mặt, 1 ở ngực bụng, 9 ở lưng, 11 ở tay và 12 ở
Trang 19 Huyệt ở chỗ đau (A thị huyệt): Đây là những huyệt không có vị trí cố định, cũng không tồn tại mãi mãi Cơ sở lý luận của việc hình thành huyệt A thị là nguyên
lý “Lấy chỗ đau làm huyệt” của châm cứu học A thị huyệt thường được sử dụng trong điều trị các chứng đau nhức cấp hoặc mạn tính
1.1.4 Cảm giác đắc khí
“Đắc khí” là vấn đề rất quan trọng trong châm cứu Theo Đông y, khi châm đạt được cảm giác “đắc khí” chứng tỏ “khí” của bệnh nhân được huy động đến thông mũi kim – đạt kết quả tốt Nếu châm mà không tìm được cảm giác “đắc khí” chứng
tỏ “khí” của bệnh nhân đã suy kém – không áp dụng châm để điều trị
Có thể xác định khi châm cứu có cảm giác “đắc khí” bằng 1 trong 2 cách:
Cảm giác của bệnh nhân: thấy căng, tức, tê, nặng, mỏi tại chỗ châm hoặc lan xung quanh nhiều hoặc ít
Cảm giác ở tay thầy thuốc: thấy kim như bị da thịt vít chặt lấy, tiến hay lui kim có sức cản (cảm giác như khi châm vào cục gôm tẩy)
Các cách thường dùng để tạo cảm giác “đắc khí”
Búng kim: búng vào cán kim nhiều lần
Vê kim: ngón cái và trỏ vê đốc kim theo hai chiều nhiều lần
Tiến lui kim: vừa vê kim vừa kéo kim lên xuống
1.1.5 Thủ thuật bổ tả trong châm cứu [2, 5]
Chỉ định của phép bổ: Những bệnh mà Y học cổ truyền chẩn đoán là hư, thường
là những bệnh mắc đã lâu Cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm
Chỉ định của phép tả: Những bệnh mà Y học cổ truyền chẩn đoán là thực, thường là những bệnh mới mắc Cơ thể bệnh nhân còn khỏe, phản ứng với bệnh còn mạnh
1.1.5.1 Những loại thủ thuật bổ và tả thường dùng hiện nay
Trên cơ sở kinh nghiệm của người xưa, hiện nay các thủ thuật bổ tả thường dùng gồm:
Bổ tả theo hơi thở bệnh nhân
Bổ tả theo cường độ kích thích kim
Trang 20 Bổ tả theo thời gian lưu kim
Bổ tả theo kỹ thuật lúc rút kim
Bảng 1.1 Những loại thủ thuật bổ và tả thường dùng hiện nay
không vê kim
Châm “đắc khí”, vê kim nhiều lần
Bịt lỗ châm Rút kim bịt ngay lỗ châm Rút kim không bịt lỗ châm Thầy thuốc châm cứu hiện nay có khi phối hợp cả 5 yêu cầu trên, nhưng rất thường chỉ phối hợp 2 yêu cầu cường độ và thời gian
1.1.5.2 Phương pháp bổ tả hỗn hợp
Đây là phương pháp Bổ Tả khá độc đáo được ghi trong sách “Châm Cứu Đại Thành” của Dương - Kế - Châu, dựa theo cảm giác nóng lạnh, tình trạng bệnh Nhiệt hoặc Hàn mà áp dụng cách châm, gọi là: “Thiêu Sơn Hỏa” và “Thấu Thiên Lương”
Thiêu Sơn Hỏa:
Còn gọi là châm nóng, châm bổ: 3 tiến 1 lùi Châm qua da xong, đưa kim xuống
bộ Thiên, xoay kim 3-5 lần, từ trái sang phải cho có cảm giác (căng, tức, tê) tiếp tục đưa kim xuống bộ Nhân, cũng xoay kim 3-5 lần, từ trái sang phải cho có cảm giác Sau đó rút kim ra, gần đến da, dừng một chút rồi rút kim ra, bịt lỗ kim lại Cách châm này có tác dụng trừ được hàn (lạnh)
Phương pháp này cũng được dùng để trị hư chứng, trong thiên “Châm Giải” đã chú: “Khi nhằm trị hư chứng thì dưới kim phải có cảm giác nhiệt thì sẽ rút kim”
Điểm đặc biệt ở đây là con số lần xoay kim đều dựa theo số lẻ (3, 5) và cách chuyển kim từ trái sang phải tức từ Dương sang Âm Số lẻ thuộc dương; do đó, cách châm này mang đặc tính dương và cảm giác ấm, nóng (ấm nóng thuộc
Trang 21(châm nhanh), Đề tháp (rút kim lên xuống) Cửu thất (theo số 9 hoặc 7), Hô hấp, Khai hạp (đóng, mở)
Thấu Thiên Lương:
Còn gọi là châm lạnh, châm tả, 1 tiến, 3 lùi Châm qua da, đưa kim xuống ngay
bộ Địa (sâu nhất), xoay kim 2-4 lần, từ phải sang trái cho có cảm giác, rút kim
về đến độ Nhân, xoay kim 2-4 lần từ phải sang trái cho có cảm giác, rút kim ra gần da, dừng lại một chút rồi rút ra khỏi da, không bịt lỗ kim ngay Cách châm này có tác dụng trừ được nhiệt (nóng)
Phương pháp này cũng được dùng trị Thực chứng, trong thiên “Châm Giải” chú:
“Khi nhằm trị thực chứng thì dưới kim phải có cảm giác mát lạnh thì rút châm”
Điểm đặc biệt ở đây là con số xoay kim, luôn là 2-4, tức là số chẵn (số chẵn thuộc âm), và xoay kim từ phải sang trái (bên phải thuộc âm) Vì thế, phương pháp này mang đặc tính âm, dùng để trị nhiệt chứng, thực chứng rất có hiệu quả Phương pháp này tổng hợp các động tác kích thích: Từ tật (châm nhanh), Đề tháp (nâng lên, đè xuống), Bát lục (theo số 8 hoặc 6), Hô hấp, Khai Hạp (mở, đóng), Bãi (lay kim)
Cách châm “Thiêu Sơn Hỏa” và “Thấu Thiên Lương” có thể thay đổi ít nhiều tùy thủ thuật, tùy quan điểm của từng người châm nhưng luôn giống nhau ở điểm căn bản là 3 tiến 1 lùi và 3 lùi 1 tiến
1.1.6 Quan điểm huyệt theo y học hiện đại
1.1.6.1 Nghiên cứu dựa trên giải phẫu học [39, 57]
Một số tác giả đã thực hiện các quan sát chi tiết thấy các cấu trúc giải phẫu của huyệt có một số đặc thù đặc biệt Một số nhà nghiên cứu báo cáo rằng các huyệt
là điểm động, mà tại đó mật độ các dây thần kinh đi và cơ bắp xấp xỉ nhau, nhưng không giống với các khu vực kết thúc của các đầu mút dây thần kinh vận động
Một số nhà nghiên cứu, thông qua giải phẫu cắt ngang, quan sát thấy rằng 55% các huyệt trên cơ thể được đặt ngay tại các cụm của cơ bắp, và những cơ bắp
và mô liên kết tại huyệt thì dày đáng kể và tập trung Các cơ bắp được quan sát được bao bọc xung quanh bởi mô liên kết nông và sâu, và phải châm sâu kim đến
Trang 22tới lớp mô liên kết Do đó, nó đã được đề xuất rằng huyệt chỉ kích hoạt điểm của các cơ Mặt khác, một số nghiên cứu cho rằng các mô liên kết là cơ sở cấu trúc của các huyệt và đường kinh lạc
1.1.6.2 Những giả thiết về cơ chế tác dụng của châm cứu
Một nghiên cứu khác coi huyệt là đơn vị NAU (Neural acupuncture unit) là một tập hợp của các thành phần thần kinh hoạt động và thành phần hoạt hóa thần kinh phân bố trong da, cơ và mô liên kết quanh kim châm vào Khi châm kim vào huyệt thì nó sẽ tác động hoạt hóa hay điều hòa hoạt động của một loạt các cơ quan như thụ thể cảm giác trong da, thụ thể trong cơ, gân, các sợi thần kinh hướng tâm,
ly tâm, thực vật, các mô không phải thần kinh, các tế bào tiết ra chất trung gian hóa học: tế bào mast, đại thực bào, tiểu cầu, tế bào sợi, tế bào sừng, tế bào hắc tố, điều này phần nào nói lên tác dụng trị bệnh của châm cứu [23, 35, 39][38, 55, 63]
Nghiên cứu bằng cách tác động lên các huyệt Hợp cốc, Túc tam lý, Thái xung, Hành gian, Nội quan trên cơ thể người và động vật đã cung cấp thêm bằng chứng để hỗ trợ các báo cáo trước đó rằng châm cứu điều chỉnh các mạng limbic-paralimbic-neocortical Kết luận nghiên cứu này đưa ra giả thuyết rằng châm cứu có thể làm trung gian chống đau, chống lo âu, và tác dụng điều trị khác của nó qua hệ thần kinh nội tại [27] Châm cứu không chỉ kích hoạt vùng não riêng biệt trong các loại khác nhau của các bệnh gây ra bởi sự mất cân bằng giữa các hoạt động giao cảm và phó giao cảm, mà châm cứu giúp điều biến thần kinh để thích nghi trong vùng não liên quan để giảm bớt phản ứng tự trị Nó cho phép chúng ta hiểu được tầm quan trọng của liệu pháp châm cứu trong điều hòa hệ thần kinh tự trị, liên quan đến điều hòa huyết áp, kích thước đồng tử, nhiệt độ da, hoạt động thần kinh giao cảm cơ, nhịp tim và và tốc độ biến thiên nhịp tim, [20, 40]
Trang 23Hình 1.1 Cơ chế tác dụng của châm cứu [20]
1.2 Huyệt vị dùng trong đề tài nghiên cứu
1 Liệt khuyết [5]
Huyệt thứ 7 thuộc Phế kinh (LU 7)
Thuộc nhóm Lục tổng huyệt, Lạc huyệt của Phế, huyệt giao hội của Nhâm
mạch với kinh Phế
Tên gọi: Liệt (có nghĩa là tình trạng phân kỳ hay tách ra); Khuyết (có nghĩa
là thiếu đi, chỗ hõm hay khe hổng) Còn có tên là Đồng huyền, Uyển lao
Vị trí: cách nếp gấp cổ tay 1,5 thốn phía ngoài xương quay
Tác dụng: Tuyên Phế khu phong, sơ thông kinh lạc, thông điều nhâm mạch Dùng điều trị sưng đau cổ tay, ho đau ngực, cảm cúm, viêm khí quản, tiểu
khó, bệnh ở cổ gáy
Trang 24Hình 1.2.Vị trí giải phẫu huyệt Liệt khuyết (LU 7)
2 Ủy trung [5]
Huyệt thứ BL 40 của Bàng Quang kinh
Thuộc nhóm Lục tổng huyệt, Hợp thổ huyệt của kinh Bàng quang
Tên gọi: Huyệt nằm ở giữa (trung) nếp gấp nhƣợng chân (uỷ) vì vậy gọi là
Uỷ Trung Còn có tên Huyết khích, Khích trung, Trung khích
Vị trí: chính giữa nếp lằn khoeo chân
Tác dụng: Thanh huyết tiết nhiệt, thƣ cân thông lạc, đuổi phong thấp, lợi lƣng gối Dùng trị đau đầu gối, đau thần kinh tọa rễ S1, bệnh vùng lƣng, thắt
lƣng
Trang 25Huyệt Liệt khuyết và Ủy trung là 2 huyệt trong nhóm huyệt đặc hiệu Lục tổng huyệt Đây là những huyệt được tổng kết bằng kinh nghệm điều trị Lục tổng huyệt
là 6 huyệt dùng để điều trị bệnh cho 6 vùng cơ thể khác nhau Trong đó Liệt khuyết chủchữa bệnh vùng cổ gáy, Ủy trung chủ chữa bệnh vùng lưng và thắt lưng
1.3 Điều hòa nhiệt độ cơ thể
1.3.1 Định nghĩa thân nhiệt [10]
Thân nhiệt là nhiệt độ cơ thể Người ta chia thân nhiệt thành hai loại: thân nhiệt trung tâm và thân nhiệt ngoại vi
Thân nhiệt trung tâm: đo ở những vùng nằm sâu trong cơ thể, là nhiệt đó ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ các phản ứng sinh học xảy ra trong cơ thể, là mục đích của hoạt động điều nhiệt, thường được giữ cố định, ít thay đổi theo môi trường
Thân nhiệt ngoại vi: đo ở da, thay đổi theo nhiệt độ môi trường xung quanh
Điều hòa thân nhiệt: gọi tắt là điều nhiệt, là một hoạt động có tác dụng giữ cho thân nhiệt dao động ở một khoảng rất hẹp Trong khi nhiệt độ môi trường sống thay đổi Vì vận tốc các phản ứng hóa học trong cơ thể, vị sự hoạt động tối ưu của hệ thống enzyme tùy thuộc vào thân nhiệt, nên muốn cơ thể hoạt động bình thường thì thân nhiệt phải giữổn định Có thể coi điều nhiệt là một hoạt động nhằm đảm bảo hằng tính nội môi
Thân nhiệt là kết quả của hai quá trình đối lập nhau: sinh nhiệt và thải nhiệt
1.3.2 Thân nhiệt bình thường [10]
Bình thường thân nhiệt giao động trong khoảng 36.3 – 37.1°C Thân nhiệt ở hậu môn biểu hiện đúng nhất, nhiệt độở miệng thường thấp hơn nhiệt độ ở trực tràng khoảng 0.2 – 0.5°C, dễ đo nên thường được dùng để theo dõi tình trạng bệnh, nhưng bịảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nước uống nóng hay lạnh, ăn kẹo nhai, hút thuốc và có thở miệng trước khi đo không Nhiệt độ ở nách thấp hơn trực tràng 0.5 - 1°C và dễ đo, thường được dùng theo dõi thân nhiệt người bình thường
Trang 26Thân nhiệt ngoại vi ở da, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường nhiều hơn, có thể dùng để đánh giá hoạt động điều nhiệt, cũng thay đổi theo vị trí đo: ở trán khoảng 33.5°C, ở lòng bàn tay khoảng 32°C, ở mu bàn chân khoảng 28°C
Thân nhiệt chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
Tuổi càng cao thân nhiệt càng giảm, tuy càng về sau thì mức độ giảm càng ít hơn
Nhịp ngày đêm cũng ảnh hưởng đến thân nhiệt: thân nhiệt thấp nhất lúc 6 giờ sáng và cao nhất vào buổi chiều
Thân nhiệt thấp nhất lúc ngủ, tăng khi thức, và cao hơn nếu hoạt động Sức co
cơ làm thân nhiệt tăng lên, nếu hoạt động mạnh thân nhiệt có thể tăng lên tới 40°C
Thân nhiệt cũng tăng khi xúc động có lẽ do tác dụng của thần kinh giao cảm Phụ nữ tăng thân nhiệt vào ngày rụng trứng, khi có thai thân nhiệt cũng tăng
Sự điều hòa thân nhiệt ở trẻ em không chính xác, và thường cao hơn trị số người lớn khoảng 0.5°C
Thân nhiệt tăng khoảng 0.5°C ở người cường giáp và giảm ở người suy giáp, nhưng cũng có một số người bình thường có thân nhiệt cao hơn thường xuyên
1.3.3 Quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt của cơ thể[10]
1.3.3.1 Quá trình sinh nhiệt của cơ thể
Nhiệt năng được sinh ra từ:
Chuyển hóa cơ sở là chuyển hóa năng lượng khi cơ thể có những hoạt động sinh
lý tối thiểu để duy trì sự sống như tuần hoàn, hô hấp,… các phản ứng hóa học cơ bản như chuyển hóa gluxit, protein, lipit để cung cấp năng lượng
Tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn: là năng lượng bắt buộc phải sử dụng trong quá trình đồng hóa thức ăn trong cơ thể được thải ra dưới dạng nhiệt
Trang 27 Sự co cơ: khi cơ co, các chất glucoz, lipit bị oxy hóa sinh ra năng lượng: 75% dưới dạng nhiệt Đặc biệt hiện tượng run là một nguyên nhân sinh nhiệt quan trọng
Kích thích tố cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh nhiệt của cơ thể: Epinephrine
và Norepinephrin làm tăng tốc độ chuyển hóa năng lượng, năng lượng biến thành nhiệt năng chứ không dự trữ dưới dạng ATP: tạo nhiệt nhanh nhưng ngắn hạn Thyroxin tạo nhiệt chậm nhưng kéo dài
Ở trẻ em có một loại mô mỡ đặc biệt gọi là mỡ nâu, nằm ở dưới và xung quanh
bả vai và những nơi khác trong cơ thể
1.3.3.2 Quá trình thải nhiệt của cơ thể
Phần lớn nhiệt năng được tạo ra từ những cơ quan sâu bên trong cơ thể như gan, tim, não, cơ Sau đó nhiệt năng phải được truyền từ trong cơ thể ra ngoài mặt
da, để được thải ra ngoài cơ thể Ở da có hệ thống mạch máu đặc biệt:
Hình 1.4.Cấu trúc giải phẫu của da
Trang 28Sự truyền nhiệt từ trong sâu qua lớp cách nhiệt dưới da (mô mỡ của mô dưới da) để ra ngoài mặt da được thực hiện nhờ hệ thống mạch máu này, trong đó quan trọng là hệ thống mạch máu dưới da Khi lưu lượng máu qua mạch máu tĩnh mạch cao thì nhiệt được đưa từ trong sâu ra da, ngược lại khi lưu lượng máu qua tĩnh mạch thấp, thì nhiệt được giữ sâu bên trong cơ thể Hệ thống thần kinh giao cảm chi phối độ co mạch của các tiểu động mạch và hệ thống nối trực tiếp động mạch, tĩnh mạch để cung cấp máu cho mạng tĩnh mạch của da, nên có nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thải nhiệt của cơ thể
Nhiệt năng từ mặt da được thải ra ngoài cơ thể bằng hai cách: truyền nhiệt và
Ở nhiệt độ bình thường một người không mặc quần áo có 60% nhiệt lượng được thải bằng bức xạ hồng ngoại Lượng nhiệt mà vật lạnh hơn nhận được tùy thuộc vào màu sắc của nó Vật có màu đen hấp thu toàn bộ nhiệt lượng hấp thụ tới, vật có màu trắng phản xạ toàn bộ nhiệt lượng bức xạ
Truyền nhiệt trực tiếp: Là truyền nhiệt giữa các vật tiếp xúc với nhau có khoảng 3% nhiệt lượng được thải nhiệt trực tiếp
Truyền nhiệt đối lưu: Sự truyền nhiệt của cơ thể tới xung quanh sẽ dừng lại, khi nhiệt độ không khí gần da bằng với nhiệt độ da, trừ khi không khí được đổi mới nhờ sự chuyển động của không khí cũ sang nơi khác, như khi có luồng gió chẳng hạn, có khoảng 15% nhiệt lượng được thải ra không khí Như vậy môi trường xung quanh cơ thể có chuyển động đối lưu càng nhiều
Trang 29thì cơ thể càng thải ra nhiều nhiệt, vì vậy khi dùng quạt hoặc có gió thì ta thấy mát hơn
Thải nhiệt bằng sự bốc hơi nước qua da, qua niêm mạc hô hấp:
Một gram nước bốc hơi lấy đi của cơ thể 0.58 kilocalo Có khoảng 22% nhiệt lượng được thải ra dưới dạng này
Sự bốc hơi nước qua da và đường hô hấp thường xuyên xảy ra, bình thường khoảng 600ml trong một ngày, thải ra được khoảng 12 tới 16 kilocalo mỗi giờ, đây là lượng nước mất không cảm thấy, không thay đổi theo nhiệt độ của cơ thể và nhiệt độ không khí
Mồ hôi bay hơi: đó là cơ chế chính để tản nhiệt trong quá trình tập thể dục Việc chuyển đổi của chất lỏng thành hơi cho phép cơ thể để điều chỉnh nhiệt
độ của nó Kết quả bốc hơi làm giảm nhiệt độ bề mặt
1.4 Phương pháp ghi nhiệt bằng hồng ngoại
1.4.1 Đại cương phương pháp ghi nhiệt bằng hồng ngoại
Da là một cơ quan rất quan trọng trong việc điều hòa nhiệt độ, và nhiệt độ cơ thể được điều khiển bởi sự kiểm soát kết hợp của hệ thống thần kinh trung ương và thần kinh tự trị Khi nhiệt độ của da lớn hơn nhiệt độ môi trường xung quanh, thì lượng nhiệt bức xạ từ cơ thể ra ngoài sẽ nhiều hơn lượng nhiệt bức xạ từ tường và các vật khác tới cơ thể[10] Đương nhiên lượng nhiệt bức xạ không thể nhìn thấy bằng mắt thường, bức xạ trong phổ hồng ngoại có thể được mô tả bởi các máy ảnh nhiệt Các thiết bị này là công cụ đo nhiệt độ chính xác với các mô hình đo nhiệt dộ hiện tại phương pháo này có độ nhạy nhiệt cao và phân biệt được nhiều mức nhiệt
độ khác nhau Mối quan hệ sinh lý giữa nhiệt độ và sức khỏe mô cũng là cơ sở cho việc áp dụng hình ảnh nhiệt trong y học, vì các thương tích cơ xương khớp được biết là tạo ra những thay đổi về nhiệt độ da tại chỗ [19]
Công nghệ ghi nhiệt độ bằng hồng ngoại giúp phát hiện ánh sáng hồng ngoại phát ra từ cơ thể, và xây dựng lại một bản đồ nhiệt độ định lượng và định tính của nhiệt độ bề mặt da, có thể liên quan đến tình trạng bệnh lý khác nhau và lưu lượng máu [26, 48]
Trang 30Hình 1.5 Hình ảnh hồng ngoại về sự phân bố nhiệt độ đối xứng ở cơ thể người
Công nghệ ghi nhiệt độ bằng hồng ngoại không phải là một công cụ cho thấy những bất thường giải phẫu, nhưng là một phương pháp cho thấy những thay đổi sinh lý Những lợi thế của công nghệ ghi nhiệt độ bằng hồng ngoại là không xâm lấn và không gây đau đớn, không phóng xạ, không có hại cho bệnh nhân, có thể tiến hành xét nghiệm trong một trạng thái sinh lý tự nhiên, và theo dõi theo thời gian thực nên kết quả khách quan, thời gian thử nghiệm ngắn [19, 26, 55]
Việc tản nhiệt qua da xảy ra chủ yếu dưới dạng bức xạ hồng ngoại Do vậy phương pháp ghi nhiệt độ hồng ngoại là phương pháp được lựa chọn để nghiên cứu sinh lý của nhiệt và các rối loạn chức năng nhiệt kết hợp với đau Công nghệ này nhận biết một cách tinh vi bức xạ điện từ và chuyển đổi nó thành tín hiệu điện Những tín hiệu này cuối cùng cũng được hiển thị trong màu xám hoặc các màu sắc khác đại diện cho các giá trị nhiệt độ [55]
1.4.2 Cơ chế cơ bản của ảnh nhiệt [48]
Các nền tảng lý thuyết quan trọng nhất của ghi nhiệt bằng hồng ngoại là việc phân phối nhiệt cơ thể trong một cơ thể bình thường là đối xứng Do đó, sự đối xứng của nhiệt độ cơ thể được coi là yếu tố quan trọng nhất khi giải thích hình ảnh nhiệt hồng ngoại Do đó, khi so sánh sự phân bố của nhiệt độ cơ thểở cả hai bên của
cơ thể, các điểm hoặc khu vực quan tâm được thiết lập với một kích thước bằng nhau trên mỗi bên của hình ảnh phổ nhiệt thu được, và nhiệt độ trung bình trong mỗi khu vực quan tâm được tính toán để so sánh sự khác biệt
Trang 31Thiết bị đo nhiệt độ hồng ngoại (IRT) đƣợc sử dụng để đo ánh sáng hồng ngoại phát ra từ cơ thể và hiển thị trên màn hình, và bản đồ phổ màu đƣợc thực hiện trên bức ảnh hồng ngoại thu đƣợc để tạo điều kiện giải thích trực quan
Hình 1.6.Nguyên lý đo nhiệt độ bằng camera hồng ngoại (IRT) 1.4.3 Dụng cụ đo nhiệt độ
Máy camera hồng ngoại Testo 870-1 do Đức sản xuất
Trang 32Hình 1.7 Máy camera hồng ngoại Testo 870-1
Ưu điểm của thiết bị: Cung cấp hình ảnh sắc nét, chi tiết, chất lượng cao Thiết bị
có sẵn ống kính rộng nhất (34 º x 26 º) Dễ dàng vận hành thiết bị chỉ với 1 nút điều khiển Máy Testo 870-1 tích hợp nhiều tính năng và hiệu suất trong một thiết kế nhỏ gọn dễ sử dụng Phần mềm IRSoft 4.1 đi kèm theo máy giúp phân tích hình ảnh hồng ngoại và tạo báo cáo dễ dàng
1.5 Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
Trong giới hạn sưu tầm tài liệu trong nước và nước ngoài chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da khi châm hai huyệt thuộc nhóm Lục tổng huyệt là Ủy trung và Liệt khuyết Một số công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đã được công bố:
Năm 2013 Tao Huang và cs tiến hành khảo sát ảnh hưởng của các kỹ thuật châm cứu khác nhau lên sự thay đổi nhiệt độ da tại khu vực quanh huyệt Túc tâm lý
Trang 33được kích thích trên tình nguyện viên khỏe mạnh Ba mươi bảy người tình nguyện khỏe mạnh với độ tuổi trung bình là 25,4 ± 2,2 đã được ghi danh tham gia nghiên cứu Tất cả các tình nguyện viên đã có kinh nghiệm châm cứu trước đây Mỗi thành viên trong nhóm châm cứu giả và hai lần tiến hành thủ thuật kích loại kích thích (tiến lui kim và vê kim) đối với huyệt Túc tam lý (ST 36) lần lượt trong 3 ngày liên tiếp Nhiệt độ da tại huyệt ST 36 được đo bằng máy ảnh nhiệt hồng ngoại FLIR i7 do Mỹ sản xuất
Kết quả: khi kích thích châm cứu giả, nhiệt độ da của ST 36 giảm trong 5 phút đầu tiên khi điểm đã được tiếp xúc huyệt, và sau đó tăng dần dần Trong thời gian kích thích châm cứu, nhiệt độ da tăng liên tục và sau đó giảm dần trong giai đoạn cuối
Sự gia tăng nhiệt độ do kích thích tiến lui kim tăng cao hơn đáng kể so với thao tác vê kim, sự khác biệt ở 2 thủ thuật khác nhau có thể liên quan đến cường độ kích thích vào huyệt
Năm 2002, nghiên cứu của Ping L và cs khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ da của vùng thượng vị khi thể châm huyệt Túc tam lý với thủ thuật châm tả bổ kết hợp
vê kim tốc độ nhanh khác nhau trên 8 nhóm khác nhau
Kết quả: cho thấy được thời gian gia tăng nhiệt độ vùng thượng vị khi châm cứu huyệt Túc tam lý trong 8 nhóm châm với phương pháp khác nhau
Qua 8 nhóm nghiên cứu xác định được sự gia tăng nhiệt độ nhiều nhất sau thời gian 10 phút (P < 0,05), sau đó nhiệt độ giảm dần sau châm 20 -
30 phút (P < 0,05), sau châm 30 phút nhiệt độ tại vùng thượng vị khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) [67]
Năm 2010, nghiên cứu của Song XJ và cs nghiên cứu biểu hiện nhiệt độ bằng hồng ngoại khi châm huyệt Hợp cốc và Quang minh Kết quả: Cho thấy sau khi châm huyệt Quang minh, nhiệt độ tăng lên ở các vùng xung quanh mắt hai bên, khác nhau đáng kể từ các khu vực khác trên mặt (P < 0,05) Sau khi châm Hợp cốc, tăng nhiệt độ khắp cảm mặt đặc biệt là khu vực quanh môi [31]
Trang 34 Tháng 8 năm 2012, nghiên cứu của Ling Guan và cs nghiên cứu khảo sát nhiệt
độ bằng máy hồng ngoại khi cứu huyệt Hợp cốc trên bệnh nhân bị liệt mặt thần kinh số VII ngoại biên Kết quả sau khi cứu huyệt Hợp cốc thấy có tăng nhiệt độ khuôn mặt ở người khỏe mạnh và bệnh nhân liệt mặt thần kinh số VII ngoại biên, đặc biệt là xung quanh môi [30]
Năm 2012, nghiên cứu của bác sĩ Yang Y và cs nghiên cứu khảo sát nhiệt độ trên mặt bằng máy hồng ngoại khi cứu huyệt Túc tam lý và Hợp cốc Kết quả sau khi cứu 2 huyệt này thấy tăng nhiệt độở quanh môi [60]
Qua các nghiên cứu tôi thấy có rất nhiều nghiên cứu khảo sát sự thay đổi nhiệt độ
bề mặt da khi kích thích huyệt Hợp cốc, một số nghiên cứu về huyệt Túc tam lý, nhưng chưa thấy có các nghiên cứu khảo sát các huyệt Liệt khuyết, Ủy trung, Nội quan, Tam âm giao trong nhóm Lục tổng huyệt Nhược điểm của các nghiên trên:
Các nghiên cứu chỉ khảo sát sự thay đổi nhiệt độ da theo tác dụng đặc hiệu của huyệt thuộc nhóm Lục tổng huyệt mà không khảo sát sự thay đổi nhiệt độ tại huyệt trong nghiên cứu, dọc theo lộ trình kinh tuyến có huyết đó
Các nghiên cứu thiếu so sánh tác dụng của huyệt bên trái với bên phải Thiếu xét mối tương quan giữa nhiệt độ tại huyệt với vùng tác dụng trị bệnh của huyệt cần khảo sát
Các nghiên cứu thiếu đánh giá ảnh hưởng của biến nền như mạch, huyết áp, tuổi…đến sự thay đổi nhiệt độ của cơ thể
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những người có độ tuổi từ đủ 18 đến 30 tuổi Được tuyển dụng thông qua quảng cáo trên báo tường dán ở các trường đại học tại địa bàn
TP Hồ Chí minh từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn người tình nghuyện
Người tình nguyện không phân biệt nam, nữ, nghề nghiệp
Không bị dị tật
Tinh thần tỉnh táo, tiếp xúc tốt, hợp tác với thầy thuốc
Dấu hiệu sinh tồn trong giới hạn bình thường:
Mạch: từ 60 đến 90 lần/phút
Huyết áp tâm thu: từ 90 đến 139mmHg
Huyết áp tâm trương: từ 60 đến 89mmHg
Nhiệt độ: từ 36,3 đến 37,5 độ C
Không rối loạn về thân nhiệt như bệnh Cường giáp hay Nhược giáp (hỏi và
thăm khám)
Không bị chấn thương viêm nhiễm ngoài da
Người tham gia nghiên cứu không được điều trị nhiệt trị liệu vùng cổ gáy, vùng lưng và thắt lưng như châm cứu, giác hơi, dán, hoặc massage trước đó 1 ngày
Để tránh ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra, không mát xa, gãi hoặc chà xát trong phần còn lại của giai đoạn thử nghiệm
Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 362.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Hút thuốc lá hoặc uống rượu, uống café, uống nước tăng lực vào ngày đo
Có hoạt động thức đêm trễ hơn trước đó 1 ngày
Có các hoạt động thể thao lên đến 2 giờ trước khi đo
Phụ nữ đang trong thời kỳ hành kinh, rụng trứng, có thai
Dùng kem chống nắng vùng cổ gáy hay lưng
Đang dùng một số thuốc ngủ, thuốc an thần cũng có tác dụng gây giãn mạch, hạ huyết áp
Sợ châm cứu, sợ kim, lo âu
2.1.3 Tiêu chuẩn ngưng nghiên cứu
Có bất kỳ sự gia tăng nhiệt độ bất thường > 37,1 độ C tại vùng da cần khảo sát, được chỉ ra bởi nhiệt độ bằng thiết bị camera hồng ngoại
Phương pháp châm tả không đạt được cảm giác đắc khí thông qua hỏi cảm giác của tình nguyện viên trong quá trình châm
2.1.4 Điều kiện ngưng nghiên cứu
Trong quá trình châm xảy ra các triệu chứng vượng châm: hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, nôn, da niêm nhợt
Trang 372.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu trước - sau (Before-after study)
2.2.2 Địa điển và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Phòng thăm dò chức năng – Cơ sở 3 Bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chi Minh
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2018
2.2.3 Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu: [14]
Trong đó: Chọn khoảng tin cậy 95%
C: 7,85 Hằng số C liên quan đến sai sót loại I (α = 0.05) và II (β = 0.2)
r: 0,8 Hệ số tương quan trước và sau can thiệp ở cùng một nhóm NC
ES: hệ số ảnh hưởng
d: 0,25 Độ ảnh hưởng trung bình và độ lệch chuẩn trung bình của nhiệt độ trước
và sau can thiệp
s: 0,75 Độ lệch chuẩn nhiệt độ cơ thể khi đo bằng thiết bị máy ảnh hồng ngoại
Từ đó chúng ta có n = 28.26 Vì vậy chúng tôi chọn cỡ mẫu cho mỗi nhóm: 30 Nghiên cứu gồm có 4 nhóm: 4 × 30 = 120 người sắp xếp bốc thăm ngẫu nhiên vào 4 nhóm nghiên cứu:
Nhóm 1A: châm huyệt Ủy trung bên trái (T)
Nhóm 1B: châm huyệt Ủy trung bên phải (P)
Nhóm 2A: châm huyệt Liệt khuyết bên trái (T)
Trang 38 Nhóm 2B: châm huyệt Liệt khuyết bên phải (P)
Giới tính: là biến số định tính, có hai giá trị: Nam, Nữ
BMI là biến số định lượng Được tính theo công thức: BMI = cân nặng (kg)/chiều cao2 (m2)
Mạch: là biến số định lượng Đếm số lần động mạch quay tại vị trí cổ tay nảy trong 1 phút
Huyết áp: là biến số định lượng Đo bằng máy đo huyết áp (mmHg)
2.2.5.Phương tiện nghiên cứu
2.2.5.1.Kim châm cứu: kim hào châm số 2 kích thước: 0,30 x 25mm, do công ty TNHH khánh phong sản xuất
2.2.5.2 Máy đo huyết áp cổ tay: OMRON HEM– 6111
2.2.5.3 Dụng cụ đo nhiệt độ: máy camera hồng ngoại Testo 870-1 do Đức sản xuất
2.2.5.4 Phòng tiến hành nghiên cứu[17, 30, 52]
Địa điểm: Phòng thăm dò chức năng - Cơ sở 3 Bệnh viện Đại học Y dược TP
Hồ Chí Minh
Hình ảnh được thu lại trong một căn phòng được che chắn không có đối lưu không khí, không có ánh sáng mặt trời trực tiếp hoặc nguồn bức xạ bất thường
Phòng duy trì ở nhiệt độ khoảng 25 - 26 °C và độ ẩm 80%
Các đối tượng được tiếp xúc với môi trường trong phòng 8 - 15 phút cho đến khi
Trang 39 Máy ảnh này đã được thiết lập ở khoảng cách 0,5 mét và camera được chỉnh ở một góc vuông góc với vùng da cần khảo sát
Sau khi khoảng cách cần thiết đã được thiết lập, các đối tượng được khuyên nên đứng yên cho đến khi hình ảnh đã được chụp Điều này rất quan trọng để giảm thiểu sự chuyển động để đảm bảo tính chính xác của hình ảnh chụp
Việc thu hình ảnh nhiệt độ hồng ngoại trước và sau được thực hiện với một camera ảnh nhiệt hồng ngoại Testo 870-1 do Đức sản xuất Có độ phân giải hình ảnh hồng ngoại 160x120 pixel, độ nhạy nhiệt độ< 0,1 °C, độ phát xạ 0.99 Thiết
bị được mở lên và để 10 phút cho ổn định trước khi tiến hành đo
2.2.5.5 Phân tích hình ảnh nhiệt [25, 33]
Một hình ảnh hồng ngoại đại diện cho các thông số nhiệt độ da của con người được minh họa bởi một quang phổ màu Để chuẩn hóa các phân tích của hình ành hồng ngoại trong y tế dùng, tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) khuyến cáo việc sử dụng các thang đo nhiệt độ "cầu vồng (rainbow)", hiện thị cho nhiệt độ cao với màu sắc đỏ và nhiệt độ thấp với màu xanh Để phân biệt các mô hoặc các cấu trúc tương
tự dùng thang đo nhiệt độ "cầu vồng có độ tương phản cao (rainbow contrast)"
hight-Hình 2.1 Thang đo nhiệt độ "cầu vồng tương phản cao (rainbow HC)"
Trang 40Tất cả các hình ảnh được phân tích ảnh nhiệt được tiến hành trên Laptop Lenovo Z560 bằng phần mềm IRSoft v4.2
Dựa trên các tính năng phân tích của các phần mềm được sử dụng trong nghiên cứu này, có ba hình thức đo nhiệt độ da được thực hiện:
Phân tích điểm: quanh vị trí châm cứu với bán kinh 0,7cm
Phân tích dòng: trong đó một đường thẳng nối hai điểm đánh dấu từ hai huyệt trên đường Kinh tuyến cần khảo sát
Phân tích khu vực cần quan tâm: vùng cổ gáy, vùng lưng-thắt lưng, vùng da khác trên toàn cơ thể nếu có
Các giá trị trung bình của nhiệt độ da cho hai phân tích được tính toán Giá trị tối thiểu và tối đa được ghi nhân phân tích tại điểm và khu vực quan tâm
Nếu bốc phiếu I: xếp vào nhóm 1A
Nếu bốc phiếu II: xếp vào nhóm 1B
Nếu bốc phiếu III: xếp vào nhóm 2A
Nếu bốc phiếu IV: xếp vào nhóm 2B
2.2.6.2 Quy trình tiến hành
Trên cơ sở xem xét của thường trực Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược ngày 13/10/2016 Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học số: 326/ĐHYD-HĐ chấp thuận về các khía cạnh đạo đức trong nghiên