1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá sự kháng viêm của dầu mù u trong quá trình làm lành vết thương

56 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2: Giai đoạn cầm máu trong quá trình lành vết thương Thời gian Quá trình Biểu hiện Tế bào ECM Chất điều hòa chính 0-15 phút Cầm máu Da xanh nhợt Tế bào biểu mô Epinephrine Prostagl

Trang 1

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT (TOÀN VĂN)

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ SỰ KHÁNG VIÊM CỦA DẦU MÙ U TRONG QUÁ TRÌNH LÀM LÀNH VẾT THƯƠNG

Trang 2

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT (TÓM TẮT)

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ SỰ KHÁNG VIÊM CỦA DẦU MÙ U TRONG QUÁ TRÌNH LÀM LÀNH VẾT THƯƠNG

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH

Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu:

STT Họ và tên Chuyên ngành Cơ quan công tác

1 Nguyễn Văn Linh Đại Học Cần Thơ

2 Huỳnh Kim Hiệu Đại học Y Dược TP.HCM

3 Trịnh Thị Diệu Thường Đại Học Y Dược TPHCM

Đơn vị phối hợp chính:

-Nơi thực hiện đề tài: Đại Học Y Dược TPHCM

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC HÌNH 3

DANH MỤC BẢNG 3

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

A MỞ ĐẦU 4

1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 4

2 ĐỐI TƯƠNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

B KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 35

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 50

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ECM Extracellular Matrix TIMP Tissue inhibitors of metalloproteinases VEGF Vascular endothelial growth factor TNF Tumor necrosis factors

TGF Transforming growth factor ROS Reactive oxygen species

PI Povidone-Iodine PDGF Platelet-derived growth factor IFN Interferon

MPO Myeloperoxidase MMP Matrix metalloproteinases

IL Interleukin ELISA Enzyme-linked immunosorbent assay

IC Inhibitory concentration HPLC High-performance liquid chromatography

HE Hematoxylin and eosin FGF Fibroblast growth factors

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Giai đoạn viêm trong quá trình lành vết thương(Singer & Clark, 1999) 12

Hình 2: Tương tác của các chỉ thị phân tử trong quá trình lành vết thương 18

Hình 3: Cây mù u (Calophyllum inophyllum) 24

Hình 4: Chuột nhắt trắng (Mus musculus var albino) 27

Hình 5: Tạo vết thương trên da chuột 30

Hình 6: Sắc ký đồ HPLC của mẫu chuẩn và dầu mù u A: mẫu chuẩn, B: dầu mù u 35

Hình 7: Chỉ số IC50 36

Hình 8: Kích thước gan chuột 37

Hình 9: Cấu trúc mô học của gan chuột 37

Hình 10: Trọng lượng chuột và gan chuột 37

Hình 11: Kích thước thận chuột 38

Hình 12: Cấu trúc mô học của thận chuột 38

Hình 13: Biểu đồ so sánh trọng lượng chuột và thận chuột 38

Hình 14: Hiệu quả làm lành vết thương của dầu mù u so với các nhóm khác 39

Hình 15: Cấu trúc mô vết thương của nhóm đối chứng, PI và dầu mù u 40

Hình 16: Kết quả nhuộm Masson trichrome 40

Hình 17: Tỷ lệ collagen trong da chuột sau 14 ngày 41

Hình 18: Kết quả thử nghiệm hoạt tính MPO giữa các nhóm 42

Hình 19: So sánh kích thước lách giữa các nhóm 42

Hình 20: Các đặc điểm của lách chuột ở các nhóm điều trị 43

Hình 21: Định lượng cytokine trong huyết thanh chuột 44

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tóm tắt các giai đoạn trong quá trình lành vết thương 7

Bảng 2: Giai đoạn cầm máu trong quá trình lành vết thương 8

Bảng 3: Giai đoạn viêm trong quá trình lành vết thương 10

Bảng 4: Những cytokine chính liên quan đến quá trình lành vết thương 14

Bảng 5: Vai trò của các loại tế bào liên quan đến lành vết thương 15

Bảng 6: Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương 18

Trang 7

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

A MỞ ĐẦU

1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

Việt Nam là quốc gia có nền y học cổ truyền phát triển từ lâu đời và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Y học cổ truyền của nước ta phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm của nền y dược học Trung Hoa Đây là nền y học có vai trò và ảnh hưởng rất lớn trong thực tế nghiên cứu và điều trị không chỉ ở nước ta, mà ở nhiều nước trong khu vực châu Á Các bài thuốc y học cổ truyền phần lớn dựa vào kinh nghiệm và giá thành phải chăng Vì thế, những bài thuốc y học cổ truyền rất đáng được bảo tồn và phát triển, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như nước ta Chính những tính năng ưu việt trên cũng là lý do để chúng ta xem trọng nguồn dược liệu quý giá của thiên nhiên Vì thế cần có nhiều nghiên cứu, cơ sở y văn để chứng minh và công nhận các bài thuốc và nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc đảm bảo nguồn thuốc an toàn, đúng quy cách, đúng quy trình và đúng quy chuẩn Các cây thuốc nam được phân bố rộng rãi khắp nước ta là một thuận lợi trong việc chữa và phòng bệnh trong nhân dân Sóc Trăng

là một địa phương có nền y học cổ truyền lâu đời, ở đây có 3 nền văn hóa giao thoa với nhau

là dân tộc Kinh, Hoa và Khmer, tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có một điều tra, thống kê, nghiên cứu khoa học chính thức về các bài thuốc quý của tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu sử

dụng cây cỏ tại chỗ để trị bệnh theo tinh thần của công tác chăm sóc sức khỏe hiện nay

Thiên nhiên là nguồn cung cấp dược liệu từ ngàn năm nay và có vai trò thiết yếu trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho hơn 80% dân số ở các nước đang phát triển Nhiều loại cây

và các chiết xuất từ chúng đã được sử dụng trong y học để điều trị vết thương Các chất này

có hiệu quả làm lành vết thương và tái tạo mô thông qua nhiều cơ chế phức tạp Y học cổ truyền đã sử dụng một số dược liệu để điều trị vết thương cho kết quả tốt và hạn chế tối đa tác dụng phụ Lành vết thương cấp tính là quá trình phức tạp và đặc trưng bởi 4 giai đoạn

nối tiếp nhau: cầm máu, viêm, tăng sinh và tái tạo mô[1] Nếu quá trình này bị gián đoạn thì

vết thương cấp tính có nguy cơ chuyển thành vết thương mạn tính, khi đó khả năng điều trị

lành hoàn toàn vô cùng khó khăn

Nghiên cứu về các loại dược liệu có khả năng làm lành vết thương đang phát triển ở những nơi có nền khoa học y sinh hiện đại cũng như trong y học cổ truyền trên thế giới Ở nước ta,

y học cổ truyền đã sử dụng dầu mù u như chất có khả năng kháng khuẩn, kháng oxy hóa, kháng viêm và được sử dụng để điều trị vết thương từ rất lâu Tuy nhiên, vai trò kháng viêm

Trang 8

của dầu mù u trong quá trình lành vết thương vẫn chưa được hiểu rõ Nếu quá trình viêm xảy ra quá mức và không được kiểm soát có thể tạo ra tình trạng vết thương mạn tính, dẫn đến một loạt các bệnh có liên quan như viêm khớp dạng thấp, thậm chí có thể phát triển thành ung thư Y học cổ truyền ở tỉnh Sóc Trăng cũng sử dụng các cây dược liệu để làm lành vết thương và điều trị một số bệnh trên da Trong đó, dầu mù u được sử dụng để điều trị vết thương, vết lở loét ở các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, bệnh nhân tiểu đường Mặc

dù, trên thế giới đã có nhiều công trình công bố tác dụng dược lý của dầu mù u nhưng hiện nay vẫn chưa có tiêu chuẩn, chứng nhận hay đánh giá an toàn khi sử dụng dầu mù u trong các bài thuốc y học cổ truyền để điều trị vết thương cũng như chưa hiểu rõ cơ chế làm lành

vết thương của dầu mù u

Cơ chế phân tử trong quá trình lành vết thương

Phân loại vết thương

Vết thương được phân loại như sau: dựa vào nguyên nhân gồm có vết thương hở, vết thương kín dựa và dựa vào cơ sở sinh lý của vết thương thì có vết thương cấp tính và vết thương mạn tính

Vết thương hở: Vết thương hở cũng có thể phân loại dựa trên đối tượng gây nên vết thương Các loại vết thương hở là: Vết mổ, rạch gây ra bởi vật sắc nhọn như dao, thủy tinh vỡ Vết bỏng (bỏng do nước sôi, acid, lửa ) Các vết cắt, vết thương có thể xuất hiện thường xuyên hoặc không thường xuyên, tuy nhiên trong cuộc sống không thể tránh khỏi bị những vết thương thông thường Các vết trầy da, vết thương trên bề mặt trong đó lớp da bề mặt bị mất

đi, vết trầy xảy ra do có sự cọ xát của da với bề mặt gồ ghề Chấn thương khi mất một phần

mô cơ thể, vết thương này có thể xảy ra do tai nạn, phẫu thuật cắt một phần cơ thể Ngoài ra còn có vết thương do bị đâm, đạn bắn[2]

Vết thương kín: Vết máu tụ hay còn goi là tụ máu dưới da, vết thương này có nguyên nhân

da bị va đập hoặc có nguyên nhân bệnh lý như sốt xuất huyết Thông thường các vết thương dưới da (vết thương kín) có thể tự khỏi mà không cần có biện pháp điều trị

Vết thương cấp tính: Nhiều nguyên nhân có thể gây ra vết thương cấp tính, bao gồm: bề mặt nhám cào và cọ xát lên bề mặt da; các vật sắc nhọn, chẳng hạn như một cái đinh, đâm vào cơ thể; vật sắc cạnh, chẳng hạn như lưỡi một con dao, cắt vào da gây ra một vết thương cấp tính Quá trình lành vết thương xảy ra bình thường

Vết thương mạn tính: Vết thương mạn tính là vết thương chậm liền, khó liền hoặc không thể liền được Việc xử trí các vết thương mạn tính rất khó khăn, đôi khi vết thương không liền

Trang 9

được, ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của người bệnh Vết thương không lành hoặc chậm lành có thể là do thiếu một hoặc nhiều các yếu tố cần thiết để lành vết thương Các yếu

tố đó bao gồm: nguồn cung cấp máu, oxy và chất dinh dưỡng đầy đủ cho vết thương, bệnh tiểu đường, suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng[3]

Quá trình lành vết thương

Các giai đoạn chữa lành vết thương

Da được cấu tạo chủ yếu từ hai lớp: lớp bề mặt hay còn gọi là lớp biểu bì có chức năng như rào cản đối với môi trường, lớp hạ bì bên trong chứa các mô liên kết và tạo nên đặc tính cơ học của da Lớp biểu bì gồm một lớp biểu mô keratimocyte xen kẽ với các nang

lông và các tuyến[4]

Bên cạnh vai trò bảo vệ cơ thể, da còn có chức năng điều hòa và cảm giác Cụ thể hơn, da bảo vệ tránh khỏi các tác động cơ học, áp suất, hạn chế ảnh hưởng của nhiệt độ, và bức xạ, chống nhiễm vi sinh vật Da cũng đóng vai trò quan trọng như tổng hợp vitamin D

và trong nhiều quá trình sinh lý như điều chỉnh nhiệt độ và cân bằng chất dịch trong cơ thể Dưới da có một hệ thống các tế bào thần kinh, giúp da phát hiện phát hiện các thay đổi của môi trường Quá trình lành vết thương cấp tính là một quá trình phức tạp, đặc trưng bởi 4 giai đoạn nối tiếp đó là giai đoạn cầm máu, viêm, tăng sinh và tái tạo cấu trúc[1] Các giai đoạn và quá trình sinh học xảy ra theo một chuỗi thích hợp, vào đúng thời gian cụ thể và tiếp

tục theo đúng chu kỳ như trong Bảng 1[1, 5]

Trang 10

Bảng 1: Tóm tắt các giai đoạn trong quá trình lành vết thương

Giai đoạn Quá trình

Tế bào sừng xâm lấn, tăng sinh và biệt hóa

Đóng góp từ tế bào gốc nang lông

Tái cấu trúc

Tổ chức và cấu trúc lại của chất nền ngoại bào

Hình thành nguyên bào sợi

Vết thương co lại

Tế bào chết theo chương trình apotosis

Giai đoạn cầm máu

Quá trình lành vết thương bắt từ lúc cầm máu Biểu hiện của hiện tượng đông máu

đó là hình thành cục máu đông và hết chảy máu Ở mức độ tế bào, thành phần trung gian quan trọng của hiện tượng đông máu đó là fibrin, tiểu cầu và mạch máu Vai trò của các thành phần này trong quá trình lành vết thương không kết thúc khi máu ngừng lại Thay vào

đó, mỗi thành phần sẽ tham gia vào một phức hợp chưa tổng hợp và chuỗi tái tạo của các sự kiện xảy ra trong suốt quá trình lành vết thương Ngay sau khi bị thương, cục máu đông sẽ hình thành và có thể nhìn thấy Các cục máu đông không chỉ góp phần cầm máu mà còn có tác dụng như một mạng lưới bảo vệ tạm thời cho đến khi các tế bào viêm, nguyên bào sợi, yếu tố tăng trưởng đến nơi bị thương Thành phần chính của cục máu đông có thể nhìn thấy

Trang 11

chính là fibrin và tiểu cầu Bảng 2 tóm tắt các sự kiện liên quan đến giai đoạn cầm máu

trong quá trình lành vết thương Fibrin là sản phẩm của sự phân giải khi fibrinogen kết hợp với thrombin Fibrin không hòa tan và kết hợp chéo với yếu tố XIII, sau đó fibrin kết hợp trực tiếp với tiểu cầu và hình thành cục máu đông[6]

Bảng 2: Giai đoạn cầm máu trong quá trình lành vết thương

Thời

gian

Quá trình

Biểu hiện

Tế bào

ECM Chất điều hòa

chính 0-15

phút

Cầm máu

Da xanh nhợt

Tế bào biểu

Epinephrine Prostaglandins Thromboxane

Hình thành cục máu đông

Tiểu cầu

Tế bào biểu

Fibrin Fibronectin

Thrombin

Nếu cục máu đông hình thành mà thiếu yếu tố XIII sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương và thiếu fibrinogen cũng không ngăn cản vết thương lành nhưng Drew AF

và cộng sự đã chứng minh ở chuột nếu thiếu fibrinogen sẽ tạo ra các tế bào biểu mô xâm lấn

vô tổ chức và giảm cường độ vết thương[7] Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh sự cần thiết của fibrin cho sự xâm lấn của tế bào và hình thành chất nền ngoại bào (extracellular matrix – ECM) Chẳng hạn, fibrin tham gia trong giai đoạn viêm bằng cách gắn với integrin CD11b/CD18, một thụ thể được tìm thấy trong bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính Các tế bào biểu bì và nguyên bào sợi cũng gắn kết với fibrin thông qua integrin αvβ3[6] Fibrin cũng đóng vai trò là một kho phục vụ cho một số yếu tố tăng trưởng và cytokine

Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF)-2 và yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) kết hợp với fibrin và kích thích sự hình thành mạch, trong khi yếu tố tăng trưởng tương tự insulin (IGF)-1 kết hợp với fibrin và kích thích chức năng tế bào sinh dưỡng và

Trang 12

tăng sinh[8] Mặc dù chức năng của fibrin quan trọng trong suốt quá trình lành vết thương, nhưng nó sẽ thoái hóa ngay sau khi hình thành cục máu đông Quá trình thoái háo xảy ra dựa vào plasminogen, được hoạt hóa bởi chất hoạt hóa plasminogen mô, sản phẩm tổng hợp của

tế bào biểu bì[6] Tiểu cầu được hoạt hóa bởi thrombin thông qua glycoprotein Ib và thụ thể hoạt hóa protease (PAR) 1 và 4[9] Khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ gia tăng số lượng thụ thể trên bề mặt, phóng thích các hạt, và tập trung lại Các hạt do tiểu cầu phóng thích co chức năng như nơi chứa các protein có hoạt tính sinh học, tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình làm lành vết thương Những hạt khác phóng thích yếu tố tăng trưởng, như yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu, TGF-β, FGF-2, VEGF, HGF, IGF, EGF, S1P Trên

mô hình chuột, không có sự hiện diện của tiểu cầu cũng không ảnh hưởng đến lành vết thương[10] Tuy nhiên, đáp ứng viêm bị thay đổi, số lượng đại thực bào và tế bào T giảm rất đáng kể Từ những kết quả trên cho thấy vai trò quan trọng của tiểu cầu trong cầm máu và viêm trong quá trình lành vết thương

Giai đoạn viêm

Viêm là một cơ chế quan trọng để bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh Trong quá trình lành vết thương, giai đoạn viêm thường bắt đầu ngay sau khi bị thương và thường kéo dài từ 4 đến 6 ngày và một số trường hợp có thể kéo dài đến 2 tuần[11] Viêm được biểu hiện bằng các triệu chứng ban đỏ, nóng, sưng và đau là kết quả của sự giãn mạch và tăng tính thấm qua màng Đáp ứng viêm trong vết thương đóng vai trò quan trọng trong cả lành vết thương bình thường và bệnh lý Ngay sau khi bị thương, hệ thuống miễn dịch trong cơ thể được kích hoạt, để đáp ứng viêm tại chỗ bao gồm việc thu hút các tế bào gây viêm Đáp ứng này xảy ra nhanh, kích thích tiểu cầu đến vị trí vết thương cũng như các kích thích các

tế bào mast Các tế bào miễn dịch tại chỗ, bao gồm các đại thực bào, được kích hoạt bởi các chất trung gian gây viêm được phóng thích từ đáp ứng của vết thương[12] Những thay đổi của mạch tạo ra cổng giữa mạch máu với vết thương và tạo điều kiện cho huyết thanh thoát

ra khỏi mạch máu đi đến vết thương Trong giai đoạn này, các thành phần của quá trình đông máu sẽ ngăn cản sự mất máu và dịch, trong khi các con đường viêm sẽ loại bỏ mảnh

vở tế bào và các vi sinh vật Ở mức độ tế bào, những quá trình sinh lý này thay đổi rất phức tạp của hệ thần kinh, cytokine, chemokine và các yếu tố tăng trưởng[13] Sự giãn mạch và tăng tính thấm được kích thích bởi một số yếu tố và trong nhiều trưởng hợp cả hai hiện tượng này được kích thích bởi những yếu tố tương tự hệ thần kinh đóng vai trò trong quá

Trang 13

trình viêm bằng cách điều hòa giãn mạch và tăng tính thấm bởi các kích thích “antidromic” của thần kinh giao cảm[7]

Tế bào mast tạo ra một số lượng lớn các chất trung gian vận mạch như histamine, leukotriene C4 và D4, tất cả các chất này đều kích thích giãn mạch[14] Histamine cũng gián tiếp làm giãn mạch khi nó kích thích gia tăng tạo ra prostaglandin Kinin, một sản phẩm phụ trong quá trình đông máu, cũng làm tăng tính thấm màng[15] Thrombin không chỉ tham gia vào quá trình đông máu thông qua hoạt hóa tiểu cầu mà còn góp phần vào quá trình viêm bằng cách kích thích tăng tính thấm Các yếu tố bổ sung C3a và C5a đóng vai trò kép để kích thích giãn mạch và làm hóa ứng động các tế bào viêm giúp các tế bào này xâm nhập vào vết thương thông qua quá trình xuyên mạch và kéo dài quá trình viêm Những tế bào đa nhân (PMN) là tế bào viêm đầu tiên đến vị trí vết thương trên da

Bảng 3: Giai đoạn viêm trong quá trình lành vết thương

Tế bào Chất nền

ngoại bào

Chất điều hòa chính

Tế bào biểu

Tế bào Mast Bạch cầu trung tính Các đại thực bào

Tế bào lympho T

Hình thành phức hợp fibrin tạm thời

Hệ thần kinh giao cảm Histamine, Kinins, Leukotrienes, Thrombin, Hợp phần protein, PDGF, IL-8, GRO-

α/CXCL-1, TGF-β, IL-1α, IL-1β, IL-

6, TNF-α

Một số yếu tố tăng trưởng và cytokine như PDGF, interleukin (IL)-8, thụ thể gen ung thư liên quan tăng trưởng (GRO)-α/CXCL1 chemokine (C-X-C motif), gắn vào PMN để đến

Trang 14

vết thương[8] Trong vết thương không bị nhiễm, PMN tồn tại trong thời gian ngắn, thường đạt số lượng cực đại trong khoảng 24-48 giờ Trong khoảng thời gian này, PMN làm sạch vết thương bằng cách loại bỏ các mảnh vỡ tế bào, các dị vật cũng như vi sinh vật (Singer, 1999) Ngoài ra, PMN là nguồn chính tạo ra các cytokine viêm như IL-α, IL-1β, IL-6, TNF- α[8] Cơ chế hoạt động của PMN bao gồm chết theo chương trình, đại thực bào và đào thải

Bảng 3 và Hình 1 tóm tắt các sự kiện xảy ra ở giai đoạn viêm trong quá trình lành vết

thương Giai đoạn viêm có thể chia thành pha sớm và pha muộn tùy thuộc vào thời gian đáp ứng của các tế bào viêm có liên quan

Pha viêm sớm (khoảng 1-2 ngày): bắt đầu bằng sự kích hoạt các con đường tín hiệu

để thu hút sự xâm nhập của các bạch cầu trung tính (bạch cầu đa nhân) vào vết thương trong vòng từ 24-48 giờ bởi một số chất hướng hóa như các mảnh vỡ của các protein ngoại bào, TGF-β, các yếu tố bổ sung, các chất formyl-methionyl được tiết ra từ vi khuẩn Trong khoảng thời gian ngắn, các bạch cầu đa nhân bắt đầu hoạt động, di chuyển qua thành mạch đến vết thương và tiêu các loại vi khuẩn cũng như dị vật bằng cách tiết ra các loại enzyme phân hủy Trong giai đoạn này, các tế bào ở mép vết thướng bắt đầu tăng cường hoạt động phân bào Trong vòng 24-48 giờ, các tế bào biểu mô ở cả 2 mép bắt đầu di chuyển và tăng sinh cùng với lớp hạ bì, các thành phần khác của màng đáy cũng hoạt động tương tự Hoạt động của các bạch cầu đa nhân thường dừng lại trong vài ngày sau khi bị thương (sau khi làm sạch vết thương) Các tế bào dư thừa cũng được loại bỏ bằng các đại thực bào Chức năng chính của bạch cầu đa nhân là làm giảm đến mức tối thiểu vi khuẩn nhiểm vào vết thương, từ đó ngăn ngừa nhiễm trùng

Pha viêm muộn (2-3 ngày): khi di chuyển đến vùng vết thương, các tế bào bạch cầu đơn nhân trải qua quá trình thay đổi kiểu hình để trở thành đại thực bào Bạch cầu đơn nhân

bị thu hút về vùng vết thương bởi nhiều chất hướng hóa như: các thành phần bổ sung, các thành phần của quá trình đông máu, mảnh vở của immunoglobulin G, các sản phẩn phân hủy của collagen và elastin, cytokine (leukotrin B4, yếu tố tiểu cầu IV, PDGF, TGF-β).Đại thực bào là tế bào có vai trò quan trọng từ lúc này cho đến sau (48-72 giờ) trong giai đoạn viêm

và hoạt động như các tế bào có vai trò điều hòa chính trong việc sửa chữa Ngoài ra, các tế bào này còn có chức năng như các tế bào thực bào cũng như là nơi tiết ra các yếu tố tăng trưởng để đáp ứng cho quá trình tăng sinh: tạo ra chất nền ngoại bào bằng nguyên bào sợi, các tế bào cơ trơn, các tế bào nội mạc để hình thành mạch Đại thực bào còn phóng thích emzyme phân giải protein (collagenase) để loại bỏ các mô ỏ vết thương bị hoại tử Nếu cạn

Trang 15

kiệt đại thực bào, việc lưu thông của bạch cầu đơn nhân và đãi thực bào là nguyên nhân gây

ra sự thay đổi trong quá trình lành vết thương, dẫn đến việc loại bỏ mô hoại tử giảm, trì hoãn

sự tăng sinh của nguyên bào sợi, không hình thành đủ mạch máu

Các yếu tố tăng trưởng (như TGF-α, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản) được tiết ra bởi bạch cầu đa nhân và đại thực bào tiếp tục kích thích phản ứng viêm Trong suốt giai đoạn viêm, sợi collagen hiện diện ở mép vết thương, nhưng định hướng theo chiều dọc

là không nối qua 2 mép vết thương Tế bào biểu mô tiếp tục tăng sinh, tạo thành một lớp biểu bì dày phủ lên vết thương[16] Nếu quá trình viêm xảy ra quá mức và không được kiểm soát có thể tạo ra tình trạng vết thương mạn tính, dẫn đến một loạt các bệnh có liên quan như viêm khớp dạng thấp, xơ hóa thậm chí là ung thư[17] Các nghiên cứu trước đây chứng minh rằng nitric oxide được tạo ra quá mức là nguyên nhân gây viêm và ung thư[18]

Hình 1: Giai đoạn viêm trong quá trình lành vết thương[19]

Chú thích:

Blood vessel: mạch máu; Dermis: lớp hạ bì; Epidermis: lớp biểu bì; Fat: mỡ; Fibrin clot: cục máu đông; Fibrolast: nguyên bào sợi; Macrophage: đại thực bào; Neutrophil: bạch cầu trung tính; Platelet plug: nút tiểu cầu; TGF: Transforming growth factor (yếu tố tăng trưởng chuyển hóa); FGF: Fibroblast growth factor (yếu tố tang trưởng nguyen bào sợi); VEGF: Vascular endothelial growth factor (yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu); PDGF: Platelet-derived growth factor (yếu tố tăng

Trang 16

trưởng nội mô nguồn gốc tiểu cầu) KGF: Keratinocyte growth factor (yếu tố tăng trưởng keratinocyte)

Giai đoạn tăng sinh

Sự tăng sinh và tái tạo mô có vai trò quan trọng trong quá trình lành vết thương Tế bào sừng là mấu chốt cho giai đoạn tái tạo biểu mô và có liên quan đến sự tiết cytokine để kích hoạt các tế bào khác, tăng tiết yếu tố tăng trưởng để tăng cường hình thành collagen và mạch máu mới, tế bào di chuyển và tăng sinh để tạo mô mới hoàn toàn[20] Tế bào sừng thay đổi hình thái và bắt đầu xâm lấn sau khi bị thương, trở thành phẳng và thon dài hơn khi đến vùng xung quanh mép vết thương Sự thiếu hụt “hemidesmosomes” và “desmosomes” cũng được quan sát thấy khi tế bào sừng xâm lấn[21] Tế bào sừng có thể tồn tại song song 2 trạng thái tùy thuộc vào tình trạng của lớp biểu bì: trong lớp biểu bì khỏe mạnh, tế bào sừng

ở trạng thái biệt hóa cao nhưng sau khi chấn thương kiểu hình tế bào sừng hoạt hóa phổ biến hơn[22] Giai đoạn tăng sinh bắt đầu chỉ sau vài giờ khi bị thương, tại ranh giới giữa mô hạt

và cục máu đông với sự xâm lấn và tăng sinh của tế bào sừng từ mép vết thương cũng như

từ những phần bị thương khác như tuyến mồ hôi, lông để tạo thành rào chắn chống lại mầm bệnh[23]

Giai đoạn tái tạo cấu trúc mô

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình lành vết thương, bắt đầu từ 2-3 tuần sau khi

bị thương và kéo dài ít nhất 1 năm Trong giai đoạn này, mô hạt dần dần chuyển thành mô sẹo trưởng thành bởi quá trình phân giải collagen[8] Hầu hết các loại tế bào tham gia vào quá trình lành vết thương trước đây như tế bào nội mô, myofibroblasts, đại thực bào đã trải qua quá trình chết theo chương trình apoptosis hoặc còn lại ở vị trí vết thương và còn một vài tế bào còn lại với collagen và protein ECM Sau vài tháng, các mô đã sửa chữa sẽ được củng cố bằng collagen loại III thay thế cho collagen loại I, xảy ra quá trình trung gian metalloproteinases được tiết ra từ nguyên bào sợi, đại thực bào và tế bào nội mô[24] Tuy nhiên, không giống như da bình thường, vết thương không bao giờ đạt được 100% cấu trúc, hình dạng và tổ chức collagen, và không bao giờ có được làn da hoàn hảo như trước[25]

Vai trò của một số cytokine và yếu tố tăng trưởng trong quá trình lành vết thương

Quá trình lành vết thương được điểu hòa chặt chẽ bởi lượng lớn cytokine và yếu tố tăng trưởng thông qua các con đường truyền tín hiệu phức tạp Trong suốt quá trình này, cytokine và yếu tố tăng trưởng đóng vai trò như chất biệt hóa trung gian quan trọng, sự tăng sinh, trưởng thành và nhiều chức năng khác của tế bào góp phần làm lành vết thương[26]

Trang 17

Các cytokine đã được nghiên cứu rộng rãi vì chúng có vai trò quan trọng quá trình lành vết thương, điều hòa hoạt động của các tế bào tiết ra các đáp ứng để làm lành mô bị tổn thương Một loạt các ECM, cytokine và yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tế bào sừng đã được hoạt hóa trong suốt giai đoạn tăng sinh và tái tạo biểu mô của quá trình lành vết thương và hoạt động như chất hướng hóa để sau đó kích hoạt nguyên bào sợi, tế bào nội mô và tế bào lympho cũng như các tế bào sừng lân cận[27] Các cytokine và yếu tố tăng trưởng như IL-1

và TNF-α có vai trò điều hòa hoạt hóa tế bào sừng, TGF-α là chất trung gian giúp tế bào sừng tăng sinh Nhưng khi vết thương đã lành, TGF-β có nguồn gốc từ da-nguyên bào sợi, hoạt động như một chất điều hòa để ức chế sự tăng sinh của tế sừng và gia tăng tổng hợp ECM IFN-γ được phát hiện nhiều trong biểu hiện của keratin-17, một protein được biểu hiện trong nhiều mô khỏe mạnh và có đặc tính giúp co mô IFN-γ được cho là đã góp phần vào đặc tính co của tế bào sừng trong giai đoạn sau khi vết thương đã lành[27]

Bảng 4: Những cytokine chính liên quan đến quá trình lành vết thương

Cytokine Nguồn gốc Hoạt tính sinh học

Gây viêm (pro-inflammatory cytokines)

(TNF-α) Đại thực bào

↑PMN bám vào thành mạch và gây độc tế bào

IL-6 Đại thực bào, tế bào sừng,

PMN ↑Nguyên bào sợi tăng sinh

IL-8 Đại thực bào, nguyên bào sợi

↑Đại thực bào và PMN hóa hướng động

Trang 18

IL-4 Tế bào lympho T, bạch cầu

ưa base, tế bào mast

↓Tổng hợp IL-1, IL-6, TNF-α

↑Nguyên bào sợi tăng sinh, tổng hợp collagen

IL-10 Tế bào lympho T, đại thực

bào, keratimocyte

↓Tổng hợp IL-1, IL-6, TNF-α

↓Đại thực bào và hoạt hóa PMN

Những cytokine liên quan đến quá trình lành vết thương được tóm tắt trong Bảng 4

và vai trò của một số tế bào liên quan đến quá trình lành vết thương được trình bày trong

Bảng 5

Các cytokine gây viêm đóng vai trò quan trọng trong quá trình lành vết thương Bạch cầu trung tính và đại thực bào là nguồn chính tạo ra các cytokine gây viêm bao gồm IL-1, IL-6, IL-8 và TNF-α Những cytokine gây viêm được tăng điều hòa trong suốt giai đoạn viêm của quá trình lành vết thương Các cytokine này kết hợp với nhau để ngăn ngừa nhiễm trùng, kích thích tế bào di chuyển và kích hoạt các tế bào miễn dịch Ngoài ra, các cytokine cũng có thể điều hòa các nguyên bào sợi và các tế bào biểu mô để tái tạo lại mô bị hư hỏng IL-1 được tạo ra từ bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân, đại thự bào và tế bào sừng Sau khi bị thương, IL-1 được phóng thích từ tế bào sừng

Bảng 5: Vai trò của các loại tế bào liên quan đến lành vết thương

Tế bào Vai trò

Tiểu cầu

Hình thành cục máu đông Hạt α là nguổn giàu chất trung gian gây viêm trong

đó có cytokine Kích thích viêm Bạch cầu trung

tính

Tế bào đầu tiên xâm nhập đến vết thương Thực bào và tiêu diệt vi khuẩn xâm nhập Bạch cầu đơn Đại thực bào và tiêu diệt vi sinh vật

Trang 19

Tế bào lympho Làm sạch vết thương

Có thể tạo ra cytokine trong một số loại vết thương

Nguyên bào sợi

Tạo ra các thành phần của ECM bao gồm collagen, fibronectin, hyaluronic acid, proteoglycan

Tổng hợp mô hạt Ngoài ra, do hiệu ứng cận tiết, nó cũng hoạt động như chất tự tiết giúp tế bào sừng xâm lấn và tăng sinh IL-1 cũng đã được chứng minh giúp tăng biểu hiện của K6 và K16 trong quá trình xâm lấn của tế bào sừng, ngoài ra IL-1 giúp hoạt hóa nguyên bào sợi và tăng bài tiết FGF-7[28] IL-1 còn có vai trò trong sự tăng sinh của tế bào sừng, tế bào nội mô, kích hoạt các bạch cầu tring tính, tế bào miễn dịch, tế bào T, tế bào B và đại thực bào tại vị trí vết thương Ngay sau khi bị thương, tiền chất IL-1 được phóng thích bởi các tế bào sừng, hoạt động như là tín hiệu ban đầu để thu hút các bạch cầu trung tính đến nơi bị thương Bạch cầu trung tính đáp ứng viêm bằng cách tiết ra IL-1α và IL-1β Tương tự IL-1, TNF-α có thể làm tăng tiết FGF-7, và gián tiếp thúc đẩy việc tái tạo biểu mô, nhưng ức chế tái tạo biểu mô

ở vết thương Hiệu quả của TNF-α phụ thuộc vào nồng độ và thời gian, đặc biệt trong việc cân bằng các tín hiệu viêm làm lành vết thương Ở nồng độ thấp, TNF-α giúp vết thương mau lành bằng cách gián tiếp kích thích viêm và các đại thực bào tăng tiết các yếu tố tăng trưởng Tuy nhiên, ở nồng độ cao hơn và trong thời gian dài, TNF-α lại có hiệu quả ngược lại TNF-α ức chế tổng hợp protein ECM và TIMP trong khi làm tăng tổng hợp chất nền MMP (Matrix metalloproteinases) như MMP-1, MMP-2, MMP-3, MMP-9, MMP-13 và MT1-MMP Ngoài ra, nồng độ IL-1β cũng đáp ứng tương tự TNF-α, cả hai đều kéo dài biểu hiện biểu hiện cho nhau và do đó khuếch đại các tín hiệu này Trong vết thương mạn tính, nồng độ IL-1β và TNF-α tăng cao, một phần là do vết thương mãn tính thường nhiễm trùng

do đó kéo dài thời gian viêm[29] Ngoài ra, vết thương không lành cũng xuất hiện collagenases, gelatinases và stromelysins được chứng minh có liên quan đến IL-1β và TNF-

α Do đó, vết thương mạn tính, viêm mạn tính là nguyên nhân khiến cho các tế bào viêm tăng tiết IL-1β và TNF-α làm tăng tổng hợp MMP trong khi tổng hợp TIMP giảm MMP tăng làm phân hủy ECM từ đó ức chế tế bào xâm lấn và làm tích tụ collagen, MMP còn làm

Trang 20

phân hủy các yếu tố tăng trưởng và thụ thể trên tế bào[30] IL-6 có nguồn gốc từ nguyên bào sợi, đại thực bào, tế bào nội mô và tế bào sừng là một cytokine quan trọng có ảnh hưởng đến việc hình thành mô hạt, tái tạo biểu mô, hình thành mạch và tái tạo

Ngoài ra IL-6 có biểu hiện rất cao trong vết thương mạn tính, điều này cho thấy tầm quan trọng trong việc kiểm soát mức độ biểu hiện IL-6 trong quá trình lành vết thương bình thường[31] Bên cạnh những cytokine viêm, các cytokine kháng viêm cũng đã được chứng minh vai trò quan trọng trong lành vết thương Trong đó vai trò của IL-10 trong đáp ứng chữa vết thương cũng đã được nghiên cứu chi tiết IL-10 có hiệu quả trong việc hạn chế và chấm dứt phản ứng viêm Ngoài ra, nó còn điều hòa tăng trưởng hoặc biệt hóa nhiều loại tế bào miễn dịch Dựa vào những hoạt tính này cho thấy vai trò của IL-10 trong làm lành vết thương[8] Trong quá trình lành vết thương, IL-10 có khả năng ức chế sự xâm nhập của bạch cầu trung tính và đại thực bào đến vị trí vết thương cũng như biểu hiện của một vài chemokine và cytokine gây viêm IL-10 ức chế mạnh các bạch cầu trung tính xâm nhập vào vết thương và ngăn chặn các tác nhân oxy hóa gây tổn thương cho mô[32] IL-10 cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự xơ hóa do điều hòa âm biểu hiện của TGF trong đại thực bào và tế bào T, tái lập chương trình tế bào nguyên bào sợi ở vết thương để thúc đẩy quá trình tái tạo ECM bằng cách tăng điều hòa biểu hiện của chất nền MMP và giảm biểu hiện của collagen[33] IL-10 cũng ngăn chặn sự tích lũy collagen quá mức do khả năng ức chế biểu hiện của các cytokine gây viêm ở vết thương như IL-6 và IL-8[34] Từ cơ chế này, sự biểu hiện của IL-10 góp phần giải quyết giai đoạn viêm và tăng tốc giai đoạn tăng sinh của vết thương IL-10 biểu hiện quá mức tạo điều kiện cho vết thương mau lành và hạn chế tối đa sự hình thành sẹo[35] Trong quá trình lành vết thương, các thay đổi trên bề mặt có thể nhìn thấy được, nhưng đằng sau những thay đổi đó là một số quá trình phức tạp liên quan đến các loại tế bào khác nhau, yếu tố tăng trưởng, cytokine và các thành phần của chất nền ngoại bào

(ECM) được minh họa trong Hình 2

Trang 21

Hình 2: Tương tác của các chỉ thị phân tử trong quá trình lành vết thương[13]

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng làm vết thương lâu lành, những yếu tố ảnh hưởng này có thể phân loại thành: yếu tố tại chỗ và cơ thể Yếu tố tại chỗ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp lên vết thương trong khi yếu tố cơ thể liên quan đến vấn đề sức khỏe, tình hình bệnh tật, được tóm tắt trong Bảng 6

Bảng 6: Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương

Thiếu máu cục bộ Bệnh: tiểu đường, sẹo lồi, xơ hóa, rối loạn, béo phì Thuốc: glucocorticoid steroids, non-steroidal anti-inflammatory, hóa trị liệu

Hút thuốc và uống rượu Suy giảm miễn dịch: ung thư, AIDS, xạ trị Dinh dưỡng

Trang 22

Các yếu tố tại chổ

Oxy hóa

Oxy rất quan trọng trong chuyển hóa tế bào, đặc biệt tham gia tổng hợp năng lượng ATP, và tham gia vào quá trình làm lành vết thương Nó ngăn chặn vết thương không bị nhiễm trùng, giúp hình thành nhiều mạch máu, tăng biệt hóa tế bào tế bào sừng, xâm lấn, táo tạo biểu mô, tăng cường sự tăng sinh của nguyên bào sợi và tổng hợp collagen, giúp vết thương co lại[36] Ngoài ra, tăng mức độ sản xuất superoxide (tác nhân quan trọng có khả năng oxy hóa để tiêu diệt mầm bệnh) của các bạch cầu đa nhân là rất quan trọng và phụ thuộc vào lượng oxy Do mạch máu bị sự cố và mức độ tiêu thụ oxy cao để tế bào thực hiện trao đổi chất, vùng vi môi trường gần vết thương bắt đầu thiếu và cạn kiệt oxy Một vài điều kiện cơ thể, trong đó bao gồm tuổi và bệnh tiểu đường, có thể làm cho suy mạch máu, do đó trong giai đoạn này mô thiếu oxy trầm trọng Việc thiếu oxy ở vết thương mạn tính là đáng chú ý, chỉ có 5-20 mmHg, trong khi ở mô bình thường lượng oxy từ 30-50 mmHg[37] Trong vết thương, khi không được cung cấp oxy vết thương sẽ lâu lành Thiếu oxy máu tạm thời sau khi bị thương tạo kích thích làm lành vết thương, nhưng thiếu oxy kéo dài hoặc thiếu oxy mạn tính sẽ trì hoãn quá trình hồi phục[36] Đối với vết thương mạn tính, thiếu oxy máu như là một tín hiệu kích thích nhiều quá trình làm lành vết thương

Thiếu oxy sẽ kích thích các đại thực bào, tế bào sừng và nguyên bào sợi tăng cường sản xuất cytokine và các yếu tố tăng trưởng Các cytokine được tạo ra để đáp ứng với điều kiện thiếu oxy bao gồm PDGF, TGF-β, VEGF, TNF-α và endothelin-1 có vai trò quan trọng trong để khởi động quá trình tế bào tăng sinh, xâm lấn và hướng hóa, kích thích hình thành mạch máu trong lành vết thương[38] Quá trình lành vết thương bình thường, các gốc tự do như H2O2 và O2 đóng vai trò như các chất trung gian di động để kích thích các quá trình quan trọng có liên quan đến lành vết thương, trong đó có khả năng linh động của tế bào, hoạt động của các cytokine (bao gồm cả các tín hiệu của PDGF) và sự hình thành mạch máu Cả thiếu oxy máu và oxy đều làm tăng lượng ROS, nhưng mức độ ROS vượt quá ngưỡng có lợi

sẽ gây tổn thương cho mô[38] Mức độ oxy thích hợp là rất quan trọng cho việc lành vết thương một cách tối ưu Thiếu oxy máu sẽ kích thích làm lành vết thương bằng cách phóng thích các yếu tố tăng trưởng và hình thành mạch máu mới, trong khi oxy cần thiết để duy trì quá trình làm lành

Nhiễm trùng

Trang 23

Khi da bị tổn thương, các vi sinh vật từ môi trường có cơ hội xâm nhập vào bên trong

cơ thể Tình trạng nhiễm trùng và trạng thái nhân bản của vi sinh vật giúp xác địn và phân loại vết thương như có bị nhiễm bẩn, có sự xâm nhập của vi sinh vật, nhiễm trùng tại chỗ hoặc nhiễm trùng xâm lấn[39] Viêm làm một phần của quá trình lành vết thương bình thường nhưng có vai trò quan trọng để loại bỏ ổ nhiễm vi sinh vật Tuy nhiên, trong trường hợp khử trùng không có hiệu quả, tình trạng viêm có thể sẽ kéo dài Khi đó tại vị trí vết thương chứa cả vi sinh vật và nội độc tố dẫn đến tạo ra các cytokine gây viêm như IL-1 và TNF-α và làm giai đoạn viêm lâu hơn Nếu tình trạng này kéo dài, vết thương sẽ trở thành mạn tính và rất khó để điều trị lành, bên cạnh đó còn là nguyên nhân dẫn đến tăng lượng matrix metalloproteases (MMPs), một họ protease có thể làm phân hủy ECM

Các yếu tố khác

Tuổi

Nhiều nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu trên động vật ở mức độ tế bào và phân tử cho thấy độ tuổi có liên quan đến thời gian lành vết thương, ở những người lớn tuổi khỏe mạnh, ảnh hưởng của lão hóa làm cho vết thương lâu lành, nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng của việc làm lành[40] Vết thương lâu lành ở người già là do kết hợp với đáp ứng viêm đã bị thay đổi, chẳng hạn như tế bào T chậm xâm nhập vào vùng vết thương cùng với việc sản xuất chemokine cũng bị thay đổi và các đại thực bào giảm khả năng hoạt động[41] Nhìn chung, trên thế giới có sự khác biệt về thời gian lành vết thương giữa người già với trẻ Những nghiên cứu về lành vết thương liên quan đến tuổi tác đã chứng tỏ rằng mỗi giai đoạn lành vết thương có những đặc điểm liên quan đến tuổi trong đó bao gồm tăng cường kết tụ tiểu cầu, tăng tiết các chất trung gian gây viêm, trì hoãn việc xâm nhập của đại thực bào và

tế bào lympho, làm suy giảm chức năng của đại thực bào, giảm tiết các yếu tố tăng trưởng, trì hoãn việc tái tạo biểu mô, làm chậm quá trình hình thành mạch và tích tụ collagen, suy giảm giai đoạn tái tạo[42] Một số phương pháp điều trị để hạn chế ảnh hưởng của tuổi tác đến quá trình lành vết thương đã được nghiên cứu, trong đó việc tập thể dục đã được báo cáo giúp nhanh lành vết thương ở người già cũng như trên những con chuột già và sự cải thiện này có liên quan đến giảm lượng cytokine kháng viêm trong mô tại vết thương[40]

Hormone sinh dục

Hormone sinh dục đóng vai trò vai trọng trong lành vết thương và có mối tương quan chặt chẽ với tuổi tác Khi so sánh với phụ nữ trong cùng độ tuổi thì vết thương cấp tính ở nam giới lâu lành hơn Một phần nguyên nhân là do estrogens (estrone và 17β-estradiol) ở

Trang 24

nữ, androgens (testosterone và 5α-dihydrotestosterone, DHT) ở nam và sự hiện diện của dehydroepiandrosterone, tiền thân của các steroid, có hiệu quả đáng kể trong quá trình lành vết thương[43]

Nghiên cứu của Gilliver và cộng sự chỉ ra rằng estrogen có thể cải thiện quá trình lành vết thương ở cả nam và nữ có liên quan đến tuổi tác, trong khi androgen gây ảnh hưởng đến lành vết thương cấp tính[43] Năm 2008, Hardman và Ashcroft đã tìm thấy sự khác biệt trong biểu hiện ở vết thương giữa nam giới già so với người trẻ hầu hết có liên quan đến việc điều hòa estrogen Estrogen ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương bằng cách điều hòa một loạt các gen có liên quan đến sự tái sinh, tạo chất nền, ức chế protease, chức năng của tế bào biểu bì và các gen có liên quan đến viêm

Căng thẳng

Căng thẳng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người cũng như hành vi giao tiếp trong

xã hội và là nguyên nhân của nhiều bệnh như: tim mạch, ung thư, bị thương, tiểu đường Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng căng thẳng gây ra sự gián đoạn của hệ thần kinh nội tiết, suy yếu hệ miễn dịch và các vấn đề khác gây hại cho sức khỏe[44] Những nghiên cứu trên

cả người và động vật đã công bố cho thấy căng thẳng tâm lý làm cho vết thương lâu lành một cách đáng kể[45] Khi căng thẳng, không chỉ tăng điều hòa glucocorticoid và giảm lượng cytokine kháng viêm IL-1β, IL-6 và TNF-α mà còn làm giảm mức độ biểu hiện của IL-1α, IL-8 tại vị trí vết thương kể cả chất hóa hướng động rất cần thiết cho bước đầu trong giai đoạn viêm của quá trình lành vết thương[46, 47] Hơn nữa, glucocorticoid còn tác động đến tế bào miễn dịch bằng cách ức chế sự biệt hóa và tăng sinh, điểu hòa phiên mã, giảm biểu hiện của các phân tử bám dính tế bào điều này có liên quan đến tế bào miễn dịch[48] Chức năng của glucocorticoid tương tự như một tác nhân kháng viêm và điều hòa các phản ứng miễn dịch thông qua trung gian Th1, điều này rất cần thiết cho giai đoạn đầu của lành vết thương Như vậy, căng thẳng làm suy yếu các tế bào miễn tại vị trí vết thương, là nguyên nhân gây chậm lành vết thương một cách đáng kể[46]

Bệnh tiểu đường

Tiểu đường ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên thế giới Trong số bệnh nhân tiểu đường có khoảng 15% mắc chứng loét chân (DFU), đây là một biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường và có khoảng 84% bệnh nhân phải cắt bỏ chi dưới[49] Cả DFU

và vết thương cấp tính ở bệnh nhân tiểu đường thì quá trình lành bị khiếm khuyết do liên quan đến nhiều cơ chế sinh bệnh lý phức tạp

Trang 25

Dinh dưỡng

Từ lâu, dinh dưỡng đã được công nhận là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến lành vết thương Năng lượng, carbohydrate, protein, chất béo, vitamin và khoáng chất đều có ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương Nhiều yếu tố có thể là tác nhân làm vết thương lâu lành vì nó ảnh hưởng đến một hoặc nhiều giai đoạn của quá trình lành vết thương Ảnh hưởng của các yếu tố này không loại trừ lẫn nhau Một hoặc nhiều yếu tố có vai trò trong một hoặc nhiều giai đoạn, góp phần tạo ra kết quả của quá trình lành vết thương

Thuốc

Nhiều loại thuốc có tác dụng gây ức chế chế hình thành cục máu đông hoặc chức năng của tiểu cầu hoặc đáp ứng viêm và tăng sinh tế bào ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương Hiện nay các loại thuốc thường được sử dụng trong điều trị như glucocorticoid steroid, thuốc kháng viêm non-steroid, thuốc trị liệu hóa học Steroid glucocorticoid: thường được sử dụng như tác nhân kháng viêm, ức chế sửa chữa vết thương thông qua tác dụng kháng viêm toàn thân và ức chế đáp ứng tế bào bị thương, trong đó bao gồm tổng hợp collagen và sự tăng sinh của nguyên bào sợi Glucocorticoid làm lành vết thương không hoàn toàn[50] Ngoài ra, glucocorticoids cũng ức chế yếu tố hypoxia-inducible factor-1 (HIF-1), một yếu tố phiên mã then chốt trong lành vết thương[51]

Hút thuốc và nghiện rượu

Những bằng chứng lâm sàng và kết quả thí nghiệm trên động vật cho thấy việc uống rượu làm vết thương lâu lành, tăng tỷ lệ nhiễm trùng, ngăn cản đáp ứng viêm ban đầu, giảm hình thành mạch máu, giảm tổng hợp collagen và thay đổi sự cân bằng collagenase tại vết thương

Hướng điều trị tái tạo mô làm lành vết thương

Các vấn đề của quá trình lành vết thương thường gặp ở người như vết thương lâu lành (ở bệnh nhân tiểu đường hoặc tiếp xúc với phóng xạ) và lành quá mức (tạo sẹo lồi) Vết thương lành quá mức là do có một lượng lớn chất nền ngoại bào lắng đọng lại bởi sự thay đổi của các mạch máu tại chổ và tế bào tăng sinh Những phản ứng xơ hóa quá mức tạo thành các vết sẹo xấu làm biến dạng cơ thể, ảnh hưởng đến chức năng của cơ quan và làm sai lệch cấu trúc bề mặt (như mũi, mí mắt) Những vấn đề này thường xảy ra đối với các vết thương nặng như bỏng, trong trường hợp này sẽ được gọi là vết thương phì đại Nhưng cũng

có thể gặp ở vết thương nhỏ, sẹo lồi, có thể liên quan đến vấn đề di truyền Người ta tìm thấy trong vết sẹo xấu, sẹo lồi thì hàm lượng TGF-β tăng cao, phát hiện này dẫn đến các nổ

Trang 26

lực lâm sàng để ngăn chặn sự hình thành sẹo với các kháng thể và phân tử nhỏ trực tiếp chống lại TGF-β hoặc các chất trung gian gây viêm

Những bằng chứng gần đây cho thấy, những thay đổi về sức khỏe cũng có thể làm vết thương lành quá mức, do ảnh hưởng đến các tế bào trong vết thương Giải pháp tối ưu cho

đó là điều khiển các tế bào duy trì các tín hiệu sinh học phức tạp, cùng với các yếu tố môi trường cần thiết để điều hóa quá trình biệt hóa và tăng sinh của các tế bào này Các liệu pháp trước đây cũng đã áp dụng một phần của giải pháp này Những tiến bộ trong tề bào gốc và tế bào tiền thân đã được báo cáo về sự phân lập và đặc tính trong các tế bào da ở động vật có

vú Bên cạnh đó, những tiến bộ của ngành khoa học vật liệu đã giúp cho các tính hiệu ngoại bào hoặc nội bào hoạt động một cách chính xác theo trình tự không gian và thời gian thích hợp Phương pháp điều trị vết thương theo hướng tái và những hiểu biết về quá trình lành vết thương cũng như các mối tương quan giữa những sự kiện phân tử với những thay đổi hình thái sẽ giúp ích trong quá trính điều trị vết thương một cách tối ưu[24] Các tế bào biểu

bì tiền thân trưởng thành (thu nhận từ mẫu da hoặc các dòng tế bào) được đặt vào vật liệu sinh học nhằm tái tạo môi trường trong suốt giai đoạn tăng trưởng và phát triển khi quá trình tái tạo mô xảy ra Các thành phần của môi trường bao gồm cơ khí căng thẳng tối ưu, căng thẳng oxy và protein ngoại bào Sau khi ghép vào vị trí vết thương, những tế bào này có thể

tự cung cấp một loạt các yếu tố ngoại bào để đẩy nhanh quá trình sủa chữa mô và tái sinh Các tế bào đã tích hợp các tín hiệu môi trường và tải nạp chúng vào các effector sinh học, đây là cách tiếp cận mới để giải quyết vấn đề sửa chữa các vết thương đã bị xơ hóa Đây là hướng mới trong liệu trị vết thương, trong đó tập trung vào kiểm soát các chức năng của tế

bào

Sơ lược về cây mù u

Từ lâu, người dân Đồng bằng sông Cửu Long đã biết lấy nhân trái mù u giã nhỏ, trộn với bông gòn phơi khô quấn vào những que tre làm cây rọi thay cây đèn dầu, tuy khói mù mịt nhưng toả mùi thơm hăng hắc dễ chịu Nhưng ngày nay đèn điện đã được thay thế, cây rọi mù u không còn xuất hiện và chỉ còn lại hình ảnh trái mù u rụng trôi đầy sông rạch

Đặc điểm cây mù u

Trang 27

Hình 3: Cây mù u (Calophyllum inophyllum)

Cây mù u thuộc chi Calophyllum họ Clusiaceae Chi này có khoảng 200 loài khác nhau, riêng ở Việt Nam đã xác định được 11 loài gồm: inophyllum, dongnaiensis, thorelii, soulatri, balansae, saigonense, dryobalanoides, pisiferum, tetrapterum, membranaceum và harmandii

Cây mù u sử dụng trong nghiên cứu này thuộc loài inophyllum

Tên khoa học: Calophyllum inophyllum Tên khác: Hồ đồng, Khung tung, Khehyong,

Alexander Laurel, Laurel Wood, Laurier d’Alexandrie Cây mù u có thân gỗ lớn, có thể cao đến 20 m, đường kính 80 cm, tán xanh lục, có mủ xanh nhạt Lá đơn, mọc đối, phiến nguyên, hình trứng, láng và dày Hoa trắng pha vàng cam, thơm, tạo thành chùm 6-10 hoa, ở nách lá, đầu cành Quả có nhân cứng, tròn, đường kính khoảng 2,5 cm, một hạt, có mầm lớn, chứa nhiều dầu, không phôi nhũ[52]

Toàn bộ cây mù u đều có giá trị sử dụng cho mục đích của con người Thời điểm thu hoạch quả tốt nhất vào lúc cây 7-10 năm tuổi, quả chín rụng rồi khô cho nhiều dầu nhất Hạt dùng tươi hay ép dầu Nhựa cây, rễ và lá thu hái quanh năm, phơi khô hay tán bột [52] Cây

Trang 28

mù u phân bố rộng rãi từ Thái Lan, Malaysia đến Lào, Campuchia, Philippine, Indonesia và một số đảo ở Nam Thái Bình Dương Ngoài ra cây còn mọc ở một số tỉnh miền nam Trung Quốc, Nhật Bản và đặc biệt rất nhiều ở Ấn Độ[53] Ở Việt Nam, phân bố chủ yếu ở các vùng núi thấp thuộc các tỉnh miền Bắc, miền Trung, miền Đông và Tây Nam Bộ Cây thường mọc ở ven rừng, rừng thứ sinh và rừng ở các đảo lớn Trung bình một tấn trái mù u chiết xuất được 100 lít dầu Ở châu Âu dầu mù u được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là trong ngành y tế, dược phẩm vì từ dầu mù u còn trích ly được chất kháng viêm callophylloid

Sử dụng các bộ phận khác nhau của cây mù u như: hạt, dầu hạt, nhựa cây, rễ, lá để chữa một

số bệnh Có thể kể như: dầu ép từ hạt mù u dùng chữa ghẻ, nấm tóc và các bệnh về da nói chung, chữa viêm dây thần kinh trong bệnh phong cùi, chống nhiễm khuẩn vết thương và bôi trị thấp khớp Nước ép lá dùng làm thuốc tẩy xổ và dầu hạt cũng được chỉ định dùng để trị bệnh thấp khớp và các bệnh về da như: bệnh ghẻ, bệnh herpes mảng tròn, bệnh da Vỏ cây dùng chữa xuất huyết nội Tại Buso và Papua New Guinea, nhựa mủ từ lá được pha loãng với nước và dung dịch này được bôi lên mắt bị kích ứng và làm thuốc gây nôn và thuốc tẩy xổ

Dược tính trong dầu mù u

Trong dầu mù u có chứa các thành phần hóa học thuộc nhóm coumarin, xanthan, flavonoid các dẫn xuất chromanon, triterpene, steroid đã được chứng minh có nhiều tác dụng sinh học đáng kể như kháng virus, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm, chống ung thư, kháng oxy hóa cũng như một số hoạt tính gây độc tế bào Hợp chất calophyllolide là một

chất thuộc nhóm courmarin, đã được công bố có các hoạt tính sinh học Bhalla et al., 1980

đã báo cáo calophyllolide thuộc nhóm tác nhân chống viêm không steroid Sau đó, khả năng làm giảm tính thấm của mạch cũng đã được báo cáo[54]

Trong dầu mù u có chứa nhóm acid phenolic, có thể là do có sự hiện diện của tannin, tannin hòa tan trong nước và sự hiện diện của alkaloid tạo ra vị đắng Do có chứa các hợp chất phenol có tính acid, có thể đây là nguyên nhân tạo ra hoạt tính kháng khuẩn Vì thế dầu

mù u có hoạt tính kháng khuẩn rất mạnh Trong dầu mù u có chứa một số hoạt chất diệt khuẩn và nấm, có hiệu quả chống lại các tác nhân gây bệnh cho người và động vật Những hoạt chất kháng khuẩn bao gồm friedelin, canophyllol, acid canophyllic và inophynone[55]

Calophyllolide có tác dụng ức chế toàn bộ sự tăng trưởng của Mycobacterium tuberculosis

H37Rv khi pha loãng ở nồng độ 1/20000 không có huyết thanh và nồng độ 1/7500 với sự

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Baum, C. L., & Arpey, C. J. (2005). Normal cutaneous wound healing: clinical correlation with cellular and molecular events. Dermatol Surg, 31(6), 674-686;discussion 686 Khác
2. Behm, B., Babilas, P., Landthaler, M., & Schreml, S. (2012). Cytokines, chemokines and growth factors in wound healing. J Eur Acad Dermatol Venereol, 26(7), 812- 820. doi: 10.1111/j.1468-3083.2011.04415.x Khác
3. Benoit, S. C., Kemp, C. J., Elias, C. F., Abplanalp, W., Herman, J. P., Migrenne, S., . . . Clegg, D. J. (2009). Palmitic acid mediates hypothalamic insulin resistance by altering PKC-theta subcellular localization in rodents. J Clin Invest, 119(9), 2577- 2589. doi: 10.1172/JCI36714 Khác
4. Bielefeld, K. A., Amini-Nik, S., & Alman, B. A. (2013). Cutaneous wound healing: recruiting developmental pathways for regeneration. Cell Mol Life Sci, 70(12), 2059-2081. doi: 10.1007/s00018-012-1152-9 Khác
5. Bishop, A. (2008). Role of oxygen in wound healing. J Wound Care, 17(9), 399-402. doi: 10.12968/jowc.2008.17.9.30937 Khác
6. Boyapati, L., & Wang, H. L. (2007). The role of stress in periodontal disease and wound healing. Periodontol 2000, 44, 195-210. doi: 10.1111/j.1600- 0757.2007.00211.x Khác
7. Brem, H., & Tomic-Canic, M. (2007). Cellular and molecular basis of wound healing in diabetes. J Clin Invest, 117(5), 1219-1222. doi: 10.1172/JCI32169 Khác
8. Broughton, G., 2nd, Janis, J. E., & Attinger, C. E. (2006). Wound healing: an overview. Plast Reconstr Surg, 117(7 Suppl), 1e-S-32e-S. doi Khác
10. Cuesta-Rubio, O., Oubada, A., Bello, A., Maes, L., Cos, P., & Monzote, L. (2015) Khác
12. Drew, A. F., Liu, H., Davidson, J. M., Daugherty, C. C., & Degen, J. L. (2001). Wound-healing defects in mice lacking fibrinogen. Blood, 97(12), 3691-3698 Khác
13. Edwards, R., & Harding, K. G. (2004). Bacteria and wound healing. Curr Opin Infect Dis, 17(2), 91-96 Khác
14. Franz, M. G., Steed, D. L., & Robson, M. C. (2007). Optimizing healing of the acute wound by minimizing complications. Curr Probl Surg, 44(11), 691-763. doi:10.1067/j.cpsurg.2007.07.001 Khác
15. Freedberg, I. M., Tomic-Canic, M., Komine, M., & Blumenberg, M. (2001). Keratins and the keratinocyte activation cycle. J Invest Dermatol, 116(5), 633-640.doi: 10.1046/j.0022-202x.2001.doc.x Khác
16. G.S., S. (1999). Acute and Chronic Wounds: Nursing management (B. R.A Ed. 2nd ed.). USA: WB Saunders Publisher Khác
17. Gilliver, S. C., Ashworth, J. J., & Ashcroft, G. S. (2007). The hormonal regulation of cutaneous wound healing. Clin Dermatol, 25(1), 56-62. doi Khác
18. Glaser, R., & Kiecolt-Glaser, J. K. (2005). Stress-induced immune dysfunction Khác
22. Gosain, A., & DiPietro, L. A. (2004). Aging and wound healing. World J Surg, 28(3), 321-326. doi: 10.1007/s00268-003-7397-6 Khác
23. Gurtner, G. C., Werner, S., Barrandon, Y., & Longaker, M. T. (2008). Wound repair and regeneration. Nature, 453(7193), 314-321. doi: 10.1038/nature07039 Khác
24. Hebda, P. A., Collins, M. A., & Tharp, M. D. (1993). Mast cell and myofibroblast in wound healing. Dermatol Clin, 11(4), 685-696 Khác
25. Jean Fotie, D. S. B. (2006). Pharmacological and Biological Activities of Xanthones. Anti-Infective Agents in Medicinal Chemistry, 5(1), 15-31. doi:10.2174/18715210677475556 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w