BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ KẾT
Trang 1BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ KẾT HỢP
Trang 2BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ KẾT HỢP
Trang 3BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ KẾT HỢP
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Võ Thị Mỹ Phương
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Thoái hóa cột sống cổ theo y học hiện đại 4
1.2 Thoái hóa cột sống cổ theo y học cổ truyền 9
1.3 Đau và nguyên nhân gây đau 13
1.4 Cấy chỉ và cơ chế tác dụng của cấy chỉ 16
1.5 Tổng hợp 8 bài tập vận động cổ đơn giản và tác dụng điều trị của các nhóm động tác 22
1.6 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 25
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2 Đối tượng nghiên cứu 31
2.3 Tổ chức thực hiện 33
2.4 Phương pháp theo dõi và đánh giá: 38
2.5 Định nghĩa biến số 40
2.6 Y đức nghiên cứu 42
Trang 7CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ 43
3.1 Số liệu thống kê 43
3.2 Đặc điểm chung của đối tượng tại thời điểm trước nghiên cứu 43
3.3 Kết quả điều trị 52
CHƯƠNG 4 - BÀN LUẬN 58
4.1 Sự đồng nhất về đặc điểm của 2 nhóm trước nghiên cứu 58
4.2 Hiệu quả giảm đau của 2 phương pháp cấy chỉ và điện châm kết hợp tập vận động cổ 65
4.3 Những lợi ích của phương pháp cấy chỉ kết hợp tập vận động cổ khi so sánh với điện châm và các phương pháp giảm đau khác 70
4.4 Điểm hạn chế của đề tài 75
KẾT LUẬN 77
KIẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI: Body Mass Index (Chỉ số khối lượng cơ thể)
BN: Bệnh nhân
FDA: Food and Drug Administration (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ)
NSAID: Non-Steroidal Anti-Inflammatory Drug
QDSA: Questionnaire Douler Saint-Antoine
T0: Điểm đau thời điểm trước khi điều trị
T1: Điểm đau sau 14 ngày điều trị
T2: Điểm đau sau 28 ngày điều trị
THCSC: Thoái hóa cột sống cổ
YHHĐ: Y học hiện đại
YHCT: Y học cổ truyền
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.2: Bảng định nghĩa biến số 40
Bảng 3.1: Đặc điểm về giới tính của đối tượng trước nghiên cứu 43
Bảng 3.2: Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng trước nghiên cứu 44
Bảng 3.3: Đặc điểm về thời gian mắc bệnh của đối tượng trước nghiên cứu 45
Bảng 3.4: Đặc điểm kiểu tái phát của đối tượng trước nghiên cứu 46
Bảng 3.5: Đặc điểm mức độ lan của đối tượng trước nghiên cứu 47
Bảng 3.6: Đặc điểm về mức độ tê của đối tượng trước nghiên cứu 48
Bảng 3.7: Đặc điểm chế độ điều trị trước của đối tượng trước nghiên cứu 49
Bảng 3.8: Đặc điểm về nhóm tuổi của đối tượng trước nghiên cứu 50
Bảng 3.9: Đặc điểm về BMI của đối tượng trước nghiên cứu 51
Bảng 3.10: So sánh hiệu quả giảm đau ở mỗi nhóm qua các thời điểm T0, T1 và T2 52
Bảng 3.11: So sánh sự khác biệt về số điểm QDSA qua từng thời điểm giữa 2 nhóm 53
Bảng 3.12: So sánh hiệu quả giảm đau giữa 2 nhóm qua các thời điểm T0, T1, T2 53
Bảng 3.13: So sánh hiệu quả giảm đau theo xếp loại ở 2 nhóm 54
Bảng 3.14 So sánh hiệu quả giảm đau theo xếp loại ở 2 nhóm khi loại nhóm thất bại 56
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1: Hệ thống kiểm soát cửa 18
Hình 1.2: Chất Á phiện nội sinh chỉ huy hệ thống lưới tủy sống 19
Hình 1.3: Sơ đồ kiểm soát cảm giác đau của châm cứu 21
Biểu đồ 3.1: Phân bố giới tính ở 2 nhóm nghiên cứu 43
Biểu đồ 3.2: Phân bố nghề nghiệp ở 2 nhóm nghiên cứu 44
Biểu đồ 3.3: Phân bố thời gian mắc bệnh ở 2 nhóm nghiên cứu 45
Biểu đồ 3.4: Phân bố kiểu tái phát ở 2 nhóm nghiên cứu 46
Biểu đồ 3.5: Phân bố mức độ lan ở 2 nhóm nghiên cứu 47
Biểu đồ 3.6: Phân bố mức độ tê ở 2 nhóm nghiên cứu 48
Biểu đồ 3.7: Phân bố chế độ điều trị trước ở 2 nhóm nghiên cứu 49
Biểu đồ 3.8: Phân bố nhóm tuổi ở 2 nhóm nghiên cứu 50
Biểu đồ 3.9: Phân bố BMI ở 2 nhóm nghiên cứu 51
Biểu đồ 3.10: So sánh hiệu quả giảm đau giữa 2 nhóm qua các thời điểm T0, T1 và T2 54 Biểu đồ 3.11: Phân bố hiệu quả giảm đau theo xếp loại ở 2 nhóm nghiên cứu 55
Biểu đồ 3.12: Phân bố hiệu quả giảm đau ở 2 nhóm nghiên cứu khi loại nhóm thất bại 57
Trang 11MỞ ĐẦU
Thoái hóa cột sống cổ (THCSC) chiếm tỉ lệ 13,96% trong các bệnh Thoái hóa
cơ xương khớp, đứng hàng thứ 2 chỉ sau Thoái hóa cột sống thắt lưng (31,12%) [11] Đồng thời, THCSC là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, cũng là nguyên nhân phổ biến gây đau mạn tính ở vùng cổ gáy Một khi bệnh diễn tiến nặng có thể gây đau tê lan xuống cánh tay hoặc chân cùng bên tổn thương, khiến ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, khả năng lao động và sinh hoạt của người bệnh [24, 25]
Các phương pháp điều trị THCSC gồm có dùng thuốc và không dùng thuốc Trong điều trị dùng thuốc chủ yếu là các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, dãn
cơ Trong điều trị không dùng thuốc bao gồm các phương pháp vật lý trị liệu, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, cấy chỉ…Tuy nhiên, thoái hóa khớp là một bệnh mạn tính, do đó việc sử dụng những thuốc lâu dài sẽ gây nhiều tác dụng phụ cho người bệnh Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) khuyến cáo (2015): Việc lạm dụng các thuốc giảm đau là nguy cơ tai biến của nhiều bệnh tim mạch, tiêu hóa Như tại Mỹ nhóm thuốc kháng viêm không steroids (NSAIDs) mỗi năm làm 16.000 người chết do gây viêm loét, xuất huyết đường tiêu hóa nặng [17] Do đó, việc tìm kiếm một phương pháp điều trị THCSC kết hợp giữa YHCT và YHHĐ để đạt hiệu quả tốt và an toàn cho người bệnh là hết sức cần thiết Điều này cũng phù hợp với chiến lược của Tổ chức Y
tế thế giới đó là: Tăng cường tính an toàn, chất lượng và hiệu quả của YHCT; thúc đẩy bao phủ y tế toàn dân bằng cách lồng ghép các dịch vụ YHCT và thực hành tự chăm sóc sức khỏe vào hệ thống y tế quốc gia [23]
Châm cứu từ lâu đã được chứng minh tính hiệu quả trong điều trị Bằng cách lập lại cân bằng âm dương, điều hòa hoạt động của hệ kinh lạc từ đó làm giảm đau, phục hồi chức năng vận động, điều hoà nội tiết tố trong cơ thể Cấy chỉ là
Trang 12một phương pháp châm cứu đặc biệt, kết hợp giữa YHCT và YHHĐ Về cơ chế tác dụng cũng tương tự như châm cứu, nhưng thay vì kích thích vào huyệt mỗi ngày một lần như châm cứu thì cấy chỉ là đưa một loại chỉ tự tiêu vào huyệt để duy trì sự kích thích lâu dài [15] Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá hiệu quả tích cực, an toàn của phương pháp cấy chỉ trong điều trị đau do bệnh lý cơ xương khớp Điển hình là nghiên cứu “Đánh giá tác dụng điều trị đau vai gáy do THCSC của phương pháp cấy chỉ catgut vào huyệt” của BS Nguyễn Tuyết Trang, Đỗ Thị Phương [19] Với cỡ mẫu 30 bệnh nhân, bằng phương pháp tiến cứu, so sánh trước – sau điều trị đã thấy rằng cấy chỉ có tác dụng điều trị đau vai gáy do THCSC (hết đau ở 20% trường hợp và còn đau ít ở 80% trường hợp) Ngoài ra chưa ghi nhận tác dụng không mong muốn của phương pháp này
Và theo Chen GZ1, Xu YX, Zhang JW, Liu SH, Guo ZY, trong “Hiệu lực và đánh giá an toàn của cấy chỉ catgut vào huyệt cho mức độ chuyển hóa xương và các gốc tự do ở phụ nữ sau mãn kinh”, cỡ mẫu là 65 bệnh nhân, với phương pháp nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng đã chứng minh hiệu quả của nhóm cấy chỉ catgut là 93,9% (31/33), và của nhóm thuốc là 96,9% (31/32) (P> 0,05) Thành phần protein của xương và đặc biệt là thành phần Estradiol trong nhóm nghiên cứu đều tăng lên rõ ràng sau khi điều trị (P <0,05) Điều đó cho thấy cấy chỉ có thể điều chỉnh mức độ chuyển hóa xương và các gốc tự do của phụ nữ sau mãn kinh, vì vậy nó rất có ý nghĩa để ngăn ngừa và điều trị các bệnh thoái hóa bao gồm các chứng loãng xương và làm chậm quá trình apolexis [27]
Tập vận động cổ đơn giản bao gồm các nhóm động tác vận động khớp, kéo giãn cơ và động tác có đề kháng giúp tăng tuần hoàn vùng cổ gáy, giãn cơ, mạnh
Trang 13cơ để tạo thuận lợi trong việc giữ tư thế thăng bằng sinh lý cho cổ và cột sống
Từ đó mang lại hiệu quả giảm đau và chống tái đau cho người bệnh [33, 37] Như vậy, cấy chỉ và tập vận động cổ đều được chứng minh có tác dụng điều trị THCSC khá tốt Ngoài ra hai phương pháp này còn có ưu điểm là giảm đáng
kể thời gian, chi phí đi lại so với phương pháp điện châm cứu thông thường, hạn chế việc lạm dụng và tác dụng phụ so với thuốc giảm đau
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU LÀ: phương pháp cấy chỉ kết hợp tập vận động cổ
có hiệu quả hơn so với phương pháp điện châm kết hợp tập vận động cổ hay không?
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: Đánh giá hiệu quả giảm đau trong điều trị thoái
hóa cột sống cổ của phương pháp cấy chỉ kết hợp tập vận động cổ đơn giản
MỤC TIÊU CỤ THỂ:
1 So sánh tác dụng giảm đau của phương pháp Cấy chỉ kết hợp tâp vận
động cổ đơn giản so với phương pháp Điện châm kết hợp tập vận động cổ đơn giản
2 Khảo sát các tác dụng không mong muốn của phương pháp Cấy chỉ kết
hợp tập vận động cổ đơn giản
Trang 14CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thoái hóa cột sống cổ theo y học hiện đại
[6, 7, 29, 30]
1.1.1 Định nghĩa
- Thoái hóa cột sống cổ (Cervical spondylosis) là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc liên quan đến tư thế vận động Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và/hoặc đĩa đệm ở cột sống cổ
- Có thể gặp thoái hóa ở bất kỳ đoạn nào song đoạn C5-C6-C7 là thường gặp nhất
1.1.2 Nguyên nhân
- Quá trình lão hóa của tổ chức sụn, tế bào và tổ chức khớp và quanh khớp (cơ cạnh cột sống, dây chằng, thần kinh…)
- Tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp
Theo thời gian, sự thay đổi này có thể đè và nén xuống một hoặc nhiều rễ thần kinh chui ra từ lỗ liên hợp Trong những trường hợp nặng, còn có sự tham gia tổn thương của tủy sống, làm ảnh hưởng đến không chỉ tay mà còn xuống đến chân của người bệnh
Yếu tố nguy cơ chính của THCSC là tuổi tác Ở những người 60 tuổi trở đi, hầu hết đều phát hiện dấu hiệu THCSC trên film XQ Các yếu tố nguy cơ khác là: + Người thừa cân và không tập thể dục
+ Bất động cổ lâu ở một tư thế
+ Người khiêng vác nặng, hoặc người có công việc đòi hỏi phải vặn, xoắn cổ nhiều
Trang 15+ Tiền căn chấn thương cổ
+ Rách hoặc trượt đĩa đệm
+ Viêm đa khớp
+ Loãng xương
1.1.3 Chẩn đoán
1.1.3.1 Lâm sàng
Biểu hiện rất đa dạng, thường gồm bốn hội chứng chính sau:
− Hội chứng cột sống cổ: đau, có thể kèm theo co cứng vùng cơ cạnh cột sống cổ cấp hoặc mạn tính; triệu chứng đau tăng lên ở tư thế cổ thẳng hoặc cúi đầu kéo dài, mệt mỏi, căng thẳng, lao động nặng, thay đổi thời tiết đặc biệt bị nhiễm lạnh; có điểm đau cột sống cổ; hạn chế vận động cột sống cổ
− Hội chứng rễ thần kinh cổ: tùy theo vị trí rễ tổn thương (một bên hoặc cả hai bên) mà đau lan từ cổ xuống tay bên đó Có thể đau tại vùng gáy, đau quanh khớp vai Đau sâu trong cơ xương, bệnh nhân có cảm giác nhức nhối; có thể kèm cảm giác kiến bò, tê rần dọc cánh tay, có thể lan đến các ngón tay Đau tăng lên khi vận động cột sống cổ ở các tư thế (cúi, ngửa, nghiêng, quay) hoặc khi ho, hắt hơi, ngồi lâu… Có thể kèm theo hiện tượng chóng mặt, yếu cơ hoặc teo cơ tại vai, cánh tay bên tổn thương
− Hội chứng động mạch đốt sống: nhức đầu vùng chẩm, thái dương, trán và hai
hố mắt thường xảy ra vào buổi sáng; có khi kèm chóng mặt, ù tai, hoa mắt, mờ mắt, nuốt vướng; đau tai, lan ra sau tai, đau khi để đầu ở một tư thế nhất định
− Hội chứng ép tủy: tùy theo mức độ và vị trí tổn thương mà biểu hiện chỉ ở chi trên hoặc cả thân và chi dưới Dáng đi không vững, đi lại khó khăn; yếu hoặc liệt chi, teo cơ ngọn chi, dị cảm Tăng phản xạ gân xương
Trang 16− Biểu hiện khác: dễ cáu gắt, thay đổi tính tình, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng làm việc…
Tùy theo vị trí cột sống cổ bị tổn thương mà có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời các biểu hiện trên
1.1.3.2 Cận lâm sàng
− Các xét nghiệm phát hiện dấu hiệu viêm, bilan phosphor - calci thường ở trong giới hạn bình thường Tuy nhiên cần chỉ định xét nghiệm bilan viêm, các xét nghiệm cơ bản nhằm mục đích loại trừ những bệnh lý như viêm nhiễm, bệnh lý
ác tính và cần thiết khi chỉ định thuốc
− Xquang cột sống cổ thường quy với các tư thế sau: thẳng, nghiêng, chếch ¾ trái và phải Trên phim Xquang có thể phát hiện các bất thường: mất đường cong sinh lí, gai xương ở thân đốt sống, giảm chiều cao đốt sống, đĩa đệm, đặc xương dưới sụn, hẹp lỗ liên hợp…
− Chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ: phương pháp có giá trị nhất nhằm xác định chính xác vị trí rễ bị chèn ép, vị trí khối thoát vị, mức độ thoát vị đĩa đệm, mức độ hẹp ống sống, đồng thời có thể phát hiện các nguyên nhân ít gặp khác (viêm đĩa đệm đốt sống, khối u, …)
− Chụp CT-scan: do hiệu quả chẩn đoán kém chính xác hơn nên chỉ được chỉ định khi không có điều kiện chụp cộng hưởng từ
− Điện cơ: giúp phát hiện và đánh giá tổn thương các rễ thần kinh
1.1.3.3 Chẩn đoán xác định
Hiện tại vẫn chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh lí thoái hóa cột sống
cổ Chẩn đoán cần dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, trong đó:
− Đau tại vùng cột sống cổ và có một hoặc nhiều các triệu chứng thuộc bốn hội chứng nêu trên
Trang 17− Xquang cột sống cổ bình thường hoặc có các triệu chứng của thoái hóa
− Cộng hưởng từ hoặc CT-scan: vị trí, mức độ rễ thần kinh bị chèn ép; nguyên nhân chèn ép (thoát vị đĩa đệm, gai xương )
− Cần lưu ý: gần đây tình trạng toàn thân không bị thay đổi, không sốt, không có các rối loạn chức năng thuộc bất cứ cơ quan nào (dạ dày, ruột, sản phụ khoa, phế quản phổi ) mới xuất hiện; không có các biểu hiện đau các vùng cột sống khác: lưng, cổ, sườn, khớp khác Các xét nghiệm dấu hiệu viêm và bilan phospho-calci âm tính
1.1.3.4 Chẩn đoán phân biệt
− Các chấn thương vùng cột sống cổ gây tổn thương xương và đĩa đệm
− Các ung thư xương hoặc di căn xương, các bệnh lý tủy xương lành tính hoặc
Điều trị nội khoa
− Paracetamol: đây là lựa chọn ưu tiên với sự cân bằng giữa tác dụng phụ và hiệu quả mong muốn
Trang 18− Tramadol: có hiệu quả, chỉ dùng khi không đáp ứng với nhóm giảm đau nêu trên và tránh dùng kéo dài
− Nhóm thuốc giảm đau chống viêm không steroid liều thấp: các dạng kinh điển (diclofenac, ibuprofen, naproxen…) hoặc các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (celecoxib, etoricoxib ), tuy nhiên cần thận trọng ở bệnh nhân lớn tuổi, có bệnh
lý ống tiêu hóa, tim mạch hoặc thận mạn tính Có thể dùng đường uống hoặc bôi ngoài da
− Thuốc giãn cơ
− Nhóm thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm (piascledine 300mg/ngày; glucosamine sulfate: 1500mg/ngày, dùng đơn độc hoặc phối hợp với chondroitin sulfate); hoặc diacerein 50mg x 2 viên/ngày
− Các thuốc khác: khi bệnh nhân có biểu hiện đau kiểu rễ, có thể sử dụng phối hợp với các thuốc giảm đau thần kinh như:
+ Gabapentin: 600-1200 mg/ngày (nên bắt đầu bằng liều thấp)
+ Pregabalin: 150-300 mg/ngày (nên bắt đầu bằng liều thấp)
+ Các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), mecobalamin
− Tiêm Glucocorticoid cạnh cột sống: có hiệu quả từ vài ngày đến vài tháng Không nên tiêm quá 3 lần trên cùng một khớp trong một năm Cần có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa Trường hợp chèn ép rễ, có thể tiêm thẩm phân corticosteroid tại rễ bị chèn ép dưới hướng dẫn của CT
Trang 19− Các liệu pháp vật lý trị liệu: sử dụng nhiệt, sóng siêu âm Có thể kéo dãn cột sống cổ song nên thực hiện với mức độ tăng dần từ từ
Điều trị ngoại khoa
Chỉ chỉ định áp dụng trong các trường hợp: có biểu hiện chèn ép rễ thần kinh hoặc tủy sống tiến triển nặng, trượt đốt sống độ 3-4 hoặc đã thất bại với điều trị nội khoa và phục hồi chức năng sau 03 tháng
1.1.5 Tiến triển - biến chứng
− Chèn ép thần kinh gây hội chứng vai cánh tay một hoặc hai bên
− Chèn ép các động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt
− Chèn ép tủy: gây yếu, đau tứ chi, đi lại khó khăn hoặc liệt không vận động được
1.1.6 Phòng bệnh
− Phát hiện và điều trị sớm các dị tật cột sống cổ
− Tránh các tư thế cột sống cổ bị quá tải do vận động và trọng lượng, tránh các
động tác mạnh đột ngột tại cột sống cổ
1.2 Thoái hóa cột sống cổ theo y học cổ truyền
1.2.1 Nguyên nhân đau cột sống cổ theo YHCT: [8]
Thoái hóa khớp thuộc phạm vi chứng “tý” của y học cổ truyền
"Tý" nghĩa là đóng lại, là bế tắc Sách “Hoàng đế Nội kinh tố vấn, Tý luận” viết:
“Ba thứ tà khí phong, hàn, thấp cùng xâm nhập, hỗn hợp nhau mà thành Trong
đó có phong nặng hơn thì gọi là hành tý, hàn nặng hơn gọi là thông tý, thấp nặng hơn thì gọi là trước tý Mùa đông bị bệnh thì gọi là cốt tý, mùa xuân bị bệnh thì gọi là cân tý, mùa hạ bị bệnh thì gọi là mạch tý, cuối hạ bị bệnh thì gọi là cơ tý, mùa thu bị bệnh thì gọi là bì tý.”
Trang 20Nói về nguyên nhân gây bệnh, “Hoàng đế Nội kinh tố vấn, Tý luận” viết: “Thử diệc kỳ thực ẩm cư xử, vi kỳ bệnh bản dã; lục phủ diệc các hữu du, phong hàn thấp khí trúng kỳ du, nhi thực ẩm ứng chi, tuần du nhi thập ác kỳ xá phủ dã” Nghĩa là “Cách ăn ở là nguyên nhân căn bản của tật bệnh Lục phủ cũng đều có
du huyệt, tà khí phong hàn thấp trúng vào du huyệt ở ngoài, mà ở trong lại bị thương về ăn uống; trong ngoài tập hợp với nhau, bệnh tà sẽ theo du huyệt mà xâm nhập vào đều đóng lại ở phủ của huyệt đó”
Theo Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác, điều cốt yếu của chứng tý là do bên trong cơ thể bị hư suy, hai kinh can thận bị suy yếu khiến cho tinh huyết giảm, không nuôi dưỡng được gân xương, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể mà gây nên bệnh Sách Nội kinh có chia ra năm chứng tý, nhưng tóm lại không ngoài ba khí phong hàn thấp gây nên
Như vậy, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh gây thoái hóa khớp theo y học cổ truyền bao gồm:
- Do tuổi cao, thận khí hư, vệ khí hư yếu Vệ ngoại bất cố làm cho tà khí (phong, hàn, thấp, nhiệt) xâm nhập vào cơ thể, tà khí ứ lại ỏ cơ nhục, cân mạch, kinh lạc làm khí huyết không thông mà gây nên chứng “tý”
- Do tuổi cao, chức năng của các tạng trong cơ thể hư suy; hoặc do ốm đau lâu ngày; hoặc do bẩm tố cơ thể tiên thiên bất túc; do phòng dục quá độ khiến cho thận tinh hao tổn, thận hư không nuôi dưỡng được can âm, dẫn tới can huyết hư Thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân gây nên chứng “tý”
- Do lao động nặng nhọc, gánh vác lâu ngày; hoặc do tuổi đã cao, cơ nhục yếu, lại thêm vận động sai tư thế; hoặc do ngã đập làm tổn thương kinh mạch Kinh
Trang 21mạch bị tổn thương dẫn tới đường đi của khí huyết không thông, khí huyết ứ lại gây chứng “tý”
1.2.2 Triệu chứng đau cột sống cổ theo YHCT:
1.2.2.1 Thể phong hàn tý: [10]
Đau dữ dội vùng cổ gáy Đau tăng khi trời lạnh, chườm nóng đỡ đau Tay chân lạnh
Rêu lưỡi trắng Mạch nhu hoãn
Pháp trị: Khu phong, tán hàn, chỉ thống
1.2.2.2 Thể Thận khí hƣ: [8]
Cảm giác đau nhức các khớp xương
Tê đau dai dẳng vùng cổ gáy lan xuống vai tay Hạn chế vận động các khớp
Mệt mỏi, thở ngắn
Sợ lạnh, chi lạnh Tiểu tiện nhiều lần Lưỡi bè bệu, rêu lưỡi trắng mỏng Mạch trầm tế
Trang 22Ngủ ít Lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng Mạch huyền tế sác
Pháp trị: Bổ Can Thận âm
1.2.2.4 Thể khí trệ huyết ứ: [8]
Đau nhức vùng cổ gáy Nặng mỏi, tê nhức ít lan Chất lưỡi hồng, có điểm ứ huyết hoặc lưỡi tím Mạch trầm sác
Pháp trị: Hành khí hoạt huyết
1.2.3 Điều trị [10]
Với phương pháp điều trị bằng nhiều phương pháp như dùng thuốc, điện châm, thể châm, cấy chỉ…Trong các phương pháp không dùng thuốc, tùy theo thể lâm sàng, kết hợp dùng các huyệt tại chỗ, nhóm huyệt Hoa Đà Giáp Tích vùng cổ và các huyệt theo kinh bệnh
Phác đồ huyệt:
- Đau tại chỗ: Giáp tích C4 - C7, Phong phủ, Thiên trụ
- Đau lan có thể gia thêm (tùy theo đường kinh bị đau): Kiên trung du, Kiên tỉnh, Kiên ngung, Liệt khuyết
Hoặc: Kiên trinh, Thiên tông, Ngoại quan, Huyền chung
Trang 231.3 Đau và nguyên nhân gây đau [18]
Đau là một cơ chế bảo vệ của cơ thể Cảm giác này xảy ra ở bất cứ mô nào đang bị tổn thương, khiến cá thể phải phản ứng loại bỏ các tác nhân gây đau
1.3.1 Phân loại và đặc điểm – đau nhanh và đau chậm
Đau được chia thành hai dạng: đau nhanh (fast pain) và đau chậm (slow pain) Đau nhanh được nhận biết chỉ trong khoảng 0.1 giây ngay khi có tác nhân gây đau, trong khi đau chậm lại bắt đầu sau 1 giây hay lâu hơn; sau đó, cảm giác đau chậm tăng lên từ từ, mất đến vài giây hay cả vài phút Hai loại đau này có đường dẫn truyền khác nhau và chúng có những đặc điểm hoàn toàn riêng biệt Đau nhanh thường được mô tả như đau buốt, đau nhói, đau cấp tính hay đau dữ dội Dạng cảm giác này dễ dàng nhận thấy khi kim châm hay dao cắt vào da hoặc da bị bỏng, bị giật điện Đau nhói cấp tính ít khi xảy ra ở những mô nằm sâu trong cơ thể
Đau chậm được mô tả như nóng rát, đau âm ỉ, đau nhức, đau quặn và đau dai dẳng Dạng đau này thường đi kèm với sự phá hủy thực thể tại mô; có thể diễn ra trong thời gian dài và làm cho người bệnh không thể chịu đựng thêm được Nó xảy ra trên da hay cả những mô nằm sâu hay nội tạng
1.3.2 Thụ thể đau và tác nhân kích thích 1.3.2.1 Thụ thể đau là những đầu tận tự do của sợi thần kinh
Các thụ thể có vai trò nhận cảm trong da và những mô khác Chúng phân
bố rộng khắp trên bề mặt da cũng như mô nội tạng, cụ thể là màng xương, thành động mạch, màng khớp, liềm đại não và lều tiểu não trong hộp sọ
Mặc dù, tại đa số các mô nằm sâu khác, các đầu tận thần kinh chi có mật
độ thưa thớt, nhưng thương tổn tại đây vẫn có thể gây ra cảm giác đau chậm, âm
ỉ kéo dài, lan ra khắp cả một vùng rộng lớn
Trang 241.3.2.2 Loại thụ thể nhận cảm: cơ học, nhiệt và hóa học
Đau nhanh xảy ra sau một tác nhân cơ học và nhiệt độ trong khi đau chậm đều có thể là hệ quả của cả ba tác nhân trên
Một số chất hóa học có thể gây cảm giác đau, như bradykinin, serotonin, histamine, ion K, acid, acetylcholine và những enzymes ly giải protein Ngoài
ra, progstaglandins và chất P cũng làm tăng cảm giác đau tại thụ thể thần kinh nhưng lại không trực tiếp kích thích chúng Những chất hóa học này rất quan trọng trong việc hình thành cơn đau chậm dai dẳng sau tổn thương mô học
1.3.2.3 Vai trò quan trọng của tác nhân hoá học trong tổn thương mô
Nếu tiêm những sản phẩm của quá trình tổn thương tại mô dưới một vùng
da lành, chúng sẽ gây ra cơn đau dữ dội Chúng hầu hết là các chất được giải phóng trong giai đoạn sớm, sẽ kích thích các thụ thể hóa học Trong số đó, chất được xem đóng vai trò gây ra cơn đau có cường độ mạnh nhất trong tổn thương
mô là bradykinin Nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều này
Mặt khác, mức độ đau cũng có liên quan đến sự tăng nồng độ ion K+ tại chỗ hoặc nồng độ các enzymes ly giải proteine bằng cách kích thích trực tiếp vào đầu tận thần kinh, tạo ra cảm giác đau thông qua sự thay đổi tính thấm với các ion trên màng tế bào
1.3.2.4 Thiếu máu mô cũng là một nguyên nhân gây đau
Khi máu đến cung cấp bị hạn chế, mô thường bắt đầu có cảm giác đau chi sau vài phút Và mức độ đau tỷ lệ với mức độ chuyển hóa tại mô Cụ thể là, nếu mức độ chuyển hóa tại mô nào càng cao thì khi bị thiếu máu, cảm giác đau tại
mô đó sẽ càng dữ dội
Một trong những gợi ý của cơ chế gây đau trong thiếu máu nuôi là sự tích
tụ lượng lớn acid lactic tại mô trong quá trình chuyển hóa yếm khí (chuyển hóa
Trang 25không có sự tham gia của oxy) Từ đó, có thể nhận thấy rằng, những tác nhân hóa học khác, như bradykinin và men ly giải proteine, được hình thành tại tế bào bị phá hủy, trong đó có acid lactic, sẽ kích thích thụ thể nhận cảm đau Điều này có thể hỗ trợ giải thích cho cơ chế giảm đau của phương pháp châm cứu và cấy chỉ của YHCT
1.3.2.5 Co thắt cơ cũng có thể gây đau
Đây là một nguyên nhân phổ biến và là cơ sở của nhiều triệu chứng đau trên lâm sàng Dạng đau này là kết quả của sự kích thích trực tiếp lên thụ thể cơ học khi cơ co thắt Tuy nhiên, cảm giác đau cũng có thể là hệ quả của sự thiếu huyết dưỡng đồng thời xảy ra trong suốt quá trình ấy Trong khi đó, công co thắt còn làm tăng mức độ chuyển hóa tại mô cơ Vì thế, sự thiếu máu nuôi lại càng là điều kiện thúc đẩy cơn đau thêm nặng nề, thông qua giải phóng các chất dẫn truyền tại thụ thể nhận cảm hóa học
Chất P - chất dẫn truyền cảm giác đau chậm mạn tính của đầu tận sợi thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy đầu tận của sợi thần kinh C tận cùng trong tủy sống có khả năng bài tiết ra cả glutamate và chất P Glutamate là chất dẫn truyền hoạt động tức thì và chi kéo dài trong vài phần ngàn giây Trong khi đó, chất P lại được giải phóng chậm hơn nhiều nhưng lại có thể duy trì nồng độ trong khoảng thời gian vài giây hay đến vài phút Thực tế cũng đã cho thấy điều này: cảm giác đau hai lần mà một cá thể cảm nhận được sau một lần châm kim; theo đó, cảm giác đau đầu tiên là hệ quả của sự hoạt hóa nhanh chóng glutamate, lần sau là của chất P, đau xảy ra muộn hơn nhưng kéo dài hơn Dù những cơ chế chi tiết cụ thể vẫn chưa giải thích được, glutamate vẫn được
Trang 26khẳng định rõ ràng là chất dẫn truyền chính yếu cảm giác đau cấp tính lên đến
hệ thần kinh trung ương và chất P thì có vai trò trong đau chậm mạn tính
1.4 Cấy chỉ và cơ chế tác dụng của cấy chỉ
1.4.1 Chỉ catgut và khái niệm về cấy chỉ catgut vào huyệt: [15]
1.4.1.1 Catgut là chỉ phẫu thuật tự tiêu có nguồn gốc từ thiên nhiên, với thành
phần chứa 97-98% collagen nguyên chất thu được từ chất nhầy của ruột cừu và huyết thanh trong ruột bò Các sợi tơ được xử lý bằng muối chromic giúp tăng cường khả năng chống lại các enzyme làm lỏng mô, tạo ra một lớp phủ giúp sợi chỉ bền hơn và kéo dài thời gian hấp thụ lâu hơn, hướng đến phương pháp điều trị đúng đắn Loại chỉ phẫu thuật này có thể giữ vết khâu tốt trong vòng 10 - 14 ngày
Chỉ tự tan bởi quá trình phân hủy protein theo cơ chế enzyme, làm tăng khả năng phản ứng của mô nhiều hơn so với các loại chỉ vô cơ Sự hấp thụ được diễn ra bởi quá trình thực bào, nơi mà các sợi chỉ sẽ bị tiêu hóa trực tiếp bởi enzyme Các cỡ chỉ catgut: 1/0, 2/0, 3/0, 4/0, 5/0, 6/0
Chỉ định: Dùng trong phẫu thuật tổng quát (dạ dày, ruột…), phẫu thuật thẫm mĩ,
phẫu thuật nhãn khoa, sản phụ khoa, khâu da, tiết niệu, và làm chỉ buộc
Chống chỉ định: Không phù hợp với các mô tim mạch và thần kinh Cấm sử
dụng cho các bệnh nhân nhạy cảm với thành phần crom và collagen Chống chỉ định cho các ca phẫu thuật tái tạo mô trong thời gian dài
1.4.1.2 Khái niệm cấy chỉ catgut vào huyệt:
Cấy chỉ là phương pháp đưa chỉ catgut vào huyệt châm cứu của hệ kinh lạc để duy trì sự kích thích lâu dài qua đó tạo tác dụng điều trị như châm cứu Bao gồm chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ, thắt buộc chỉ
Trang 27Vật liệu Cấy chỉ: Chỉ catgut cỡ 4.0; Đầu kim tiêm số 23G; Nòng kim cấy: kim
1.4.2 Cơ chế giảm đau của châm cứu [4, 5, 16, 17]
Hiện nay, khi tìm hiểu về vai trò điều trị đau của châm cứu, những nhà nghiên cứu châm cứu theo trường phái thần kinh sinh học đã giải thích tác dụng này của châm cứu thông qua các cơ chế:
Qua cơ chế tại chỗ: Những kết qua nghiên cứu cho thấy châm cứu có khả năng
ức chế các tín hiệu đau (do thay đổi lý, hóa tính) truyền qua synáp đầu tiên (các cảm thụ quan trần) Những phát hiện này khiến người ta hiểu được vai trò quan trọng to lớn của việc sử dụng những huyệt tại chỗ, những vị trí mà những nhà châm cứu thời trước gọi là huyệt “A thị ”
Qua cơ chế tại tủy sống: Cơ chế này dễ dàng được giải thích với vai trò của “hệ
thống kiểm soát cửa” của Melzack và Wall Theo cơ chế này, thì nếu con đường dẫn truyền trong lem (voies lemniscales) được kích hoạt thì con đường dẫn truyền ngoài lem (voies extra lemniscales), con đường chịu trách nhiệm chính dẫn truyền đau; sẽ bị ức chế một phần hay hoàn toàn Điều này hoàn toàn đúng với thực tế khi tiến hành châm kim Yêu cầu đúng của thủ thuật châm cứu là tạo được cảm giác căng, nặng, tức, mỏi (còn gọi là cảm giác “đắc khí”) và không đau Những tín hiệu loại này sẽ được dẫn truyền “trong lem” và sẽ đạt được hiệu quả chống đau (vì ức chế sự dẫn truyền đau của đường “ngoài lem”)
Trang 28Chất keo tại sừng sau tủy sống đóng vai trò là “cái cửa” tượng trưng đó Khi tín hiệu không đau từ sợi Ab truyền về, nó kích thích nơ – ron trung gian giải phóng các acid amin ( như acid gamma – aminobutyric BABA ) và peptide thần kinh (các morphin nội sinh) có tác dụng ức chế Chúng liên kết các thụ thể của sợi hướng tâm và nơ – ron tủy gai để ức chế sự truyền tín hiệu cả tiền và hậu synap
Hình 1.1: Hệ thống kiểm soát cửa
- Sợi Ad và C (đường kính nhỏ): có ngưỡng kích thích cao, bị kích hoạt bởi các tín hiệu đau sẽ hoạt hóa hệ thống sừng sau tủy
- Sợi Ab (đường kính to): có ngưỡng kích thích thấp, đi vào tủy sống, tạo nhánh phụ đến hệ thống ức chế
Trang 29- Các tín hiệu trong sợi Ab có tác dụng ức chế các tín hiệu trong các sợi Ad và
C
- Với sự kích thích mạnh và kéo dài: sẽ hoạt hóa cả 2 loại sợi nhỏ và to, làm xuất hiên đấu tranh: sợi to “đóng cửa” (đau) đấu tranh với sợi nhỏ “mở cửa” (hết đau) Nhưng rất nhanh các tín hiệu truyền trong sợi to (có tính thích ứng nhanh) bị yếu dần làm cho tín hiệu truyền trong sợi nhỏ ưu thắng, truyền đến
bó sống – lưới thị bị kích thích kéo dài làm xuất hiện cảm giác đau Điều này giải thích cho sự kéo dài của đau mạn tính
Qua cơ chế tầng trên tủy: Những công trình nghiên cứu nghiêm túc cũng đã
chứng minh việc phóng thích các á phiện nội sinh
Các chất Á phiện nội sinh gồm: Enkephalines, Endophines, có tác dụng giảm đau rất mạnh Có tác dụng:
Hình 1.2: Chất Á phiện nội sinh chỉ huy hệ thống lưới tủy sống
- Làm khởi động hệ thống lưới-tủy sống
- Tác dụng trực tiếp ức chế trên con đường dẫn truyền đau
Kích hoạt sợ Tk Enkephalinergique ở vùng nhày Rolanlo
Chất Á phiện nội sinh (chất xám quanh cổng Sylvius)
Nhân giữa (Raphema nug)
Sừng sau tủy sống
Sérotonine
Chất P(hoạt chất trung gian dẫn truyền cảm giác đau)
Kích thích
Trang 30- Tác dụng ức chế trực tiếp ở sừng sau tủy sống
Đường từ trên xuống sừng sau TS có cả ảnh hưởng ức chế và kích thích Sự cân bằng giữa 2 quá trình này có thể biến đổi nhằm đáp ứng được những nhu cầu khác nhau về hành vi, cảm xúc và sinh bệnh lý
Nhiều vùng não đóng góp vào hệ ức chế đi xuống:
+ Tế bào từ chất xám quanh cống PAG tạo liên kết kích thích với nơ-ron hành não bụng ngoài RVM, đặc biệt với nơ-ron tạo serotonin tại nhân đường giữa, sau
đó tạo liên kết ức chế với tế bào sừng sau
+ Kích thích hành não sẽ ức chế nơ-ron sừng sau, bao gồm nơ-ron bó gai thị, qua tác dụng của serotonin
+ Một con đường ức chế đi xuống khác xuất phát từ nơ-ron tạo noradrenaline tại nhân lục và nhiều nhân khác thuộc hành não và cầu não Nó ngăn chặn khả năng dẫn truyền của sừng sau nhờ noradrenaline Nó cũng có thể tương tác với các mạch thần kinh chứa morphin nội sinh tại sừng sau:
Góp phần giải thích thực tế đầy nghịch lý là đau có khả năng ức chế đau Chẳng hạn kích thích đau tại một vùng cơ thể có tác dụng giảm đau tại nhiều vùng khác
Kích thích các sợi nhỏ Ad và C cũng có tác dụng giảm đau
Giải thích cơ chế “đau ức chế đau”, như TENS mạnh (cường độ dòng điện ở mức gây đau) hoặc day bấm huyệt, châm cứu Kem giảm đau capsaicin, loại hoạt chất từ trái ớt đỏ, cũng tác dụng qua cơ chế này Một số thủ thuật dân gian như chích lể, giác hơi… đều có thể dùng kích thích đau để điều trị Cắn môi hoặc đập đầu vào tường khi đau cũng có thể là bằng chứng của hiện tượng “đau ức chế đau”
Trang 31Qua cơ chế ở vỏ não: Điều này hiện nay vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ
Người ta cho rằng châm cứu có khả năng ức chế, blốc sự tổng hợp cảm giác đau
ở vỏ não
Hình 1.3: Sơ đồ kiểm soát cảm giác đau của châm cứu
1.4.3 Cơ chế của phương pháp cấy chỉ [15]
Ngoài cơ chế giảm đau giống như châm cứu, theo nhiều tài liệu, sau khi dùng chỉ catgut cấy vào huyệt rồi đo sự thay đổi sinh hóa bên trong cơ thể, người ta nhận thấy sự đồng hóa của cơ được tăng cao, sự dị hóa của cơ lại giảm đi, kèm tăng cao protein và hydratcacbon ở cơ, giảm acid lactic, cũng như giảm sự phân giải acid ở cơ từ đó tăng chuyển hóa và dinh dưỡng ở cơ
Thông qua quan sát đối chiếu, sau khi cấy chỉ thấy lưới mao mạch tăng, huyết quản tân sinh, lượng máu lưu thông tăng nhiều, tuần hoàn máu cũng được cải thiện ở vùng chi của bệnh nhân làm cho vùng chi ấy có điều kiện dinh dưỡng hơn, đồng thời sợi cơ tăng nhiều tạo thành một bó Đối với cơ lỏng lẻo thì cấy
Trang 32chỉ có tác dụng làm khít chặt lại, bên trong lớp cơ còn có thể phát sinh nhiều sợi thần kinh mới
Điều này suy ra rằng sự tăng cường bó sợi cơ giúp cơ cột sống cổ mạnh lên, phục hồi chức năng giữ thăng bằng và nâng đỡ cổ, làm chậm tiến trình thoái hóa Đồng thời, tăng lưu lượng tuần hoàn tại chỗ, giảm acid lactic (acid lactic thường được sản sinh nhiều trong các mô bị thiếu máu, tác dụng kích thích thụ thể nhận cảm đau), làm tăng chuyển hóa và dinh dưỡng tại chỗ cũng có tác dụng giảm đau trong THCSC
1.5 Tổng hợp 8 bài tập vận động cổ đơn giản và tác dụng điều trị của các nhóm động tác
Xin xem ở phụ lục 1 [23, 24, 25, 26, 29, 30, 31, 37, 38]
1.5.2 Tác dụng của việc tập luyện [4]
1.5.2.1 Tác dụng của bài tập vận động khớp:
Làm giảm đau, giảm co cứng cơ và co thắt cơ
Nhờ có sự tác động về mặt sinh lý thần kinh và cơ học như sau:
- Tác động về sinh lý thần kinh: Ức chế dẫn truyền kích thích nhận cảm đau
ở tuỷ sống hoặc thân não làm giảm đau, từ đó giảm phản xạ co cứng, co thắt cơ và các tổ chức phần mềm quanh khớp
- Tác động về cơ học: Các vận động khớp sẽ tạo nên sự chuyển dịch của dịch trong bao hoạt dịch, đưa các chất dinh dưỡng đến phần vô mạch của sụn khớp, phòng ngừa các tác động của sự thoái hóa
Để điều trị sự giảm vận động khớp hai chiều
Điều tri các giới hạn ROM khớp tiến triển
Điều trị khi bệnh nhân phải bất động chức năng
Trang 33Khi bệnh nhân không thể vận động khớp một thời gian, sử dụng bài tập di dộng khớp để duy trì khả năng trượt khớp, phòng ngừa thoái khớp và co rút mô mềm, bao khớp
Những lưu ý khi tập các bài tập có đề kháng: Không đóng thanh môn trong
khi gắng sức thở ra (nín thở khi tập)
1.5.2.3 Tác dụng của bài tập kéo giãn
- Kéo dãn để đạt được hoặc tái thiết lập lại tầm hoạt động của khớp và khả năng vận động của các tổ chức mô mềm bao quanh khớp
- Kéo dãn để đề phòng co rút vĩnh viễn tổ chức, mô mềm quanh khớp
- Kéo dãn để tăng tính mềm dẻo chung của phần cơ thể trước khi tập mạnh các
cơ
- Kéo dãn để đề phòng hoặc hạn chế tối thiểu nguy cơ tổn thương gân cơ liên quan đến các hoạt động thể lực đặc biệt và thể thao
Trang 34Co cơ chủ vận: Trong kỹ thuật này, người bệnh co chủ động có đề kháng các cơ đối kháng với nhóm cơ bị căng (nhóm cơ chủ vận), làm ức chế tương hỗ các nhóm cơ bị căng (cơ đối vận) và kéo dài các nhóm cơ đó dễ dàng hơn
- Bệnh nhân có bệnh lý về xương có thể phát hiện bằng XQ
- Bệnh nhân bị gãy xương chưa lành (tuỳ thuộc vào vị trí gãy và kỹ thuật cố định)
- Bệnh nhân đau quá mức (xác định nguyên nhân gây đau)
- Khớp tăng động trong phản ứng liên hợp của các khớp Các khớp khác phải được cố định đúng để lực vận động của khớp đang điều trị không truyền đến chúng
- Bệnh nhân đã được phẫu thuật thay khớp toàn bộ
Trang 351.6 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
[19, 20, 21, 22, 27, 28, 32, 34, 36]
1.6.1 Tên nghiên cứu: Đánh giá tác dụng điều trị đau vai gáy do THCSC của
phương pháp cấy chỉ catgut vào huyệt của tác giả: Nguyễn Tuyết Trang, Đỗ Thị Phương với thiết kế NC – Cỡ mẫu: tiến cứu, so sánh trước – sau điều trị (30 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau:
- Cấy chỉ có tác dụng điều trị đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ (hết đau ở 20% trường hợp và còn đau ít ở 80% trường hợp)
- Chưa thấy tác dụng không mong muốn của phương pháp này trong điều trị đau vai gáy do THCSC
1.6.2 Tên nghiên cứu: Đánh giá tác dụng của phương pháp cấy chỉ trong điều trị
thoái hóa khớp gối tại bệnh viện Y học cổ truyền, Bộ Công an của tác giả: Nguyễn Tuấn Bình, Trần Trọng Dương với thiết kế Nghiên cứu – Cỡ mẫu: Thử nghiệm lâm sàng, so sánh trước – sau khi điều trị (30 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau:
- Cải thiện chỉ số VAS: Trước điều trị điểm TB 6,27 +/- 1,19 Sau điều trị điểm
TB 1,23 +/- 1,17 Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 Có 46,7% BN tiến triển tốt, 53,3% BN tiến triển khá
- Cải thiện chỉ số Lequesne: Trước điều trị 14,55 +/- 2,45 sau 30 ngày còn 2,57 +/- 1,63 Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
1.6.3 Tên nghiên cứu: Hiệu quả của cấy chỉ (nhu châm) trên BN đau cột sống
thắt lưng của tác giả: Vũ Ngọc Vương, Hoàng Văn Lý với thiết kế NC – Cỡ mẫu: Tiến cứu, so sánh kết quả trước-sau điều trị (38 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau:
Trang 36- Mức độ giảm đau trung bình là 4,48 điểm (từ 6,16 điểm xuống 1,68 điểm)
- Kết quả tốt: 28,95%
- Kết quả khá: 47,37%
- Kết quả trung bình: 23,68%
- Trong quá trình điều trị không ghi nhận tác dụng phụ của phương pháp
1.6.4 Tên nghiên cứu: Hiệu quả điều trị thoái hóa khớp gối bằng phương pháp
cấy chỉ catgut kết hợp bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh của tác giả: Nguyễn Giang Thanh, Lê Thành Xuân, Đỗ Thị Phương với thiết kế Nghiên cứu – Cỡ mẫu: Nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng (60 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau:
- Điểm VAS: Nhóm NC giảm nhanh hơn so với nhóm chứng (chỉ dùng thuốc Độc hoạt tang ký sinh), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
- Điểm Lequesne: Nhóm NC giảm nhanh và rõ rệt hơn so với nhóm chứng với p
< 0,01
1.6.5 Tên nghiên cứu: Ảnh hưởng của phương pháp cấy chỉ catgut trên hormone
tuyến sinh dục và beta - endorphin ở những bệnh nhân hội chứng mãn kinh của tác giả: Li YM1, Zhuang LX, Zhang DS, Luo YF với thiết kế nghiên cứu – cỡ mẫu: Nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng (60 BN)
Kết quả: Tổng tỷ suất hiệu quả là 93,3% ở nhóm cấy chỉ catgut và 70,0% ở nhóm thuốc tây với một sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm (P <0,05) Sau khi điều trị, nồng độ beta-EP trong nhóm cấy ghép catgutation đã được tăng lên đáng
kể (P <0,05), nồng độ FSH đã giảm đáng kể và nồng độ E2 đã được tăng lên đáng kể so với những người trong nhóm thuốc tân dược (P <0,05, P < 0.01)
Trang 37Kết luận: Cấy chỉ catgut có hiệu quả rõ ràng trong hội chứng mãn kinh Nó có thể cải thiện đáng kể chức năng buồng trứng và tạo hoạt động điều chỉnh thuận lợi cho sự tiết các chất opioid nội sinh
1.6.6 Tên nghiên cứu: Hiệu lực và đánh giá an toàn của phương pháp cấy chỉ
catgut cho mức độ chuyển hóa xương và các gốc tự do ở phụ nữ sau mãn kinh của tác giả: Chen GZ1, Xu YX, Zhang JW, Liu SH, Guo ZY với thiết kế nghiên cứu – cỡ mẫu: Nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng (65 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau:
- Tổng tỷ suất hiệu quả của nhóm cấy chỉ catgut là 93,9% (31/33), và của các nhóm thuốc là 96,9% (31/32), không có khác biệt đáng kể giữa hai nhóm (P> 0,05) Thành phần của xương protein GLA (BGP), calcitonin (CT), hormon cận giáp (PTH) và phosphatase kiềm (AKP) trong nhóm đều có những khác biệt đáng kể sau khi điều trị (P <0,05, P <0,01);
- Hàm lượng của estradiol (E2) trong huyết thanh trong cả hai nhóm đã giảm rõ ràng hơn so với những phụ nữ bình thường trong độ tuổi sinh đẻ (cả P <0,001) Thành phần của E2 trong nhóm đều tăng lên rõ ràng sau khi điều trị (P <0,05, P
<0,01), chức năng này ở nhóm cấy chỉ catgut là yếu hơn so với các nhóm thuốc (P <0,05), trong khi tỷ lệ ảnh hưởng bất lợi ở nhóm cấy chỉ catgut là thấp hơn
so với các nhóm thuốc (P <0,05); 3) Có sự khác biệt đáng kể về mức độ superoxide dismutase (SOD) và malondialdehyde (MDA) trước và sau khi điều trị ở nhóm cấy chỉ catgut, mức độ SOD được rõ ràng tăng lên sau khi điều trị (P
<0,01), trong khi mức độ MDA giảm rõ ràng (P <0,001)
Kết luận: Cấy chỉ catgut có thể cải thiện mức độ thấp của estrogen của phụ nữ sau mãn kinh, với sự an toàn tốt Nó có thể điều chỉnh mức độ chuyển hóa xương
Trang 38và các gốc tự do của phụ nữ sau mãn kinh, vì vậy nó rất có ý nghĩa để ngăn ngừa
và điều trị các bệnh thoái hóa mãn kinh bao gồm các chứng loãng xương và làm chậm quá trình apolexis
1.6.7 Tên nghiên cứu: Ảnh hưởng của phương pháp cấy chỉ trên TNF - alpha và
kháng insulin ở bệnh nhân béo phì đơn giản của tác giả: Chen F1, Wu S, Zhang
Y với thiết kế NC – Cỡ mẫu: Nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng(60 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau:
So với nhóm chứng, các thành phần giá trị của BW, BMI, FINS, FBG, alpha huyết thanh và HOMA-IR của cấy chỉ catgut và nhóm châm cứu cao hơn đáng kể (P <0,01) trước khi điều trị So với trước khi điều trị, BW, BMI, FINS, HOMA-IR và TNF-alpha của cả hai nhóm cấy chỉ và châm cứu giảm đáng kể sau một đợt điều trị (P <0,05, 0,01), nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các hai nhóm trong 6 chỉ số (P> 0,05) Sau khi điều trị, trong hai 40 trường hợp trong châm cứu và các nhóm cấy chỉ, 12 và 13 trường hợp đã được chữa khỏi, 13 và 15 trường hợp đã có một sự cải thiện đáng kể, 10 và 8 trường hợp đã
TNF-có một sự cải tiến, 5 và 4 trường hợp thất bại, với tỷ lệ hiệu quả là 87,5% và 90,0% tương ứng Không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy giữa hai nhóm trong tỷ lệ hiệu quả (P> 0,05)
Kết luận: Cả hai nhóm cấy chỉ và châm cứu có tác dụng trị liệu nhất định trong điều trị béo phì đơn thuần, mà có liên quan chặt chẽ với sự suy giảm của insulin huyết thanh, glucose và mức độ TNF-alpha, và giảm sự đề kháng insulin
1.6.8 Tên nghiên cứu: Hiệu quả các cấu trúc giải phẫu dưới hướng dẫn siêu âm
trong phương pháp cấy chỉ điều trị thoái hóa đốt sống cổ của tác giả: Sun W,
Trang 39Chu N, Ma Y, Wang Y, Wang H, Jiang G với thiết kế NC – Cỡ mẫu: Nghiên cứu lâm sàng, so sánh trước – sau điều trị (90 BN) Kết quả nghiên cứu này như sau: Điểm số của các triệu chứng và chức năng sau khi điều trị được tăng lên rõ ràng trong nhóm được cấy chỉ ở lớp sâu (P <0,05), so với những người ở nhóm cấy nông và nhóm cấy ở lớp giữa (cả P <0,05) Thang điểm PRI, VAS và PPI sau khi điều trị đều giảm rõ ràng so với những người trước khi điều trị ở nhóm được cấy chỉ ở lớp sâu và lớp giữa (tất cả P <0,05), so với nhóm được cấy chỉ ở lớp nông (tất cả P <0,05) Sau khi điều trị, điểm số của NDI trong nhóm được cấy chỉ ở lớp sâu và lớp giữa đã giảm rõ ràng so với những người trước khi điều trị (cả P
<0,05), và rằng trong nhóm được cấy ở lớp sâu giảm thêm đáng kể so với nhóm được cấy chỉ ở lớp giữa và lớp nông sau khi điều trị (cả P <0,05)
Kết luận: Cấy chỉ để điều trị thoái hóa cột sống cổ đối với loại đau rễ thần kinh, thì hiệu quả khác nhau rõ ràng trong độ sâu của việc cấy chỉ Khi cấy ở lớp sâu,
là đến lớp cơ nhiều chân sát cột sống thì sự dẫn truyền sẽ nhiều hơn trong việc điều trị THCSC
Qua 8 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài,
có thể thấy rằng:
- Các công trình nghiên cứu trong nước kết luận Cấy chỉ có hiệu quả rất tích cực trong điều trị các bệnh đau vai gáy, đau cột sống thắt lưng, đau khớp gối Và chưa ghi nhận tác dụng phụ của phương pháp cấy chỉ ở những nghiên cứu này Tuy nhiên những công trình này đa phần dùng phương pháp tiến cứu hoặc thử nghiệm lâm sàng, so sánh trước – sau điều trị, không có nhóm đối chứng và với
cỡ mẫu nhỏ (30 mẫu) nên sự khách quan trong nghiên cứu còn nhiều hạn chế
Trang 40- Cấy chỉ làm tăng lượng beta-endophin, là một morphin nội sinh của cơ thể, đây
là cơ sở chính cho tác dụng giảm đau của phương pháp này
- Cấy chỉ làm giảm TNF-anpha, trong đó TNF-anpha là yếu tố trung gian gây viêm mãn tính quan trọng trong các bệnh về cơ xương khớp, về da và ruột
- Cấy chỉ có tác dụng làm giảm FSH, tăng Estradiol ở phụ nữ sau mãn kinh, đồng thời cải thiện các thành phần protein ở xương như GLA, calcitonin, hormon cận giáp, photphatase kiềm Đây là cơ sở trong điều trị các chứng thoái hóa và loãng xương nói chung Đồng thời hạn chế được các phản ứng bất lợi so với các nhóm dùng thuốc tây
- Hiệu quả giảm đau trong điều trị đau rễ thần kinh của THCSC khác nhau rõ ràng ở độ sâu của việc cấy chỉ Cấy đến lớp sâu (lớp cơ nhiều chân sát cột sống cổ) thì hiệu quả giảm đau tốt hơn so với lớp nông và lớp giữa Điều này rất có ý nghĩa trong kỹ thuật cấy
Liên quan đến điều trị đau trong THCSC, những nghiên cứu này là cơ sở cho thấy Cấy chỉ có tác dụng giảm đau, tăng cường chất lượng xương và chống thoái hóa