Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để bước đầu nhận diện tình trạng suy yếu ở NCT nhập viện điều trị nội trú tại các khoa nội BV ĐHYD, đánh giá tính hợp lý và giá trị ứng dụng lâ
Trang 11
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NHẬN DIỆN TÌNH TRẠNG SUY YẾU Ở NGƯỜI CAO TUỔI
ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA LÃO – CHĂM SÓC GIẢM NHẸ - BV ĐHYD
ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA 2
PRISMA VÀ GRONINGEN FRAILTY INDICATOR
Chủ nhiệm đề tài: TS Thân Hà Ngọc Thể
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2018
Trang 2BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NHẬN DIỆN TÌNH TRẠNG SUY YẾU Ở NGƯỜI CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA LÃO – CHĂM SÓC GIẢM NHẸ - BV ĐHYD
ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA 2
PRISMA VÀ GRONINGEN FRAILTY INDICATOR
Trang 33
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2 BSCK1 Nguyễn Ngọc Hoành Mỹ Tiên Cộng tác viên chính
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH: Bệnh viện Đại Học Y Dƣợc TPHCM
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Chuyển ngữ để thích ứng văn hóa bộ câu hỏi GFI, PRISMA 17
2.1.1 Dịch xuôi từ tiếng Anh sang tiếng Việt 17
2.1.2 Dịch ngược từ tiếng Việt sang tiếng Anh 18
2.1.3 Hội đồng đánh giá 18
2.1.4 Kiểm tra phiên bản Prefinal 18
2.2 Đánh giá tính hợp lý, giá trị ứng dụng lâm sàng của bộ câu hỏi GFI, PRISMA 2.2.1 Thiết ế nghiên cứu 19
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.3 Cỡ mẫu 19
2.2.4 Phương pháp chọn mẫu 19
2.2.5 Tiêu chuẩn áp dụng phương pháp tự điền hoặc phỏng vấn trực tiếp 19
2.2.6 Quy trình nghiên cứu 20
2.2.7 Công cụ thu thập số liệu 20
2.2.8 Định nghĩa các biến số nghiên cứu 20
2.2.9 Phân tích số liệu 22
2.3 Y đức trong nghiên cứu 22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
Chương 4: BÀN LUẬN 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI
Trang 55
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tỷ lệ NCT Việt Nam theo các năm
Bảng 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Đặc điểm lâm sàng đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3: Điểm số trung bình, tần số của từng thang đo
Bảng 3.4: Tần số bất thường của từng thang đo
Bảng 3.5: So sánh 2 bộ câu hỏi tầm soát GFI và PRISMA với thang đo CGA
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Đánh giá Lão khoa toàn diện
Dấu chỉ điểm suy yếu Groningen MMSE Mini Mental State Examination
Đánh giá trạng thái tinh thần tối thiểu sMNA Minimum Nutrient Assesement (short form)
Đánh giá dinh dưỡng ngắn gọn (theo dạng rút gọn)
Tình trạng hoạt động sống cơ bản hàng ngày IADL Instrument Activities of Daily Living
Tình trạng hoạt động sinh hoạt hàng ngày có dụng cụ GDS-15 Geriatric Depression Scale
Đánh giá tình trạng trầm cảm trong Lão khoa
Trang 7Già hóa dân số là quá trình chuyển đổi về dân số học theo hướng tỉ lệ người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) tăng và chiếm từ 10% dân số trở lên hoặc tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% dân số Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang một cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so với nhiều nước phát triển: giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 26 năm ở Nhật Bản, 22 năm ở Thái Lan, trong khi dự kiến có chỉ 20 năm cho Việt Nam Theo dự báo trước đây, dân số nước ta sẽ già hóa vào năm 2014, nhưng số liệu thực tế cho thấy nước ta bước vào giai đoạn già hóa dân số vào năm 2012 (tỉ
lệ người ≥ 60 tuổi chiếm 10,2% (1,2,5)
Ở NCT có những đặc điểm riêng biệt, các cơ quan trong cơ thể đều bị lão hóa dẫn đến suy giảm chức năng sinh lý và khả năng thích nghi Đây là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển Song song với tình trạng lão hóa dân số ngày càng tăng, tỉ lệ suy yếu ở NCT cũng tăng, làm tăng tỉ lệ bệnh tật, nhập viện và tử vong cũng như tăng chi phí chăm sóc y tế cho gia đình và xã hội
Ngày nay, đã có nhiều nghiên cứu về suy yếu NCT trên thế giới, có rất nhiều công cụ, thang điểm…được dùng để đánh giá tình trạng suy yếu ở NCT, nhưng đa số rất mất thời gian và khó thực hiện trong thực hành lâm sàng hàng ngày Vì vậy, NCT không được đánh giá lão khoa toàn diện thường quy, không được sớm phát hiện tình trạng suy yếu để có biện pháp xử trí thích hợp
Trên thế giới, nghiên cứu của tác giả Khandelwal D và cộng sự năm 2012 ghi nhận: Trong 250 NCT nhập viện được đánh giá theo tiêu chuẩn Fried có 83 (33,2%) có suy yếu Nghiên cứu cũng cho thấy, suy yếu có liên quan có ý nghĩa với tuổi cao Trong nhóm suy yếu này, có 5 trường hợp đã tử vong (25)
Trang 8Nghiên cứu của Fernando M và cộng sự năm 2014 ghi nhận, trong 311 người tham gia, 78 (25,1%) không suy yếu, 147 (47,3%) tiền suy yếu (pre-frail), 86 (27,8%) có suy yếu Thêm vào đó, cao tuổi, đã kết hôn, t ngã trong những năm gần đây, tàn tật là những yếu tố liên quan có ý nghĩa đến suy yếu (17)
Trong nghiên cứu của Emiel O và cộng sự năm 2013, về xác định suy yếu ở NCT trong chăm sóc ban đầu, so sánh tính chính xác của 5 thang điểm đơn giản cho thấy: thang điểm PRISMA-7 có độ chính xác tốt nhất Nhưng cần nghiên cứu thêm về tính dự đoán hợp
lý và ứng dụng lâm sàng của thang điểm (3)
Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ suy yếu ở NCT Lẻ tẻ có những nghiên cứu về suy giảm hoạt động chức năng ở NCT như nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Thanh ghi nhận tỷ lệ suy giảm hoạt động chức năng ở NCT trong cộng đồng xã Vĩnh Thành, chợ Lách, tỉnh Bến Tre: tỷ lệ hạn chế hoạt động cơ bản hàng ngày là 7,4% với hoạt động bị hạn chế cao nhất là tắm rửa 7,1% Tỷ lệ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày là 27,1% với hoạt động bị hạn chế cao nhất là đi mua sắm 25,4% (1)
Suy yếu là tình trạng rất thường gặp ở NCT, NCT sẽ đối mặt với nguy cơ giảm chất
lượng sống, nặng nề thêm tình trạng bệnh nền đa bệnh lý, tăng tỷ lệ nhập viện, tăng tỷ lệ tử vong, tăng chi phí chăm sóc y tế cho gia đình và xã hội nếu không được đánh giá tình trạng suy yếu thường quy trong thực hành lâm sàng
Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để bước đầu nhận diện tình trạng suy yếu
ở NCT nhập viện điều trị nội trú tại các khoa nội BV ĐHYD, đánh giá tính hợp lý và giá trị ứng dụng lâm sàng của 2 bộ câu hỏi tầm soát suy yếu đơn giản: PRISMA-7, Groningen Frailty Indicator so với tiêu chuẩn vàng đánh giá suy yếu là đánh giá Lão khoa toàn diện (CGA)
Trang 10Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa người cao tuổi:
Định nghĩa NCT có sự khác nhau tuỳ theo giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội cũng như của các nền văn hoá Các nhà quản lý xã hội hiện nay dựa vào định nghĩa NCT để quy định tuổi hưu và như vậy tuỳ theo chính sách xã hội mà có những định nghĩa khác nhau
về NCT
Năm 1980, Liên hợp quốc lấy tuổi 60 làm mốc qui ước để phân định một độ tuổi cần quan tâm về mặt sức khỏe, tổ chức xã hội, phòng bệnh và chữa bệnh: những người từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi (8)
Người cao tuổi (có tuổi) được định nghĩa theo tổ chức Y tế Thế giới là ≥ 60 tuổi Trong Y học Lão khoa, cần phân ra: người cao tuổi từ 60 – 69 tuổi là sơ lão, 70 – 79 tuổi là trung lão, ≥ 80 tuổi là đại lão (7)
Tại Việt Nam, Điều 2 của Luật người cao tuổi do Quốc Hội thông qua ngày 23 tháng
11 năm 2009 đã nêu rõ: “ Người cao tuổi được quy định trong luật này là công dân nước Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” Luật Người cao tuổi đã quy định trách nhiệm của các cơ quan tổ chức, gia đình và các cá nhân trong chăm sóc, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
của người cao tuổi (Error! Reference source not found.)
1.2 Sự già hoá dân số:
Sự già hoá dân số, theo định nghĩa của các nhà nhân khẩu học, xảy ra khi dân số từ
60 tuổi trở lên chạm ngưỡng 10% hoặc dân số từ 65 tuổi chạm ngưỡng 7% Một dân số được gọi là già khi hai tỷ lệ trên tương ứng là 20% và 14% Một dân số được gọi là siêu già khi các tỷ lệ trên tương ứng là 30% và 25% Chỉ số già hoá được tính bằng số người từ 60 tuổi trở lên so với 100 người dưới 15 tuổi (8)
Sự gia tăng số lượng người cao tuổi là kết quả của sự gia tăng toàn bộ dân số thế giới (phần lớn do giảm những nguyên nhân gây tử vong) Sự gia tăng người cao tuổi kèm giảm tỉ
lệ sinh đã làm gia tăng đáng kể số lượng những người trên 60 tuổi và sẽ tiếp tục gia tăng trong vòng 50 năm tới
1.3 Quá trình già hoá trên thế giới:
Hiện nay tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới ngày càng tăng và tỉ lệ người cao tuổi ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển chung đó Số người cao tuổi (≥ 60 tuổi)
Trang 11Sự thay đổi về mặt nhân khẩu học đã ảnh hưởng lên đời sống xã hội và do đó nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ngày càng gia tăng Quá trình già hóa làm tăng nguy cơ bệnh tật và tàn phế; do đó sẽ tăng gánh nặng cho toàn xã hội Những nguồn lực như con người và tiền bạc sẽ phải dành cho công tác chăm sóc sức khỏe nhiều hơn Tuy nhiên những bệnh mạn tính của người cao tuổi nếu được kiểm soát tốt sẽ giảm bớt gánh nặng về chi phí cho điều trị và phục hồi chức năng khi có biến chứng Vì vậy công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu phát hiện bệnh sớm và ngăn ngừa biến chứng cho người cao tuổi là hết sức quan trọng Điều này không những giảm gánh nặng bệnh tật cho bản thân bệnh nhân mà còn cho cả gia đình xã hội
1.4 Quá trình già hoá tại Việt Nam:
Cũng như nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đang ở giai đoạn sau của thời
kỳ quá độ dân số chuyển đổi từ một nước có mức độ sinh và mức độ chết cao sang một nước có mức độ sinh và mức độ chết thấpvà điều đó đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc tuổi
và giới tính của dân số Việt Nam Kết quả là tỷ lệ người cao tuổi gia tăng một cách nhanh chóng (8)
Do mức sinh giảm và tuổi thọ trung bình dân số tăng lên (72.8 tuổi năm 2009), chỉ số già hóa của dân số Việt Nam tăng khá nhanh trong 3 thập kỷ qua Các số liệu cho thấy, chỉ
số già hóa dân số (60 tuổi trở lên) đã tăng từ 16,6% năm 1979 lên 18,2% năm 1989; 24,3% năm 1999 và đạt mức 35,5% năm 2009 Như vậy, nếu như vào năm 1979, cứ khoảng 6 trẻ
em 0-14 tuổi mới có một cụ già từ 60 tuổi trở lên thì 30 năm sau, chưa đến 3 trẻ em 0–14 tuổi đã có một cụ
Theo kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số NCT ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong dân số chung với chỉ 6,9% vào năm 1979 và đã tăng 9,9% vào năm
2008 (8)
Trang 12Bảng 1.1 Tỷ lệ NCT Việt Nam theo các năm
Năm Số dân cả nước(triệu) NCT(triệu) Tỷ lệ NCT/số dân cả nước (%)
Tổng cục thống kê Việt Nam 2008
Tỷ lệ NCT theo thống kê năm 2009 là 8,9% Tỷ số nam nữ là 111/100 lúc mới sinh, giảm dần tới tuổi trưởng thành là 100/100 và chỉ còn 66/100 vào lứa tuổi trên 65
Tỷ lệ NCT tại Việt Nam, cũng tuân theo xu hướng già hoá dân số trên thế giới, dần
sẽ chiếm một tỷ trọng cao trong toàn bộ dân số Theo Tổng cục thống kê: dân số Việt Nam đến hết năm 2010 là 87,84 triệu người, NCT là 8,1 triệu người, chiếm tỷ lệ 9,2%, vượt hơn
9 triệu người trong 6 tháng đầu năm 2011 Ước tính đến 2029 tỷ lệ này xấp xỉ 17%
Như vậy theo định nghĩa dân số già thì năm 2012 Việt Nam đã bước vào giai đoạn gì hoá dân số và sẽ trở thành nước có dân số già vào năm 2035 Điều đáng quan tâm là quá trình già hoá của nước ta chỉ diễn ra trong 23 năm để đạt ngưỡng dân số già (2012-2035) Trong khi Pháp phải mất 115 năm, Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Mỹ 69 năm và Nhật Bản
26 năm để đạt được điều đó Theo nhận định của Liên hiệp quốc từ nay đến năm 2050, Việt
Nam nằm trong nhóm 10 nước có dân số già nhất thế giới (8)
Tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam đang ngày càng gia tăng Song song
đó, già hóa dân số cũng đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Tuổi thọ ngày càng được cải thiện rõ rệt Những người sống đến 100 tuổi không còn hiếm Điều này tác động mạnh
mẽ đến đời sống, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia (8)
Tuổi già đi kèm với sự suy giảm chức năng các cơ quan và giảm khả năng bù trừ Tình trạng tàn phế không ngừng gia tăng ở người cao tuổi nhưng chưa được thật sự quan tâm ở nước ta Các yếu tố nguy cơ như thói quen hằng ngày lúc trẻ thậm chí cho đến lúc cao tuổi như: hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, chế độ ăn quá nhiều chất b o, ít vận động … có
Trang 1313
Trong điều trị và chăm sóc người cao tuổi, cần phải đánh giá toàn diện bao gồm: bệnh cấp và mạn tính kèm theo, sự suy giảm chức năng, các vấn đề tâm thần và xã hội cũng tác động lên nhiều mặt về sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi
1.5 Khái niệm về suy yếu:
Suy yếu là sự tích lũy của các bệnh lý tiềm tàng, các rối loạn dưới lâm sàng, mất chức năng các cơ quan, bộ phận và hệ thống của cơ thể Suy yếu là biểu hiện thiếu sót nguyên phát liên quan đến giảm chức năng sinh lý, thậm chí là làm phá vỡ hằng định nội môi (5)
Suy yếu là kết quả của thay đổi sinh lý hay sinh học, có liên quan đến tuổi, kết hợp một hay nhiều bệnh lý hay thậm chí là giai đoạn cuối của bệnh trầm trọng Hệ cơ xương khớp, hệ nội tiết (kích thích tố), hệ miễn dịch, quá trình viêm và hệ thần kinh trung ương –
tự chủ có thể liên quan đến sự phát triển đến suy yếu Mất khối lượng cơ theo tuổi là biểu hiện chính của suy yếu Tuy nhiên, các yếu tố sinh lý như yếu tố viêm, kích thích tố, sự toàn vẹn của thần kinh, tình trạng dinh dưỡng, hoạt động thể chất giúp điều hòa một cách sâu sắc đến sức mạnh khối cơ và khối lượng cơ bắp, cả hai yếu tố này suy giảm theo tuổi tác Rối loạn đa hệ thống sinh lý tác động đến việc mất khối cơ bên cạnh việc thay đổi theo tuổi, kết quả là dễ tổn thương và biểu hiện thành suy yếu (5)
Suy yếu là yếu tố nguy cơ dẫn đến những kết cục bất lợi cho sức khỏe, bao gồm:
g Sử dụng các nguồn lực chăm sóc sức khỏe
h Hồi phục chậm, không hoàn toàn sau đợt bệnh cấp hoặc sau xuất viện
i Nguy cơ cao bị tai biến do thầy thuốc và biến chứng do điều trị
j Tử vong Tần suất suy yếu hiện mắc tăng đáng kể theo tuổi
Suy yếu được biểu hiện như sự giảm khả năng đương đầu với những thử thách sức khỏe và giảm khả năng trở về tình trạng sức khỏe ổn định, có thể liên quan đến giảm chức
Trang 14năng dự trữ Mức độ suy yếu có thể thay đổi từ dưới lâm sàng tới giai đoạn lâm sàng rõ ràng đến giai đoạn cuối đời
Ở người cao tuổi suy yếu, những tác động lâm sàng hay thậm chí chỉ là những bệnh
lý dưới lâm sàng làm lộ rõ sự giảm khả năng biến thiên của tình trạng chức năng và sức khỏe Càng lớn tuổi càng làm tăng khả năng dễ tổn thương với nhiều bệnh mà không có mối liên hệ rõ ràng Những thay đổi trong yếu tố nguy cơ có thể nhận biết không giải thích được khả năng dễ tổn thương như vậy
Người suy yếu cần được chăm sóc tích cực - liên tục và cần sử dụng dịch vụ hỗ trợ thông tin – cộng đồng và cần đội ngũ nhân viên y tế chuyên nghiệp
Suy yếu có nhiều mức độ, không chỉ đơn thuần bao gồm suy yếu và không suy yếu Đồng thời, tình trạng suy yếu biến động theo thời gian và hoàn cảnh, có thể cải thiện tốt hơn hoặc diễn tiến xấu đi Suy yếu là tình trạng không thể tránh khỏi, tồn tại song hành cùng tuổi già, cũng như các bệnh lý mạn tính Cần nhận diện suy yếu ở người cao tuổi để cải thiện kết cục và tránh những can thiệp gây hại không cần thiết (5)
Giai đoạn đầu suy yếu thường xuất hiện trong cộng đồng người cao tuổi Do đó, tầm soát suy yếu cần được thực hiện trong công tác chăm sóc ban đầu Tần suất suy yếu ở người cao tuổi thay đổi khác nhau tùy theo định nghĩa suy yếu là gì Van Iersel và cộng sự báo cáo
tỷ lệ này dao động từ 33 – 88 % tùy vào định nghĩa (46)
Suy yếu là khái niệm có tính biến đổi, tiến trình suy yếu có thể tiến triển hoặc phục hồi Những yếu tố sau có thể giúp dự phòng hoặc giảm suy yếu: hỗ trợ dinh dưỡng bổ sung calories và vitamins, kiểm soát huyết áp, dự phòng xơ vữa, hạn chế sự cô lập bằng cách mở rộng giao tiếp xã hội, kiểm soát đau, điều trị trầm cảmvà tập thể dục với mục đích kiểm soát thăng bằng, dẻo dai, sức mạnh và năng lực
Vấn đề quan trọng của suy yếu là nguy cơ tiềm tàng xuất hiện biến cố nguy hại chỉ sau những thách thức nhỏ hoặc stress ở bất kỳ mức độ từ nhẹ đến nặng như: cảm cúm, hoặc thay khớp, có thể là những chuyến du lịch ngắn ngày, chuyển địa điểm sinh sống hoặc nặng
nề hơn: nhập viện, t ngã, phẫu thuật gây mê Vì vậy nhận diện tình trạng suy yếu có thể giúp nhà lâm sàng hành động kịp thời, ngăn ngừa những kết cục xấu do can thiệp quá mức,
có chiến lược chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tốt hơn Bất kỳ những can thiệp y học (khởi đầu sử dụng thuốc mới, nhập viện cấp cứu, thay khớp chọn lọc) ở người cao tuổi suy yếu,
Trang 1515
mà nhà lâm sàng không nhận định rõ tình trạng người bệnh cao tuổi và cân bằng giữa lợi ích
và nguy cơ, sẽ gây hại cho bệnh nhân (39)
Một vài cách tiếp cận đang phát triển để xác định ai thật sự suy yếu Cách tiếp cận thứ nhất của Rockwood và cộng sự, làm một bảng tóm tắt về tích lũy các thiếu sót thông qua nhiều hình thức tình trạng sức khỏe khác nhau ở nhiều mức độ: chức năng, lâm sàng, sinh
lý Các nhà điều tra cho thấy, tăng số lượng các tình trạng bất thường (bệnh) có liên quan tăng theo kiểu bậc thang với nguy cơ tử vong do tác động sinh lý cộng gộp Cách tiếp cận này có hai nhược điểm: (1) số lượng thông số thu thập có thể không phù hợp cho thực hành lâm sàng, (2) không đưa ra được giả thuyết thống nhất cũng như nguyên nhân để hướng dẫn phòng ngừa và điều trị
Cách tiếp cận thứ hai (có phần chắc chắn so với phần bàn luận trên) thừa nhận có sinh lý bệnh riêng của suy yếu khi biểu hiện hội chứng lâm sàng Vài nhóm đề nghị một số cách được xây dựng bằng quan sát các dấu hiệu hay triệu chứng những người suy yếu Năm
1999, Paw cho rằng không hoạt động và dinh dưỡng k m là hai yếu tố quyết định chính của suy yếu, dự đoán kết cục bất lợi của suy yếu Trong nghiên cứu đoàn hệ về người cao tuổi của Zutphen, sự kết hợp không hoạt động (hoạt động ít hơn 210 phút mỗi tuần như đi bộ, đi
xe đạp, làm vườn, thể thao) và sụt cân (hơn 4kg trong 5 năm); thì xác định được 6% người đàn ông cao tuổi bị “suy yếu” và dự đoán được là giảm tốc độ đi bộ, tỉ lệ mất chức năng và
tử vong cao hơn Các tác giả lấy mức giảm cân sau 5 năm nhưng vì có độ nhạy giới hạn nên
đề nghị lấy mỗi năm Nhìn chung, cách tiếp cận này đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả để tầm soát người suy yếu
Năm 1998, Fried và Walston đề xuất vài triệu chứng và dấu hiệu chính yếu của suy yếu tạo vòng xoắn bệnh lý, do sự mất điều hòa năng lượng: giảm sức mạnh cơ bắp, năng lượng, tốc độ đi bộ, hoạt động thể chấtvà sụt cân (trong 1 năm qua), tất cả liên quan với nhau và là những triệu chứng lâm sàng của hội chứng suy yếu thể chất Định nghĩa này đã được công nhận dựa trên 5 nhóm dân số nghiên cứu để xác định ai là nguy cơ cao của tình trạng suy giảm chức năng, t ngã, nhập viện, gãy xương đùi và tử vong Nguy cơ của các kết cục bất lợi liên quan đến nhóm những triệu chứng hơn là một hay hai triệu chứng chuyên biệt Cách tiếp cận này xác định đặc điểm suy yếu của người cao tuổi dựa vào giả thuyết những hội chứng chuyên biệt và xác định nguyên nhân sinh học và nguyên nhân môi trường Theo cách định nghĩa này thì tỉ lệ hiện mắc là 7% người cao tuổi trên 65 tuổi và
Trang 16tăng 3% từ 65 tuổi đến 74 tuổi và 25% người trên 85 tuổi Tỉ lệ này cao gấp 2 lần người Mỹ gốc Phi và tiến triển, 43% chuyển sang giai đoạn nặng hơn trong 18 tháng, trong khi 23% chuyển sang giai đoạn ít suy yếu hơn và không có trường hợp nào từ suy yếu mà chuyển thành không suy yếu Hơn nữa biểu hiện giảm sức cơ và giảm tốc độ đi bộ là yếu tố dự đoán biểu hiện suy yếu lâm sàng, với biểu hiện 1 – 2 triệu chứng tăng gấp 2 lần tiến triển thành 3– 4– 5 triệu chứng trong 3 năm tới, người ta đề nghị phân vào tiền suy yếu (5)
Sử dụng dữ liệu từ Cardiovascular Health Study, Fried và cộng sự báo cáo những người suy yếu có nguy cơ cao về t ngã, mất khả năng di chuyển, suy giảm chức năng và tử vong trong vòng 3 năm Theo Strawbridge, sự hài lòng về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi suy yếu thấp hơn người cao tuổi không suy yếu (39)
Tầm soát suy yếu ở bệnh nhân nhập viện có thể giúp thay đổi cơ cấu chăm sóc bệnh nhân với nhận thức tốt hơn về bệnh lý phức tạp, tiên lượng và nguy cơ kết cục xấu trên bệnh nhân có suy yếu
Nghiên cứu cho thấy có mối tương quan rõ rệt giữa suy yếu và kết cục xấu trên bệnh nhân nhập viện Sự hiện diện suy yếu không chỉ tăng tỷ lệ tử vong mà còn k o dài thời gian nằm viện, cũng là yếu tố liên quan đến chi phí điều trị Mitnitski và cộng sự nghiên cứu trên 36,424 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên trong 7 nhóm dân số (seven population-based) và bốn khảo sát lâm sàng ở bốn nước đã phát triển, kết quả cho thấy tăng mức độ suy yếu (với định nghĩa suy yếu là sự tích lũy các suy giảm) (measured in terms of increasing deficit accumulation) liên quan với tăng tỷ lệ tử vong Tuy nhiên, đo lường suy yếu dựa trên khái niệm tích lũy các suy giảm bằng phương pháp hồi cứuvà không sử dụng những tiêu chuẩn phân loại rõ ràng
Nghiên cứu này cho thấy mối liên quan trực tiếp của suy yếu ở bệnh nhân nhập viện (được định nghĩa dựa trên các yếu tố cân nặng, tốc độ đi, sức cơ, sự mệt mỏivà hoạt động chức năng thấp) và tăng tỷ lệ tử vong trong suốt thời gian nằm viện cũng như k o dài thời gian nằm viện
Tầm soát suy yếu ở bệnh nhân nhập viện có thể giúp thay đổi cơ cấu chăm sóc bệnh nhân với nhận thức tốt hơn về bệnh lý phức tạp, tiên lượng và nguy cơ kết cục xấu trên bệnh nhân có suy yếu (15)
Trang 1717
1.6 Công cụ phù hợp tầm soát suy yếu ?
Suy yếu ở người cao tuổi góp phần ảnh hưởng quyết định điều trị Suy yếu được chẩn đoán dựa trên đánh giá lão khoa toàn diện CGA, nhưng công cụ này tốn thời gian và chi phí (24)
CGA ra đời cách nay khoảng 70 năm và có nguồn gốc từ công trình của Marjory Warren ở vương quốc Anh Warren sáng lập công cụ đánh giá lão khoa chuyên biệt dùng trong bệnh viện điều trị người cao tuổi bị bỏ rơi, nằm liệt giường Với sự đánh giá hệ thống những bệnh nhân này, Warren có thể quyết định ai là người hưởng lợi ích từ can thiệp điều trị và phục hồi chức năng Những thử nghiệm đưa cô trở thành người tiên phong đề xuất ứng dụng CGA trên người cao tuổi ở bệnh viện hoặc nhà điều dưỡng Từ đó, khái niệm và thực hành CGA đã phát triển , bổ sung vào điều trị y khoa truyền thống bao gồm đánh giá chức năng và điều trị từ nguyên lý phục hồi chức năng, đánh giá yếu tố xã hội và những đánh giá tâm lý khác từ khoa học hành vi - xã hội
CGA hiện nay được ứng dụng đa quốc gia và có vị trí trung tâm trong hệ thống chăm sóc lão khoa, hơn là chương trình chăm sóc dài hạn của các tổ chức Ở Mỹ, CGA là chương trình được bắt đầu từ 1970 ở bệnh viện dành cho cựu chiến binh Đơn vị chăm sóc lão khoa (ngày nay gọi là GEM -Geriatric Evaluation and Management - đơn vị đánh giá và điều trị Lão khoa) được thành lập, trước tiên dành cho khu vực nội trú và sau đó ở khoa cấp cứu, để nhận diện, đánh giá và điều trị cựu chiến binh cao tuổi suy yếu, tàn phế, đó là những người
có nguy cơ nằm viện lâu dài và t ngã, sẽ hưởng lợi ích từ chăm sóc thường quy Một thử nghiệm lâm sàng kiến nghị tiếp cận theo GEM mang đến hiệu quả caovà đề nghị áp dụng rộng rãi Vào giữa thập niên 90, hơn ba phần tư của 172 trung tâm y khoa dành cho cựu chiến binh đã báo cáo sử dụng chương trình GEM Ngày nay, CGA được chấp thuận sử dụng rộng rãi ở Mỹ, nhưng công cụ đánh giá lâm sàng chuẩn hóa này chưa được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng
(CGA) đánh giá 5 yếu tố: tình trạng chức năng theo ADL, IADL (functional status),
tình trạng nhận thức theo MMSE (cognitive status), trầm cảm theo GDS (depression), dinh dưỡng theo MNA rút gọn (nutrition) và các bệnh đi kèm (morbidity) Suy yếu trong các nghiên cứu đã tiến hành được xác định khi có suy giảm hơn 2 yếu tố trong CGA (37)
Một nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm ra công cụ tầm soát suy yếu phù hợp để giảm tiêu hao thời gian và nguồn lực không cần thiết
Trang 18Ineke HGJ Smets1 và cộng sự (2014) đã nghiên cứu đánh giá các thang điểm: Đánh giá Lão khoa toàn diện dạng rút gọn aCGA (abbreviated), VES-13 (the Vulnerable Elders Survey- 13, the Groningen Frailty Indicator GFIvà the Geriatric G8 Công cụ tầm soát suy yếu phải thỏa tiêu chí độ nhạy và độ đặc hiệu từ 85% trở lên, khi so sánh với CGA bao gồm đánh giá tình trạng chức năng, nhận thức, trầm cảm, dinh dưỡng, bệnh lý đi kèm Nghiên cứu tiến hành trong nhóm dân số trên 70 tuổi, bao gồm 108 bệnh nhân ung thư và 209 bệnh nhân không ung thư ở Hà Lan và Bỉ Kết quả cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của các thang điểm tầm soát cho cả bệnh nhân ung thư và không ung thư lần lượt là aCGA (79%, 87%), GFI (76%,73%) Thang điểm VES-13: độ nhạy 67% (bệnh nhân ung thư), 82% bệnh nhân không ung thư, độ đặc hiệu 70% (bệnh nhân ung thư), 79% bệnh nhân không ung thư Độ nhạy G8 là 87%, 75% (bệnh nhân ung thư và không ung thư), độ đặc hiệu 68% cho cả hai nhóm (24)
Kết quả, nghiên cứu ghi nhận chưa có công cụ tầm soát nào thỏa tiêu chí 85% độ nhạy và độ đặc hiệu Cần có thêm nhiều nghiên cứu tiến hành về các thang điểm tầm soát suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi ung thư và không ung thư để hỗ trợ chiến lược điều trị đối với bệnh nhân cao tuổi nhập viện
Tuy nhiên, ở một số nước như Hà Lan, Romania đã có những nghiên cứu tiến hành khẳng định tính giá trị trong tầm soát suy yếu của thang điểm GFI (24)
Nghiên cứu lựa chọn GFI là công cụ tầm soát ban đầu trong nghiên cứu của mình so sánh với CGA vì GFI là công cụ đánh giá nhiều yếu tố, khắc phục được hạn chế của những công cụ khác GFI được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng (trung tâm người cao tuổi, nhà điều dưỡng, khoa cấp cứu, khoa chấn thương, khoa hô hấp, khoa khớpvà ngoại khoa), bệnh nhân ngoại trú và trong các nghiên cứu lâm sàng
Một số nghiên cứu gồm đánh giá của nhà lâm sàng và tự đánh giá của bệnh nhân với cùng bộ câu hỏi GFI Tính hằng định nội tại của thang điểm GFI đã được đánh giá tốt và the calculated KR -20/Chronbach’s alpha từ 0,71 đến 0,77 Chỉ có một nghiên cứu trên người cao tuổi trong cộng dồn (community – dwelling older person) đánh giá thuộc tính tâm lý bằng bộ câu hỏi tự trả lời Trong nghiên cứu này, tính hằng định nội tại là 0,73 (chronbach’s alpha) và tính giá trị của thang GFI cũng được ủng hộ, có tương quan mạnh với 2 công cụ đánh giá suy yếu khác: the Sherbrooke Postal Questionnaire và TFI (convergent validity)
Trang 19và nhà dưỡng lão Do đó, mục đích của nghiên cứu này để đánh giá tính khả thi (feasibility),
độ tin cậy (reliability) và tính giá trị (validity) của bảng câu hỏi tự trả lời trong nhóm dân số người cao tuổi đồng nhất (30)
GFI là công cụ đo lường suy yếu với góc nhìn đa chiều, do người bệnh tự đánh giá, được
sử dụng rộng rãi trong nhà ở cộng đồng Những nghiên cứu trước đây cho thấy thang điểm GFI phân nhóm người cao tuổi có tổng điểm cao hơn có đặc điểm: tuổi già hơn, mắc nhiều bệnh và thu nhập thấp Những đặc điểm như đa bệnh, b o phìvà sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có mối liên quan với điểm số GFI cao
Nhiều nghiên cứu đã báo cáo tổng điểm GFI ở những nhóm dân số cao tuổi đặc trưng Tổng điểm này có thể được dùng để so sánh mức độ suy yếu giữa các dân số Hơn nữa, đánh giá suy yếu với thang điểm GFI trên nhiều phương diện có thể nhận diện tình trạng suy yếu Trong thực hành lâm sàng, mã hóa thang điểm GFI được sử dụng để phân nhóm người cao tuổi suy yếu và không suy yếu, giúp nhà lâm sàng có chiến lược điều trị và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn Dù đã có điểm cắt phân nhóm người cao tuổi suy yếu và không suy yếu, hiện vẫn còn thiếu sự so sánh khái quát giữa các thang đo lường về đánh giá bệnh tật và ứng dụng chăm sóc sức khỏe đi kèm
Do đó, trước tiên nghiên cứu muốn đánh giá khái quát việc xây dựng tính giá trị của thang điểm GFI trên nhóm dân số người cao tuổi đồng nhất Ngoài ra nghiên cứu giới thiệu điểm số suy yếu cho những phân nhóm khác nhau về nhân khẩu học, hiện diện bệnh lý về thể chất và tâm thần, b o phìvà sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước đây Do nghiên cứu có cỡ mẫu lớn, những điểm số suy yếu này cũng có thể được phân nhóm theo tuổi và giới Mục tiêu thứ hai của nghiên cứu nhằm báo cáo sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về stress và vấn đề tâm thần xã hội ở nhóm người cao tuổi suy yếu và không suy yếu Cuối cùng nghiên cứu muốn khảo sát những đặc tính cá nhân liên quan đến suy yếu Do vậy, bên cạnh việc đánh giá tính giá trị của thang điểm GFI, nghiên cứu cũng giám sát những đặc điểm của dân số người cao tuổi ở viện điều dưỡng Điểm số GFI cho mỗi phân nhóm và cách nhìn tổng quát đặc điểm cá nhân riêng biệt của nhóm suy yếu và không suy yếu sẽ
Trang 20mang đến lợi ích trong chăm sóc sức khỏevà nghiên cứu, góp phần vào sự phát triển chăm sóc can thiệp…
Kết quả nghiên cứu ủng hộ tính giá trị (validity) của thang GFI trên người cao tuổi sống trong cộng đồng L.L.Peters và cộng sự nghiên cứu thực hiện trên 7414 người cao tuổi từ
65 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình của dân số là 70, tỷ lệ nữ chiếm 53%, 28% có hai hoặc ba bệnh lý Tần suất bệnh lý như sau: bệnh mạch vành chiếm tỷ lệ cao nhất 41% (n=2339), viêm khớp 24% (n= 2339)và đục thủy tinh thể 15% (n=866) 20% bị b o phì (BMI ≥ 30 kg/m2) và chỉ 14% nhẹ cân (BMI <18.5 kg/m2) Điểm số GFI trung bình là 1 điểm, tương ứng tỷ lệ suy yếu là 9% (n=528) Dù điểm số GFI trung bình là giống nhau ở cả nam và nữ, the Mann – Whitney U test cho thấy có sự khác biệt giữa 2 giới (p=0.047) Tần suất suy yếu 9% ở nữ (n=272) và 10% ở nam (n=256) (26)
Tác giả Annemiek Bielderman và cộng sự nghiên cứu cắt ngang, nhằm mục đích đánh giá tính giá trị cấu trúc (structure validity), tính hằng định nội tại (internal consistency) và criterion validity (tính giá trị tiêu chuẩn) của bộ câu hỏi GFI ở người cao tuổi từ 65 trở lên,
cỡ mẫu là 1508 Tất cả đối tượng tham gia trả lời câu hỏi Nghiên cứu thử nghiệm trên 119 người cao tuổi trả lời thêm các bộ câu hỏi: De Jong Gierveld Loneliness Scale, Hospital Anxitety Depression Scale, RAND-36 physical functionining và EuroQol-5D Explorator factor analysis và Mokken scale analysis được sử dụng để đánh giá structural validity của GFI Sơ đồ Venn được dùng để mô tả sự chồng lắp trong suy giảm nhiều yếu tố trên bệnh nhân suy yếu (10)
Kết quả ủng hộ thang điểm GFI đo lường nhiều mặt Đánh giá hoạt động chức năng và tâm lý xã hội có tính hằng định nội tại cao, scalability và criterion validity (Daily Activities : Cronbach’s α=0.81, Hs=.84, r=-.62; Psychosocial Functioning: Cronbach’s α=0.80, Hs=.35,r=-.48) Kết quả ghi nhận thêm 90% bệnh nhân suy yếu có vấn đề về chức năng tâm
lý xã hội
Nghiên cứu này ủng hộ tính chất khảo sát đa chiều của bộ câu hỏi GFI, có thể ứng dụng
để đánh giá suy yếu Sử dụng thang điểm GFI phân tầng nhiều mức độ theo điểm trên nhiều yếu tố cho thấy hiệu quả đánh giá suy yếu nhiều hơn chỉ tính tổng điểm GFI, góp phần hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cụ thể hơn cho người cao tuổi (10)
Sự lựa chọn người cao tuổi có nguy cơ xuất hiện kết cục lâm sàng xấu (ví dụ tình trạng
Trang 21Những nghiên cứu khác đã đánh giá tính giá trị của thang GFI trên kết cục xấu (tử vong, nhập viện, suy giảm chức năng) và cho thấy tiềm năng của thang điểm trong việc nhận diện người cao tuổi nguy cơ Tuy nhiên, giá trị tiên đoán và tính chính xác trong đánh giá nguy
cơ cá nhân chưa được nghiên cứu đầy đủ, mặc dù giá trị tiên đoán của GFI đều phù hợp với các công cụ suy yếu khác, bất kể công cụ đánh giá thể chất hoặc đánh giá đa yếu tố (31) Chăm sóc sức khỏe ban đầu đóng vai trò quan trọng trong nhận diện người cao tuổi suy yếu GFI được đánh giá là thang điểm giá trị trong khảo sát tình trạng suy yếu người cao tuổi Tuy nhiên, thang điểm chưa được chuẩn hóa ở nhiều quốc gia Mục đích nghiên cứu này là phân tích tính giá trị của GFI ở người cao tuổi sống độc lập ở Romania Hai mươi hai nhân viên y tế được huấn luyện tham gia nghiên cứu, gửi bộ câu hỏi GFI đến 215 người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên, khảo sát mức độ suy yếu từ bộ câu hỏi này
Độ tuổi trung bình của nhóm dân số khảo sát là 74.9 tuổi, điểm số GFI trung bình là 5.5 (SD=2.9), Ba phần tư người tham gia được phân nhóm suy yếu trung bình hoặc nặng, nhóm dân số từ 80 tuổi trở lên có điểm số suy yếu cao 98% dân số tham gia hoàn thành 75% bộ câu hỏi Tính giá trị riêng lẻ (construct validity) tốt (Cronbach’s alpha là 0.746) Tất cả câu hỏi được xây dựng đều có ý nghĩa thống kê về điểm số (contributed statistically significant
to the total GFI score (content validity) Người cao tuổi được nhân viên y tế đánh giá suy yếu có điểm số GFI cao hơn nhóm không suy yếu
Nghiên cứu này cho thấy GFI với tính ứng dụng và giá trị là công cụ để đánh giá suy yếu ở người cao tuổi sống độc lập ở Romania So với nhóm dân số cao tuổi được nghiên cứu ở Hà Lan, tần suất suy yếu ở Romania cao hơn Cần nhiều nghiên cứu hơn khảo sát điểm cắt phù hợp để ứng dụng trong hệ thống y tế quốc gia (33)
Trang 22Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các bước tiến hành nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chuyển ngữ để thích ứng văn hóa bộ câu hỏi tầm soát suy yếu: Dấu chỉ điểm suy yếu Groningen, PRISMA từ tiếng Anh sang tiếng Việt
Giai đoạn 2: Đánh giá tính hợp lý và giá trị ứng dụng lâm sàng của bộ câu hỏi tầm soát suy yếu: Dấu chỉ điểm suy yếu Groningen, PRISMA
2.1 GIAI ĐOẠN 1: CHUYỂN NGỮ ĐỂ THÍCH ỨNG VĂN HÓA BỘ CÂU HỎI: DẤU CHỈ ĐIỂM SUY YẾU GRONINGEN, PRISMA
Dựa theo hướng dẫn của Guillemin (22), Beaton (11) và Tổ chức Y Tế Thế Giới (47) về quy trình chuyển ngữ để thích ứng văn hóa bộ câu hỏi GFI, PRISMA chúng tôi thực hiện các bước sau đây để xây dựng bộ câu hỏi GFI, PRISMA bản tiếng Việt
2.1.1 Dịch xuôi từ tiếng Anh sang tiếng Việt và đánh giá chất lượng bản dịch tiếng Việt
Chúng tôi mời hai người biết song ngữ với ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt và thông thạo tiếng Anh, dịch bộ câu hỏi GFI, PRISMA từ tiếng Anh sang tiếng Việt (1,2) Người đầu tiên
là bác sĩ chuyên khoa Lão, là giảng viên bộ môn Lão Đại Học Y Dược TP.HCM Người dịch thứ hai là cử nhân tiếng Anh, có kinh nghiệm trong dịch thuật
Chúng tôi nhấn mạnh việc dịch Anh-Việt ngữ bộ câu hỏi này tập trung vào ngữ nghĩa hơn là câu chữ và người Việt Nam từ 14 tuổi trở lên biết đọc biết viết có thể hiểu được bản dịch này Hai người sẽ dịch song song và độc lập để ra hai bản dịch T1 và T2
Đồng thời với bản dịch Anh-Việt, mỗi người dịch sẽ cung cấp thêm một bản báo cáo chi tiết về các khó khăn trong quá trình dịch như các cụm từ khó dịch hoặc không chắc chắn (nếu có)
Tiếp theo, hai người dịch cùng với một thư ký trong nhóm nghiên cứu (trong trường hợp này là người làm nghiên cứu) cùng ngồi tổng kết bản dịch T1 và T2, từ đó đưa ra một bản dịch xuôi chung, gọi là bản dịch Anh-Việt chung (T1-2) Kết quả thảo luận được nhóm nghiên cứu ghi nhận lại
2.1.2 Dịch ngược từ tiếng Việt sang tiếng Anh
Quá trình này được thực hiện trên bản dịch T12 để dịch ngược trở lại ngôn ngữ ban đầu
Trang 2323
Bản dịch T1-2 được gửi đến hai người Mỹ, sinh ra và làm việc tại Mỹ nhưng có cha mẹ
là người Việt, thông thạo tiếng Việt Cả hai người đều chưa bao giờ biết đến bản gốc bộ câu hỏi GFI, PRISMA và đều không liên quan đến ngành lão khoa
Sau khi hoàn thành, bản dịch ngược VT1 và VT2 sẽ được gửi ngược lại cho thư ký
2.1.3 Hội đồng đánh giá
Sau khi đã có đầy đủ bộ câu hỏi gốc GFI, PRISMA và các bản dịch ngược, xuôi, nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp, đánh giá toàn bộ quá trình chuyển ngữ, so sánh đối chiếu các bản dịch với nhau, dựa trên các tiêu chí sau:
Tính rõ ràng: sử dụng câu chữ đơn giản và dễ hiểu
Tính phổ cập: tránh dùng thuật ngữ khoa học, chuyên môn, nên dùng thuật ngữ chung mọi người đều biết
Tính tương đương về ngữ nghĩa: các từ có nghĩa giống hay bám sát nội dung bản gốc Tính tương đương khái niệm: diễn tả đúng khái niệm mà bản gốc đề cập đến
Hội đồng sẽ đánh giá và đề xuất cách hiệu chỉnh đối với các từ hoặc cụm từ khó dịch để thống nhất cho ra bản dịch trước khi thử nghiệm, gọi là bản dịch Việt ngữ thử nghiệm hay phiên bản Prefinal
2.1.4 Kiểm tra phiên bản Prefinal
Bản dịch thử nghiệm này được phát tận tay cho 35 đối tượng từ 60 tuổi trở lên có tình trạng sức khỏe khác nhau đang là bệnh nhân ở các khoa nội BV ĐHYD
Sau khi ghi nhận thời gian hoàn tất bộ câu hỏi, chúng tôi yêu cầu mỗi đối tượng tự đánh giá nội dung bằng cách trả lời 4 câu hỏi sau:
Những câu hỏi này thấy khó hiểu hay khó trả lời?
Những từ nào thấy không rõ ràng?
Những phần trả lời nào có thể gây nhầm lẫn?
Đề xuất (nếu có) những từ hay cụm từ nào có thể sử dụng để tránh hiểu lầm hay nhầm lẫn
Cuối cùng, chúng tôi chỉnh sửa bản dịch thử nghiệm lần cuối cùng trước khi công bố bản dịch Việt ngữ chính thức (final), còn gọi là bộ câu hỏi GFI, PRISMA tiếng Việt
2.2 GIAI ĐOẠN 2: ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG BỘ CÂU HỎI TẦM SOÁT SUY YẾU: DẤU CHỈ ĐIỂM SUY YẾU GRONINGEN, PRISMA
Trang 242.2.1 Thiết ế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả - tiến cứu
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu:
NCT (≥ 60 tuổi) điều trị tại các khoa nội, BV ĐHYD HCM
2.2.3 Cỡ mẫu
Lấy mẫu thuận tiện:
Khảo sát liên tục tất cả các BN (≥ 60 tuổi) tại các khoa nội, BV DHYD, từ tháng 10/2016
tháng 3/2017
2.2.4 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu liên tục thuận tiện tất cả bệnh nhân ≥ 60 tuổi điều trị tại các khoa nội, BV
ĐHYD, từ tháng 10/2016 đến tháng 3/2017
2.2.4.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
o Người cao tuổi có khả năng giao tiếp, biết đọc và biết viết tiếng Việt
o Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
2.2.4.2 Tiêu chuẩn loại trừ
o Không đủ năng lực trả lời câu hỏi nghiên cứu (bệnh tâm thần, sa sút trí tuệ, bệnh cấp tính đang diễn tiến nặng)
o Suy giảm các giác quan ảnh hưởng nhiều đến quá trình phỏng vấn
o Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.5 Tiêu chuẩn áp dụng phương pháp tự điền hoặc phỏng vấn trực tiếp
o Tiêu chuẩn áp dụng phương pháp tự điền: bệnh nhân có khả năng đọc, viết tiếng Việt
o Tiêu chuẩn áp dụng phỏng vấn trực tiếp: bệnh nhân không thể tự trả lời bảng câu hỏi do không biết chữ, mắt kém, hoặc sức khỏe kém không thể tự điền bảng câu hỏi nhưng có thể trả lời khi được phỏng vấn
o Tất cả bệnh nhân đều sẽ được ưu tiên áp dụng phương pháp tự điền trước, nếu
không đạt tiêu chuẩn để tự điền thì bệnh nhân mới được phỏng vấn trực tiếp 2.2.6 Quy trình nghiên cứu
Bước 1:
Trang 2525
Mời các bệnh nhân NCT (≥ 60 tuổi) điều trị tại các khoa nội, BV ĐHYD HCM từ tháng
10/2016 đến 30/03/2016 tham gia nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đều được giải thích mục đích và thủ tục tham gia nghiên cứu Bệnh
nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký tên vào bản đồng ý tham gia
Bước 2:
Đối tượng tham gia nghiên cứu tự điền hoặc điền có hỗ trợ các thông tin chung theo biểu
mẫu
Bước 3:
Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu tự trả lời bộ câu hỏi GFI, PRISMA và được phỏng
vấn bộ câu hỏi CGA
Sau khi đối tượng nghiên cứu trả lời xong, người nghiên cứu kiểm tra lại toàn bộ bản câu
hỏi, yêu cầu đối tượng trả lời lại câu hỏi bị bỏ sót (nếu có)
Trong trường hợp đối tượng không đạt tiêu chuẩn áp dụng phương pháp tự điền, người nghiên cứu ghi nhận lí do tại sao đối tượng không thể tự trả lời bảng câu hỏi Người nghiên cứu sẽ đọc to, rõ lần lượt từng câu hỏi và các lựa chọn trả lời, rồi ghi lại câu trả lời của đối tượng nghiên cứu lựa chọn Trong trường hợp đối tượng không hiểu ý câu hỏi hoặc trả lời
không đúng ý câu hỏi, người phỏng vấn sẽ giải thích thêm, đồng thời ghi nhận lại
Bước 4:
Gửi lại bộ câu hỏi GFI, PRISMA cho đối tượng tham gia nghiên cứu hoặc phỏng vấn lại
đối tượng với bộ câu hỏi GFI, PRISMA sau 2 ngày (lần 2)
2.2.7 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi GFI, PRISMA đã được Việt ngữ và chuẩn hóa (xem phụ lục)
Bộ câu hỏi CGA (xem phụ lục)
Bảng thu thập dữ liệu thông tin cá nhân, các đặc điểm liên quan cần khảo sát (xem phụ lục)
Bản ký thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu của bệnh nhân (xem phụ lục)
2.2.8 Định nghĩa các biến số nghiên cứu
a) Đặc điểm dân số xã hội
- Tuổi: biến định lượng được mã hoá thành biến định tính, tính tuổi từ năm sinh đến
lúc ghi nhận trong nghiên cứu
- Giới: biến nhị giá, hai giá trị: nam, nữ
Trang 26- Trình độ học vấn: biến định tính
Các giá trị gồm: mù chữ, cấp 1, cấp 2, cấp 3 - trung cấp nghề, cao đẳng - đại học, sau đại học
- Nơi sinh sống: biến nhị giá, hai giá trị: nông dân, thành thị
- Hoàn cảnh gia đình: biến nhị giá, hai giá trị: sống với gia đình, sống một mình
- Bệnh ung thư: biến nhị giá, hai giá trị: có, không
- T ngã trong năm qua: biến nhị giá: có, không
- Chỉ số BMI: biến định tính, gồm các giá trị: gầy, bình thường, tiền béo phì, béo phì
độ 1, b o phì độ 2, béo phì độ 3
b) Thông tin lâm sàng
- Đa bệnh: được định nghĩa là ≥ 2 điểm (theo chỉ số Charlson)
mã hoá thành biến nhị giá, Hai giá trị: có hoặc không
- T ngã trong năm qua: biến nhị giá: có, không
- Bệnh ung thư: biến nhị giá, hai giá trị: có, không
c) Điểm số bộ câu hỏi GFI
Groningen frailty indicator (GFI) là bộ câu hỏi ngắn gồm 15 câu hỏi về thể chất
(physical), nhận thức (cognitive), xã hội (social) và tâm lý (psychological) Nếu trả lời có điểm số ≥ 4 điểm xem như có suy yếu (15)
Biến định lượng, mã hóa thành biến định tính, Gồm hai giá trị: có và không
d) Điểm số bộ câu hỏi PRISMA
PRISMA-7: là một bảng câu hỏi 7 câu nhằm xác định NCT mất chức năng, vốn từng
được sử dụng trong nhiều nghiên cứu suy yếu (6) Kết quả đánh giá ≥ 3 được xem là có suy
yếu (38)
e) Điểm số thang điểm CGA
Đánh giá Lão Khoa Toàn Diện (CGA): gồm 5 phương diện: tình trạng chức năng, tình
trạng nhận thức, trầm cảm, dinh dưỡng và các bệnh đồng mắc Suy yếu được định nghĩa khi
có suy giảm ít nhất hai phương diện của đánh giá CGA đầy đủ Tình trạng chức năng được đánh giá bằng tình trạng hoạt động sống cơ bản hàng ngày (ADL) (11) và Các Hoạt Động sinh hoạt hằng ngày có dụng cụ (IADL) (10) Tình trạng nhận thức được đánh giá bởi Lượng Giá Trạng Thái Tâm Thần Tối Thiểu (MMSE) (4) Triệu chứng trầm cảm được đánh