Do vậy, bệnh nhân tăng huyết áp nên được kiểm tra nồng độ acid uric huyết thanh như là xét nghiệm thường quy để có tiên lượng đúng và hướng điều trị hiệu quả, hạn chế các biến chứng về t
Trang 1BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
MỐI LIÊN QUAN GIỮA ACID URIC
HUYẾT THANH VÀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT Ở
BỆNH NHÂN TRÊN 40 TUỔI
Mã số :
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Thị Xuân Thảo
Tp Hồ Chí Minh, Tháng 4/ Năm 2018
Trang 2BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
MỐI LIÊN QUAN GIỮA ACID URIC
HUYẾT THANH VÀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT Ở
BỆNH NHÂN TRÊN 40 TUỔI
Tp Hồ Chí Minh, Tháng 4/ Năm 2018
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Họ và tên, học hàm học vị
Chức danh trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ
Đơn vị công tác
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ TỔNG QUAN Y VĂN 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Tổng quan 2
1.2.1 Acid uric 2
1.2.2 Tăng huyết áp 11
1.2.3 Mối liên quan giữa tăng huyết áp và tăng acid uric máu 14
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Cỡ mẫu 19
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 19
2.2.3 Cách tiến hành 20
2.2.4 Kiểm soát sai lệch 23
2.2.5 Xử lý số liệu 23
2.3 Vấn đề y đức 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ và BÀN LUẬN 25
3.1 Kết quả 25
3.1.1 Đặc tính mẫu 25
3.1.2 Acid uric và các yếu tố liên quan 25
3.2 Bàn luận 29
3.2.1 Mối liên quan giữa acid uric và tuổi 29
3.2.2 Mối liên quan giữa acid uric và giới tính 29
3.2.3 Mối liên quan giữa acid uric và chỉ số khối cơ thể (BMI) 29
3.2.4 Mối liên quan giữa acid uric và tăng huyết áp 30
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN và KIẾN NGHỊ 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG – HÌNH – BIỂU ĐỒ
Bảng 1 Phân loại mức độ THA của WHO 1996 11
Bảng 2 Phân loại tăng huyết áp ở người ≥ 18 tuổi theo JNC VI 1997 12
Bảng 3: Đặc tính của mẫu nghiên cứu theo tần số và phần trăm (%) (n=384) 25
Bảng 4: Độ tăng huyết áp và nồng độ acid uric huyết thanh của bệnh nhân (n=384) 26
Bảng 5: Nồng độ acid uric và đặc tính mẫu (n=384) 27
Bảng 6: Phân bố nồng độ trung bình (±độ lệch chuẩn) của acid uric theo độ tăng huyết áp (n=384) 28
Hình 1 Thoái hóa nucleotides 4
Hình 2 Chuyển hóa acid nucleotide 5
Hình 3: Kết quả ngoại kiểm tra acid uric 22
Biểu đồ 1: So sánh nồng độ trung bình của acid uric giữa các nhóm tăng huyết áp 28
Trang 6THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Mối liên quan giữa acid uric huyết thanh và bệnh tăng huyết áp
nguyên phát ở bệnh nhân trên 40 tuổi
- Mã số:
- Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Thị Xuân Thảo
Điện thoại: 0932105465 Email: lethixuanthao@ump.edu.vn
- Đơn vị quản lý về chuyên môn: bộ môn Hóa Sinh, Khoa Y, Đại học Y Dược TP.HCM
- Thời gian thực hiện: từ tháng 7/2016 đến tháng 4/2018
4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):
- Về đào tạo: 01 BS CKI chuyên ngành Hóa Sinh
- Công bố trên tạp chí trong nước: Tạp chí Y học TP.HCM, xuất bản năm 2018
Trang 75 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại
- Kết quả nghiên cứu được chuyển giao: BV Đa khoa tỉnh Bình Thuận
- Kết quả nghiên cứu đã cho thấy ý nghĩa về việc tăng acid uric huyết thanh có liên quan theo xu hướng tăng dần với các phân độ tăng huyết áp và chỉ số khối cơ thể BMI Do vậy, bệnh nhân tăng huyết áp nên được kiểm tra nồng độ acid uric huyết thanh như là xét nghiệm thường quy để có tiên lượng đúng và hướng điều trị hiệu quả, hạn chế các biến chứng về tiết niệu, tim mạch và tử vong về sau cho bệnh
nhân
- Giảm thiểu chi phí và gánh nặng bệnh tật cho bệnh nhân Đồng thời giúp bác sĩ lâm sàng có thể tiên lượng và điều trị tốt hơn
Trang 8CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là bệnh mãn tính phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe doạ nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, và cũng là nguyên nhân gây tàn phế, tử vong hàng đầu đối với những người lớn tuổi Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đã có khoảng 1,5 tỷ người trên thế giới mắc tăng huyết áp Tại Việt Nam, một khảo sát của Viện Tim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh, thành phố thì tỷ lệ tăng huyết áp của người từ 25 tuổi trở lên là 27,4% [8] Acid uric là sản phẩm chuyển hóa cuối cùng của nucleotid có nhân purin Sản phẩm này được hình thành từ 3 nguồn: nguồn thoái hóa các nucleotid từ thức ăn, thoái hóa các nucleoprotein do quá trình hủy tế bào trong cơ thể hoặc tạo ra từ sự tổng hợp nội sinh các nucleoprotein Bình thường lượng acid uric được tạo ra hàng ngày từ tổng hợp nội sinh khoảng 350mg và từ purin của thức ăn khoảng 300mg Lượng acid uric đào thải ra khỏi cơ thể hàng ngày cũng tương đương, khoảng
650 mg, chủ yếu qua thận (80%) và một phần thải qua đường tiêu hóa Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở nam giới là 50±29mg/L (hay 180-420 µmol/L) và ở nữ là 40±20mg/L (hay 150-360 µmol/L) Tăng acid uric huyết thanh được xác định khi nồng
độ >420 µmol/L ở nam và > 360 µmol/L ở nữ [15][20][21] Tăng acid uric có 2 loại nguyên phát, thứ phát và được phân biệt theo cơ chế bệnh sinh và chẩn đoán được chia làm 3 nhóm tăng acid uric do tăng tổng hợp, do giảm đào thải hoặc phối hợp cả tăng tổng hợp và giảm đào thải Khi nồng độ acid uric tăng quá mức bão hòa trong huyết tương, kết hợp với một số điều kiện vật lý, thì xảy ra sự lắng đọng của sodium urat ở cơ quan đích
Sự lắng đọng này gây tổn thương nhiều cơ quan như mạch máu, tim, mắt, màng não, cơ quan sinh dục mà điển hình là sự lắng đọng ở khớp gây nên các cơn gout cấp do quá trình viêm khớp tái phát nhiều lần Không chỉ có vậy, tăng acid uric còn có mối liên quan chặt chẽ đến nhiều bệnh lý khác như tăng huyết áp Một số nghiên cứu cho thấy vai trò của acid uric huyết thanh trong bệnh lý tim mạch nói chung và tăng huyết áp nói riêng [8][31] Tăng acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp là một chỉ dẫn sinh học
Trang 9sớm cho tổn thương thận do tăng huyết áp [21], và cũng liên quan với béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu Xét nghiệm acid uric huyết thanh đã được sử dụng như xét nghiệm thường quy ở bệnh nhân tăng huyết áp nhằm chọn lọc thuốc điều trị và theo dõi tác dụng phụ của thuốc điều trị trong tiên lượng bệnh tăng huyết áp Tuy vậy, ở Việt Nam, các nghiên cứu về acid uric huyết thanh và bệnh tăng huyết áp vẫn còn hạn chế Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu khảo sát nồng độ acid uric huyết thanh
ở bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận nhằm xác định nồng
độ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp và tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch nói chung và tăng huyết áp nói riêng
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp ở bệnh nhân >40 tuổi có chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát tại
phòng khám bệnh – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận
1.2 TỔNG QUAN
1.2.1 Acid uric
Acid uric là sản phẩm chuyển hóa cuối cùng của nucleotid có nhân purin Sản phẩm này được hình thành từ 3 nguồn: nguồn thoái hóa các nucleotid từ thức ăn, thoái hóa các nucleoprotein do quá trình hủy tế bào trong cơ thể hoặc tạo ra từ sự tổng hợp nội sinh các nucleoprotein Việc tổng hợp và chuyển hóa purin xảy ra ở mọi tổ chức nhưng sự tổng hợp acid uric chỉ diễn ra ở các tổ chức có chứa enzyme xanthin oxydase (thực hiện chủ yếu ở gan và ruột non)
Bình thường lượng acid uric được tạo ra hàng ngày từ tổng hợp nội sinh khoảng 350mg
và từ purin của thức ăn khoảng 300mg Lượng acid uric đào thải ra khỏi cơ thể hàng ngày cũng tương đương, khoảng 650 mg, chủ yếu qua thận (80%) và một phần thải qua đường tiêu hóa Ở pH 7,4 trong huyết tương, acid uric tồn tại chủ yếu dưới dạng sodium urate Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở nam giới là 50 ±29mg/L (hay 180-420 µmol/L) và ở nữ là 40 ± 20mg/L (hay 150-360 µmol/L) Tăng acid uric huyết thanh được
Trang 10xác định khi nồng độ >420 µmol/L ở nam và > 360 µmol/L ở nữ Ngưỡng xác định này dựa trên các yếu tố vật lý, hóa học, tính đến sự hòa tan của sodium urate ở 370C, với pH khoảng 7,4 trong huyết tương
Tăng acid uric có 2 loại nguyên phát, thứ phát và được phân biệt theo cơ chế bệnh sinh và chẩn đoán được chia làm 3 nhóm tăng acid uric do tăng tổng hợp, do giảm đào thải hoặc phối hợp cả tăng tổng hợp và giảm đào thải Khi nồng độ acid uric tăng cao quá mức bão hòa trong huyết tương, cộng với một số điều kiện vật lý, thì xảy ra sự lắng đọng của sodium urat ở cơ quan đích Sự lắng đọng này gây tổn thương nhiều cơ quan như mạch máu, tim, mắt, màng não, cơ quan sinh dục mà điển hình là sự lắng đọng ở khớp gây nên các cơn gout cấp do quá trình viêm khớp tái phát nhiều lần Không chỉ có vậy, tăng acid uric còn có mối liên quan chặt chẽ đến nhiều bệnh lý khác
Frederick Mahomed, Haig Alexandre và Nathan Smith Davis là những người đầu tiên đưa ra giả thuyết tăng acid uric gây tăng huyết áp và bệnh thận Sau đó, đến giữa thập niên 50 và đầu thập niên 60 của thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt những công trình nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa acid uric với các biến cố tim mạch bao gồm tăng huyết áp, hội chứng chuyển hóa, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não, tiền sản giật
và cả bệnh thận [21][26]
Cấu tạo và chuyển hóa của acid uric
Acid uric tồn tại dưới 2 dạng là ceton và enol
Acid uric là một acid yếu, với hệ số phân ly (pKaS) là 5,75- 10,3 Những thể ion hóa của acid uric máu là urat, chiếm ưu thế trong huyết tương, dịch ngoài bào và trong hoạt dịch Trong huyết tương với độ pH 7,4 thì khoảng 98% lượng acid uric tồn tại dưới dạng muối
Trang 11kiềm (sodium urat) với nồng độ urat 415μmol/L (6,8 mg/dL) ở nhiệt độ 370C thì huyết tương được bão hòa Như vậy với nồng độ cao hơn, huyết tương sẽ bị quá bão hòa và có khả năng tạo kết tủa tinh thể urat
Độ pH của nước tiểu ảnh hưởng nhiều đến sự hòa tan của acid uric Với pH 5.0 nước tiểu được bão hòa, khi nồng độ acid uric trong khoảng từ 360-900 μmol/L (6-15mg/dL) Với pH 7,0 sự bão hòa ở nồng độ 9480-12.000 μmol/L (158-200mg/dL) Những thể ion hóa của acid uric trong nước tiểu bao gồm: mono và dinatri, kali, amonium và urat calci [2][5][14]
Sự tạo thành của acid uric
Các enzyme nucleotidase thủy phân các mononucleotide thành acid phosphoric và nucleosid Sau đó các nucleosid tiếp tục bị thủy phân thành các base và pentose dưới tác dụng của nucleosidase (hình 1 và 2)
Hình 1 Thoái hóa nucleotides
(Nguồn: www.tonghoiyhoc.vn)
Trang 12Hình 2 Chuyển hóa acid nucleotide
(Nguồn: Sách Hoá sinh y học – 2015 – Chủ biên: PGS-TS Lê Xuân Trường)
Sự thải trừ acid uric
Để cân bằng hàng ngày acid uric được thải từ ra ngoài chủ yếu qua đường thận 500mg/24 giờ) và một phần qua phân và các đường khác (200mg/24 giờ) Sự bài tiết qua đường thận bình thường chiếm khoảng 2/3-3/4 lượng urat được tạo thành mỗi ngày Sự bài tiết qua đường ruột nhờ vi khuẩn có men uricolysis Sự bài tiết acid uric cũng bị ảnh
Trang 13(450-hưởng bởi sự thay đổi ngày đêm: trong thời gian ngủ sự bài tiết acid uric qua đường thận
bị giảm và sự bài tiết qua đường ruột tăng lên
Như một chất siêu lọc acid uric được phân bố rộng khắp trong dịch ngoại bào, kể
cả nước bọt, xấp xỉ 8-12% lượng urat lọc qua cầu thận được bài tiết theo nước tiểu dưới dạng acid uric Sau khi lọc qua cầu thận 98% lượng urate được tái hấp thu, khoảng một nửa (50%) lượng urate được tái hấp thu sẽ được bài tiết qua ống lượn gần, khoảng 40% của lượng urate bài tiết sẽ được tái hấp thu trở lại
Tăng acid uric trong máu: theo lý thuyết, tăng acid uric máu có thể là kết quả tăng sản xuất, giảm bài tiết acid uric hoặc từ sự phối hợp của những bất thường này Tăng acid uric máu được định nghĩa khi nồng độ acid uric trong máu 7mg/dL(420,0 μmol/L) đối với nam giới và ≥ 6 mg/dL(360 μmol/L) đối với phụ nữ Những nguyên nhân của tăng acid uric máu [5][9][10]
Tăng sản xuất urate
- Thức ăn là một nguồn cung cấp purin ngoại sinh Những thực phẩm giàu purin như là: gan, lách, thận, tôm, cua cá, lòng đỏ trứng, nấm
- Nguồn purin nội sinh: là do sự phá hủy các tế bào giải phóng ra các acid nhân ADN và ARN
Giảm bài tiết acid uric: về mặt lý thuyết tăng acid uric có thể là kết quả từ giảm lọc cầu
thận, giảm bài tiết ống thận hoặc tăng tái hấp thu ở ống thận
Những cơ chế phối hợp: tăng sản xuất acid uric và giảm bài tiết góp phần làm tăng acid
uric máu
Nguyên nhân tăng acid uric máu
Có nhiều yếu tố góp phần làm tăng nồng độ acid uric trong máu, bao gồm: di truyền, kháng insulin, tăng hàm lượng sắt, tăng huyết áp, suy giáp, tăng năng tuyến giáp, suy thận, béo phì, ăn kiêng, sử dụng thuốc lợi tiểu (ví dụ như thiazides, thuốc lợi tiểu tuần hoàn) và sử dụng thức uống có cồn quá nhiều Uống nhiều rượu, bia được xem là yếu tố quan trọng nhất của tăng acid uric trong máu [34]
Trang 14Nguyên nhân gây tăng acid uric máu có thể được phân thành ba loại chức năng [33]: tăng sản xuất acid uric, giảm bài tiết axit uric, và dạng hỗn hợp
Tăng sản xuất acid uric
Tăng sản xuất acid uric do purine cao trong chế độ ăn uống và tăng chuyển hóa purine Chế độ ăn uống bình thường không đủ để gây ra chứng tăng acid uric máu Thực phẩm giàu chất purin adenine và hypoxanthine được xem là nguyên nhân của sự gia tăng nhanh acid uric máu [18]
Giảm bài tiết axit uric
Giảm bài tiết acid uric do bệnh thận, thuốc, và sự cạnh tranh về bài tiết giữa acid uric và các phân tử khác Các thuốc có chức năng giảm bài tiết như thuốc chống nôn, là nhóm thuốc chính góp phần gây tăng acid uric máu Các thuốc và tác nhân khác bao gồm thuốc lợi tiểu, salicylat, pyrazinamit, ethambutol, axit nicotinic, ciclosporin, 2-ethylamino-1,3,4-thiadiazole, và các chất gây độc tế bào [29]
Nguyên nhân hỗn hợp
Nguyên nhân hỗn hợp thường do rượu, có thể kết hợp fructose cao trong chế độ ăn uống,
và nhịn đói Chế độ ăn kiêng làm giảm khả năng bài tiết acid uric do thận cạnh tranh giữa axit uric và ceton
Uống nhiều rượu, bia (ethanol), là một trong những nguyên nhân gây tăng acid uric máu, do tác động cộng gộp của nhiều cơ chế Ethanol tăng sản xuất axit uric bằng cách tăng sản xuất axit lactic Ethanol cũng làm tăng nồng độ hypoxanthine và xanthine trong huyết tương bằng cách gia tăng tốc độ suy giảm nucleotide adenine, là chất ức chế yếu của xantine dehydrogenase Ethanol làm giảm bài tiết axit uric bằng cách thúc đẩy mất nước [34]
Chế độ ăn nhiều fructose cũng góp phần đáng kể cho chứng tăng acid uric máu Một nghiên cứu đa trung tâm tại Hoa Kỳ cho thấy những người tiêu thụ đồ uống có đường với số lượng từ 4 trở lên thì có nguy cơ tăng acid uric máu 1,82 lần so với nhóm chứng [19] Tăng sản xuất acid uric là kết quả của sự can thiệp, bởi một sản phẩm chuyển hóa fructose, trong quá trình chuyển hóa purine [32]
Trang 15Nhịn đói lâu ngày là nguyên nhân khiến cơ thể gia tăng chuyển hóa từ các mô để cung cấp năng lượng, do đó làm tăng lượng purine chuyển thành acid uric Chế độ ăn kiêng rất ít calorie mà không có carbohydrate có thể gây tăng acid uric máu Nhịn đói lâu ngày làm suy yếu khả năng bài tiết acid uric của thận, do sự cạnh tranh về vận chuyển giữa acid uric và ceton [22].
Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ acid uric
Tuổi và giới tính
- Nồng độ acid uric thay đổi theo tuổi và giới tính
- Trẻ em có nồng độ urat huyết thanh 150-240μmol/L (3,0 - 4,0 mg/dL), trung bình khoảng 3,6mg/dL, không thay đổi theo giới và thấp hơn ở người trưởng thành
- Sau tuổi dậy thì nồng độ urat huyết tương gia tăng ở cả hai giới, nhưng ở nam giới cao hơn Ở nam giới trước 20 tuổi nồng độ urat huyết tương biến đổi theo hình cao nguyên và sau đó thì ổn định Ở nữ giới nồng độ urat huyết tương bắt đầu gia tăng sau tuổi dậy thì, nhưng vẫn duy trì ở mức thấp cho đến tuổi mãn kinh
- Mặc dù nguyên nhân của sự thay đổi theo giới này không được hiểu một cách rõ ràng, người ta cho rằng đó là do sự bài tiết urat ở người phụ nữ cao hơn và có lẽ là
do ảnh hưởng đến hormon Nồng độ trung bình của urat huyết thanh của đàn ông trưởng thành là 415 μmol/L (6,8mg/dL) và phụ nữ tiền mãn kinh là 360 μmol/L (6,0mg/dL) Sau khi mãn kinh, nồng độ urat huyết thanh ở phụ nữ tăng nhiều và xấp xỉ hoặc ngang bằng với đàn ông [2][10]
Yếu tố cơ thể học
Nồng độ urate huyết thanh có thể liên quan với trọng lượng và diện tích cơ thể Trong nghiên cứu dịch tễ học và cơ thể học (đánh giá trọng lượng cơ thể, diện tích bề mặt cơ thể hay chỉ số khối) đã cung cấp một trong những chỉ dẫn quan trọng của tăng acid uric máu
đó là béo phì [2][10]
Tăng insulin máu và sự đề kháng insulin
Ở những người khỏe mạnh, sự bài tiết acid uric xấp xỉ 7%, điều này cho thấy chỉ có một lượng nhỏ acid uric được thoát ra từ sự tái hấp thu ở ống thận, tỷ lệ này giảm khoảng
Trang 1626% ở những người có tăng insulin máu, điều này cho thấy insulin ngăn chặn sự bài tiết hoặc tăng tái hấp thu acid uric ở ống thận [13]
Những nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tăng insulin máu dẫn đến tăng tái hấp thu natri ở thận, và sự gia tăng này kết hợp một cách mạnh mẽ với sự gia tăng tái hấp thu acid uric ở thận Vì vậy, đề kháng insulin có thể đại diện cho sự tương quan giữa tăng huyết
áp động mạch với tăng acid uric máu và những rối loạn chuyển hóa trong tình trạng đề kháng insulin như là: đái tháo đường, béo phì và rối loạn lipid máu
Rượu
Sự tiêu thụ rượu liên quan một cách có ý nghĩa với sự tăng acid uric máu Một lý do để giải thích cho sự liên quan này là sự cạnh tranh giữa chuyển hóa của rượu và sự bài tiết acid uric ở thận Rượu làm tăng sản xuất acid uric bởi sự hoạt hóa của adenin nucleotid, ngoài ra nó còn tăng lớp mỡ bụng góp phần làm tăng insulin máu [34]
Một số nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh
Trên thế giới
Tăng acid uric huyết thanh có liên quan mật thiết đến sự phát triển của nền kinh tế mà biểu hiện trực tiếp là sự thay đổi lối sống và chế độ ăn Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian gần đây
Nghiên cứu thuần tập theo dõi dữ liệu y khoa trong 50 năm cho thấy nếu như giai đoạn 1954 - 1958 nồng độ acid uric huyết thanh trung bình là 5mg/dL ở nam và 3,9mg/dL ở nữ thì đến giai đoạn 1972-1976 Giá trị trung bình đã tăng lên 5,7mg/dL ở nam và 4,7mg/dL ở nữ [21]
Nghiên cứu của Zhu Y và cộng sự [35] cho biết nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở nam giới là 6,14mg/dL, ở nữ giới là 4,87mg/dL, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh khoảng 20% dân số Tương ứng với tỷ lệ tăng acid uric, tỷ lệ mắc bệnh gout ở Mỹ cũng chiếm tỷ lệ khá cao 3,9% (trong đó nam giới chiếm 5,9%, nữ giới chiếm 2%)
Robinson PC và cộng sự [26] thực hiện phân tích tổng hợp các nghiên cứu về tăng acid uric tại Úc cho thấy tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh và bệnh gout chiếm tỷ lệ cao so với một số nước trong khu vực có cùng điều kiện kinh tế Xu hướng này hiện tại cũng
Trang 17đang có chiều hướng ngày càng gia tăng Tỷ lệ tăng acid uric đã tăng nhanh từ năm 1959
so với năm 1980 (17% ở nam giới độ tuổi 30-40) ở quần thể dân cư gốc Úc Tương ứng,
tỷ lệ mắc bệnh gout cũng tăng từ 0% năm 1965 đến 9,7% ở nam và 2% ở nữ năm 2002
Tỷ lệ mắc bệnh gout ở người cao tuổi của Úc đứng hàng thứ 2 sau New Zealand là nước
có báo cáo tỷ lệ mắc bệnh gout cao nhất thế giới
Sari I và cộng sự [27] nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ với kết quả: tỷ lệ tăng acid uric trong cộng đồng dân cư khu vực thành thị là 12,1% tỷ lệ mắc có liên quan đến các bệnh
lý tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa
Nghiên cứu về tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở các nước đang phát triển, Conen D và cộng sự [20] cho thấy tỷ lệ tăng acid uric của người gốc Phi ở Seychelles cũng chiếm tỷ lệ khá cao là 35,2% ở nam và 8,7% ở nữ 25-64 tuổi Đánh giá tỷ lệ tăng acid uric ở các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á cũng cho kết quả tương tự
Tại Việt Nam
Doãn Thị Tường Vi [2] nghiên cứu tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh ở cán bộ viên chức Hà Nội và các tỉnh lân cận đến khám sức khỏe tại bệnh viện 19/8 kết quả cho thấy nhóm nam giới 30-60 tuổi có tỷ lệ tăng acid uric là 6,2%, nữ là 2,5%, tỷ lệ mắc chung là 4,9% Các yếu tố liên quan đến tình trạng tăng acid uric huyết thanh trong nghiên cứu này đã được xác định là tần xuất tiêu thụ thực phẩm giàu đạm và rượu bia nhiều, cân nặng và BMI cao Những người tăng acid uric huyết thanh có nguy cơ bị tăng huyết áp, cholesterol, triglycerid huyết thanh cao hơn so với người bình thường
Phan Văn Hợp [11] nghiên cứu trên đối tượng người cao tuổi tại 2 xã thuộc huyện
Vụ Bản Nam Định năm 2011 cho thấy, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh là 9,5%, trong đó nam giới chiếm 16,3%, nữ giới chiếm 5,5% Tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh là 10,1% ở nhóm 60-90 tuổi; 9,7% ở 70-79 tuổi và 8,1% ở trên 80 tuổi
Bùi Đức Thắng [1] theo dõi trên 151 đối tượng là người cao tuổi được quản lý sức khỏe tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội cho biết tỷ lệ tăng acid uric là 33,8% và có xu thế tăng dần theo tuổi, tỷ lệ mắc giữa 2 giới không có sự khác biệt đáng kể
Trang 18Nghiên cứu của Lê Văn Đoàn [5] trên các đối tượng sỹ quan quân đội tuổi trung niên tại quân khu 9 cho thấy tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh trong nhóm này là 26,2%, tỷ
lệ mắc cũng có xu hướng tăng theo tuổi Các yếu tố liên quan: tuổi, chế độ ăn giàu đạm, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thừa cân, béo phì
1.2.2 Tăng huyết áp
Định nghĩa
Theo JNC VI, 1997 được gọi là tăng huyết áp khi chỉ số HA tâm thu ≥ 140mmgHg và hay là HA tâm trương ≥ 90mmgHg, HA phải đo ít nhất ở 2 thời điểm khác nhau và ở mỗi thời điểm phải được đo 3 lần, mỗi lần cách nhau 3-5 phút (sau đó lấy trị số trung bình của các lần đo), trước khi đo phải được nghỉ ngơi 15-30 phút [6][17]
Phân loại tăng huyết áp
Theo mức độ tăng huyết áp [7][8][21]
Hiện nay đa số tác giả đều dựa vào bảng phân loại mức độ tăng huyết áp của WHO 1996
và của JNC VI, 1997
Bảng 1 Phân loại mức độ THA của WHO 1996
Trang 19Bảng 2 Phân loại tăng huyết áp ở người ≥ 18 tuổi theo JNC VI 1997
Theo nguyên nhân [3] [4][6]
- Tăng huyết áp tiên phát: hay bệnh tăng huyết áp, hay còn gọi là tăng huyết áp vô căn, chiếm 95% bệnh nhân tăng huyết áp
- Tăng huyết áp thứ phát hay tăng huyết áp triệu chứng là tăng huyết áp xác định được nguyên nhân gây ra
- Tăng huyết áp hiệu số: (còn có khái niệm tăng huyết áp đơn độc tâm thu hoặc tâm trương)
Nguyên nhân tăng huyết áp
- Giảm đàn hồi của động mạch chủ: xơ cứng động mạch
Trang 20+ Hẹp mạch máu thận hoặc nhồi máu thận
+ Các bệnh thận khác (xơ thận và tiểu động mạch thận bệnh thận do đái tháo đường )
+ Các khối u tiết renin
- Nội tiết:
+ Uống thuốc tránh thai
+ Cường chức năng tuyến thượng thận
+ Bệnh và hội chứng Cushing
+ Cường aldosteron tiên phát
+ Hội chứng tuyến thượng thận bẩm sinh hay di truyền: thiếu hụt men 17 và
+ Hội chứng tăng áp lực nội sọ (cấp tính)
+ Rối loạn tâm thần có tính gia đình
Trang 21+ Hội chứng tủy sống: cắt ngang tủy sống cấp tính
+ Chuyển hóa: Đái tháo đường, béo phì
- Chưa rõ nguyên nhân:
+ Tăng huyết áp vô căn
+ Nhiễm độc thai nghén
+ Porphyrin niệu cấp tính từng đợt
1.2.3 Mối liên quan giữa tăng huyết áp và tăng acid uric máu
Trong những năm gần đây người ta chú ý đến vai trò của acid uric máu trong các bệnh lý tim mạch, các bệnh về chuyển hóa và đặc biệt là bệnh tăng huyết áp Nhiều nghiên cứu
đã cho thấy rằng tăng acid uric máu thường hay gặp ở những bệnh nhân tăng huyết áp, nó phản ánh sự suy giảm dòng máu đến thận [5][16][17] và xơ cứng thận sớm trong tăng huyết áp [17] Ở những bệnh nhân tăng huyết áp, sự bài tiết acid uric qua thận giảm một cách có ý nghĩa so với những người có huyết áp bình thường, và do vậy sẽ gây nên tăng acid uric máu ở bệnh nhân tăng huyết áp [12][13][21]
Bệnh thận tăng huyết áp là một biến chứng quan trọng quan trọng của tăng huyết
áp Sự rối loạn chức năng thận góp phần làm tiến triển tăng huyết áp động mạch và tổn thương mạch máu thứ phát ở cầu thận và tiểu động mạch, điều này giải thích cho sự phát triển của xơ cứng thận tiến triển Phần lớn sự thay đổi thông thường của chức năng thận được biết từ giai đoạn sớm của bệnh tăng huyết áp, đó là sự co mạch thận Sự co mạch thận này có thể được phụ thêm bởi sự hiện diện của tăng acid uric máu [11] Do vậy,
Trang 22trong nhiều năm qua người ta đã cố gắng để tìm kiếm một chỉ dẫn có ích của tổn thương thận ở những giai đoạn sớm Những chỉ dẫn sinh học chính của tổn thương thận đã được xem xét lại, và đặc biệt chú ý đến tăng acid uric máu, microalbumin niệu và sự bài tiết
2- microglobulin và N - acetyl - - glucosaminidase niệu Mỗi một trong số chúng biểu hiện sự biến đổi ở mức lọc cầu thận, tổn thương nội mạc mạch máu hoặc bất thường của chức năng ống thận Không có chỉ dẫn nào trong số chúng giải thích cụ thể là xơ cứng mạch thận, nhưng chúng hướng dẫn cho chúng ta về những biến đổi ở những cấu trúc và chức năng xảy ra trong giai đoạn đầu tiên của bệnh thận tăng huyết áp [26]
Người ta đưa ra giả thiết rằng sự kháng insulin và hoặc tăng insulin máu chịu trách nhiệm trong việc gây tăng huyết áp động mạch ở một số bệnh nhân Sự kháng insulin hay gặp ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 hoặc béo phì Hai bệnh này gặp nhiều trong những bệnh nhân tăng huyết áp hơn những người HA bình thường Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tăng insulin máu và kháng insulin có cả ở những bệnh nhân tăng huyết áp gầy và không bị đái tháo đường, cho nên, liên quan này chỉ là ngẫu nhiên [1][11]
Trong một nghiên cứu đánh giá vai trò của insulin trong cơ chế của tăng acid uric máu ở những bệnh nhân quá trọng lượng và tăng huyết áp Kết quả thu được từ nghiên cứu này cho thấy ở bệnh nhân tăng huyết áp nồng độ acid uric huyết thanh tương quan nghịch với sự bài tiết natri và sự bài tiết acid uric tương quan chặt chẽ với sự bài tiết natri Hơn nữa, có một sự tương quan nghịch giữa nồng độ insulin máu và sự bài tiết natri
ở bệnh nhân tăng huyết áp Từ những kết quả này, người ta đã kết luận rằng: ở bệnh nhân tăng huyết áp sự suy giảm bài tiết acid uric thận có liên quan đến bài tiết natri niệu, và giảm khả năng bài tiết natri có thể đóng một vai trò quan trọng cho tăng acid uric máu ở bệnh nhân tăng huyết áp Ngoài ra, vai trò của tăng insulin máu làm giảm natri niệu có thể góp phần không nhỏ trong cơ chế thận của tăng acid uric máu ở bệnh nhân tăng huyết
áp [2][21]
Gần đây, từ một sự phân tích đa biến thu được từ nghiên cứu của Shaw JE [30] đã chứng minh giả thiết acid uric là một yếu tố nguy cơ độc lập cho bệnh tăng huyết áp, và