1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống ở phụ nữ cao tuổi tại phòng khám nội khớp và khoa nội cơ xương khớp bệnh viện chợ rẫy

85 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ không chênh lệch, và chênh lệch ít, chênh lệch nhiều của T- score cột sống thắt lưng và xương đùi trong các nghiên cứu ..... Gãy đốt sống còn là yếu tố tiên lượng gãy xương trong t

Trang 1

BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT TỶ LỆ VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ

GÃY ĐỐT SỐNG Ở PHỤ NỮ CAO TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM NỘI KHỚP VÀ KHOA NỘI CƠ XƯƠNG

Trang 2

BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT TỶ LỆ VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ

GÃY ĐỐT SỐNG Ở PHỤ NỮ CAO TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM NỘI KHỚP VÀ KHOA NỘI CƠ XƯƠNG

KHỚP BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Mã số:……… …

Chủ nhiệm đề tài

Tp Hồ Chí Minh, 05/2018

Trang 3

DANH SÁCH THAM GIA NGHIÊN CỨU

Lê Bảo Lệ

Nguyễn Văn Trí

Cao Thanh Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH – BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Dịch tễ gãy đốt sống 4

1.2 Chẩn đoán gãy đốt sống 4

1.2.1 Biểu hiện lâm sàng 5

1.2.2 Chẩn đoán 6

1.3 Yếu tố nguy cơ gãy đốt sống 10

1.3.2 Uống rượu 12

1.3.3 BMI, cân nặng 12

1.3.4 Tiền căn xương dễ gãy 13

1.3.5 Sử dụng glucocorticoid kéo dài 13

1.3.6 Những yếu tố nguy cơ khác 14

1.4 Hậu quả gãy đốt sống 15

1.5 Loãng xương: 16

1.5.1 Sự chênh lệch T-score giữa các vị trí đo mật độ xương 16

1.5.2 Nguyên nhân dẫn đến chênh lệch T-score ở các vị trí đo khác nhau 17

1.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18

Trang 5

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thiết kế nghiên cứu 21

2.2 Dân số nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp chọn mẫu 21

2.3.1 Tiêu chuẩn nhận vào nhóm 21

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ 21

2.4 Mẫu nghiên cứu 21

2.5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu 22

2.5.1 Chọn đối tượng nghiên cứu 22

2.5.2 Phương tiện thu thập số liệu 22

2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.6 Phương Pháp xử lý và phân tích số liệu 23

2.7 Các biến số nghiên cứu 24

2.8 Vấn đề y đức 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 29

3.2 Mục tiêu 1: Tỷ lệ gãy đốt sống và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống 30

3.3 Mục tiêu 2: khảo sát đặc điểm gãy đốt sống: 34

3.4 Mục tiêu 3: Xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống không triệu chứng 39

Chương 4 BÀN LUẬN KẾT QUẢ 44

4.1.Đặc điểm mẫu nghiên cứu 44

4.2 Kết quả nghiên cứu 45

Trang 6

4.2.1 Mục tiêu 1: Xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống ở phụ nữ cao tuổi tại phòng khám nội khớp và khoa cơ xương khớp bệnh viện Chợ Rẫy 45 4.2.2 Mục tiêu 2: Đặc điểm gãy đốt sống: số lượng, mức độ nặng 52 4.2.3 Mục tiêu 3: Xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của gãy đốt sống không triệu chứng 54 4.2.4 Mục tiêu 4: Khảo sát sự chênh lệch mật độ xương T-score giữa 2 vị trí đo: cột sống thắt lưng và xương đùi 55

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 58 KẾT LUẬN 59

Trang 7

DEXA Dual energy X-ray absorptiometry

Phương pháp hấp thu tia X năng lượng kép

ISCD Internationl Society for Clinical Densitometry

WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế

giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1.Tóm lược các yếu tố nguy cơ gãy đốt sống 14

Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo WHO 16

Bảng 2.3 Bảng tổng hợp các biến số 24

Bảng 3.4 Đặc điểm dân số nghiên cứu 29

Bảng 3.6 Khảo sát yếu tố nguy cơ gãy đốt sống: phân tích đơn biến 31

Bảng 3.7 Khảo sát các yếu tố nguy cơ gãy đốt sống: phân tích đa biến 33

Bảng 3.8 Số lượng đốt sống gãy ở CSTL và CSN 35

Bảng 3.9 So sánh trung bình gãy 1 và ≥ 2 đốt sống 37

Bảng 3.10 So sánh trung bình gãy đốt sống mức nhẹ và nặng 38

Bảng 3.11 So sánh tỷ lệ gãy đốt sống không triệu chứng và có triệu chứng 40 Bảng 3.12 Khảo sát chênh lệch T-score ở xương đùi và cột sống thắt lưng: 41 Bảng 3.13.So sánh trung bình mật độ xương tại cột sống thắt lưng và toàn bộ cổ xương đùi ở nhóm chênh lệch T-score ít 42

Bảng 3.14 So sánh trung bình mật độ xương tại cột sống thắt lưng và toàn bộ cổ xương đùi ở nhóm chênh lệch T-score nhiều 42

Bảng 3.15 So sánh trung bình mật độ xương tại 2 vị trí đo dựa theo chỉ số 43 T-score: 43

Bảng 3.16 so sánh trung bình mật độ xương tại 2 vị trí đo dựa theo chỉ số mật độ xương g/cm2 43

Bảng 4.18 So sánh đặc điểm dân số nghiên cứu chúng tôi với các nghiên cứu khác 44

Trang 9

Bảng 4.19 Tóm tắt tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống của các yếu tố 51 Bảng 4.21 Tỷ lệ không chênh lệch, và chênh lệch ít, chênh lệch nhiều của T- score cột sống thắt lưng và xương đùi trong các nghiên cứu 56

Trang 10

DANH MỤC HÌNH – BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 phân độ và phân loại đốt sống gãy 7

Hình 1.2 Cách đo chiều cao thân đốt sống 8

Hình 1.3 Xquang cột sống bình thường 9

Hình 1.4 Xquang gãy đốt sống 9

Hình 1.5 Xquang cột sống 10

Biểu đồ 3.1 phân bố nhóm tuổi 30

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ gãy đốt sống 30

Biểu đồ 3.4.Phân bố vị trí đốt sống gãy 36

Biểu đồ 3.5.Khảo sát số lượng đốt sống gãy 37

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ gãy đốt sống theo mức độ gãy 38

Biểu đồ 3.7 Phân bố mức độ gãy đốt sống 39

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ triệu chứng đau và gãy đốt sống 40

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong số các loại gãy xương do loãng xương thì gãy đốt sống chiếm tỷ lệ cao nhất Hậu quả của gãy đốt sống rất nặng nề, làm giảm chiều cao, gù cột sống, đau lưng mạn, rối loạn chức năng vận động, bất động, giảm chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ mắc đa bệnh và tăng nguy cơ tử vong[49],[72] Gãy đốt sống còn là yếu tố tiên lượng gãy xương trong tương lai độc lập với mật độ xương[15].Nghiên cứu cho thấy ở những bệnh nhân có gãy đốt sống thì nguy cơ gãy xương đùi tăng gấp 2 lần, nguy cơ gãy các xương nói chung tăng gấp 5 lần[44]

Ở Hoa Kỳ có khoảng 700.000 ca trong tổng 1,5 triệu ca gãy xương do loãng xương mắc mới hàng năm [5].Khoảng 25% phụ nữ sau mãn kinh có gãy đốt sống,

tỷ lệ này tăng lên theo tuổi, và lên đến 40% khi 80 tuổi[9] Chi phí điều trị hàng năm cho gãy đốt sống ở Hoa Kỳ khoảng 13,8 tỷ đô theo thống kê năm 2001[8] Khác với những dạng gãy xương khác, hầu hết bệnh nhân không đến cơ sở y

tế ngay khi gãy đốt sống xảy ra Chỉ một phần ba trường hợp gãy đốt sống được chẩn đoán lâm sàng nhờ chụp phim Xquang[38] Nhiều nghiên cứu chỉ ra chẩn đoán gãy đốt sống thường bị bỏ sót trên lâm sàng Thêm vào đó là có một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân gãy đốt sống mà không có triệu chứng gây một thách thức lớn cho các bác sĩ thực hành[13],[47]

Sự bỏ sót chẩn đoán gãy đốt sống dẫn đến quá trình điều trị bị chậm trễ, bệnh diễn biến nặng hơn và tốn kém chi phí điều trị Vì vậy, việc phát hiện gãy đốt sống

có vai trò quan trọng, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao Điều này góp phần thay đổi thái độ tầm soát, điều trị, tích cực hơn với nhóm bệnh nhân nguy cơ cao gãy đốt sống

Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu xác định tỷ lệ gãy đốt sống, tuy nhiên, nghiên cứu thực hiện trên nhóm bệnh đặc biệt: loãng xương do sử dụng glucocorticoid, bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống hay trên dân

Trang 12

số cộng đồng với tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu không cao Do đó chúng tôi muốn nghiên cứu thực hiêntrên đối tượng phụ nữ cao tuổi (trên 60 tuổi) – là nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất của loãng xương – gãy đốt sống nhằm xác định tỷ lệ

và các yếu tố nguy cơ dẫn đến gãy đốt sống ở nhóm bệnh nhân này Đó là lý do

chúng tôi thực hiện đề tài“Khảo sát tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống ở phụ nữ

cao tuổi tại phòng khám nội khớp và khoa cơ xương khớp bệnh viện Chợ Rẫy”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống ở phụ nữ ≥ 60 tuổi tại phòng khám nội khớp và khoa cơ xương khớp bệnh viện Chợ Rẫy

2 Đặc điểm gãy đốt sống: số lượng, mức độ nặng

3 Xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống không triệu chứng

4 Khảo sát sự chênh lệch mật độ xương T-score ở 2 vị trí đó: cột sống thắt lưng và toàn bộ cổ xương đùi

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN

Trong nghiên cứu này chúng tôi xin phép được sử dụng thuật ngữ “gãy đốt sống“ để chỉ tình trạng gãy đốt sống do loãng xương chứ không do bất kỳ nguyên nhân nào khác

1.1 Dịch tễ gãy đốt sống

Gãy đốt sống là hậu quả thường gặp nhất của loãng xương Khi biểu hiện triệu chứng, bệnh sẽ gây đau, mất chức năng vận động và gây ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng

Ở Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 700,000 ca gãy đốt sống trong tổng số 1,5 triệu ca gãy xương do loãng xương, trên thực tế, con số này có thể còn lớn hơn, vì nhiều trường hợp gãy đốt sống không được phát hiện[3] Tỷ lệ gãy đốt sống tăng từ hàng năm 0,9% và hiện có khoảng 5 – 10% ở phụ nữ 50 – 60 tuổi có gãy đốt sống,

tỷ lệ này tăng lên khoảng 40% ở người trên 80 tuổi[73].Mối liên quan giữa tỷ lệgãy đốt sống và tuổi ở Hoa Kỳ cũng tương tự với các nghiên cứu loãng xương gãy đốt sống ởchâu Âu[75].Tỷ lệ gãy đốt sống ở phụ nữ châu Á cũng ngang bằng với phụ

nữ da trắng, và cao hơn so với phụ nữ châu Mỹ Phi[53]

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự ở tỷ lệ gãy đốt sống ở phụ nữ trên 60 tuổi là 33,5%, tỷ lệ tăng theotuổi: nhóm tuổi 60-69 là 25% và ≥ 70 tuổi là 42%[46] Kết quả nàytương tự một nghiên cứu khác ở Nhật Bản tỷ lệ gãy đốt sống 18,8% ở nhóm 65 – 75tuổi và 28,7% ở nhóm ≥ 75 tuổi [7]

1.2 Chẩn đoán gãy đốt sống

Mặc dù gãy đốt sống phổ biến ở phụ nữ mãn kinh cao tuổi, tuy nhiên trên lâm sàng rất khó để xác định (khi không có Xquang cột sống).Nhiều nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn cho thấy chỉ một phần tư ca gãy đốt sống được phát hiện trên lâm sàng[6]và bệnh nhân thường ít được chỉ định chụp Xquang cột sống trong quá trình tầm soát loãng xương Lâm sàng dễ bỏ sót gãy đốt sống vì triệu chứng mơ hồ hoặc

Trang 15

không có triệu chứng.Mặt khác khó xác định nguyên nhân gây triệu chứng đau lưng, trong các nguyên nhân gây đau lưng thì nguyên nhân do gãy đốt sống chỉ

chiếm tỷ lệ< 1%[61]

Khoảng 2/3 bệnh nhân có gãy đốt sống không biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng Bệnh chỉ được chẩn đoán khi chụp Xquang cột sống ngực hay thắt lưng

1.2.1 Biểu hiện lâm sàng

Gãy đốt sống có thể diễn ra âm thầm, gãy lún mãn tính thường được phát hiện tình cờ qua Xquang ngực[71].Khi có triệu chứng, bệnh nhân than phiền cơn đau khởi phát đột ngột, đau tại chỗ, đau lưng có thể lan phía trước và dễ nhầm với bệnh

lý tim hay bệnh lý phổi [40] Thân sống chịu 80% trọng lượng cơ thể [87] do đó mà đau tăng ở tư thể ngồi thẳng lưng, đứng hoặc đi lại, khi cử động, đặc biệt khi thay đổi tư thế, giảm đi khi nghỉ ngơi và hiếm khi có triệu chứng chèn ép thần kinh kèm theo.Đau lưng trong gãy đốt sống là kiểu đau cơ học, cần phân biệt với các nguyên nhân gây đau lưng khác như thoái hóa cột sống, đau bệnh lý liên quan đến u hay căng cơ vùng lưng

Gãy đốt sống thường xảy ra tại cột sống thắt lưng hoặc chỗ chuyển giao ngực– lưng Mặc dù hiếm, nhưng vẫn có những trường hợp các đốt sống bị gãy xẹp nhiều, dẫn đến chèn ép tủy sống hoặc chùm đuôi ngựa gây yếu và mất cảm giác chi dưới hay thậm chí rối loạn đại tiểu tiện Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và khởi phát cấp tính, mà tình trạng này có thể cần phẫu thuật cấp cứu [56]

Sau các đợt đau cột sống cấp tính, dần dần các đợt đau mới này sẽ xuất hiện trên nền đau cột sống mãn tính, do các rối loạn tư thế cột sống gây nên Theo thời gian, bệnh nhân sẽ xuất hiện giảm chiều cao, gù đoạn lưng, có thể tới mức các xương sườn cuối cùng cọ sát vào cánh chậu Các biến dạng này làm cho bệnh nhân đau cột sốngvà đau do cọ sát sườn – chậu

Giảm chiều cao là một yếu tố nghĩ đến gãy xương cột sống[96], tuy nhiên khó xác định trên lâm sàng Một số trường hợp giảm chiều cao theo tuổi do thoái hóa,

Trang 16

lún đĩa đệm, và thay đổi tư thế Nhiều nghiên cứu cho thấy giảm chiều cao là yếu tố chỉ điểm gãy đốt sống có độtin cậy thấp trừ khi giảm ≥ 4cm[23]

Đau lưng có thể dẫn đến hạn chế chất lượng cuộc sống và giảm khả năng hoạt động trong cuộc sống thường ngày Thêm vào đó, gù vẹo cột sống nặng có thể dẫn đến giới hạn ổ bụng, giới hạn dung tích sống của phổi cũng như giảm nhập dinh dưỡng

1.2.2 Chẩn đoán

Hiện có nhiều phương pháp hình ảnh học được sử dụng để chẩn đoán gãy đốt sống, trong đó phương pháp hình ảnh học sẵn có nhất và đạt giá trị hiệu quả– giá thành nhất là chụp Xquang cột sống ngực và thắt lưng thẳng –nghiêng Phim chụp giúp tầm soát và xác định nhanh có gãy đốt sống, lượng giá mức độ xẹp đốt sống, khi phim chụp thẳng góc có thể đánh giá được dây chằng cột sống

Năm 1993 Genant và cộng sự đã đưa ra phương pháp bán định lượng (trên Xquang cột sống nghiêng)[91] giúp đánh giá các loại hình tháigãy xương cột sống (hình nêm, hình lõm, gãy lún đốt sống) và mức độ nghiêm trọng của các đứt gãy (từ

độ 0 – 3) Đây là phương pháp thuận tiện và dễ áp dụng trên lâm sàng

Trang 17

Theo cách này, bác sĩ đọc phim dựa vào sự giảm chiều cao thân đốt sống ở 3

vị trí:Trước(Ha); giữa (Hm); và phía sau (Hp) trên phim nghiêng từ T4 –L4 để phân

độ gãy đốt sống(Hình 1.2)

Hình 1.1 phân độ và phân loại đốt sống gãy[61]

Trang 18

Hình 1.2 Cách đo chiều cao thân đốt sống

Trang 19

theo lên 1,8 lần (RR = 1,895%CI 1,3 – 2,4) và nguy cơ này còn tăng lên nếu có gãy

≥ độ 2 (RR = 2,7; 95%CI 2,3 –3,3) [82]

Khi cần đánh giá sâu hơn nữa các trường hợp gãy đốt sống bác sĩ có thể chỉ

Hình 1.4 Xquang gãy đốt sống

1: Gãy lún cột sống mức độ nhẹ 3: Gãy đốt sống dạng hình nêm, mức độ nặng

Hình 1.3 Xquang cột sống bình thường

Trang 20

hơn mức độ xẹp đốt sống, mảnh vỡ xương, ống sống Tuy nhiên giá thành cao hơn

và bệnh nhân nhiễm xạ nhiều hơn Phim cắt lớp vi tính cũng cho biết tình trạng gãy xương mạn tính thông qua sự có mặt xơ sợi xương Bên cạnh đó, phim cộng hưởng

từ (MRI) là xét nghiệm tốt nhất để đánh giá tuổi của tổn thương gãy xương, vì nó có thể cho thấy hình ảnh phù tủy xương trong gãy xương cấp Thêm vào đó, MRI cho phép đánh giá tổn thương thần kinh do chèn ép vào tủy sống hoặc rễ thần kinh Ngoài ra, trên phim MRI giúp đánh giá sự toàn vẹn của phức hợp dây chằng và phát hiện gãy xương sau một số bệnh như ung thư

Một phương pháp hình ảnh học nữa nhưng ít được sử dụng hơn là xạ hình xương, cho thấy sự tăng bắt xạ tại chỗ gãy, giúp đánh giá nhanh có gãy xương từ T4 đến L4 và có thể thực hiện kết hợp cùng đo mật độ xương bằng năng lượng kép DEXA.Giúp phát hiện những trường hợp gãy lún nhẹ mà Xquang cột sống bỏ sót

1.3 Yếu tố nguy cơ gãy đốt sống

Nguy cơ xuất hiện gãy đốt sống có liên quan chặt chẽ đến giảm mật độ xương, với tăng nguy cơ gần 2 lần cho mỗi độ lệch chuẩn dưới mật độ xương trung bình[40] Mật độ xương bắt đầu giảm sau 40 tuổi ở cả 2 giới nam và nữ, quá trình

Hình 1.5 Xquang cột sống

Trang 21

mất xương diễn ra nhanh hơn ở phụ nữ sau mãn kinh Mặc dù di truyền và tuổi đóng vai trò quan trọng, nhưng các yếu tố như lối sống và yếu tố môi trường đều làm tăng nguy cơ loãng xương Những yếu tố này bao gồm: thiếu tập thể dục, nhẹ cân, chế độ ăn thiếu canxi, thiếu vitamin D, điều trị glucocorticoid dài hạn, hút thuốc lá và uống nhiều rượu[40] Đôi khi, gãy đốt sống có thể là biểu hiện của bệnh

lý khác như ung thư di căn hay cường cận giáp

Mặc dù phần lớn trường hợp gãy đốt sống xảy ra ở những bệnh nhân loãng xương (T-score ≤ -2,5 khi đo bằng phương pháp DEXA), gãy đốt sống cũng có thể xảy ra ở 18% phụ nữ >60 tuổi có mật độ xương thấp nhưng không có loãng xương (-2,5 <T score -1,5)[84] Ước tính có hơn một phần ba gãy đốt sống ở phụ nữ sau mãn kinh không có loãng xương[50]

Hơn thế nữa, nếu bệnh nhân từng có gãy xương thì nguy cơ gãy xương trong tương lai tăng gấp 5 lần và 20% phụ nữ sau mãn kinh loãng xương có gãy đốt sống

sẽ có nguy cơ gãy đốt sống trong năm tiếp theo [62],[81]

Những bệnh nhân có nguy cơ cao gãy xương do loãng xương (trừ cột sống), như gãy xương đùi[40], cần phát hiện sớm, tối ưu hóa điều trị cho sức mạnh và chất lượng xương

1.3.1 Hút thuốc lá

Hút thuốc lá gây giảm mật độ xương do nhiều cơ chế: làm thay đổi hormon, giảm nồng độ PTH (làm giảm sự hấp thu calci), giảm nồng độ estrogen và tăng nồng độ cortisol và androgen thượng thận, những thay đổi này đều dẫn đến tăng nguy cơ loãng xương[55] Hút thuốc lá làm giảm khối lượng cơ thể, trong khi tăng khối lượng cơ thể giúp kích hoạt sự tạo xương và dẫn đến tăng mật độ xương[28] Hút thuốc lá làm giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể[18], làm tăng giải phóng gốc tự do và mất cân bằng oxy hóa ảnh hưởng đến sự hấp thu xương[31], hút thuốc

lá ảnh hưởng đến bệnh động mạch ngoại biên, giảm cung cấp máu đến xương[95]

Trang 22

Ngoài những cơ chế gián tiếp, hút thuốc cũng có thành phần chất độc trực tiếp lên tế bào xương[19]

Theo một phân tích gộp cho thấy hút thuốc lá có liên quan đến giảm mật độ xương và tăng nguy cơ gãy xương[52],[97] Nguy cơ gãy xương tăng ở cả đối tượng

có tiền căn hút thuốc (hiện tại ngưng đã hút) và hiện đang hút thuốc, nhưng cao hơn

ở những người hiện còn hút thuốc

1.3.2 Uống rượu

Uống rượu có tác động không tốt đến sức mạnh xương do nhiều cơ chế Đầu tiên, uống nhiều rượu liên quan đến cân bằng calci, một chất cần thiết cho sức mạnh xương Rượu cũng làm tăng nồng độ PTH, hormon làm tăng giải phóng calci vào máu, giảm dự trữ calci trong cơ thể Những người nghiện rượu nặng có thể gây thiếu hụt hormon, nam giới nghiện rượu có thể gặp giảm testosterone (hormon có liên quan đến sự sinh sản tế bào tạo xương) Ở phụ nữ nghiện rượu có thể gây tình trạng chu kỳ kinh nguyệt không đều, làm giảm nồng độ estrogen, tăng nguy cơ loãng xương Đồng thời, cortisol máu có xu hướng tăng ở người nghiện rượu, cortisol được biết đến làm giảm sự tạo xương và tăng nguy cơ gãy xương Mặt khác, do ảnh hưởng của rượu tới cân bằng và tư thế, người nghiện rượu có nguy cơ

té ngã cao hơn những người không nghiện rượu, điều này dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương đùi và cột sống

Nguy cơ gãy xương phụ thuộc vào lượng rượu uống Một phân tích gộp có nhóm chứng cho thấy uống rượu quá 2 đơn vị một ngày (khoảng 28g alcohol) có liên quan đến tăng nguy cơ gãy xương đùi (RR 1,39; 95% CI 1,08–1,79; P < 0,001)[14]

1.3.3 BMI, cân nặng

Khối lượng cơ tăng góp phần tăng mật độ xương, có thể do cơ chế tăng sức tải

cơ học, dẫn đến kích thích tăng tạo xương[10] Đồng thời, khối lượng mỡ có thể ảnh hưởng lên mô xương[10], tăng khối lượng mỡ cũng sẽ tăng sức nặng lên hệ xương, mặt khác, khi có lượng mỡ lớn dẫn đến quá trình tăng tạo vòng thơm cho

Trang 23

androgen thành estrogen trong mô mỡ, tăng tiết insulin và amylin từ tế bào beta tụy, giảm nồng độ hormon sinh dục gắn globin huyết tương và tăng nồng độ hormon steroid sinh dục tự do và thay đổi sản xuất các cytokine, trong số đó được nghiên cứu nhiều nhất là leptin và adiponectin Leptin được biết đến với chức năng giảm ngon miệng, tăng năng lượng chi hao và được xem là yếu tố chính trong hiệu quả bảo vệ của mỡ lên xương

1.3.4 Tiền căn xương dễ gãy

Tiền căn xương dễ gãy cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng khác của gãy xương[21].Trong một phân tích gộp của 11 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu về tiền căn xương dễ gãy cho thấy tiền căn xương dễ gãy là yếu tố nguy cơ của gãy xương do loãng xương (RR 1,8; 95%CI 1,6 – 1,9) độc lập với mật độ xương[51]

1.3.5 Sử dụng glucocorticoid kéo dài

Tác dụng của glucocorticoid lên xương thông qua nhiều cơ chế, tác dụng xấu lên sự hình thành xương, tái hấp thu và hấp thu calci từ ruột và calci đào thải khỏi

cơ thể từ ống thận, tác dụng lên yếu tố tăng trưởng hệ xương làm giảm mật độ xương và biến đổi cấu trúc xương làm xương dễ gãy

Glucocorticoid làm giảm số lượng tế bào tạo xương thông qua làm giảm sự nhân lên của tế bào và ngăn chặn sự biệt hóa cuối cùng của tế bào thành tế bào tạo xương trưởng thành[77] Thêm vào đó, glucocorticoid thúc đẩy chương trình chết tế bào của tế bào tạo xương trưởng thành Hậu quả của những quá trình này làm giảm

số lượng tế bào tạo xương Glucocorticoid cũng thay đổi chức năng của tế bào tạo xương, ức chế tổng hợp collagen typ I, một thành phần chính của chất nền xương, hậu quả, làm giảm chất nền xương có sẵn để khoáng hóa

Giảm hấp thu calci có thể gặp ở bệnh nhân điều trị glucocorticoid[57],[74].Sự giảm nồng độ vitamin D phụ thuộc calci gắn protein có liên quan đến sự chuyển calci trong ruột có thể góp phần dẫn đến giảm tái hấp thu calci[90]

Trang 24

Lạm dụng glucocorticoid quá mức dẫn đến tăng calci niệu, và đẩy nhanh bài tiết calci niệu gấp hai lần so với bệnh nhân không điều trị glucocorticoid[79] Một lần nữa, kết luận này được thống nhất trong nghiên cứu khác[26] và có thểcơ chế do điều hòa trực tiếp lên sự tái hấp thu calci ở ống thận

Nhiều nghiên cứu đánh giá nồng độ hormone cận giáp ở cả nghiên cứu dọc lẫn nghiên cứu cắt ngang ở bệnh nhân điều trịglucocorticoid, cho kết quả có tình trạng cường cận giáp [26],[41]

Trong một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, sử dụng dữ liệu nghiên cứu tại Anh, trên 244.235 người sử dụng glucocorticoid cho thấy mối quan hệ phụ thuộc liều giữa sử dụng glucocorticoid và nguy cơ gãy xương, trong đó với liều 7,5mg prednison/ngày thì cho nguy cơ gãy xương cao nhất[94], tuy nhiên với liều prednison thấp 2,5mg/ngày cũng làm tăng nguy cơ gãy xương

1.3.6 Những yếu tố nguy cơ khác

Thiếu hụt vitamin D, giảm chức năng vận động, té ngã, thuốc: ức chế bơm proton, ức chế seretonin chọn lọc, thiazolidinedion

Bảng 1.1.Tóm lược các yếu tố nguy cơ gãy đốt sống[27],[68]

Các yếu tố nguy cơ thay đổi được Yếu tố nguy cơ không thay đổi được

Uống rượu, hút thuốc lá, nhẹ cân Tuổi cao, nữ

Giảm thị lực, sử dụng GC ≥ 3 tháng Sa sút trí tuệ Tiền mãn kinh > 1 năm, suy yếu Tiền căn xương dễ gãy Thiếu Vitamin D, phẫu thuật cắt bỏ 2

buồng trứng, thiếu hoạt động thể lực Tiền căn gia đình có người xương dễ gãy

Trang 25

1.4.Hậu quả gãy đốt sống

Mặc dù đau do gãy đốt sống có thể nặng, nhưng cơn đau có thể tự giới hạn, đáp ứng tốt với các thuốc đơn giản: giảm đau, điều chỉnh tư thế, đeo đai lưng hỗ trợ Tuy nhiên, cũng có trường hợp sau gãy đốt sống triệu chứng đau lưng không khỏi Khi gãy đốt sống theo hình chêm (xẹp phần trước thân sống), thì trung tâm trọng lực bị dồn lên phía trước, dẫn đến tư thế gù lưng Với tư thế này, để giữ thăngbằng thì hệ cơ và dây chằng phía sau phải kéo căng, dẫn đến mỏi cơ và đau lưng nhiều hơn.Đồng thời, tư thế gù càng làm tăng lực đè lên phần trước của thân sống.Sự thoái hóa thay đổi ở đĩa đệm dẫn đến chức năng truyền lực tải lên đốt sống không đều, điều này cùng với việc giảm chiều cao đĩa đệm và tư thế gù cột sống dẫn đến tăng tải lượng lên thân sống Đầu gối gập và xương chậu nghiêng về phía trước nhằm chống lại tư thế uốn cong về phía trước của cột sống, tư thế này dẫn đến mỏi

cơ, bất thường dáng đi, giảm tốc độ đi lại,tăng nguy cơ té ngã,tăng nguy cơ gãy xương[43] Thêm vào đó, giảm hoạt động thể lực càng làm nặng thêm tình trạng loãng xương

Gãy nhiều đốt sống có thể dẫn đế gù cột sống ngực, giảm chiều cao Xẹp đốt sống nhiều khiến xương sườn mười hai áp sát vào xương cánh chậu, làm ổ bụng bị

ép nhỏ lại, gây chán ăn, táo bón, trướng bụng Vài nghiên cứu cũng ghi nhận gãy nhiều đốt sống có liên quan đến cường độ đau, giới hạn vận động thể lực và thay đổi trạng thái tinh thần[60] Đau lưng mạn thường gặp ở những bệnh nhân gãy nhiều đốt sống Đau lưng mạn thường gây hậu quả tâm lý xã hội bao gồm: Cách biệt xã hội, gặp khó khăn trong các mối quan hệ, tăng lo âu, tăng nguy cơ phụ thuộc vào người khác, mất ngủ, trầm cảm[43],[80]

Gãy đốt sống ngực làm giảm chức năng hô hấp Một đốt sống ngực gãy có thể làm giảm gần 10% dung tích sống gắng sức[58] Những bệnh nhân có bệnh phổi nền thì dung tích của phổi giảm nặng hơn khi có gãy đốt sống ngực kèm theo[58]

Trang 26

Phụ nữ có một hay nhiều đốt sống gãy có nguy cơ tử vong tương đối liên quan đến bệnh phổi gấp 2 – 2,7 lần so với phụ nữ không có gãy đốt sống

Loãng xương và gãy đốt sống tác động lên nền kinh tế đáng kể Tại Hoa Kỳ theo thống kê năm 2009, mỗi ca gãy đốt sống chi tốn 8.000 – 16.600 đô la Mỹ[42] Chi phí gián tiếp cho những ca gãy đốt sống nhập viện bao gồm: mất khả năng lao động, mất khả năng hoạt động độc lập hàng ngày, chi phí cho người chăm sóc, chi phí gián tiếp này được ước tính khoảng 4,5–6,4 tỷ đô la Mỹ Trong tất cả các loại gãy xương do loãng xương thì gãy đốt sống liên quan đến nhu cầu cần người chăm sóc thời gian dài nhất[39]

1.5 Loãng xương:

1.5.1.Sự chênh lệch T-score giữa các vị trí đo mật độ xương

Mật độ xương đo bằng phương pháp hấp thu năng lượng kép DEXA được sử dụng để chẩn đoán loãng xương, đánh giá nguy cơ gãy xương[33] vàtheo dõi sự thay đổi mật độ xương qua thời gian

Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo WHO [54]

T-score Phân loại

Phương pháp DEXA có nhiều điểm thuận lợi như: thời gian đo ngắn, liều xạ thấp, cho kết quả có độ tin cậy cao Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra một bộ tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương ở phụ nữ mãn kinh da trắng[54].Kết quả đo mật độ xương được hiển thị qua chỉ số T-score, là chỉ số cho thấy sự khác biệt giữa giá trị mật độ xương của bệnh nhân so với giá trị mật độ xương trung bình của người trẻ tuổi trong dân số và được chia ra độ lệch chuẩn theo nhóm người trẻ tuổi Hội mật

Trang 27

độ xương lâm sàng quốc tế (International Society for Clinical Densitometry - ISCD)

khuyến cáo để chẩn đoán loãng xương thì mật độ xương nên được đo ưu tiên ở hai

vị trí: Xương đùi và cột sống thắt lưng Vị trí thứ 3 là 1/3 dưới xương cánh tay nên

đo khi không đo được bất kỳ vị trí nào trong 2 vị trí xương đùi hoặc cột sống thắt lưng ISCD khuyến cáo loãng xương được chẩn đoán dựa theo vị trí có mật độ xương thấp nhất trong 3 vị trí đó[59]

Thực ra, một trong những lý do phải đo nhiều vị trí như vậy là vì có sự chênh lệch T-score ở các vị trí đo khác nhau, điều này có thể làm ảnh hưởng đến chẩn đoán và kế hoạch điều trị cho người bệnh Sự chênh lệch về chẩn đoán trong loãng xương được định nghĩa là sự khác biệt 1 độ lệch chuẩn ở 2 vị trí đo trên cùng một bệnh nhân[35]

Sự chênh lệch này được chia làm 2 nhóm: Chênh lệch nhiều và chênh lệch ít.Chênh lệch ít là khi có sự khác biệt trong chẩn đoán như: Bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương ở 1 vị trí và thiếu xương ở một vị trí khác, hoặc thiếu xương ở một vị trí và bình thường ở vị trí khác Nếu chẩn đoán loãng xương ở một vị trí và mật độ xương ở vị trí khác trong giới hạn bình thường thì sự chênh lệch đó thuộc nhóm chênh lệch lớn

1.5.2 Nguyên nhân dẫn đến chênh lệch T-score ở các vị trí đo khác nhau

Woodson mô tả các lý do dẫn đến sự chênh lệch T-score giữa đo ở cột sống và xương đùi[98] Sự chênh lệch có thể liên quan đến phản ứng thích nghi tự nhiên của

hệ xương đối với các yếu tố bên trong hay bên ngoài và lực tác động Những cơ chế

cơ học đặc biệt nơi chịu lực nhiều đóng vai trò quan trọng trong sự chênh lệch này Nơi chịu lực nhiều thường có hiện tượng tăng mật độ xương tại đó, trong khi nơi ít chịu lực hơn thì mật độ xương thấp hơn Ngoài ra, cột sống và xương đùi khởi đầu với mức T-score khác nhau (cột sống được cho là đạt mật độ xương đỉnh ít nhất 5 năm trước xương đùi), tốc độ mất xương theo tuổi được quan sát thấy nhanh hơn ở xương bè (điển hình ở cột sống) so với xương vỏ(điển hình ở xương đùi) Một số

Trang 28

viêm cột sống dính khớp, calci hóa động mạch) làm tăng lắng đọng calci trong vùng khảo sát DEXA dẫn đến tăng giả tạo T-score ở cột sống Cuối cùng, là sai số kỹ thuật đo, có thể do lỗi dụng cụ đo, phụ thuộc người chụp, bệnh nhân cử động và do nhiều nguyên nhân không dự đoán được khác

1.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.6.1.Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ gãy đốt sống và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống phụ nữ cao tuổi

Nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự (2009)[47] thực hiện nghiên cứu trên 209 phụ nữ trong cộng đồng TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ gãy đốt sống là 23%, trong đó gãy đốt sống xảy ra nhiều nhất ở cột sống thắt lưng (L1– L5) Nghiên cứu cũng xác định yếu tố nguy cơ độc lập của gãy đốt sống bao gồm: tuổi cao (PR mỗi 10 năm=1,4; 95%CI 1,16 – 2,05) và mật độ xương vùng cột sống thắt lưng (PR mỗi SD=1,51; 95%CI 1,18 – 1,92)

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái Hòa và cộng sự (2013)[1], thực hiện trên trên 76 bệnh nhân nữ, có giảm mật độ xương, tuổi trung bình 73,4±8,2 Tỷ lệ gãy đốt sống chiếm 53,1%

Nghiên cứu của tác giả Raman K.marwaha và cộng sự (2012)[65] thực hiện nghiên cứu trên 415 phụ nữ ≥ 50 tuổi, từ cộng đồng, kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ

lệ gãy đốt sống ở nhóm phụ nữ ≥ 60 tuổi là 19,85% Thừa cân là yếu tố bảo vệ khỏi gãy đốt sống (OR= 0,63; 95 % CI 0,41 –0,97) Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các yếu tố: nồng độ 25(OH)D, chế độ ăn calcium và vitamin D, hay có tiền căn xương dễ gãy giữa hai nhóm có và không có gãy đốt sống

Nghiên cứu của tác giả Martha Van Den Berg và cộng sự (2011)[92] thực hiện trên 566 phụ nữ từ 50 tuổi trở lên, trung bình 69± 8,4 tuổi, kết quả ghi nhận 31% gãy đốt sống, những yếu tố nguy cơ độc lập của gãy đốt sống bao gồm: BMI (OR=1,23; 95% CI 1,02 – 1,49),mật độ xương tại cổ xương đùi (OR=0,66; 95%CI0,3– 1,58), mật độ xương toàn bộ cổ xương đùi (OR= 0,82; 95% CI 0,29 – 1,82)

Trang 29

Nghiên cứu của tác giả J.B Lopes và cộng sự (2010)[63] thực hiện nghiên cứu trên 561 nữ ≥ 50 tuổi, tỷ lệ gãy đốt sống là27,5%, ghi nhận các yếu tố nguy cơ độc lập của gãy đốt sống là tuổi ( PR =1,03; 95% CI 1,01 – 1,06) vàmật độ xương toàn

bộ cổ xương đùi ( PR =0,27; 95% CI 0,08 – 0,98)

1.6.2 Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống không triệu chứng

Nghiên cứu của El Maghraoui và cộng sự (2008)[32]thực hiệntrên 328 phụ nữ

≥ 50 tuổi ở Morrocan, không đau lưng, chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện,độ tuổi trung bình 65 ± 6.5 (50 – 84 tuổi) Tỷ lệ gãy đốt sống là 25,6% Trong nhóm dân số nghiên cứu, tỷ lệ người có mật độ xương bình thường 15% ( n = 52), thiếu xương 41% ( n = 134), loãng xương 43% ( n = 142) Tỷ lệ gãy đốt sống cao hơn ở nhóm

có mật độ xương thấp hơn (P< 0,001) Gãy đốt sống độ 2 và 3 chiếm 25,3% (84/238) Vị trí gãy đốt sống thường gặp ở giữa của đoạn ngực và điểm nối giữa đốt sống ngực và thắt lưng Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố chính liên quan đến gãy đốt sống không triệu chứng bao gồm: tuổi > 65 (OR= 3.93; 95%

CI 2.19 – 7.07), loãng xương T-score ≤ -2,5 (OR= 3.04; 95% CI 1.73 – 5,35) và tiền căn gãy xương (OR= 2.75; 95% CI 1,44 – 2,33)

Trong nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự (2012)[46] trên

396 nữ ≥ 50 tuổi, có 26,5% trường hợp gãy đốt sống không triệu chứng Tỷ lệ này tăng theo tuổi: trong nhóm 50 – 59 tuổi tỷ lệ gãy là 19%, tăng lên 42% ở nhóm ≥ 70 tuổi

1.6.3 Mục tiêu: Khảo sát sự chênh lệch mật độ xương T-score giữa cổ xương đùi và cột sống thắt lưng

Moayyeri và cộng sự (2005)[69] nghiên cứutrên 3.848 bệnh nhân nữ ngoài cộng đồng, kết quả ghi nhận tỷ lệ chênh lệch T-score nhiều là 2,8%, tỷ lệ chênh lệch T-score ít là 39,3% và tỷ lệ không chênh lệch T-score là 57,8% Ở cả hai nhóm chênh lệch ít và nhiều mật độ xương cột sống thắt lưng đều thấp hơn tại cổ xương đùi

Trong nghiên cứu của A Mounach và cộng sự (2008)[70], thực hiện trên

Trang 30

scorelà 42,3%, chênh lệch nhiều là 4,7% Ở cả hai nhóm chênh lệch ít và nhiều, thì

mật độ xương cột sống thắt lưng đều thấp hơn toàn bộ cổ xương đùi

Trong nghiên cứu của tác giả Sevin Ayaz và cộng sự (2017)[11] nghiên cứu trên 708 phụ nữ mãn kinh.Nghiên cứu nhằm xác định sự chênh lệch T-score giữa vị trí mật độ xương cột sống thắt lưng và toàn bộ cổ xương đùi.Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chênh lệch ít ở nhóm phụ nữ mãn kinh là 42,4% ( n = 300/708), tỷ lệ chênh lệch nhiều là 2,5% (18/708) 63,5% trường hợp chênh lệch T-score có mật độ xương cột sống thắt lưng thấp hơn ở toàn bộ cổ xương đùi

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

2.2 Dân số nghiên cứu

Bệnh nhân nữ trên 60 tuổi tại khoa Cơ Xương Khớp và phòng khám nội khớp bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ 10/2016 đến 4/2017

2.3 Phương pháp chọn mẫu

2.3.1 Tiêu chuẩn nhận vào nhóm

- Phụ nữ từ 60 tuổi trở lên

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân sử dụng thuốc chống loãng xương

- Tiền căn: suy gan, bệnh thận mạn giai đoạn III trở lên

2.4 Mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu được tính dựa theo kết quả nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lanvà cộng sự (2009)[47], với P= 0,23

n = Z: là hằng số phân phối chuẩn Nếu α= 0,05 thì Z= 1,96 n: là cỡ mẫu cần tính ; d= 0,1

P: là tỷ lệ lưu hành của bệnh trong quần thể

Trang 32

Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần là: 69 người Vì cỡ mẫu tương đối ít, nên chúng tôi quyết định lấy mẫu thuận tiện Tất cả những bệnh nhân trên 60 tuổi nhập khoa khớp hoặc đến khám phòng khám nội khớp thỏa tiêu chuẩn nhận vào và không có tiêu chuẩn loại trừ đều được đưa vào nghiên cứu

2.5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

2.5.1 Chọn đối tượng nghiên cứu

Lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu là những bệnh nhân nữ ≥ 60 tuổi tại khoa Cơ Xương Khớp và phòng khám nội Khớp bệnh viện Chợ Rẫy Các bệnh nhân được thăm khám, hỏi bệnh sử và tiền sử bằng bảng câu hỏi, các đối tượng không có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA và chụp Xquang cột sống tư thế nghiêng đoạn ngực và thắt lưng, từ kết quả phim chụp Xquang, các đối tượng sẽ được phân nhóm: có gãy đốt sống và không gãy đốt sống

2.5.2 Phương tiện thu thập số liệu

Bảng thu thập số liệu

Cân và thước đo chiều cao

2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu

Phụ nữ từ 60 tuổi trở lên nhập khoa Cơ Xương Khớp và phòng khám nội khớp tại bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian 10/2016 – 04/2017

Các đối tượng đủ tiêu chuẩn nhận vào và không có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được tiến hành theo các trình tự sau:

Bước 1:Phỏng vấn tại bệnh viện bằng bảng câu hỏi soạn sẵn về

- Đặc điểm chung: tuổi, nơi sống, nghề nghiệp, tiền căn bệnh lý

- Các yếu tố nguy cơ loãng xương và gãy đốt sống: hút thuốc lá, nghiện rượu, lối sống thụ động, té ngã, thời gian mãn kinh, tiền căn gãy xương, giảm chiều cao

Bước 2: Lấy cân nặng, chiều cao và tính BMI

Trang 33

Bước 3: Chụp Xquang cột sống thẳng nghiêng đoạn ngực và đoạn lưng:

- Kết quả chụp Xquang cột sống thắt lưng sẽ được phân tích theo phương pháp bán định lượng của Genant nhằm phát hiện gãy đốt sống, phân mức độ gãy đốt sống

- Dựa vào kết quả Xquang để phân nhóm bệnh nhân có gãy đốt sống và không gãy đốt sống

2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Mỗi bệnh nhân được mã hóa với mã nhất định Các số liệu được nhập vào lưu trữ trong chương trình Excel và được xử lý bằng chương trình SPSS 20

- Đối với các biến định tính: được trình bày bằng tần số và tỉ lệ % với khoảng tin cậy 95%.So sánh biến số định tính giữa 2 nhóm bằng phép kiểm chi bình phương

- Đối với các biến định lượng: được kiểm định có tuân theo luật phân phối chuẩn hay không:

+ Nếu biến số tuân theo phân phối chuẩn: được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn, được so sánh giữa 2 nhóm bằng phép kiểm T – test + Nếu biến số không tuân theo phân phối chuẩn: được trình bày bằng trung

vị và các bách phân vị 25 – 75, được so sánh giữa 2 nhóm bằng phép kiểm Mann- Whitney

Trang 34

- Để khảo sát mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và gãy đốt sống:

+ Tính tỷ lệ gãy đốt sống, so sánh sự khác nhau các nhóm bằng phép kiểm chi bình phương /Fisher chính xác (biến định tính), kiểm T-test (biến định lượng tuân theo phân phối chuẩn) hoặc phép kiểm Mann – Whitney (nếu biến định lượng không tuân theo phân phối chuẩn)

+ Xác định mối liên quan giữa gãy đốt sống với các yếu tố nguy cơ bằng hồi quy logistic đa biến Mô hình hồi quy phù hợp được xác định bằng phương pháp Backward stepwise

- Khảo sát đặc điểm gãy đốt sống: số lượng,vị trí, mưc độ nặng:

+ Dùng phép tính tần số và tỷ lệ phần trăm + Sử dụng phép kiểm biominal test so sánh 2 tỷ lệ + Sử dụng phép kiểm wilcoxon signed – rank test: so sánh trung bình 2 biến định lượng trên cùng một nhóm đối tượng

- Tỷ lệ gãy đốt sống không triệu chứng:

+ Dùng phép tính tần số và tỷ lệ phần trăm

+ So sánh sự khác nhau của 2 nhóm bằng phép kiểm chi bình phương + Phân tích yếu tố nguy cơ gãy đốt sống không triệu chứng bằng phân tích logistic đơn biến và đa biến

- Khảo sát chênh lệch T-score tại 2 vị trí đo mật độ xương:

+ Sử dụng phép kiểm chi bình phương

2.7 Các biến số nghiên cứu

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các biến số như sau:

Bảng 2.3 Bảng tổng hợp các biến số

STT Tên biến Loại biến Định nghĩa Đơn vị

1 Tuổi Rời rạc Tuổi của bệnh nhân tính tới thời

điểm thăm khám và được phân thành mỗi nhóm 50 – 59, 60 –

Năm

Trang 35

69, 70 –79, ≥80

2 Cân nặng Liên tục Cân nặng hiện tại của bệnh nhân Kg

3 Chiều cao Liên tục Chiều cao hiện tại của bệnh nhân Cm

4 BMI (kg/m2) Liên tục BMI được chia làm 3 nhóm:

Thấp (BMI <18,5); Bình thường (18,5≤ BMI <23); thừa cân (BMI

Nhị phân Bao gồm ba mẹ, anh chị em ruột Có/Không

8 Tiền căn bản

thân xương dễ gãy

Nhị phân Gãy xương sau 45 tuổi, gãy

xương tự phát hoặc gãy sau một sang chấn nhẹ Bao gồm gãy cột sống và ngoài cột sống (trừ ngón tay, ngón chân, mặt và xương sọ) [47]

Trang 36

5 Viêm khớp Gout

6 Bệnh khác

11 Uống rượu Nhị phân Uống ít nhất 14 đơn vị/tuần

(tương đương trung bình 570ml bia/ngày (2 lon bia) hoặc 60ml rượu nặng > 200

/ngày (cốc nước trà) hoặc 240ml rượu vang/ngày (ly uống rượu vang)[49]

Liên tục Do máy đo mật độ xương cung

Trang 37

trong vòng 1 năm nay

17 Thời gian mãn

kinh

Liên tục Tính từ thời điểm mãn kinh đến

thời điểm thăm khám hiện tại

Độ 0: Không có giảm bất kỳ chiều cao nào

Độ I: Giảm 20 – 25% 1 trong 3 chiều cao thân sống

Độ II: Giảm 25 – 40% 1 trong 3 chiều cao thân sống

Độ III: Giảm > 40% 1 trong 3 chiều cao thân sống

Hình ảnh Xquang sẽ được 2 bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp đọc độc lập với nhau

Dựa vào trị số T-score, chúng tôi phân loại chẩn đoán loãng xương ra thành các nhóm: Loãng xương, thiếu xương, bình thường

2.8 Vấn đề y đức

Đây là một nghiên cứu bệnh chứng, không xâm lấn, không gây tổn hại đến sức

khỏe hay tinh thần của đối tượng tham gia

Phương pháp nghiên cứu, các bước tiến hành, quá trình thăm khám trong

Trang 38

nguyện của các đối tượng tham gia nghiên cứu Bảng thông tin được mã hóa dưới

dạng tổng hợp

Những xét nghiện cận lâm sàng trong nghiên cứu là những xét nghiệm thường

quy, không xâm lấn

Tất cả bệnh nhân được giải thích và đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua quá trình thu thập và xử lý số liệu từ tháng 10/2016 đến tháng 03/2017 chúng tôi ghi nhận kết quả sau:

3.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi với n = 149, với các đặc điểm:

Bảng 3.4 Đặc điểm dân số nghiên cứu

Trung bình ± độ lệch chuẩn Khoảng

Trang 40

Biểu đồ3.1 phân bố nhóm tuổi

Nhận xét: Nghiên cứu của chúng tôi có cỡ mẫu 149, độ tuổi từ 60 – 96 tuổi, tuổi trung bình là 72,88±8,413; đƣợc phân làm 3 nhóm tuổi: từ 60 – 69 tuổi chiếm 39%, 70 – 79 tuổi chiếm 38% và ≥80 tuổi chiếm 23%

3.2 Mục tiêu 1: Tỷ lệ gãy đốt sống và yếu tố nguy cơ gãy đốt sống

3.2.1 Tỷ lệ gãy đốt sống

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ gãy đốt sống

Nhận xét: Tỷ lệ gãy đốt sống trong nhóm nghiên cứu là 53% ( n = 79)

3.2.2 Khảo sát các yếu tố nguy cơ của gãy đốt sống

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thái Hòa (2013), "Khảo sát tỷ lệ gãy xương đốt sống và các yếu tố liên quan gãy xương trên bệnh nhân cao tuổi giảm mật độ xương", Luận văn thạc sĩ, Đại học Y dƣợc Thành Phố Hồ Chí Minh.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ gãy xương đốt sống và các yếu tố liên quan gãy xương trên bệnh nhân cao tuổi giảm mật độ xương
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Năm: 2013
2. Aaron J. E., Johnson D. R., Paxton S., et al. (1989), "Secondary osteoporosis and the microanatomy of trabecular bone", Clin Rheumatol, 8 Suppl 2, 84-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Secondary osteoporosis and the microanatomy of trabecular bone
Tác giả: Aaron J. E., Johnson D. R., Paxton S., et al
Năm: 1989
3. Cooper C. (1993), "Epidemiology and public health impact of osteoporosis", Baillieres Clin Rheumatol, 7 (3), pp. 459-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology and public health impact of osteoporosis
Tác giả: Cooper C
Năm: 1993
4. Eastell R. (1998), "Treatment of postmenopausal osteoporosis", N Engl J Med, 338 (11), pp. 736-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of postmenopausal osteoporosis
Tác giả: Eastell R
Năm: 1998
5. Ensrud K. E., Schousboe J. T. (2011), "Clinical practice. Vertebral fractures", N Engl J Med, 364 (17), pp. 1634-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical practice. Vertebral fractures
Tác giả: Ensrud K. E., Schousboe J. T
Năm: 2011
6. Genant H. K., Wu C. Y., van Kuijk C., et al. (1993), "Vertebral fracture assessment using a semiquantitative technique", J Bone Miner Res, 8 (9), pp. 1137- 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vertebral fracture assessment using a semiquantitative technique
Tác giả: Genant H. K., Wu C. Y., van Kuijk C., et al
Năm: 1993
7. Kwok A. W., Leung J. C., Chan A. Y., et al. (2012), "Prevalence of vertebral fracture in Asian men and women: comparison between Hong Kong, Thailand, Indonesia and Japan", Public Health, 126 (6), pp. 523-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of vertebral fracture in Asian men and women: comparison between Hong Kong, Thailand, Indonesia and Japan
Tác giả: Kwok A. W., Leung J. C., Chan A. Y., et al
Năm: 2012
8. McGirt M. J., Parker S. L., Wolinsky J. P., et al. (2009), "Vertebroplasty and kyphoplasty for the treatment of vertebral compression fractures: an evidenced- based review of the literature", Spine J, 9 (6), pp. 501-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vertebroplasty and kyphoplasty for the treatment of vertebral compression fractures: an evidenced-based review of the literature
Tác giả: McGirt M. J., Parker S. L., Wolinsky J. P., et al
Năm: 2009
9. Nevitt M. C., Cummings S. R., Stone K. L., et al. (2005), "Risk factors for a first-incident radiographic vertebral fracture in women &gt; or = 65 years of age: the study of osteoporotic fractures", J Bone Miner Res, 20 (1), pp. 131-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors for a first-incident radiographic vertebral fracture in women > or = 65 years of age: the study of osteoporotic fractures
Tác giả: Nevitt M. C., Cummings S. R., Stone K. L., et al
Năm: 2005
11. Ayaz Sevin, Gultekin Salih Sinan, Dilli Alper, et al. (2017), "bone mineral density discordances in females: a comparison of premenopausal and non-geriatric postmenopausal adult populations", acta medica mediterranea, 33 (4), pp. 683-690 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bone mineral density discordances in females: a comparison of premenopausal and non-geriatric postmenopausal adult populations
Tác giả: Ayaz Sevin, Gultekin Salih Sinan, Dilli Alper, et al
Năm: 2017
12. Baddoura Rafic, Arabi Asma, Haddad-Zebouni Souha, et al. (2007), "Vertebral fracture risk and impact of database selection on identifying elderly Lebanese with osteoporosis", Bone, 40 (4), pp. 1066-1072 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vertebral fracture risk and impact of database selection on identifying elderly Lebanese with osteoporosis
Tác giả: Baddoura Rafic, Arabi Asma, Haddad-Zebouni Souha, et al
Năm: 2007
13. Baró Francesc, Cano Antonio, Borrego Rafael Sánchez, et al. (2012), "Frequency of FRAX risk factors in osteopenic postmenopausal women with and without history of fragility fracture", Menopause, 19 (11), pp. 1193-1199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frequency of FRAX risk factors in osteopenic postmenopausal women with and without history of fragility fracture
Tác giả: Baró Francesc, Cano Antonio, Borrego Rafael Sánchez, et al
Năm: 2012
14. Berg Karina M, Kunins Hillary V, Jackson Jeffrey L, et al. (2008), "Association between alcohol consumption and both osteoporotic fracture and bone density", The American journal of medicine, 121 (5), pp. 406-418 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association between alcohol consumption and both osteoporotic fracture and bone density
Tác giả: Berg Karina M, Kunins Hillary V, Jackson Jeffrey L, et al
Năm: 2008
15. Black Dennis M, Arden Nigel K, Palermo Lisa, et al. (1999), "Prevalent vertebral deformities predict hip fractures and new vertebral deformities but not wrist fractures", Journal of bone and mineral research, 14 (5), pp. 821-828 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalent vertebral deformities predict hip fractures and new vertebral deformities but not wrist fractures
Tác giả: Black Dennis M, Arden Nigel K, Palermo Lisa, et al
Năm: 1999
16. Borges Carla Nubia, de Almeida Juliana Maia, Lima Denise, et al. (2014), "Prevalence of morphometric vertebral fractures in old men and the agreement between different methods in the city of Recife, Brazil", Rheumatology international, 34 (10), pp.1387-1394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of morphometric vertebral fractures in old men and the agreement between different methods in the city of Recife, Brazil
Tác giả: Borges Carla Nubia, de Almeida Juliana Maia, Lima Denise, et al
Năm: 2014
17. Briggs AM, Greig AM, Wark JD (2007), "The vertebral fracture cascade in osteoporosis: a review of aetiopathogenesis", Osteoporosis International, 18 (5), pp.575-584 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The vertebral fracture cascade in osteoporosis: a review of aetiopathogenesis
Tác giả: Briggs AM, Greig AM, Wark JD
Năm: 2007
18. Brot C, Rye Jứrgensen N, Helmer Sứrensen O (1999), "The influence of smoking on vitamin D status and calcium metabolism", European journal of clinical nutrition, 53 (12), pp. 920-926 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of smoking on vitamin D status and calcium metabolism
Tác giả: Brot C, Rye Jứrgensen N, Helmer Sứrensen O
Năm: 1999
19. Broulik PD, Jařáb J (1993), "The effect of chronic nicotine administration on bone mineral content in mice", Hormone and metabolic research, 25 (04), pp. 219- 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of chronic nicotine administration on bone mineral content in mice
Tác giả: Broulik PD, Jařáb J
Năm: 1993
20. Carbonare L Dalle, Arlot ME, Chavassieux PM, et al. (2001), "Comparison of trabecular bone microarchitecture and remodeling in glucocorticoid‐induced and postmenopausal osteoporosis", Journal of Bone and Mineral Research, 16 (1), pp 97-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of trabecular bone microarchitecture and remodeling in glucocorticoid‐induced and postmenopausal osteoporosis
Tác giả: Carbonare L Dalle, Arlot ME, Chavassieux PM, et al
Năm: 2001
21. Cauley Jane A, Hochberg Marc C, Lui Li-Yung, et al. (2007), "Long-term risk of incident vertebral fractures", Jama, 298 (23),pp. 2761-2767 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long-term risk of incident vertebral fractures
Tác giả: Cauley Jane A, Hochberg Marc C, Lui Li-Yung, et al
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w