Bên cạnh đó, CLGN kém còn gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình, đến nền kinh tế của xã hội, nhất là đối với những bệnh nhân có vấn đề về giấc ngủ mà không đ
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
KHẢO SÁT RỐI LOẠN GIẤC NGỦ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT PHÒNG KHÁM ĐA KHOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MÍNH
Chuyên ngành: LÃO KHOA
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Trần Tố Trân
BS Nguyễn Thị Phương Thảo
THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH, 5/2018
Trang 2
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
KHẢO SÁT RỐI LOẠN GIẤC NGỦ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT PHÒNG KHÁM ĐA KHOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MÍNH
Trang 3Danh sách thành viên tham gia nghiên cứu
1 BS Nguyễn Thị Phương Thảo
2 ThS Nguyễn Trần Tố Trân
3 PGS.TS Nguyễn Văn Trí
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
Error! Bookmark not defined
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI
1.2.3 Các kiểu rối loạn giấc ngủ thường gặp ở người cao tuổi 8 1.2.4 Hậu quả của vấn đề rối loạn giấc ngủ ở người cao tuổi
11 1.3 Đánh giá chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi
15 1.3.1 Phương pháp đo lường khách quan
16 1.3.2 Phương pháp đo lường chủ quan
16 1.4 Một số nghiên cứu về CLGN ở Việt Nam và trên thế giới
20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
Bookmark not defined
Trang 52.3.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 22
Bookmark not defined
3.1.8 Đặc điểm các thói quen sinh hoạt cá nhân 37 3.1.9 Đặc điểm sử dụng các loại thuốc ngủ 38 3.1.10 Đặc điểm về môi trường ngủ bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn 38 3.2 Đặc điểm chất lượng giấc ngủ ban đêm theo PSQI và buồn ngủ quá mức ban
3.2.1 Đặc điểm chất lượng giấc ngủ ban đêm 39 3.2.2 Đặc điểm các yếu tố ảnh hưởng giấc ngủ khảo sát theo PSQI 40
Trang 63.4 Mối liên quan giữa các bệnh nội khoa và thói quen sinh hoạt với CLGN ban
Bookmark not defined
4.2 Đặc điểm CLGN ban đêm theo thang điểm PSQI và buồn ngủ quá mức ban
4.2.1 Thời gian ngủ cả đêm và thời gian vỗ giấc 55 4.2.2 Chất lƣợng giấc ngủ ban đêm theo PSQI 57 4.2.3 Đánh giá chất lƣợng giấc ngủ theo 7 yếu tố PSQI 58
4.4 Mối liên quan giữa các bệnh lý nội khoa và thói quen sinh hoạt với CLGN ban đêm
67 4.4.1 Mối liên quan giữa các bệnh lý nội khoa mạn tính với CLGN ban đêm67 4.4.2 Mối liên quan giữa các thói quen sinh hoạt đến CLGN ban đêm 69
Bookmark not defined
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt
DSM : Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder
Hệ thống chẩn đoán và phân loại rối loạn tâm thần
ESS : Epworth Sleepiness Scale
Thang điểm buồn ngủ Epworth ICSD : The International Classification of Sleep Disorders
Phân loại quốc tế về rối loạn giấc ngủ
NREM : Non – Rapid Eye Movement
Cử động mắt chậm
OSA : Obstructive Sleep Apnea
Ngƣng thở khi ngủ do tắc nghẽn
Trang 8PSG : Polysomnogram
Đa miên đồ PSQI : Pittsburgh Sleep Quality Index
Chỉ số chất lƣợng giấc ngủ Pittsburgh
REM : Rapid Eye Movement-Cử động mắt nhanh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 So sánh đặc trưng của 3 bảng câu hỏi đánh giá chất lượng giấc ngủ 19
Bảng 1.2 Một số nghiên cứu về CLGN ở Việt Nam và trên thế giới 20
Bảng 3.1 Thời gian ngủ và thời gian vỗ giấc 39
Bảng 3.2 Tần suất các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ theo PSQI 40
Bảng 3.3 Đặc điểm 7 yếu tố giấc ngủ theo PSQI 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ buồn ngủ quá mức ban ngày theo các tình huống trong ESS 45
Bảng 3.5.Mối liên quan giữa CLGN ban đêm với các bệnh lý nội khoa đi kèm 47
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa CLGN ban đêm với các thói quen sinh hoạt cá nhân và yếu tố môi trường ngủ bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn 48
Bảng 3.7 Kết quả phân tích hồi quy đơn biến và đa biến các đồng yếu tố 49
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Các loại sóng trong giấc ngủ 5
Hình 1.2 Bảng tham khảo thời gian ngủ cho từng độ tuổi do Tổ chức Giấc ngủ Quốc Gia của Mỹ thực hiện 6
Biểu đồ 3.1 Phân bố CLGN theo nhóm tuổi 31
Biểu đồ 3.2 Phân bố CLGN theo giới tính 32
Biểu đồ 3.3 Phân bố CLGN theo nơi sinh sống 32
Biểu đồ 3.4 Phân bố CLGN theo trình độ học vấn 33
Biểu đồ 3.5 Phân bố CLGN theo tình trạng hôn nhân 34
Biểu đồ 3.6 Phân bố CLGN theo người sống cùng 35
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ các bệnh lý nội khoa đi kèm 36
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ các thói quen sinh hoạt cá nhân 37
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ các loại thuốc ngủ được sử dụng 38
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ ảnh hưởng của tiếng ồn đến giấc ngủ 38
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ CLGN theo điểm PSQI 39
Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ buồn ngủ quá mức ban ngày theo ESS 44
Trang 11THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Khảo sát tình trạng mất ngủ người cao tuổi tại một phòng khám ở
Thành phố Hồ Chí Minh
- Mã số: 60 72 01 40
- Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Thị Phương Thảo Điện thoại: 0979635889 Email: nguyentrantotran@gmail.com
- Đơn vị quản lý về chuyên môn (Khoa, Tổ bộ môn): Bộ môn Lão Khoa
- Thời gian thực hiện: 10/2016 - 04/2017
- Dân số chọn mẫu: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥ 60 tuổi) nam và nữ đến khám tại phòng khám Đa khoa Nhân Trang (427 Bà Hạt – Quận 10 – Thành phố Hồ Chí Minh) trong khoảng thời gian thực hiện nghiên cứu
4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):
Trang 12 Về đào tạo (số lượng, chuyên ngành: trình độ BS/DS/CN, ThS, NCS…): 1 Thạc sĩ y học chuyên ngành Lão Khoa
Công bố trên tạp chí trong nước và quốc tế (tên bài báo, tên tạp chí, năm xuất bản): Khảo sát tình trạng mất ngủ người cao tuổi tại một phòng khám ở Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí y học TPHCM năm 2018
Sách/chương sách (Tên quyển sách/chương sách, năm xuất bản): không
Patent, Giải pháp hữu ích (tên; trình trạng nộp đơn đối với giải pháp chưa đăng ký sở hữu trí tuệ; mã số, ngày cấp, thời gian bảo hộ đối với patent và giải pháp đã đăng ký sở hữu trí tuệ): không
5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:
Kết quả nghiên cứu được chuyển giao (Tên sản phẩm, tên đơn vị nhận chuyển giao, giá trị chuyển giao)
Phạm vi và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu (tên đơn vị ứng dụng kết quả nghiên cứu/tên bài giảng được trích dẫn kết quả NC sử dụng trong giảng dạy đại học và sau đại học): Bộ môn Lão Khoa Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngủ là một hoạt động không thể thiếu ở một cơ thể sống vì đó là khoảng thời gian phục hồi sau quá trình hoạt động mệt mỏi, giúp cơ thể được nghỉ ngơi, hấp thụ chất dinh dưỡng để chuẩn bị cho cho những quá trình hoạt động khác Vì vậy, chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém có thể gây ra những trở ngại lớn cho con người, đặc biệt là người cao tuổi (NCT)
Khi gặp vấn đề về giấc ngủ, chất lượng cuộc sống của NCT bị giảm sút nhiều Những người thiếu ngủ thường xuyên mệt mỏi, thiếu năng lượng, sa sút về thể lực và tinh thần Bên cạnh đó, CLGN kém còn gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình, đến nền kinh tế của xã hội, nhất là đối với những bệnh nhân có vấn đề về giấc ngủ mà không được phát hiện và điều trị sớm
Tỉ lệ rối loạn giấc ngủ (RLGN) tăng lên theo tuổi Thống kê trên thế giới cho thấy có khoảng 50% người cao tuổi gặp vấn đề về giấc ngủ [58].Tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, một khảo sát cắt ngang về RLGN ở những bệnh nhân thuộc khoa Lão – Tâm thần kinh: tỷ lệ người mất ngủ trên 50 tuổi chiếm 37% tổng số [1]
Ở nước ta, tuy chưa có thống kê đầy đủ nhưng trong lĩnh vực thần kinh, tỷ lệ đến khám vì mất ngủ chiếm 10-20%, có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người cao tuổi nhiều hơn người trẻ [4]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ người cao tuổi như: giảm hoạt động thể lực, dễ bị thức giấc khi ngủ, thay đổi nhịp sinh học, giảm khả năng hồi phục các chức năng của cơ thể khi bị lão hóa… Ngoài ra, tình trạng đa bệnh lý như bệnh tim mạch, nội tiết, khớp, thần kinh…cùng với những thay đổi theo tuổi như suy yếu, sa sút trí tuệ, trầm cảm… và vấn đề đa thuốc cũng đều góp phần tạo nên những rối loạn trong giấc ngủ bệnh nhân cao tuổi
Đa số bệnh nhân đến khám bệnh thỉnh thoảng có than phiền về giấc ngủ của mình (khó ngủ, ngủ chập chờn…) nhưng hầu như vấn đề này chưa được các bác sĩ điều trị quan tâm nhiều và điều trị tối ưu, trừ khi bệnh nhân đến khám tại đúng chuyên khoa về RLGN Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ thị Xuân Hương về
“Những yếu tố liên quan đến mất ngủ ở người cao tuổi” năm 2010 thì chỉ có 19,9%
Trang 14bệnh nhân đến khám tại các khoa Nội vì vấn đề mất ngủ, trong đó chỉ có 5% bệnh nhân được khám chuyên khoa rối loạn giấc ngủ trước đó [1] Điều này chứng tỏ vấn
đề giấc ngủ ở người cao tuổi chưa được quan tâm nhiều
Nằm trong xu hướng già hóa dân số chung của toàn thế giới, tỉ lệ người cao tuổi ở Việt Nam trong những năm tới cũng sẽ tăng lên nhanh chóng Chính vì vậy, việc chẩn đoán và điều trị những vấn đề về giấc ngủ cho NCT càng cần được quan tâm hơn nữa
Cho đến nay, còn ít nghiên cứu về CLGN ở Việt Nam được công bố, tỷ lệ chính xác số bệnh nhân có CLGN kém trong cộng đồng chưa có, và hiện cũng chưa
có những công cụ khảo sát CLGN NCT được áp dụng rộng rãi tại các phòng khám
đa khoa Xuất phát từ thực tế trên, để có những số liệu ban đầu về tình trạng giấc ngủ ở người cao tuổi, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm rối loạn giấc ngủ người cao tuổi tại một phòng khám đa khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh” với mục tiêu: đánh giá chất lượng giấc ngủ ở người cao tuổi để từ đó có cái nhìn khái quát về giấc ngủ ở nhóm dân số này, tạo tiền đề cho những bước điều trị ban đầu cũng như điều trị chuyên khoa sâu hơn về giấc ngủ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống NCT trong cộng đồng Việt Nam
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện tại phòng khám đa khoa Nhân Trang (quận 10 – thành phố Hồ Chí Minh) Lý do chúng tôi lựa chọn cơ sở này là vì: số lượng bệnh nhân đông (gần 1000 lượt khám/tháng), có thể đáp ứng được cỡ mẫu dự tính; bệnh nhân đến từ nhiều vùng khác nhau (thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây, miền Đông Nam Bộ), có thể đại diện cho những vùng địa lý với những lối sống cũng như thói quen sinh hoạt khác nhau; bệnh lý không quá nặng, không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giấc ngủ trong thời gian gần đây, bệnh nhân hợp tác tốt khi thực hiện phỏng vấn
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát:
Khảo sát rối loạn giấc ngủ ở người cao tuổi tại một phòng khám đa khoa ở thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu chuyên biệt:
1 Xác định tỷ lệ người cao tuổi có chất lượng giấ ngủ ban đêm kém bằng thang điểm PSQI và tỷ lệ buồn ngủ quá mức ban ngày bằng thang điểm ESS
2 Xác định mối tương quan giữa chất lượng giấc ngủ ban đêm kém và buồn ngủ quá mức ban ngày
3 Xác định mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ ban đêm kém với các bệnh nội khoa đi kèm (tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi mạn, thoái hóa khớp, viêm loét dạ dày, bệnh thận mạn, bệnh mạch vành mạn, bệnh lý mạch máu não cũ) và các thói quen sinh hoạt của người cao tuổi (hút thuốc lá, uống rượu bia, uống trà, uống cà phê, tập thể dục, đọc sách, tắt đèn trước khi ngủ)
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SINH LÝ GIẤC NGỦ
Ngủ là tình trạng mất tri thức tạm thời, có thể được đánh thức bởi tín hiệu cảm giác hay các kích thích khác Ngủ là một nhu cầu bắt buộc đối với cơ thể con người và các động vật bậc cao Chính vì vậy, con người đã dành một phần ba cuộc sống của mình cho giấc ngủ [2]
Giấc ngủ là một nhịp sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc dự trữ năng lượng, duy trì hoạt động não bộ và khả năng ghi nhớ Giấc ngủ có thể được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn cử động mắt nhanh (REM: Rapid eye movement)
và giai đoạn cử động mắt chậm (NREM: Non Rapid eye movement), phân biệt dựa trên những tiêu chuẩn đặc trưng trên điện não đồ [24], [42]
Giai đoạn NREM lại được phân thành 4 pha 1, 2, 3 và 4:
- Pha 1 đặc trưng bởi giấc ngủ nông, giảm hoạt động sóng não và cử động mắt chậm Đây là pha chuyển tiếp
- Pha 2 bao gồm thư giãn cơ, giảm thân nhiệt và chậm nhịp tim
- Pha 3 và 4 hiện diện sóng delta hay còn gọi là giấc ngủ sóng chậm, giấc ngủ sâu, sóng não tần số thấp Giấc ngủ sóng chậm chủ yếu để phục hồi thể chất và được xem là quan trọng nhất trong cả giấc ngủ
Giai đoạn REM bao gồm cử động mắt nhanh, mơ, tăng hoạt động não bộ, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở và hoạt hóa ức chế cơ vân Giai đoạn này lặp lại nhiều lần trong suốt chu kỳ giấc ngủ Tổng thời gian giấc ngủ REM tỉ lệ thuận với thời gian ngủ cả đêm Do đó, thời gian ngủ REM gia tăng với mỗi pha REM ở người trẻ Tuy nhiên, sự gia tăng này không ảnh hưởng đến kiểu cử động mắt trong suốt giấc ngủ REM Hầu hết giấc ngủ sâu sóng delta diễn ra trong 3 giờ đầu của giấc ngủ, trong khi số lượng giấc ngủ REM không phải là tiêu chuẩn về nhịp sinh học này Nhưng nếu giấc ngủ REM bị mất đi, cơ thể sẽ cố gắng tạo ra nó, và lúc này giấc
ngủ REM lại trở thành điều kiện tiên quyết để có giấc ngủ sâu
Trang 17Hình 1.1 Các loại sóng trong giấc ngủ*
*Nguồn: https://www.helpguide.org/harvard/biology-of-sleep-circadian-rhythms-sleep-stages.htm
Đặc trưng giấc ngủ thay đổi theo tuổi đời của con người Điển hình, người trưởng thành cần khoảng 50% thời gian cho giấc ngủ giai đoạn 1 và 2, 25% cho giai đoạn 3 và 4 (giấc ngủ sóng chậm) và 25% cho giấc ngủ REM Có sự giảm tuyến tính về số lượng giấc ngủ sóng chậm bắt đầu từ độ tuổi 55, điều này giải thích tại sao một số NCT có cảm giác không thoải mái sau khi ngủ dậy Nói chung, thời gian ngủ giảm khi tuổi càng tăng, và thay đổi theo từng cá thể [24]
Trung bình, trẻ em và nhũ nhi ngủ từ 16-20 giờ/ngày, trong khi người trưởng thành ngủ 8 giờ/ngày và NCT trên 60 tuổi ngủ 6,5 giờ/ngày [58]
Thời gian thức tăng dần ở nam giới từ 40-50 tuổi, trong khi sự thay đổi này
ở nữ giới diễn ra ở độ tuổi từ 50-60 Do đó, người ta cho rằng hình thái giấc ngủ ở nam giới thay đổi sớm hơn so với nữ giới và cũng thay đổi trong thai kỳ Do những thay đổi về hormon, thời gian ngủ tăng ở giai đoạn đầu khi mang thai, đôi khi tăng thêm đến 2 giờ mỗi ngày [51]
Trang 18Hình 1.2 Bảng tham khảo thời gian ngủ cho từng độ tuổi do Tổ chức Giấc ngủ
Quốc Gia của Mỹ thực hiện 1.2 GIẤC NGỦ NGƯỜI CAO TUỔI
1.2.1 Tổng quan về giấc ngủ ở NCT
Khoảng 50% NCT than phiền về tình trạng khó ngủ So với người trẻ, người lớn tuổi thường khó đi vào giấc ngủ hơn, hiệu quả giấc ngủ (được định nghĩa là thời gian ngủ chia cho thời gian nằm trên giường) cũng thấp hơn, có nhiều lần thức giấc trong đêm, thức dậy sớm hơn mong muốn và cần nhiều hơn những giấc ngủ ngắn vào ban ngày
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng giấc ngủ NCT, có thể phân thành
3 nhóm chính:
- Nguyên phát do tuổi (ví dụ: rối loạn hô hấp khi ngủ, rối loạn cử động chi khi
Trang 19ngủ…)
- Thứ phát sau một tình trạng bệnh lý hay tâm thần (vd: đau mạn tính, trầm cảm, sa sút trí tuệ…)
- Phối hợp 2 hoặc nhiều yếu tố kể trên
Rất khó để phân biệt RLGN đơn thuần chỉ do tuổi hay do quá trình bệnh lý Nhưng nếu thay đổi được chất lượng giấc ngủ sẽ làm tăng chất lượng cuộc sống và tăng mức độ hoạt động chức năng [21]
Cùng với việc ảnh hưởng chất lượng cuộc sống – vì sự gia tăng buồn ngủ vào ban ngày và làm ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý và nhận thức – RLGN cũng góp phần làm tăng tử suất ở NCT Thêm nữa, tình trạng đa thuốc có khuynh hướng ngày càng tăng ở người già, trong khi chính bản thân việc dùng thuốc đã có thể làm tăng bệnh suất, tử suất, và tác dụng phụ làm gia tăng tỷ lệ té ngã, RLGN cũng như rối loạn nhận thức [25]
1.2.2 Phân loại rối loạn giấc ngủ Hiện nay có rất nhiều hệ thống phân loại rối loạn giấc ngủ
Từ tháng 3 năm 2014, Hiệp hội Y khoa về giấc ngủ của Mỹ (the American Academy of Sleep Medicine) đã cho xuất bản ấn bản thứ 3 Phân loại quốc tế về rối loạn giấc ngủ (ICSD-3: the International Classification of Sleep Disorders) [30]
Hệ thống ICSD-3 phân rối loạn giấc ngủ thành 6 nhóm chính:
1 Mất ngủ (Insomnia)
2 Rối loạn hô hấp liên quan giấc ngủ (Sleep-related breathing disorders)
3 Rối loạn buồn ngủ quá mức ban ngày do nguyên nhân trung ương (Central disorders of hypersomnolence)
4 Rối loạn nhịp sinh học của giấc ngủ (Circadian rhythm sleep–wake disorders)
5 Rối loạn cận giấc ngủ (Parasomnias)
Trang 206 Rối loạn cử động liên quan giấc ngủ (Sleep-related movement disorders)
1.2.3 Các kiểu rối loạn giấc ngủ thường gặp ở người cao tuổi [8]
1.2.3.1 Mất ngủ
Mất ngủ là dạng RLGN phổ biến nhất ở NCT, đặc trưng bởi tình trạng khó
đi vào giấc ngủ hay duy trì giấc ngủ, dẫn đến rối loạn hoạt động ban ngày [11]
Mất ngủ được định nghĩa bởi sự nhận thức chủ quan về bất cứ tình trạng RLGN nào, những than phiền chủ quan về cảm giác không thoải mái cả chất lượng
và thời gian ngủ [57] Nguyên nhân mất ngủ có thể do bệnh lý nền hoặc do tác dụng phụ của thuốc đang dùng Đây là kiểu mất ngủ thứ phát Còn kiểu mất ngủ không
có nguyên nhân rõ ràng gọi là mất ngủ nguyên phát
Giấc ngủ điển hình của NCT thường nông và gián đoạn Họ có thể than phiền về tình trạng thức giấc sớm vào buổi sáng, tỉnh giấc vào ban đêm và ngủ chập chờn Việc khó duy trì giấc ngủ vào buổi đêm thường phổ biến hơn là cảm giác khó
đi vào giấc ngủ Tuy nhiên, những triệu chứng này lại thường thay đổi theo thời gian và đôi khi có sự trùng lắp với nhau [21]
1.2.3.2 Ngưng thở khi ngủ và các vấn đề liên quan
Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA: Obstructive Sleep Apnea) là một dạng rối loạn hô hấp quan trọng trong khi ngủ, bao gồm tắc nghẽn đường hô hấp trên lặp đi lặp lại trong suốt giấc ngủ, gây nên tình trạng giảm thông khí (hyponea) hoặc thậm chí là ngưng thở (apnea) OSA làm gián đoạn giấc ngủ, dẫn đến giảm bão hòa Oxy máu về đêm, giảm nghiêm trọng và thậm chí mất hẳn giấc ngủ REM, làm giảm chất lượng giấc ngủ [22]
OSA phổ biến ở nam giới hơn nữ giới Tần suất lưu hành là 4% ở nam và 2% ở nữ trong độ tuổi 30-60 Ở NCT, OSA phổ biến hơn Tần suất lưu hành là 45-60% ở người từ 60 tuổi trở lên Điều này có lẽ liên quan đến sự giảm trương lực cơ
do tuổi, làm cho cấu trúc đường thở dễ sụp xuống hơn Ngoài ra, sự suy giảm cảm giác ở vùng hầu họng ở NCT còn làm cho họ dễ bị tổn thương hơn khi có sự sụp xuống của cấu trúc đường thở trong quá trình ngủ Bên cạnh đó, OSA còn liên quan
Trang 21đến béo phì, tình trạng có thể làm hẹp hơn cấu trúc đường thở Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở những bệnh nhân có sa sút trí tuệ (60%) hay sau đột quỵ (50%) [38]
OSA thường được nhận diện bởi những người ngủ chung với NCT vì triệu chứng ngáy to Đo đa ký giấc ngủ (PSG: Polysomnography) cần được thực hiện để chẩn đoán xác định OSA Những điều trị hiện có bao gồm: thuốc, thay đổi tư thế ngủ, dùng các dụng cụ đeo vào răng và điều trị phẫu thuật [44]
1.2.3.3 Ngáy
Ngáy là một kiểu rối loạn khác ở hệ hô hấp trong khi ngủ, xuất hiện phổ biến trong cộng đồng NCT Sự suy yếu và giảm trương lực cơ ở đường thở trên liên quan đến tuổi là nguyên nhân gây nên tình trạng tắc nghẽn đường thở và dẫn đến ngáy Tần suất lưu hành của ngủ ngáy và mối liên quan của nó với tuổi không thể so sánh chính xác bởi vì có rất nhiều phương pháp đo chỉ số ngáy được thực hiện trong nhiều nghiên cứu khác nhau Nam giới ngáy nhiều hơn nữ, và tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ OSA Một nghiên cứu ở Nantes, Pháp, có khoảng 60% NCT từ 60-70 tuổi
có ngáy [23]
1.2.3.4 Những rối loạn hành vi giấc ngủ REM
Giấc ngủ REM bao gồm: cử động mắt nhanh, nằm mơ, tăng hoạt động não
bộ, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở và ức chế hoạt động của cơ vân
Rối loạn hành vi giấc ngủ REM đặc trưng bởi sự mất trương lực cơ bình thường Thông thường, người có rối loạn hành vi giấc ngủ REM có nhiều cử động làm ảnh hưởng đến người ngủ chung hay thậm chí là bản thân họ Bệnh nhân có thể thức dậy và đi xung quanh; đấm đá tay chân; hay có khi có những động tác phức tạp như ăn trong khi vẫn ngủ Tần suất lưu hành cao hơn ở nam giới so với nữ giới, và
tỉ lệ này xấp xỉ là 9:1 Rối loạn hành vi trong giấc ngủ REM thường liên quan đến thoái hóa hệ thần kinh như bệnh Parkinson (15-47%) [52], bệnh Alzheimer hoặc xơ cứng rải rác Do đó, rối loạn hành vi trong giấc ngủ REM thường phổ biến ở những bệnh nhân > 60 tuổi [29]
Chẩn đoán sớm rất quan trọng để đưa ra những biện pháp điều trị thích hợp như sử dụng các dụng cụ hỗ trợ hay tạo môi trường ngủ an toàn, hạn chế tối đa
Trang 22những tổn thương cho bệnh nhân, đặc biệt là ở những bệnh nhân bị Parkinson
1.2.3.5 Cử động chân tay có chu kỳ và hội chứng chân không yên
Cử động chân tay có chu kỳ và hội chứng chân không yên là những rối loạn vận động về đêm phổ biến ở NCT
Cử động chân tay có chu kỳ là một dạng rối loạn vận động đặc trưng bởi những cử động của chân và tay lặp đi lặp lại theo nhịp trong khi ngủ Những cú giật chân kéo dài khoảng 0,5-5 giây và xuất hiện mỗi 20-40 giây Cử động bao gồm những sự co cơ rất kín đáo ở gót chân và ngón chân cho đến những cú đập rất mạnh của tay và chân Tần suất khoảng 45% NCT [26] Ngoài ra, tỷ lệ này cũng gia tăng theo tuổi và phổ biến ở nam giới hơn nữa giới Cử động chân tay có chu kỳ có thể được chẩn đoán dựa trên đo đa ký giấc ngủ
Hội chứng chân không yên đặc trưng bởi cảm giác mong muốn cử động chân về đêm Có thể chẩn đoán thông qua việc hỏi bệnh sử và không thể chẩn đoán bằng đo đa ký giấc ngủ Thông thường, bệnh sử bao gồm cảm giác không thoải mái (giật cơ, chuột rút hay rất đau) ở chân, và bệnh nhân có xu hướng cử động chân mạnh mẽ trong suốt giai đoạn chuẩn bị đi vào giấc ngủ Triệu chứng giảm dần càng
về những giai đoạn sau của giấc ngủ Do đó, bệnh nhân thường than phiền về tình trạng khó đi vào giấc ngủ
Tần suất của hội chứng chân không yên khoảng 10-35% ở NCT từ 65 tuổi trở lên, phổ biến ở nam giới hơn nữ giới Hầu hết bệnh nhân mắc hội chứng này cũng mắc chứng cử động chân có chu kỳ, trong khi chỉ ¼ bệnh nhân có cử động chân có chu kỳ mới kèm thêm hội chứng chân không yên [33]
Nguyên nhân của hội chứng chân không yên có thể là vô căn hoặc cũng có thể thứ phát sau các bệnh lý như thiếu máu thiếu sắt, bệnh lý cột sống, thần kinh và bệnh thận Ngoài ra, hạ Magne máu, hạ Calci máu và hạ Phospho máu cũng có thể gây nên tình trạng này Việc sử dụng thuốc chống trầm cảm cũng làm nặng thêm hội chứng chân không yên
1.2.3.6 Chứng ngủ rũ
Chứng ngủ rũ là một rối loạn hiếm gặp khi so sánh với những RLGN khác
Trang 23ở NCT, trong khi nó lại phổ biến hơn ở những người trong độ tuổi từ 20 đến 30 Đây là một rối loạn thần kinh mạn tính, nguyên nhân chưa rõ, làm gia tăng tình trạng buồn ngủ ban ngày, tỉnh giấc giữa đêm và khó duy trì giấc ngủ Triệu chứng chính bao gồm: buồn ngủ không cưỡng lại được (sleep attacks) buộc phải ngủ từ vài phút đến một giờ, hiện tượng bóng đè (hypnagogic hallucination), liệt trong khi ngủ Hiện tượng bóng đè mô tả một ảo giác mạnh mẽ về âm thanh và hình ảnh xuât hiện trong khi ngủ hoặc lúc sắp thức Liệt trong khi ngủ đặc trưng bởi tình trạng không thể cử động trước khi chìm vào giấc ngủ hay sau khi thức một thời gian ngắn [59]
Chứng ngủ rũ được đánh giá bởi sự hiện diện và độ nặng của tình trạng buồn ngủ ban ngày thông qua nhiều xét nghiệm Đo đa ký giấc ngủ để loại trừ những dạng RLGN khác
1.2.3.7 Rối loạn nhịp sinh học của giấc ngủ
Rối loạn nhịp sinh học của giấc ngủ là một dạng RLGN tương đối hiếm gặp
so với những dạng RLGN khác Melatonin, một hormone được tiết ra từ tuyến tùng, điều hòa những hormone khác để duy trì nhịp sinh học ngày đêm Bóng tối kích thích sự sản xuất melatonin trong khi ánh sáng lại ức chế hoạt động này NCT thường giảm sản xuất melatonin, do đó họ có khuynh hướng đi ngủ sớm hơn vào buổi tối và thức giấc sớm hơn vào buổi sáng 15-20% NCT có rối loạn dạng này, và thường than phiền về triệu chứng thức giấc quá sớm vào sáng hôm sau [45]
1.2.4 Hậu quả của vấn đề RLGN ở NCT
So với người trẻ, NCT có nhiều lần thức giấc trong đêm và có ít giấc ngủ pha 3 và 4 (giấc ngủ sâu) hơn [21]
Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa RLGN và bệnh
lý tim mạch, chuyển hóa bao gồm bệnh mạch vành và đái tháo đường típ 2 Người
ta nhận thấy việc giảm thời gian ngủ có liên quan đến việc giảm sản xuất hormon và rối loạn chuyển hóa trong cơ thể, ví dụ như tình trạng giảm đề kháng insulin, tăng nồng độ cortisol, tăng hoạt động giao cảm như tăng nhịp tim, tăng thân nhiệt, tăng tiết epinephrine và giảm dung nạp carbohydrate Quan trọng hơn, một số báo báo cho thấy thời gian và chất lượng giấc ngủ là yếu tố tiên đoán mạnh đối với HbA1c,
Trang 24chất chỉ điểm chính trong việc kiểm soát đường huyết Những nghiên cứu này cho rằng thời gian ngủ giảm có thể dẫn đến bệnh đái tháo đường, trong khi một số nghiên cứu khác lại cho rằng cả việc tăng và giảm thời gian ngủ đều làm tăng nguy
cơ mắc bệnh này [61]
Mất ngủ 4 giờ trong 6 đêm liền làm tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm ở tim người Ngược lại, huyết áp sẽ tăng và hoạt động thần kinh giao cảm ở cơ vân sẽ giảm mà không có sự thay đổi nhịp tim hay nồng độ catecholamine trong máu khi hoàn toàn mất ngủ trong một đêm Điều này cho thấy mất ngủ cấp tính hay mạn tính sẽ ảnh hưởng khác nhau lên sự điều hòa hệ thống tim mạch Mất ngủ mạn tính có thể làm tổn thương cơ chế dãn mạch phụ thuộc endothelin Trong khi mất ngủ cấp tính có thể hoạt hóa quá trình viêm và làm tăng nồng độ protein C-reactive, tăng bạch cầu trong máu ngoại biên và tăng nồng độ Interleukin-6 cũng như TNF-alpha Cuối cùng, mất ngủ làm rối loạn quá trình chuyển hóa và tình trạng bất dung nạp glucose của cơ thể [15]
Bên cạnh đó, RLGN cũng có liên quan đến tình trạng béo phì và mãn kinh, những yếu tố góp phần làm nặng thêm bệnh lý tim mạch Mất ngủ và hội chứng ngưng thở khi ngủ có thể gây nên béo phì Ngược lại, béo phì cũng có thể ảnh hưởng lên giấc ngủ và là nhân tố chính của hội chứng ngưng thở khi ngủ Ngoài béo phì, hội chứng mãn kinh cũng là một yếu tố nguy cơ của RLGN [49]
Tần suất và độ nặng của tình trạng ngưng thở tăng lên ở những phụ nữ hậu mãn kinh so với những người tiền mãn kinh, và độc lập so với những yếu tố khác Béo phì trung tâm, hội chứng chuyển hóa và bệnh lý tim mạch xuất hiện đáng kể ngay sau mãn kinh Điều này giải thích tần suất cao của RLGN ở phụ nữ lớn tuổi
1.2.5 Điều trị rối loạn giấc ngủ
Điều trị mất ngủ ở NCT có thể cải thiện tình trạng sức khỏe nói chung, nhưng việc điều trị bằng thuốc cần được cân nhắc ở nhóm đối tượng này
Điều trị mất ngủ bao gồm thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn, thay đổi lối sống, kỹ thuật thư giãn, vệ sinh giấc ngủ, liệu pháp ánh sáng, liệu pháp nhận thức –
hành vi, thái cực (tai chi), yoga, thiền, châm cứu và bấm huyệt [47]
Trang 251.2.5.1 Điều trị không dùng thuốc [13]:
a Vệ sinh giấc ngủ:
Thực hiện các hành vi cải thiện giấc ngủ và giới hạn các hành vi không tốt
- Sắp xếp giờ ngủ và thức dậy đúng đều đặn (dao động trong khoảng 1 giờ) trong suốt cả tuần
- Không sử dụng các chất tác động lên thần kinh trung ương (rượu, cà phê, trà đặc, Vitamin C…) đặc biệt là vào buổi chiều tối
- Tránh ăn quá no, hoặc ăn nhiều chất quá mặn, quá ngọt vào buổi tối
- Nên dùng bữa tối trước giờ đi ngủ ít nhất 3 – 4 giờ
- Tập thể dục đều đặn hằng ngày Tránh tập nặng trong 4 giờ trước khi ngủ
- Phòng ngủ thích hợp (thoáng khí, không quá nóng hoặc quá lạnh, không quá sáng, không ồn ào)
- Không xem tivi nhiều giờ liền trước khi ngủ, không trò chuyện quá lâu trên giường ngủ
b Kiểm soát kích thích:
- Chỉ lên giường khi cảm thấy buồn ngủ hoặc xu hướng muốn ngủ
- Nếu sau 20 – 30 phút mà chưa ngủ được thì nên ra khỏi giường và làm một vài động tác đơn giản, nhẹ nhàng trong 5 – 10 phút, khi có cảm giác buồn ngủ thì trở lại giường
- Chỉ sử dụng giường để ngủ, không nằm đọc sách hoặc trò chuyện, xem tivi trước khi ngủ
- Đặt đồng hồ báo thức và thức dậy vào một thời điểm xác định mỗi ngày
- Tránh ngủ nhiều ban ngày, sẽ gây khó ngủ vào ban đêm Những giấc ngủ trưa 30 phút hoàn toàn có lợi
c Hạn chế giấc ngủ:
- Hạn chế thời gian thức tỉnh trên giường bằng cách thiết lập giờ ngủ chặt chẽ và đưa ra thời biểu ngủ sát hợp với số giờ ngủ trung bình thật sự
Trang 26- Đi ngủ sớm hơn 15 – 30 phút khi thời gian ngủ đạt tối thiểu 85% thời gian trên giường
- Giữ cố định thời gian thức dậy, bất kể thời gian ngủ thật sự
- Nếu sau 10 ngày hiệu suất ngủ thấp hơn 85% thì đi ngủ muộn hơn 15 -30 phút
d Rèn luyện thư giãn: làm tăng sự tỉnh táo lúc thức và dễ ngủ vào
buổi tối
- Thực hiện thư giãn cơ bắp hằng ngày, tập các bài thư giãn vào buổi tối
- Làm sảng khoái tâm trí, tránh những suy nghĩ căng thẳng, ức chế trước khi đi ngủ
e Cấu trúc lại nhận thức về những niềm tin vô lý liên quan đến giấc ngủ: bác bỏ những niềm tin và sợ hãi vô lý về giấc ngủ
- Đánh giá quá mức về số giờ ngủ cần thiết
- Lo lắng cho rằng giấc ngủ không thể kiểm soát được, sợ rằng mất ngủ sẽ gây bệnh tâm thần nặng
- Sợ ra khỏi giường khi thức tỉnh sẽ mất thời gian cho giấc ngủ
- Tâm lý chờ đợi giấc ngủ
1.2.5.2 Điều trị dùng thuốc
Điều trị bằng thuốc giúp giảm triệu chứng Cần xem xét các đặc tính thuốc khi chọn điều trị, ưu tiên dùng các thuốc tác dụng ngắn để làm giảm thời gian ngầy ngật trong ngày, tránh dùng lâu dài để ngừa dung nạp và lệ thuộc thuốc
Trong dân số, NCT là nhóm sử dụng thuốc ngủ nhiều nhất NCT nhận 33% trong số những kê đơn thuốc ngủ mặc dù họ chỉ chiếm 14% dân số [35]
Hai nhóm thuốc được dùng để điều trị mất ngủ là: nhóm an thần gây ngủ (Sedative – Hypnotics) và nhóm thuốc chống trầm cảm (Anti-depressants) [50]
Trang 27- Trước đây sử dụng nhiều, hiện nay gần như không còn sư dụng trong điều trị mất ngủ (chỉ sử dụng Phenobarbital chống co giật và Thiopental tiêm gây mê) vì các lý do sau:
Tác động chọn lọc ít hơn Benzodiazepine
Chỉ số trị liệu thấp, khoảng cách an toàn hẹp, dễ gây ngộ độc
Lạm dụng thuốc dễ gây nghiện và lờn thuốc
Tương tác thuốc đáng kể (cảm ứng enzyme chuyển hóa thuốc)
Nhóm Benzodiazepines (Diazepam, Flurazepam, Estazolam, Temazepam, Triazolam, Quazepam):
Hiện nay vẫn còn là thuốc sử dụng phổ biến nhất cho điều trị mất ngủ đặc biệt là loại tác dụng ngắn và vừa vì: tương đối an toàn, nguy cơ nghiện thuốc thấp,
ít tương tác với các thuốc khác
Nên được sử dụng tối đa 2 -3 tuần, nêu cần sử dụng lâu hơn nên uống 2 – 3 đêm trong một tuần, lý do sử dụng liên tục sẽ gây nguy cơ dung nạp thuốc và phải tăng liều thuốc Cần giảm liều từ từ để tránh hội chứng ngưng thuốc
Không nên dùng các Benzodiazepines tác dụng kéo dài (Flunazepam) cho người cao tuổi vì thời gian bán hủy 2 – 8 ngày dễ có khuynh hướng tích tụ lâu trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần trong cơ thể, ngoài ra các thuốc này thường gây buồn ngủ ban ngày, ngủ lịm (lethargy), thất điều, té ngã, suy giảm tâm thần và nhận thức
b Nhóm thuốc chống trầm cảm:
Các thuốc chống trầm cảm giải lo âu (sedating antidepressants) như Trazodone, Nefazodone với liều thấp có thể sử dụng cho bệnh nhân mất ngủ, đặc biệt cho những bệnh nhân lạm dụng thuốc trước đây [46]
Nên cẩn thận khi dùng Amitriptyline ở NCT vì tác dụng anticholinergic và
có thể gây lú lẫn
1.3 Đánh giá chất lượng giấc ngủ ở NCT Chất lượng giấc ngủ được được định nghĩa là bao gồm các yếu tố:
- Có thể định lượng được: độ dài giấc ngủ, thời gian vỗ giấc, số lần tỉnh giấc trong đêm
Trang 28- Mang tính chủ quan: “giấc ngủ sâu” hay “sự thoải mái sau khi ngủ dậy” [14]
Có nhiều phương tiện đánh giá CLGN, bao gồm 2 nhóm: khách quan và chủ quan
1.3.1 Phương pháp đo lường khách quan
Phương pháp đo lường khách quan thường được áp dụng hiện nay là đo đa ký giấc ngủ (PSG: Polysomnography) Đây là phương tiện giúp ghi lại một loạt các thông
số sinh lý của con người trong khi ngủ nhằm đánh giá giấc ngủ và chẩn đoán những vấn đề liên quan đến RLGN Máy đo đa ký giấc ngủ có các kênh ghi điện não đồ, điện tim, điện cơ mắt, mức độ Oxy trong máu, thông số hô hấp, chuyển động cơ hô hấp, tiếng ngáy Đa ký giấc ngủ thường được thực hiện tại các đơn vị điều trị giấc ngủ trong bệnh viện hoặc trung tâm theo dõi giấc ngủ [42]
1.3.2 Phương pháp đo lường chủ quan
Có thể sử dụng những bảng câu hỏi thiết kế sẵn để đánh giá các vấn đề giấc ngủ Có nhiều bảng câu hỏi được đưa ra và sử dụng trong nhiều nghiên cứu Gần đây có nhiều tác giả sử dụng các bảng câu hỏi Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI), Epworth Sleepiness Scale (ESS) và Standford Sleepiness Scale (SSS) trong việc đánh giá chất lượng giấc ngủ trong cộng đồng người da trắng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá chất lượng giấc ngủ ban đêm bằng bảng câu hỏi PSQI và buồn ngủ quá mức ban ngày bằng bảng câu hỏi ESS
1.3.2.1 Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI: Pittsburgh Sleep Quality Index)
Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh được phát triển bởi Trường Đại học
Y khoa Pittsburgh thông qua một nghiên cứu kéo dài 18 tháng ở Mỹ Nghiên cứu thực hiện trên 148 đối tượng được phân thành 3 nhóm dựa trên chất lượng giấc ngủ của họ Nhóm 1 bao gồm những người có giấc ngủ tốt (good sleepers), 52 người khỏe mạnh không có than phiền về giấc ngủ Nhóm 2 bao gồm những người có giấc ngủ kém (poor sleepers), 34 người với rối loạn trầm cảm là chính Nhóm 3 cũng bao gồm những người có giấc ngủ kém (poor sleepers), 45 đối tượng than phiền về tình trạng khó đi vào giấc ngủ và khó duy trì giấc ngủ và 17 đối tượng có rối loạn buồn ngủ quá mức (Excess Somnolence Disorder) 148 đối tượng hoàn thành bảng câu
Trang 29hỏi PSQI trong 1 lần và 91 đối tượng hoàn thành trong 2 lần [41]
Chức năng cơ bản của thang điểm này là đo lường chất lượng giấc ngủ một cách chủ quan và phân thành 2 nhóm: nhóm có giấc ngủ tốt và nhóm có giấc ngủ kém chứ không đưa ra một chẩn đoán chính xác về RLGN trên lâm sàng
Thang điểm PSQI bao gồm 19 câu hỏi chứa trong 7 yếu tố về giấc ngủ trong vòng 1 tháng qua, bao gồm:
1 Thời gian vỗ giấc (sleep latency)
2 Thời gian ngủ cả đêm (sleep duration)
3 Hiệu quả của giấc ngủ theo thói quen (habitual sleep efficiency)
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ (sleep disturbances)
5 Sử dụng thuốc ngủ (use of sleep medication)
6 Rối loạn hoạt động ban ngày (daytime dysfunction)
7 Chất lượng giấc ngủ chủ quan (subjective sleep quality) Tổng điểm của 7 thành phần này tạo nên điểm số PSQI chung, dao động từ 0-21 điểm Nếu tổng điểm > 5 thì cả độ nhạy (89,6%) và độ đặc hiệu (86,5%) đều cho phép phân biệt một người có chất lượng giấc ngủ tốt hay kém Điểm càng cao, chất lượng giấc ngủ càng thấp [10]
Thang điểm PSQI đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ
Phiên bản tiếng Việt đầu tiên và phiên bản tiếng Anh dịch ngược đã được thực hiện vào năm 2013 bởi tác giả Tô Minh Ngọc và cộng sự, được đăng trên Tạp chí Y học thực hành năm 2014 - Tập 18 - Số 6 [7] Qui trình chuyển dịch được đăng ký với tổ chức chủ quản thang đo PSQI MAPI‐TRUST tại Pháp và được thực hiện qua
3 bước: chuyển dịch xuôi, chuyển dịch ngược và thử nghiệm trên bệnh nhân Chuyển dịch xuôi được thực hiện tại Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y dược vào tháng 1 năm 2013 với 2 dịch giả và 4 chuyên gia lâm sàng và ngôn ngữ học thảo luận Phiên bản chuyển dịch ngược được thực hiện vào tháng 2 năm 2013 với 1 dịch giả, 1 bác sĩ lâm sàng và 4 chuyên gia ngôn ngữ học thảo luận nhóm Phiên bản hoàn chỉnh được thực hiện vào tháng 3 năm 2013 bởi tất cả dịch giả và chuyên gia
Trang 30thảo luận nhóm và thử nghiệm trên 10 bệnh nhân tại phòng khám Chăm sóc Giấc ngủ ‐ Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng
Phiên bản PSQI tiếng Việt hoàn chỉnh được thử nghiệm trên 10 bệnh nhân vào cho kết quả tin cậy lặp lại rất tốt, với 100% đối tượng có điểm đo lần 1 và lần 2 chênh lệch không quá 1 điểm sau mỗi tuần thực hiện lại thang đo PSQI Qui trình chuyển dịch cho thấy không có bất đồng ngôn ngữ nghiêm trọng trong hai phiên bản thang đo Anh – Việt
Kết quả thảo luận nhóm của các chuyên gia cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho thấy công dụng tiềm tàng của PSQI khi sử dụng trên bệnh nhân tại Việt Nam và không
có bất đồng hay hiểu lầm về ngôn ngữ
Nghiên cứu đã cho ra đời thang đo Chất lượng giấc ngủ Pittsburgh Sleep Quality Index phiên bản tiếng Việt và có thể được sử dụng trong giai đoạn 2: nghiên cứu lượng giá trên bệnh nhân rối loạn giấc ngủ
1.3.2.2 Thang điểm buồn ngủ quá mức ban ngày Epworth
(ESS: Epworth Sleepiness Scale)
Thang điểm buồn ngủ Epworth là một bảng câu hỏi giúp đối tượng tự đánh giá
về tình trạng buồn ngủ ban ngày của mình Bảng câu hỏi này bao gồm 8 mục trả lời về mức độ buồn ngủ trong 8 tình huống, cho điểm từ 0-3 cho mỗi câu hỏi (0=không bao giờ buồn ngủ, 1=hơi buồn ngủ, 2=buồn ngủ vừa, 3= rất buồn ngủ) Tổng điểm >=10 cho biết tình trạng có buồn ngủ ban ngày và tổng điểm >=18 là rất buồn ngủ [31]
Thang điểm ESS rất dễ thực hiện và là phương tiện phổ biến nhất trong việc đánh giá chủ quan buồn ngủ quá mức ban ngày
Thang điểm ESS ban đầu được thực hiện dựa trên nghiên cứu trên 150 bệnh nhân với những kiểu RLGN khác nhau và nhóm chứng gồm 30 người bình thường làm việc tại bệnh viện trong ca trực ngày Đối tượng từ 18-78 tuổi Điểm ESS trung bình là 5,9 ± 2,2 ở nhóm chứng Không có sự khác biệt đáng kể trong điểm số ESS ở 2 giới và nhóm chứng Những bệnh nhân có rối loạn buồn ngủ ban ngày quá độ có điểm số ESS cao hơn, chứng tỏ có khả năng ngủ gật cao hơn nhóm người bình thường Do đó, tổng điểm ESS có thể giúp phân biệt nhóm đối tượng bình thường với nhóm bệnh nhân bị
Trang 31OSA, nhóm mắc chứng ngủ rũ và ngủ nhiều vô căn Tuy nhiên, tổng điểm ESS không giúp phân biệt bệnh nhân có ngáy đơn thuần so với nhóm chứng bình thường [18]
Bảng 1.1.So sánh đặc trưng của 3 bảng câu hỏi đánh giá chất lượng giấc ngủ
Cách tính điểm
Ngôn ngữ Cách
đánh giá
Dân số mục tiêu
Trường Đại học Y khoa Pittsburgh
7 mục,
19 câu hỏi
0-3 điểm/
mỗi câu hỏi
Nhiều ngôn ngữ,
đã được chuẩn hóa tiếng Việt
Tự cho điểm
Người cao tuổi
Epworth
Sleepiness
Scale (ESS)
Đánh giá chủ quan buồn ngủ quá mức ban ngày
Bệnh viện Epworth ở Melbourn,
Úc
8 câu hỏi
0-3 điểm/
mỗi câu hỏi
Nhiều ngôn ngữ, chưa được chuẩn hóa tiếng Việt
Tự cho điểm
Không đặc trưng cho đối tượng nào
Standford
Sleepiness
Scale (SSS)
Một phương tiện tầm soát nhanh
sự tỉnh táo
Trường Đại học Standford
8 câu hỏi
1-7 điểm/
mỗi câu hỏi
Nhiều ngôn ngữ, chưa được chuẩn hóa tiếng Việt
Tự cho điểm
Không đặc trưng cho đối tượng nào
Hiện tại ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về CLGN ở đối tượng NCT Chúng tôi cho rằng cần có một nghiên cứu về vấn đề này bởi vì giấc ngủ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và sức khỏe cũng như hoạt động hàng ngày của nhóm đối tượng này Dựa trên các bảng câu hỏi về giấc ngủ đã được thực hiện trong nhiều nghiên cứu trên thế giới, chúng tôi ghi nhận 2 bảng câu hỏi là PSQI và ESS là thích hợp để khảo sát trong cộng đồng NCT ở Việt Nam
Trang 321.4 Một số nghiên cứu về CLGN ở Việt Nam và trên thế giới Bảng 1.2 Một số nghiên cứu về CLGN ở Việt Nam và trên thế giới
Nguyễn Thanh Bình
2008 [4]
Nghiên cứu một
số đặc điểm lâm sàng của RLGN tại Viện Lão khoa quốc gia
64 bệnh nhân đến khám tại Viện Lão khoa quốc gia vì RLGN
- Hiệu quả giấc ngủ:
- 87,5% ngủ không ngon giấc
- 84,4% khó ngủ và khó duy trì giấc ngủ
- Rối lọan chức năng ban ngày:
>50% có biểu hiện đau đầu buổi sáng khi ngủ dậy, giảm trí nhớ và giảm độ tỉnh táo
Một điều tra dịch
tễ học về những thói quen và rối loạn trong giấc ngủ ở NCT
800 NCT từ 65 – 84 tuổi tại thành phố Reykjavik và những vùng ngoại ô lân cận thuộc Iceland
Thời gian ngủ: 7,25 giờ/ đêm
Thời gian vỗ giấc: 8 phút
Nghiên cứu một
số RLGN trong cộng đồng NCT ở Hong Kong
145 NCT >65 tuổi sống tại trung tâm Hong Kong
Trang 33 Nói chung, các nghiên cứu về giấc ngủ trên thế giới tương đối nhiều Các tác giả đã nghiên cứu về mọi khía cạnh của CLGN, từ dịch tễ học tìm hiểu về lứa tuổi, giới, địa lý, điều kiện kinh tế… đến các nghiên cứu phân tích về nguyên nhân dẫn đến CLGN kém Đặc biệt các tác giả chú ý nhiều đến rối loạn giấc ngủ nguyên phát gồm hội chứng ngưng thở khi ngủ và hội chứng chân không yên cũng như các rối loạn vận động chi có chu kỳ Kế tiếp, những nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân có vấn đề về tâm thần đặc biệt là trầm cảm và tâm thần phân liệt được quan tâm rất nhiều
Ở nước ta cho đến nay vẫn chưa có công trình lớn nào đi sâu vào tìm hiểu giấc ngủ người cao tuổi Hy vọng trong tương lai Việt Nam sẽ có đủ nguồn lực và kinh phí để có thể nghiên cứu sâu về lĩnh vực này, nhằm góp phần đem lại những giấc ngủ hiệu quả nhất và làm tăng chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân cao tuổi
Trang 34CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
=> chúng tôi chọn P = 0,36 Với α = 0,05 => Z = 1,96 d: Sai số tối đa của ước lượng, chúng tôi chọn d = 0,1
Tính được n = 88,5 Vậy cỡ mẫu tối thiểu chúng tôi cần thu thập là 89 bệnh nhân
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện 2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.3.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥ 60 tuổi) đến khám đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 352.3.4 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân bệnh tâm thần thuộc nhóm loạn thần đã được chẩn đoán xác định trước đó và đang điều trị
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.4.1 Địa điểm
Phòng khám Đa khoa Nhân Trang Địa chỉ: Số 427 Đường Bà Hạt - Quận 10 – Thành phố Hồ Chí Minh
2.4.2 Thời gian lấy mẫu
Từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2017
2.4.3 Tiến trình nghiên cứu
- Trực tiếp thu thập dữ liệu từ những bệnh nhân đến khám với các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ đã nêu ở trên
- Các bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu sẽ được:
Hỏi về tiền căn và các vấn đề bệnh lý nội và ngoại khoa đang mắc
Hỏi về các thuốc đã hoặc đang sử dụng để điều trị rối loạn giấc ngủ
Hỏi về các thói quen sinh hoạt cá nhân vào ban ngày và trước khi ngủ
Thực hiện bảng câu hỏi khảo sát về chất lượng giấc ngủ, bao gồm ESS và PSQI
- Tổng hợp và phân tích số liệu
2.4.4 Phương pháp thu thập số liệu
Hỏi và quan sát
2.4.5 Công cụ thu thập số liệu
Bảng câu hỏi về dịch tễ, tiền căn bệnh lý và thói quen sinh hoạt
Bảng câu hỏi về chất lượng giấc ngủ Pittsburgh
Thang điểm buồn ngủ quá mức ban ngày EPWORTH
2.4.6 Các biến số thu thập
2.4.6.1 Các yếu tố dịch tễ
Trang 36Biến số Loại biến Định nghĩa PP thống kê
Giới tính Định tính 2 giá trị: nam và nữ
Học vấn Định tính
4 giá trị:
- Không đi học, cấp 1 – Cấp 2
– Cấp 3 – Đại học – Cao đẳng – Sau đại học
Nơi cƣ trú Định tính
2 giá trị: thành phố Hồ Chí Minh và ngoài thành phố Hồ Chí Minh
Trang 372.4.6.2 Các yếu tố tiền căn bệnh lý [40], [53], [62]
Biến số Loại biến Định nghĩa Giá trị PP thống kê
Tăng huyết áp
Định tính
Đang dùng thuốc hạ áp hoặc đo huyết áp 2 lần khi nghỉ cho trị số huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương ≥
90 mmHg
2 giá trị:
có và không
theo mỗi bệnh
- Thống kê tỷ
lệ
- So sánh mối liên quan với chất lượng giấc ngủ: phép kiểm chi bình phương, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến
Bệnh mạch vành:
- Nhồi máu cơ tim cũ Và/ hoặc
- Bệnh tim thiếu
máu cục
bộ
* Nhồi máu cơ tim cũ:
Ghi nhận theo hồ sơ cũ trong giấy xuất viện
*Bệnh tim thiếu máu cục bộ
(AHA 2013) (62)
- ECG: sóng Q hoại tử điển hình
(rộng ≥ 40msec) hoặc ST chênh xuống ngang hay chúc xuống ≥ 0.5mm ở ≥ 2 đạo trình liên tiếp theo phân khu mạch vành (loại trừ Q, ST thứ phát từ dày thất, block nhánh)
Hoặc:
- Siêu âm tim: vô động hoặc
loạn động vùng, giảm động theo phân khu mạch vành (không phải lan tỏa tất cả các thành) và vắng mặt các bệnh lý van tim nặng (hẹp van ĐMC nặng, hở van 2 lá hoặc van ĐMC nặng)
Suy tim mạn
Theo ESC 2012 (39)
*Suy tim tâm thu: 3 tiêu chuẩn:
- Triệu chứng cơ năng
- Triệu chứng thực thể
- Giảm EF/ siêu âm tim
* Suy tim tâm trương: 4 tiêu chuẩn:
- Triệu chứng cơ năng
- Triệu chứng thực thể
- EF bảo tồn/ siêu âm tim
- Bằng chứng bệnh cấu trúc cơ tim (dày thất trái, dãn nhĩ trái) và/ hoặc rối loạn chức năng tâm trương
Trang 38Biến số Loại biến Định nghĩa Giá trị PP thống kê
Bệnh lý mạch máu não:
- Xuất huyết não
cũ Hoặc
- Nhồi máu não
có và không
theo mỗi bệnh
Bệnh phổi:
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Ghi nhận theo hồ sơ bệnh án kết quả xét nghiệm máu cho độ lọc cầu thận (GFR) < 60 mL/ phút
- Đường huyết sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp 75g glucose ≥ 200 mg/dL
- Đường huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dL
Trang 39Biến số Loại biến Định nghĩa Giá trị PP thống kê
có và không
2.4.6.3 Các yếu tố thói quen sinh hoạt [16]
Biến số Loại biến Định nghĩa Giá trị PP thống kê
Tắt đèn
Định tính
Tắt tất cả các đèn trong phòng ngủ trước khi ngủ
2 giá trị:
có và không
theo mỗi thói quen
- Thống kê tỷ lệ
- So sánh mối liên quan với chất lượng giấc ngủ: hồi quy đơn biến
và đa biến
Đọc sách báo
Đọc sách hoặc báo/ tạp chí giấy trước khi ngủ từ 15 phút trở lên
Xem ti
vi
Xem ti vi từ 15 phút trở lên trước khi ngủ
Hút thuốc lá
Đã hút > 100 điếu (thuốc lá/
thuốc lào) từ trước đến nay
và hiện vẫn còn hút Uống
rượu
Có uống rượu/ bia > 1 lần/
tháng và có uống trong tháng qua
Uống trà
- Tập trên 30 phút > 1 lần trong 2 tuần qua
Trang 402.4.6.4 Biến số yếu tố môi trường ngủ bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn
- Loại biến: Định tính
- Định nghĩa: Nghe thấy tiếng ồn ở môi trường xung quanh chỗ ngủ khi bắt đầu lên giường ngủ
- 2 giá trị: có và không
- Phương pháp thống kê: Thống kê tỷ lệ
- So sánh mối liên quan với CLGN: hồi quy đơn biến và đa biến
2.4.6.5 Các loại thuốc ngủ được sử dụng Nhóm thuốc Loại biến Định nghĩa Giá trị PP thống kê
Benzodiazepines
Định tính
Có được kê trong toa thuốc trong vòng 1 tháng gần đây
2 giá trị: có và không Thống kê tỷ lệ
Melatonin Thảo dược Chống trầm cảm
3 vòng
2.4.6.4 Các biến số về chất lượng giấc ngủ
a Buồn ngủ quá mức ban ngày