HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRÊN BỆNH NHÂN NGƯNG THỞ LÚC NGỦ TẮC NGHẼN CHƯA ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Chủ nhiệm đề tài: Bùi Diễm Khuê
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRÊN BỆNH NHÂN NGƯNG THỞ LÚC NGỦ TẮC NGHẼN CHƯA ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ
Chủ nhiệm đề tài: Bùi Diễm Khuê
TP Hồ Chí Minh, 04/2018
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRÊN BỆNH NHÂN NGƯNG THỞ LÚC NGỦ TẮC NGHẼN CHƯA ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA
Chủ nhiệm đề tài:
ThS BS Bùi Diễm Khuê
Thành viên tham gia:
TS BS Mai Phương Thảo
Đơn vị thực hiện:
Bộ môn Sinh Lý học Đại học Y Dược TP HCM
Khoa Thăm dò chức năng hô hấp – Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM
Trang 4THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CẤP TRƯỜNG 1
MỞ ĐẦU 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 6
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 23
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 27
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 5Bảng 1 Phân loại độ nặng của NTLNTN 8
Bảng 2.Mức độ buồn ngủ ban ngày theo bảng điểm Epworth 9
Bảng 3 Các thang đo CLCS và các khía cạnh đánh giá 10
Bảng 4 Các thang đo chất lượng cuộc sống: điểm mạnh và điểm yếu 11
Bảng 5 Các lĩnh vực của bộ câu hỏi SF-36 và độ tin cậy của từng lĩnh vực 14
Bảng 6 Các nghiên cứu về tỉ lệ hiện mắc của NTLNTN 16
Bảng 7 Đặc điểm dân số nghiên cứu 23
Bảng 8 Điểm số SF-36 24
Bảng 9 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực và tuổi 25
Bảng 10 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực và BMI, vòng cổ, vòng bụng 25
Bảng 11 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực và các chỉ số ĐKGN 26
DANH MỤC HÌNH Hình 1 NTLNTƯ và NTLNTN 7
Hình 2 Phân bố mức độ buồn ngủ ban ngày 24
Hình 3 Mối liên quan giữa điểm số 8 lĩnh vực với mức độ NTLNTN 26
Trang 6AHI: Apnea–hypopnea index (Chỉ số ngưng thở-giảm thở) CLCS: Chất lượng cuộc sống
Trang 7THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn
chưa được điều trị
- Mã số:
- Chủ nhiệm đề tài: Bùi Diễm Khuê Điện thoại: 01237829781 Email: bui.diemkhue@gmail.com
- Đơn vị quản lý về chuyên môn (Khoa, Tổ bộ môn): BM Sinh Lý học – Khoa Y
- Thời gian thực hiện: từ 1/3/2017 đến 1/3/2018
2 Mục tiêu: Khảo sát chất lượng cuộc sống theo thang đo SF-36 trên bệnh nhân
ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn (NTLNTN)
3 Nội dung chính:
Ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn (NTLNTN) đặc trưng bởi sự tắc nghẽn gián đoạn đường hô hấp trên một phần hay hoàn toàn, liên quan đến giảm oxy máu, vi thức giấc lặp đi lặp lại, sự phân mảnh giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ kém Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận những ảnh hưởng của NTLNTN lên sức khỏe và chất lượng cuộc sống (CLCS)
Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả trên bệnh nhân NTLNTN chưa được điều trị,
sử dụng bộ câu hỏi SF-36 (36-Item Short Form Survey)
4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, )
Trang 84.1 Về khoa học
Có 65 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu Tuổi trung bình 51,4 ± 14,9 Bệnh nhân có NTLNTN càng nặng, CLCS càng cao (ở tất cả lĩnh vực, ngoại trừ cảm nhận đau đớn), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê SpO2 thấp nhất có tương quan nghịch không đáng kể với điểm số CLCS ở cả 8 lĩnh vực
4.2 Về công bố Chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn chưa được
điều trị, Tạp chí Y học TP.HCM, Phụ bản Tập 22, Số 2, 2018: 180-185
5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:
Phạm vi ứng dụng: Các phòng thăm dò chức năng hô hấp
Trang 9MỞ ĐẦU
Giấc ngủ là một trong những nhu cầu quan trọng nhất của cuộc sống Do đó, giấc ngủ được xem là một khía cạnh quan trọng của sức khỏe, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
Ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn (NTLNTN) là một rối loạn giấc ngủ phổ biến, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn gián đoạn đường hô hấp trên một phần hay hoàn toàn, liên quan đến giảm oxy máu, vi thức giấc lặp đi lặp lại, sự phân mảnh giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ kém Trong dân số chung, tỉ lệ hiện mắc NTLNTN có kèm buồn ngủ ban ngày vào khoảng 3 đến 7% ở nam giới trưởng thành và 2 đến 5% ở nữ giới trưởng thành Các yếu tố nguy cơ của rối loạn này bao gồm: tuổi, giới nam, mãn kinh, béo phì, bất thường sọ mặt, tiền sử gia đình và các thói quen như hút thuốc lá, uống rượu
Bệnh nhân bị NTLNTN có thể biểu hiện một số triệu chứng điển hình bao gồm ngáy (thường gây khó chịu cho người ngủ chung), cảm giác thức dậy không sảng khoái, buồn ngủ ban ngày quá mức, mệt mỏi, kém tập trung, giảm trí nhớ và đôi khi rối loạn tâm lý
NTLNTN ảnh hưởng hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể, gây tăng tỉ lệ bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch, đột quỵ, tăng áp phổi, rối loạn nhịp tim và viêm nhiễm
Sự phân mảnh giấc ngủ do NTLNTN có thể làm giảm năng lượng, giảm nhận thức, thay đổi tính khí, đồng thời, NTLNTN làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông và tai nạn lao động Tuy nhiên, triệu chứng và sự hiện diện các bệnh đồng mắc khác biệt nhiều giữa các bệnh nhân NTLNTN
Từ năm 1946, sau khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa “sức khỏe là một tình trạng toàn vẹn về thể chất, tinh thần và phúc lợi xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay thương tật”, mối quan tâm về khái niệm “Chất lượng cuộc sống” đã được nâng lên đáng kể Rất khó để định nghĩa chính xác “chất lượng
Trang 10cuộc sống” là gì, vì đó là một khái niệm đa yếu tố, bao phủ nhiều lĩnh vực Định nghĩa về chất lượng cuộc sống thay đổi từ xã hội này sang xã hội khác cũng như từ
cá nhân này sang cá nhân khác trong cùng một xã hội Theo quan niệm chung, khái niệm “chất lượng cuộc sống” cần bao phủ các lĩnh vực sau: chức năng hoạt động, than phiền về bệnh và điều trị, năng lực về tâm lý và chức năng xã hội Nhóm Chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL) đã định nghĩa chất lượng cuộc sống là “nhận thức của các nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh văn hóa và các giá trị mà họ đang sống, trong mối quan hệ với các mục tiêu, kì vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ” Định nghĩa này tập trung vào cách mà bệnh nhân đánh giá chất lượng cuộc sống từ quan điểm của họ
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận những ảnh hưởng của rối loạn hô hấp trong giấc ngủ lên sức khỏe và chất lượng cuộc sống, đặc biệt là đối với NTLNTN Các bệnh nhân NTLNTN thường có chất lượng cuộc sống kém về mặt xã hội, cảm xúc và thể chất; rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân NTLNTN cũng làm tăng xung đột trong gia đình và xã hội
Tuy nhiên, trong cùng một bệnh lý, chất lượng cuộc sống có thể khác biệt giữa các quốc gia và nền văn hóa khác nhau Do vậy, kết luận từ một nghiên cứu ở nước ngoài sẽ khó đo lường được chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân NTLNTN của Việt Nam Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá những ảnh hưởng của NTLNTN lên chất lượng cuộc sống của người bệnh chưa được điều trị Từ đó, bệnh nhân và nhân viên y tế sẽ nhận thức rõ hơn về tác động của bệnh lý và có kế hoạch điều trị phù hợp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ là tiền đề cho các
nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh NTLNTN sau điều trị
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các mục tiêu sau:
- Khảo sát đặc điểm lâm sàng và đa ký giấc ngủ trên bệnh nhân NTLNTN
- Khảo sát mối liên quan giữa mức độ nặng của NTLNTN và CLCS theo thang
đo SF-36
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1 NGƯNG THỞ LÚC NGỦ
1.1 Lịch sử
Các rối loạn hô hấp trong lúc ngủ đang trở thành một vấn đề sức khỏe quan trọng trong cộng đồng Mặc dù từ thế kỉ 19, Hunter, Cheyne và Stokes đã mô tả một vài dạng rối loạn hô hấp trong lúc ngủ, nhưng ngưng thở lúc ngủ chỉ mới được nhận ra
và nghiên cứu nhiều trong nửa thập kỉ gần đây Năm 1919, William Osler đã sử dụng thuật ngữ “hội chứng Pickwick” để chỉ những bệnh nhân béo phì kèm buồn ngủ nhiều Thuật ngữ này dựa trên nhân vật Joe trong tác phẩm “The Posthumous Papers of the Pickwick Club” của Charles Dickens xuất bản 1835, một người nam rất mập, ngáy to, rất buồn ngủ và dễ ngủ gục Năm 1965, Gautaut và cộng sự đã chỉ
ra rằng ngưng thở lúc ngủ là do sự tắc nghẽn đường dẫn khí Năm 1976, lần đầu tiên thuật ngữ “ngưng thở lúc ngủ” và “ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn” được sử dụng bởi Guilleminault và cộng sự, và các tác giả cũng nhấn mạnh rằng ngưng thở lúc ngủ không chỉ xảy ra ở những người béo phì Trong 40 năm qua, chúng ta đã bắt đầu hiểu rõ thêm về sinh lý bệnh, bệnh học, phát triển các phương tiện chẩn đoán và điều trị hiệu quả đối với ngưng thở lúc ngủ
1.2 Định nghĩa và phân loại
Ngưng thở lúc ngủ được định nghĩa là tình trạng có những cơn ngưng thở hoặc giảm thở lặp lại trong lúc ngủ gây ra những vi thức giấc, gián đoạn giấc ngủ, giảm
độ bão hòa oxy trong máu
Ngưng thở lúc ngủ có 3 dạng:
• Ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn (NTLNTN) là ngưng thở lúc ngủ do nguyên nhân tắc nghẽn đường dẫn khí trên, có sự cố gắng của các cơ hô hấp nhưng không có luồng khí lưu thông
• Ngưng thở lúc ngủ trung ương (NTLNTƯ) là ngưng thở lúc ngủ do nguyên nhân trung ương, không có các tín hiệu từ não đến các cơ hô hấp dẫn đến không có hoạt động hô hấp và hệ quả là không có luồng khí lưu
Trang 13thông Biểu hiện trên kết quả ĐKGN là không có cử động của ngực bụng
và không có luồng khí lưu thông qua mũi họng
• Ngưng thở lúc ngủ hỗn hợp (NTLNHH): bao gồm cả 2 nguyên nhân trên Trong đó NTLNTN là dạng thường gặp nhất Phần lớn bệnh nhân NTLNTN có cả cơn ngưng thở tắc nghẽn và cơn ngưng thở hỗn hợp
Hình 1 NTLNTƯ và NTLNTN
1.3 Đa ký giấc ngủ
Đa ký giấc ngủ là thiết bị dùng để chẩn đoán ngưng thở lúc ngủ, thiết bị này sẽ giúp theo dõi các hoạt động hô hấp, cử động của cơ thể trong suốt các giai đoạn của giấc ngủ Thông thường một máy ĐKGN sẽ gồm các kênh thông tin sau: các kênh về hô hấp (theo dõi dòng khí qua mũi miệng, cử động ngực bụng, độ bão hòa oxy trong mao mạch), kênh điện não (EEG): theo dõi điện não để phân chia các giai đoạn giấc ngủ, kênh theo dõi các chuyển động của nhãn cầu (EOG), điện cơ ở cằm, chuyển động ở chân (EMG), kênh điện tim (ECG) Các thông tin này được ghi lại và phân tích, sẽ giúp xác định chỉ số ngưng thở-giảm thở (AHI: Apnea Hypopnea Index), tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán hội chứng NTLN Chỉ số ngưng thở và giảm thở được định nghĩa: là tổng số lần ngưng thở và giảm thở trong một giờ ngủ Ngưng thở là hiện tượng khi có giảm luồng khí lưu thông qua mũi miệng hơn 90% so với luồng khí cơ bản ban đầu trong thời gian ít nhất 10 giây Giảm thở là hiện tượng khi luồng khí lưu thông qua mũi miệng giảm hơn 30% so với luồng khí cơ bản ban đầu kéo dài ít nhất 10 giây kèm theo giảm độ bão hòa oxy lớn hơn hoặc bằng 4%; hoặc khi luồng khí lưu thông qua mũi miệng giảm hơn 50% kèm theo giảm độ bão hòa oxy lớn hơn hoặc bằng 3% hoặc kèm vi thức giấc
Trang 141.4 Ngưng thở lúc ngủ trung ương
NTLNTƯ chiếm khoảng 5-15% NTLN Để chẩn đoán NTLNTƯ thì phải có ít nhất 50-80% cơn ngưng thở là do nguyên nhân trung ương Theo cách phân loại các rối loạn giấc ngủ quốc tế, NTLNTƯ gồm 5 loại: (1) ngưng thở lúc ngủ trung ương nguyên phát, (2) ngưng thở lúc ngủ trung ương kiểu thở Cheyne-Stokes, (3) ngưng thở chu kỳ liên quan độ cao, (4) ngưng thở lúc ngủ trung ương do thuốc, (5) ngưng thở lúc ngủ trung ương ở trẻ em
Ngưng thở lúc ngủ trung ương nguyên phát, ngưng thở lúc ngủ trung ương kiểu thở Cheyne-Stokes, ngưng thở chu kỳ liên quan độ cao là 3 dạng ngưng thở lúc ngủ trung ương giảm thán khí Các bệnh nhân thuộc các nhóm này có nồng độ PaCO2bình thường hoặc thấp lúc thức và không tăng nồng độ CO2 lúc ngủ
Ngưng thở lúc ngủ trung ương do thuốc và ngưng thở lúc ngủ trung ương nguyên phát ở trẻ em là dạng ngưng thở lúc ngủ trung ương tăng thán khí, các bệnh nhân này có nồng độ PaCO2 cao trong lúc thức và sẽ tăng lên trong lúc ngủ
1.5 Ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn
NTLNTN được định nghĩa là tình trạng giảm luồng khí lưu thông một phần hay hoàn toàn, lặp lại do sự tắc nghẽn đường dẫn khí trên xảy ra trong lúc ngủ Cơn ngưng thở tắc nghẽn điển hình thường kèm theo vi thức giấc, giảm độ bão hòa oxy gây gián đoạn giấc ngủ và tăng hoạt động thần kinh giao cảm
Theo AASM, tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng NTLNTN là khi chỉ số ngưng giảm thở ≥5 kèm theo có triệu chứng (buồn ngủ ban ngày, cơn ngưng thở được chứng kiến…) hoặc khi chỉ số ngưng thở-giảm thở ≥15 kèm hoặc không kèm triệu chứng
thở-Bảng 1 Phân loại độ nặng của NTLNTN
Chỉ số ngưng thở-giảm thở (số lần/giờ) Mức độ NTLNTN
Trang 1515 ≤ AHI < 30 Trung bình
Bệnh nhân NTLNTN thường có tình trạng buồn ngủ ban ngày (BNBN) quá mức, tình trạng này được đánh giá qua bảng điểm buồn ngủ Epworth (mục IV, phụ lục 2) Bảng điểm Epworth là một bảng câu hỏi tự đánh giá gồm 8 câu hỏi, trên thang đo 4 điểm (0-3) Tổng điểm Epworth càng cao, bệnh nhân càng có xu hướng buồn ngủ ban ngày nhiều
Bảng 2.Mức độ buồn ngủ ban ngày theo bảng điểm Epworth
2 MỘT SỐ BỘ CÂU HỎI VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Về cơ bản, CLCS là những gì mà một cá nhân cảm nhận về hạnh phúc và khỏe mạnh dựa trên chức năng hoạt động, sức khỏe và sự hài lòng với các khía cạnh quan trọng trong cuộc sống của họ Các thang đo CLCS có thể được chia thành 2 nhóm: thang đo chung và thang đo đặc hiệu
Các thang đo chung bao gồm một phổ rộng các khiếm khuyết chức năng và bệnh tật liên quan đến CLCS, do đó, chúng được áp dụng cho tất cả các tầng lớp xã hội, cho mọi bệnh lý và trong nhiều lĩnh vực y tế khác nhau Các thang đo chung được sử dụng rộng rãi là SF-36, thang đo CLCS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL), Hồ
sơ sức khỏe Nottingham (Nottingham Health Profile), Hồ sơ hạn chế chức năng (Functional Limitations Profile), Hồ sơ tác động của bệnh tật (Sickness Impact
Profile)
Trang 16Bảng 3 Các thang đo CLCS và các khía cạnh đánh giá
SF-36 Chức năng thể chất, Vai trò thể chất, Cảm nhận đau đớn, Sức
khỏe tổng quát, Cảm nhận sức sống, Chức năng xã hội, Vai trò cảm xúc, Tinh thần tổng quát
WHOQOL-BREF Chức năng thể chất, Sức khỏe tinh thần, Chức năng xã hội,
Môi trường Nottingham Health
Sự tái tạo/sở thích, Giao tiếp, Quản lý gia đình
A-2 Đo lường
Trang 17giấc ngủ
Ferrans và Powers Sức khỏe, chức năng, kinh tế - xã hội, tinh thần/tâm lý, gia
đình Functional
The OSA
Patient-Oriented Severity
Index (OSAPOSI)
Vấn đề giấc ngủ, vấn đề thức tỉnh, vấn đề y khoa, vấn đề cảm xúc và cá nhân, vấn đề nghề nghiệp liên quan đến NTLNTN
Các thang đo đặc hiệu phụ thuộc vào từng nhóm hoặc loại can thiệp và không thể so sánh các tình trạng khác nhau Các thang đo này có thể đặc hiệu cho một nhóm dân
số riêng biệt như trẻ em, người lớn, người cao tuổi Có thang đo đặc hiệu cho hầu hết các bệnh lý (như động kinh, đái tháo đường, viêm khớp dạng thấp), tình trạng (đau) và chức năng (tình dục, cảm xúc, giấc ngủ)
Cả thang đo chung và thang đo đặc hiệu đều có điểm mạnh và điểm yếu, việc sử dụng thang đo nào tùy thuộc vào từng nghiên cứu cụ thể
Bảng 4 Các thang đo chất lượng cuộc sống: điểm mạnh và điểm yếu
Thang đo chung Cho phép so sánh giữa các
nghiên cứu, dân số hoặc các bệnh lý
Bao quát hơn các thang đo đặc hiệu
Có thể có độ nhạy kém trong việc phát hiện khác biệt giữa các bệnh nhân có bệnh lý hoặc tình trạng đặc hiệu
Có thể có độ nhạy kém đối với
Trang 18các tình trạng ảnh hưởng đến các khía cạnh hẹp của CLCS
Thang đo đặc
hiệu
Thích hợp để phát hiện các thay đổi giữa các bệnh nhân
có bệnh lý đặc hiệu
Tập trung vào mối quan tâm nhiều hơn thang đo chung
Nhạy trên lâm sàng
Điểm lợi ích đơn thuần có thể đơn giản hóa quá mức những khác biệt trong CLCS
Có thể không phù hợp hoặc chưa được thẩm định cho một bệnh lý hoặc điều trị đặc biệt
Có thể không có tính phân biệt giữa các bệnh lý tương tự nhau Không cho phép so sánh giữa các bệnh lý/tình trạng khác nhau
Trong các thang đo chung, thang đo SF-36 phiên bản 2.0 (1996) đã được dịch sang tiếng Việt (viết tắt là SF-36.vn), thẩm định và sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu trên nhiều bệnh lý ở Việt Nam, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào thực hiện trên bệnh nhân NTLNTN Các thang đo đặc hiệu về rối loạn giấc ngủ chưa được dịch sang tiếng Việt và thẩm định ở Việt Nam Do vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn thang đo SF-36 Thang đo này cho phép so sánh tác động của bệnh lý trên nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, cả về sức khỏe tinh thần và thể chất
3 GIỚI THIỆU BỘ CÂU HỎI SF-36
Bộ câu hỏi SF-36 phiên bản 2.0 được xây dựng bởi Ware và cộng sự, có 36 mục tự đánh giá và có thể sử dụng được với nhiều bệnh lý, nhiều cộng đồng và tình huống khác nhau Bộ câu hỏi SF-36 phù hợp cho đối tượng từ 14 tuổi trở lên tự điền (bằng tay, bằng máy tính), hoặc phỏng vấn (trực tiếp, qua điện thoại)
SF-36 đánh giá 8 lĩnh vực (domain): Chức năng thể chất (Physical Functioning), Vai trò thể chất (Role-Physical), Cảm nhận đau đớn (Bodily Pain), Sức khỏe tổng quát (General Heath), Cảm nhận sức sống (Vitality), Chức năng xã hội (Social
Trang 19Functioning), Vai trò cảm xúc (Role-Emotional) và Tinh thần tổng quát (General Mental Health) Mỗi lĩnh vực được tính điểm dựa trên các câu hỏi tương ứng
Tổng điểm SF-36 được chia làm 2 nhóm chính:
− Tổng điểm của thành phần thể chất (SKTC - Physical Component Summary): gồm điểm của 4 lĩnh vực chức năng thể chất, vai trò thể chất, cảm nhận đau đớn, sức khỏe tổng quát
− Tổng điểm của thành phần tinh thần (SKTT - Mental Component Summary): gồm điểm của 4 lĩnh vực cảm nhận sức sống, chức năng xã hội, vai trò cảm xúc, tinh thần tổng quát
Câu số 2 trong bộ câu hỏi SF-36 dùng để đánh giá sự thay đổi sức khỏe sau một năm, không được đưa vào phương pháp tính điểm của lĩnh vực hay thành phần sức khỏe mà chỉ có ý nghĩa lượng giá sự thay đổi trung bình của tình trạng sức khỏe trong vòng một năm qua
Việc diễn giải kết quả có thể thực hiện sau khi chuẩn hóa tất cả lĩnh vực SF-36 theo trung bình và độ lệch chuẩn của điểm số tính được Ngoài ra, ý nghĩa của điểm số thấp hay cao cũng góp phần diễn giải kết quả SF-36 Điểm số cao hơn cho thấy chất lượng cuộc sống tốt hơn Tuy nhiên, hiện tại chưa có một tiêu chuẩn đồng thuận hay tiêu chuẩn vàng trong đánh giá các đo lường sức khỏe nên các kết quả điểm số trên dân số chung có thể được dùng để đóng vai trò tham chiếu khi muốn diễn giải các kết quả điểm số của cá nhân hoặc điểm số trung bình của nhóm bệnh nhân so với phân bố điểm số của các cá nhân khác trong dân số chung