HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ VIÊM NHA CHU ĐỐI VỚI PROTEIN PHẢN ỨNG C VÀ FIBRINOGEN TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH M
Trang 1BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ VIÊM NHA CHU ĐỐI VỚI
PROTEIN PHẢN ỨNG C VÀ FIBRINOGEN TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thu Thủy
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018
Trang 2BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ VIÊM NHA CHU ĐỐI VỚI
PROTEIN PHẢN ỨNG C VÀ FIBRINOGEN TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018
Trang 3Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài
1 TS BS Nguyễn Thu Thủy
Đơn vị công tác: Bộ môn Nha chu, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục bảng 5
Danh mục chữ viết tắt 6
Thông tin kết quả nghiên cứu 7
Mở đầu 9
1 Tổng quan 9
2 Mục tiêu 16
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 17
Kết quả 25
Kết luận và kiến nghị 29
Tài liệu tham khảo 30
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Đặc điểm mô tả của các nhóm nghiên cứu 16
Bảng 2 So sánh các chỉ số trước khi điều trị 16
Bảng 3 So sánh các chỉ số hai tháng sau khi điều trị nha chu 17
Bảng 4 So sánh các chỉ số ở nhóm 1 17
Bảng 5 So sánh các chỉ số ở nhóm 2 18
Trang 6PPD Độ sâu túi nha chu
VNC Viêm nha chu
Trang 7THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Hiệu quả của điều trị viêm nha chu đối với protein phản ứng C và
fibrinogen trên bệnh nhân bệnh động mạch vành
(2) Xác định và so sánh các chỉ dấu sinh học CRP, fibrinogen sau điều trị VNC 2 tháng giữa hai nhóm bệnh nhân BĐMV được điều trị VNC không phẫu thuật
và điều trị VNC ban đầu
(3) Xác định và so sánh các chỉ dấu sinh học CRP, fibrinogen trước và 2 tháng sau điều trị VNC không phẫu thuật trên bệnh nhân BĐMV có VNC
3 Nội dung chính:
Ở Việt Nam, bệnh động mạch vành (BĐMV) có xu hướng gia tăng nhanh, từ đó thách thức lớn cho ngành y tế nước ta là làm thế nào để ngăn chặn sự phát triển bệnh, cũng như kiểm soát được tình trạng bệnh Protein phản ứng C (CRP) và fibrinogen trong huyết thanh người là những chỉ dấu sinh học hữu ích để phát hiện, dự báo và đánh giá mức độ viêm, có ý nghĩa tiên đoán tình trạng BĐMV
Trang 8Viêm nha chu (VNC) là một bệnh nhiễm trùng mạn tính do các vi khuẩn trong miệng tác động lên các mô xung quanh răng Đây là một trong những nhiễm trùng phổ biến nhất và có liên hệ với một đáp ứng viêm, biểu hiện qua sự tăng nồng độ CRP và các dấu chứng viêm khác Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa VNC và BĐMV, và VNC là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với BĐMV Ở Việt Nam, mối liên kết giữa VNC và bệnh toàn thân ngày càng được khẳng định, bên cạnh đó đã có một số nghiên cứu về tình trạng VNC ở bệnh nhân BĐMV Tuy nhiên, hiệu quả của việc điều trị VNC ở bệnh nhân BĐMV vẫn còn là một vấn đề chưa rõ
Với mong muốn được góp phần vào việc cải thiện tình trạng VNC ở bệnh nhân BĐMV, chúng tôi thực hiện đề tài này tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn với mục tiêu đánh giá hiệu quả của điều trị VNC đối với nồng độ CRP và fibrinogen trên bệnh nhân BĐMV
4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):
Về đào tạo: 1 bác sĩ chuyên khoa cấp II
Công bố trên tạp chí trong nước và quốc tế (tên bài báo, tên tạp chí, năm xuất bản):
Hiệu quả của điều trị viêm nha chu đối với protein phản ứng C và fibrinogen trên bệnh nhân bệnh động mạch vành Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2018
5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:
Phạm vi và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu (tên đơn vị ứng dụng kết quả nghiên cứu/tên bài giảng được trích dẫn kết quả NC sử dụng trong giảng dạy đại học
và sau đại học): kết quả nghiên cứu được sử dụng trong giảm dạy về liên quan giữa bệnh nha chu và bệnh toàn thân tại bộ môn Nha chu, khoa Răng Hàm Mặt, Đại học
Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tổng quan
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nền y học phát triển vượt bậc, song song đó nhiều bệnh tật ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp Bệnh động mạch vành (BĐMV) và viêm nha chu (VNC) là những bệnh rất thường gặp hiện nay(1,2,3,4)
Bệnh động mạch vành
BĐMV là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới(1)
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính tỉ lệ tử vong toàn cầu do BĐMV năm 2002 là 7,2 triệu người, và sẽ tăng lên 11,1 triệu người vào năm 2020 Đặc biệt tỉ lệ này có xu hướng giảm đi ở các nước phương tây, nhưng lại tăng lên ở các quốc gia đang phát triển(1) BĐMV cũng là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu tạo nên gánh nặng cho gia đình và cho xã hội(1,2) Ở Việt Nam, bệnh có xu hướng gia tăng nhanh, từ đó thách thức lớn cho ngành y tế nước ta là làm thế nào để ngăn chặn sự phát triển bệnh, cũng như kiểm soát được tình trạng bệnh Nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố nguy
cơ kinh điển của BĐMV như tuổi, giới tính, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thừa cân, hút thuốc lá, đái tháo đường, đã được công nhận(2) Tuy nhiên, vẫn còn một tỉ
lệ đáng kể bệnh nhân không thể giải thích được bằng những yếu tố nguy cơ này
BĐMV là tình trạng bệnh lý xảy ra trên hệ thống ĐMV (hệ thống động mạch cung cấp máu nuôi dưỡng tim) và hậu quả là làm hẹp (hoặc tắc) lòng ĐMV gây ra mất cân bằng cán cân cung cấp - nhu cầu oxy cơ tim hay là thiếu máu cơ tim cục bộ (chỉ tại vùng cơ tim do nhánh mạch vành đó phụ trách nuôi dưỡng) BĐMV còn có tên gọi khác như thiểu năng vành, suy mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ(2)
Các thể bệnh lâm sàng
BĐMV chia thành thể bệnh chính: BĐMV mạn và BĐMV cấp BĐMV mạn: bao gồm bốn thể lâm sàng
(1) Đau thắt ngực (ĐTN) ổn định: là thể bệnh ĐTN kinh điển, thường gặp nhất, chiếm hơn ½ tổng số bệnh nhân trong toàn bộ bệnh nhân BĐMV ĐTN xảy ra khi gắng sức vượt quá mức của một “ngưỡng cho phép” mà người bệnh tự biết rất rõ
Trang 10(2) ĐTN biến thái: do Prinzmetal xác lập từ 1959 với các cơn đau ngực thường kéo dài hơn, thường liên quan một khung cảnh hoặc một thời điểm nào đó trong ngày đêm, không do gắng sức thể lực mà do cơ chế co thắt ĐMV lớn bề mặt Khi đang cơn đau ngực thì trên điện tim đoạn ST chênh hẳn lên nhưng khi qua cơn thì nhanh chóng trở về bình thường
(3) Hội chứng X: là ĐTN do co thắt động mạch ở các nhánh type B (xuyên bề dày cơ tim)
(4) Thiếu máu cục bộ cơ tim thầm lặng: bệnh nhân hoàn toàn không có cơn ĐTN nhưng trên điện tim Holter 24 giờ hoặc điện tim gắng sức thì đoạn ST chênh xuống
Một số bệnh nhân lớn tuổi suy tim hoặc loạn nhịp tim mà không tìm được nguyên nhân là một bệnh tim nào, chưa bao giờ cảm nhận một cơn ĐTN hoặc chưa
hề trãi qua nhồi máu cơ tim (NMCT) nhưng xét cho cùng vẫn là do xơ vữa động mạch (XVĐM) đều được xếp vào BĐMV mạn tính
BĐMV cấp: còn gọi là hội chứng vành cấp gây ra bởi sự tắc nghẽn cấp tính
của một ĐMV, hậu quả gây ra tùy thuộc vào mức độ và vị trí tắc nghẽn, bao gồm:
(1) ĐTN không ổn định (2) NMCT không ST chênh lên
BĐMV là một nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật ở các nước phát triển
ở cả hai giới Tỷ lệ tử vong ở người da trắng là khoảng 1/10.000 ở độ tuổi 25-34 và gần 1/100 ở lứa tuổi 55-64 Tỷ lệ tử vong ở nam giới da trắng tuổi từ 35-44 là 6,1 lần cao hơn so với những phụ nữ da trắng cùng tuổi Tỷ lệ tử vong tăng ở phụ nữ sau mãn kinh, và sau 75 tuổi, bằng hoặc thậm chí vượt trội so với nam giới
Trang 11Mặc dù tỷ lệ tử vong do bệnh đã giảm trong bốn thập kỷ qua ở Mỹ (và các nơi khác), BĐMV vẫn còn là nguyên nhân của khoảng một phần ba các trường hợp tử vong ở những người trên 35 tuổi Ước tính có khoảng một nửa đàn ông tuổi trung niên và một phần ba số phụ nữ trung niên ở Hoa Kỳ sẽ phát triển một số biểu hiện của BĐMV(2)
Tại Việt Nam
Theo Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000 có 3.222 bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và 122 trường hợp tử vong được báo cáo Trong sáu tháng đầu năm 2001,
đã có 1.725 bệnh nhân NMCT Số bệnh nhân bị BĐMV ở Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng Trừ khi có sự can thiệp đáng kể, tỷ lệ tăng dự kiến sẽ tăng tốc BĐMV nên được chẩn đoán sớm, điều trị đúng cách và quan trọng nhất là phòng ngừa Vì vậy, xác định các yếu tố nguy cơ có liên quan của BĐMV là rất quan trọng(2)
Yếu tố nguy cơ
Theo khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa của Hội Tim mạch Việt Nam, các yếu tố nguy cơ của BĐMV bao gồm:
(1) Các yếu tố nguy cơ đã được chứng minh: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ
mắc BĐMV lên 30%-50%, liều lượng hút thuốc cũng ảnh hưởng đến mức nguy cơ; rối loạn lipid máu; tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch lên 3 lần; đái tháo đường; phì đại thất trái; rối loạn các yếu tố đông máu (tăng fibrinogen, tăng các chất đông máu khác)
(2) Các yếu tố nguy cơ liên quan nhiều đến BĐMV: Tăng triglyceride; giảm
HDL-C; béo phì; vận động thể lực; yếu tố tâm lý (căng thẳng); lipoprotein; homocysteine; uống rượu điều độ, lượng hợp lý, loại vang đỏ có thể có lợi cho tiên lượng bệnh tim mạch Uống quá nhiều rượu có thể gây những rối loạn bệnh lý khác
(3) Các yếu tố nguy cơ đã rõ và không thể can thiệp thay đổi được: Tuổi cao,
giới nam hoặc nữ sau mãn kinh, tiền sử gia đình có người thân trực hệ bị BĐMV trước tuổi 55 ở nam và 65 ở nữ(2)
Sinh bệnh học
Hơn 90% các trường hợp BĐMV là do XVĐM
Trang 12Một số giả thuyết đã được đưa ra để giải thích quá trình XVĐM như “Giả thuyết tạo mảng”, “Giả thuyết lipid”, nhưng giả thuyết được chấp nhận nhiều nhất là
“Giả thuyết đáp ứng với tổn thương” Theo giả thuyết này, các tác nhân gây tổn thương làm rối loạn chức năng tế bào nội mạc khởi phát chuỗi các đáp ứng của cơ thể
và tạo ra xơ vữa Theo một số chuyên gia: “Sự phát triển XVĐM thường là chậm trong nhiều năm; khởi đầu từ rất trẻ (khoảng 20 tuổi hoặc sớm hơn) và là quá trình thuận nghịch nhưng nếu tích lớn hơn tan, sự tích tụ cứ tiến triển mãi mỗi năm một ít, đến một ngưỡng của lượng và gặp điều kiện thuận lợi thì không còn im lặng nữa mà biểu hiện rõ qua triệu chứng lâm sàng”
Tổn thương đầu tiên của XVĐM là vệt mỡ Vệt mỡ bao gồm các đại thực bào
có chứa cholesterol (còn gọi là tế bào bọt) và các tế bào lympho T, nằm ở lớp áo trong của động mạch Vệt mỡ là hậu quả của quá trình đáp ứng viêm Các đại thực bào hiện diện bên trong vệt mỡ thu nhận lipid và trở thành tế bào bọt
Tổn thương tiến triển hơn các vệt mỡ là các mảng xơ Mảng xơ bao gồm mũ
xơ (mô liên kết dày đặc) nằm bên trên một lõi trong đó có các tế bào bọt, mảnh vỡ của tế bào hoại tử, tế bào lympho T và tế bào cơ trơn Mảng xơ vữa biến chứng là dạng tiến triển nhất của tổn thương XVĐM Mảng xơ vữa này có thể chiếm một phần lòng của động mạch, làm hẹp đáng kể lòng động mạch, đưa đến lượng máu cung cấp không đủ nhu cầu cho cơ tim hoạt động, bắt đầu xuất hiện triệu chứng trên lâm sàng
từ cơn ĐTN khi gắng sức đến cơn ĐTN khi nghỉ ngơi Và khi mảng xơ vữa bong tróc, vỡ ra có thể gây huyết khối làm tắc nghẽn hoặc phát triển bít hoàn toàn lòng động mạch thì NMCT sẽ xảy ra(2)
Gần đây, tình trạng viêm nhiễm dẫn đến suy giảm chức năng lớp nội mạc động mạch trong bệnh lý BĐMV đã được chứng minh(2)
Protein phản ứng C (CRP) và fibrinogen trong huyết thanh người là những chỉ dấu sinh học hữu ích để phát hiện,
dự báo và đánh giá mức độ viêm, có ý nghĩa tiên đoán tình trạng BĐMV(5,6,7,8,9,10)
CRP
CRP được Tillet và Francis phát hiện từ năm 1930 tại phòng xét nghiệm Oswald Avery thuộc viện nghiên cứu Rockefeller Institute trong khi tiến hành nghiên cứu các bệnh nhân viêm phổi do phế cầu Đây là một glucoprotein không đặc hiệu
Trang 13của phản ứng viêm do gan sản xuất, nó gắn kết với polysaccharide C của phế cầu nên được gọi là protein phản ứng C
CRP được tổng hợp từ gan do kích thích của các tác nhân được giải phóng từ các đại thực bào và các tế bào mỡ CRP là phân tử gồm 5 khối hình đĩa liên kết với nhau, có chức năng sinh lý là gắn kết với phosphocholine bộc lộ trên bề mặt của các
tế bào chết hoặc các tế bào thoái hóa và một số loại vi khuấn để hoạt hóa hệ thống bổ thể giúp cho quá trình thực bào
Nồng độ CRP bắt đầu tăng khoảng 2 giờ sau từ khi bắt đầu pha cấp, đạt tới đỉnh vào 48 giờ và có thể tăng gấp 1000 lần so với giá trị bình thường CRP tăng và giảm nhanh theo diễn biến của bệnh, do vậy nó phản ánh ngay được diễn biến của tình trạng viêm nhiễm Xét nghiệm này thường được ứng dụng để chẩn đoán tình trạng viêm nhiễm của cơ thể Ngoài các bệnh liên quan đến viêm nhiễm, tăng CRP còn liên quan mật thiết đến các bệnh lý về mạch máu và tim mạch, là yếu tố tiên lượng và là chỉ điểm vàng cho nguy cơ mắc các bệnh này
Có hai phương pháp định lượng trong máu:
- Protein phản ứng C chuẩn (standard CRP): đánh giá tình trạng viêm tiến triển
- Protein phản ứng C siêu nhạy (high – sensitivity CRP: hs – CRP) là test đo CRP ở mức thấp Test cho kết quả sau 25 phút với độ nhạy dưới 0,04mg/l Test này được coi như chỉ điểm đối với tình trạng viêm mạch cấp độ thấp
Phương pháp xét nghiệm: miễn dịch điện hóa phát quang, ELISA, và phương pháp miễn dịch đo độ đục
Nguyên lý: Kháng thể kháng CRP kết hợp với phân tử rất nhỏ latex phản ứng với kháng nguyên trong bệnh phẩm tạo thành phức hợp kháng nguyên - kháng thể Sự kết dính được đo độ đục ở bước sóng 340nm Sự tăng độ hấp thụ quang tỷ lệ với nồng độ chất cần đo
Giá trị bình thường dưới 10mg/L(7)
Fibrinogen
Fibrinogen là một yếu tố đông máu (yếu tố I), một protein rất cần thiết cho sự hình thành cục máu đông Nó được sản xuất bởi gan và tiết vào máu khi cần thiết
Trang 14Fibrinogen là một chỉ báo của viêm đi kèm với XVĐM, là một chất phản ứng giai đoạn cấp tính, nồng độ fibrinogen có thể tăng mạnh trong bất kỳ nguyên nhân gây viêm hoặc tổn thương mô Khi một mô của cơ thể hoặc thành mạch máu bị tổn thương, một quá trình được gọi là hiện tượng đông máu bắt đầu hình thành một nút ở chỗ chấn thương để giúp cầm máu Mảnh vỡ tế bào nhỏ gọi là tiểu cầu, bám chặt và kết hợp lại tại chỗ, các yếu tố đông máu được kích hoạt yếu tố này sau yếu tố khác Khi tiến trình sắp hoàn tất, fibrinogen hòa tan được chuyển thành fibrin không hòa tan Những Fibrin đan chéo với nhau để tạo thành mạng lưới fibrin vững chắc tại khu vực chấn thương Các mạng fibrin bám chặt tại chỗ bị chấn thương cùng với các tiểu cầu tạo thành một cục máu đông ổn định Hàng rào này ngăn chặn sự mất thêm máu
và vẫn còn tại chỗ cho đến khi chỗ bị thương đã được chữa lành Cục máu đông hình thành trong động mạch sẽ dẫn đến một cơn đau tim hoặc đột quỵ
Các nghiên cứu gần đây ở Framingham và những nơi khác đã chứng minh fibrinogen là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh tim mạch Lượng fibrinogen trong máu tăng lên theo tuổi và không cần phải điều chỉnh Giới hạn bình thường của fibrinogen
là 1,5-3g/L, nguy cơ BĐMV tăng khi fibrinogen > 3,43g/L(9,10)
Viêm nha chu
VNC là một bệnh nhiễm trùng mạn tính do các vi khuẩn trong miệng tác động lên các mô xung quanh răng Đây là một trong những nhiễm trùng phổ biến nhất và
có liên hệ với một đáp ứng viêm, biểu hiện qua sự tăng nồng độ CRP và các dấu chứng viêm khác Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có khoảng 10% người trưởng thành và 30% các cá nhân trên độ tuổi 50 bị bệnh VNC trầm trọng Ở Việt Nam, tỉ lệ VNC của người trưởng thành là 90%, trong đó có 46,2% lứa tuổi trên 45 bị VNC Vì vậy tình trạng VNC có thể đại diện cho các nguy cơ tiềm ẩn của bệnh tim mạch(3,4)
Các chỉ số lâm sàng thường dùng để đánh giá tình trạng VNC gồm:
Chỉ số mảng bám (Plaque index, PlI): đánh giá độ dày mảng bám trên mặt
răng theo Loe và Silness (1964), rất nhạy nên rất hữu hiệu trong trong thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu dài hạn, nhưng hơi chủ quan
Chỉ số nướu (Gingival index, GI): đánh giá mức độ viêm nướu theo Loe và
Silness (1963), rất hữu hiệu trong nghiên cứu dịch tễ mô tả và dịch tễ thực nghiệm do khá nhạy, dễ đánh giá và cho phép tách biệt từng điểm số khi khám nên giảm tối đa những sai sót giữa các người khám và trong từng người khám
Trang 15Chỉ số chảy máu nướu khi thăm dò (Bleeding on probing, BOP): đơn giản,
dễ thực hiện, nhanh, thường dùng trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
Độ sâu túi nha chu (Pocket probing depth, PPD): là khoảng cách từ đáy túi
đến viền nướu
Độ mất bám dính lâm sàng (Clinical attachment loss, CAL): là khoảng cách
từ đáy túi đến đường nối men-xê măng Theo Colin B.W và Edward đánh giá mức
độ VNC theo CAL dùng trong chuẩn đoán lâm sàng cho từng cá thể như sau:
Mất bám dính lâm sàng 1-2mm: VNC nhẹ Mất bám dính lâm sàng 3-4mm: VNC trung bình Mất bám dính lâm sàng ≥ 5mm: VNC nặng(6)
Mảng bám vi khuẩn khởi phát đáp ứng viêm của ký chủ Nội độc tố lipopolysaccharide (LPS) của vi khuẩn gram âm tồn tại trong màng sinh học dưới nướu là một trong những chất kích thích tiềm tàng, có thể hoạt hoá sự tổng hợp và tiết
ra những cytokine tiền viêm Vi khuẩn và các sản phẩm của chúng tham gia vào quá trình viêm hệ thống, hoặc trực tiếp thông qua hoạt động của thành mạch, hoặc gián tiếp bằng cách kích thích gan tạo ra các protein viêm cấp(10)
Con đường trực tiếp
Vi khuẩn trong miệng và các sản phẩm của chúng có thể phát tán khắp cơ thể
thông qua hệ thống tuần hoàn Porphyromonas gingivalis có khả năng xâm nhập vào
các tế bào nội mô Ở giai đoạn đầu, những bạch cầu, tế bào lympho và đơn bào được huy động do phản ứng viêm làm oxy hoá các lipoprotein tỷ trọng thấp ở thành mạch Sau đó, LPS và các thành phần ngoài màng của vi khuẩn có khả năng gây cảm ứng các đại thực bào thực bào các lipoproteins này và biến thành các tế bào bọt, hoạt hoá một đợt viêm bằng cách tác dụng trực tiếp lên những tế bào viêm này và tiết ra các chất trung gian viêm trên màng nội mô, đẩy mạnh sự tăng sinh cơ trơn, kết tụ tiểu