1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tư tưởng hồ chí minh về giải phóng phụ nữ và sự vận dụng tư tưởng này trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

47 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiêt của đề tài Trên cơ sở tiếp thu các giá trị, tư tưởng, văn hoá của nhân loại, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nữ quyền và giải phóng phụ nữ, Hồ Chí Minh

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiêt của đề tài

Trên cơ sở tiếp thu các giá trị, tư tưởng, văn hoá của nhân loại, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nữ quyền và giải phóng phụ nữ, Hồ Chí Minh

đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giải phóng phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, trong toàn bộ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Nhận thức đúng đắn, mang tính khoa học và tính nhân văn sâu sắc ấy đã từng bước được hiện thực hoá trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh Di sản tư tưởng về giải phóng phụ nữ mà Người để lại cho dân tộc ta là một tài sản quý báu mà chúng ta cần nhận thức và vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn sự nghiệp giải phóng phụ nữ hiện nay

Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ Trên thực tế vai trò của phụ nữ đã được phát huy ở một mức độ nhất định và có những đóng góp lớn cho sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, công tác giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ ở nước ta hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục

Nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu lý luận ở Việt Nam Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, những nghiên cứu theo hướng này còn chưa nhiều, có nhiều vấn đề cần được nhận thức và luận giải sâu sắc hơn

Với mong muốn góp phần nghiên cứu vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

cấp bách nói trên, tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng

phụ nữ và sự vận dụng tư tưởng này trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay chưa có đề tài nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề mà đề tài đặt

ra Tuy nhiên, có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đã được công bố như:

Phạm Văn Đồng với công trình Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993

Trang 2

Phạm Hoàng Điệp với công trình Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ

nữ, Nxb Văn hoá Thông tin, 2008

Hoàng Chí Bảo với công trình Văn hoá và con người Việt Nam trong tiến trình CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2006

Ngoài ra các tạp chí khoa học xã hội và nhân văn đều mở chuyên mục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đăng tải những kết quả nghiên cứu của đông đảo các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà lãnh đạo quản lý, ví dụ như: Lê Văn Dương với công trình Một số nét cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người; Đỗ Long với công trình Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân; Phùng Hữu Phú với công trình Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội … Các công trình nghiên cứu đã nêu đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, thực trạng giải phóng phụ nữ và những vấn đề đặt ra, v.v Những kết quả nghiên cứu của các nhóm đề tài nói trên có giá trị gợi mở và tham khảo rất hữu ích đối với tôi khi triển khai đề tài Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu đề cập đến tư tưởng

Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và việc vận dụng tư tưởng đó để nhận diện và giải quyết những vấn đề đặt ra trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và vận dụng tư tưởng đó vào việc nhận thức thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ

nữ nước ta hiện nay

Để đạt được mục tiêu cần phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Một là, làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

- Hai là, làm rõ thực trạng giải phóng phụ nữ ở nước ta thời kì đổi mới từ góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh

- Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ

ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ; thực trạng và giải pháp giải phóng phụ nữ trong bối cảnh nước ta hiện nay theo tư tưởng

Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trên cơ sở các tác phẩm của Hồ Chí Minh Nghiên cứu thực trạng giải phóng phụ nữ ở nước ta hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận là những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phụ nữ và giải phóng phụ

nữ

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, lôgic và lịch sử, hệ thống - cấu trúc, đối chiếu so sánh…

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ giảng dạy các môn lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh, cho sinh viên và những ai yêu thích nghiên cứu tư tưởng HCM về giải phóng phụ nữ nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung tại trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

“Vấn đề giải phóng phụ nữ” từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, nói đến giải phóng phụ nữ là nói đến địa vị người phụ nữ trong xã hội có giai cấp đối kháng Có

ý kiến khác lại cho rằng, giải phóng phụ nữ là vấn đề có tính lịch sử nên trong xã hội có giai cấp đối kháng giải phóng phụ nữ thực chất là bàn về địa vị người phụ nữ trong xã hội Còn trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giải phóng phụ nữ là đề cập đến vai trò phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Nhìn chung, mỗi ý kiến đều có tính hợp lý của nó, song một cách hệ thống và khái quát thì các quan niệm trên đều chưa thể hiện được tính phong phú, đa dạng của thuật ngữ này Khi bàn về cách mạng Trung Quốc với việc giải phóng phụ nữ vào năm 1923, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề giải phóng phụ nữ là: Quyền bình đẳng về giáo dục, kinh tế, chính trị cho cả đàn ông cũng như cho cả đàn

bà, thi hành hệ thống trường học thống nhất, tức là thành lập trường học, trong đó con trai và con gái cùng học, trả công như nhau cho sự lao động như nhau Quyền được nghỉ ngơi và tiền trợ cấp cho trường hợp đau ốm Các nhà khoa học xã hội Xô viết trước đây quan niệm rằng: Vấn đề giải phóng phụ nữ là vấn đề địa vị người phụ nữ dưới chủ nghĩa

tư bản, về những con đường và phương pháp giải phóng lao động phụ nữ về mặt xã hội

và thực hiện sự bình đẳng thực sự của họ, về sự tham gia của họ vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Trên cơ sở các ý kiến có thể nhận thấy:

“Vấn đề giải phóng phụ nữ” về thực chất là bàn về địa vị, vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội , những con đường giải phóng phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm phát huy vai trò to lớn của phụ nữ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phụ nữ, đến bình đẳng giới, giải phóng và phát triển phụ nữ Người đánh giá cao vị trí, vai trò của người phụ nữ và rất coi trọng sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Người đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về công cuộc giải phóng phụ nữ mang đậm tư tưởng

nhân văn tiến bộ của Hồ Chí Minh, luôn được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong thời kỳ

đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 5

1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

1.1.1 Đặc điểm và truyền thống người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc

Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng đường vô

cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm Trải qua bốn nghìn năm, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học dân gian: bà Âu Cơ đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng, bà mẹ Dóng kiên trì nuôi đứa con “Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc, nàng Quế Hoa, cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân Nguồn tư liệu khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật của người phụ nữ “uy nghi chống nẹ trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống đồng”, Hai Bà Trưng, bà Triệu

và những phụ nữ tài giỏi, dũng cảm khác của thời đại Ngô, Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê Tây Sơn như Thái hậu Vương Vân Nga, Ỷ Lan nguyên phi, đô đốc Bùi Thị Xuân đã được ghi vào lịch sử thành văn của dân tộc

Cùng với sự phản ánh về lịch sử đất nước, lịch sử dân tộc, mọi nguồn tư liệu đã cho thấy, vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ

nữ là những người đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng

Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền là người nữ sĩ đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Vai trò của phụ nữ ta thật rõ ràng khi mà lịch sử dân tộc đã phải dành đến một phần ba thời gian cho 24 cuộc chiến tranh giữ nước với quy mô cả nước và hàng trăm cuộc khởi nghĩa để giành độc lập

Từ thế kỷ III trước công nguyên, trong những thời kỳ mà sử cũ gọi là “Bắc thuộc”, cùng với cả dân tộc, những người phụ nữ Việt Nam đã kiên quyết đứng lên chống bọn thống trị phương Bắc để giành lấy quyền sống Vì khi có nạn ngoại xâm, phụ nữ là người trực tiếp chịu hậu quả nặng nề nhất Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tràn vào Thăng Long ”làm cỏ nhân dân kinh thành”, vào thành Đông Đô, giặc Minh đã cướp bắt đàn bà con gái, mỗ bụng đàn bà có thai, giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp cho chủ tướng (năm 1909) Tướng giặc Trương Phụ bắt phụ nữ ta đưa về nước làm tôi đòi, tì thiếp (năm 1414) Nhà Minh ra lệnh buộc phụ nữ Việt Nam phải bím tóc, mặc áo ngắn, quần dài, theo phong tục của chúng Thế kỷ XVIII, giặc Mãn Thanh và lũ tai sai bán

Trang 6

nước trói phụ nữ vào cột ở giữa chợ, giết cả mẹ lẫn con vì họ đã đi theo nghĩa quân Tây Sơn

Mở đầu truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là hai vị nữ anh hùng dân tộc: bà Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Đông Hán giành lại quyền tự chủ cho đất nước Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo (năm

40 đầu công nguyên) lôi cuốn một lực lượng quần chúng đông đảo chưa từng thấy, chỉ trong một thời gian, 65 thành đã giải phóng, mở ra một trang sử vẻ vang cho dân tộc Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, đã phủ định cái uy quyền “bình thiên hạ” của đế chế Hán đang thời kỳ thịnh đạt, đồng thời nó cũng khẳng định khả năng giành độc lập, mở đường cho các thế hệ sau đi tới thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc Nó còn chứng minh khả năng cách mạng

to lớn của phụ nữ: không những chiến đấu dũng cảm chống ngoại xâm mà còn động viên, đoàn kết và lãnh đạo quần chúng rất tài giỏi

Dân tộc ta, còn ghi nhớ những gương phụ nữ kiệt xuất (36 nữ tướng) cùng đứng lên với Hai Bà gánh vác sự nghiệp đánh giặc cứu nước Các nữ tướng như Lê Chân được thờ ở Hải Phòng Thiều Hoa được thờ ở Vĩnh Phú, Thánh Thiên được thờ ở Hà Bắc, Lê Thị Hoa được thờ ở Thanh Hóa

Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí

tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc với câu nói hào hùng đầy khí phách của Bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người”

Bằng những cách đánh giặc muôn hình muôn vẻ, các thế hệ phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến vẫn không ngừng tích cực tham gia vào sự nghiệp cứu nước

Bà hàng nước thành Cổ Lộng (Nam Hà) làm nội ứng cho nghĩa quân Nam Sơn của

Lê Lợi – Nguyễn Trãi hạ thành.Và nhiều phụ nữ khác ở thời Trần, thời Lê, thời Tây Sơn

đã trực tiếp đánh giặc theo nhiều cách Đấy là những người phụ nữ ở ven sông Bạch Đằng, đem hết thóc gạo trong nhà lương ăn cho quân sĩ, và mách Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giờ nước thủy triều của dòng sông quê hương, giúp nhà Trần lập nên chiến công sông Bạch Đằng lẫy lừng

Trong phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII, đô đốc Bùi Thị Xuân, một tướng lĩnh trụ cột của Quang Trung – (Nguyễn Huệ), chỉ huy một đạo quân riêng

Trang 7

gồm 5 nghìn quân phục màu đỏ, đã nhiều phen làm quân thù thất bại thảm hại, nhất là ở trận Trấn Ninh nổi tiếng

Thế kỷ XIX, chống lại triều đại phong kiến nhà Nguyễn “Bà Ba Cai Vàng” (tên thật là Yến Phi) chỉ huy cuộc nổi dậy của nông dân đánh chiếm thị trấn Lạng Giang (Bắc Giang), Văn Giang (Hưng Yên) và Bắc Ninh

Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta và cấu kết với phong kiến thống trị nhân dân ta, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã cùng với dân tộc, phát huy truyền thống đánh giặc cứu nước

Người phụ nữ Việt Nam, không những chỉ xuất hiện khi vận nước lâm nguy mà ngay cả trong đấu tranh dưới mọi hình thức chống áp bức bất công Sự phản kháng chế

độ phong kiến, lễ giáo Khổng Mạnh khi âm thầm, lúc quyết liệt diễn ra suốt hàng nghìn năm

Thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ngày càng suy tàn mọt ruỗng (thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh, “rạch đôi sơn hà làm cho trăm họ lầm than”), trong phong trào nông dân khởi nghĩa, cuộc đấu tranh của phụ nữ chống ách thống trị phong kiến đã lan rộng

ra nhiều lĩnh vực: Bùi Thị Xuân trong quân sự, Hồ Xuân Hương trong văn học và còn biết bao nữ danh nhân khác Ca dao, truyện, thơ, truyện tiếu lâm thời kỳ đó đã phản ánh trung thực sinh động

Lịch sử Việt nam còn ghi đậm nét những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền, người phụ nữ cần cù trong lao động:

“sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu” “vai vác cái cày, tay đuổi con trâu, cái cuốc cho lẫn cái gầu, con dao rựa phát đèo đầu gánh phân”

Theo sử liệu, ngay từ thế kỷ X và XV, đã có lúc Nhà nước huy động tới một triệu người vào quân đội, chiếm tỉ lệ một phần năm dân số Người phụ nữ phải đảm đang lao động sản xuất:

“Ai đi theo chúa Tây Sơn

Em về cày cuốc mà thương mẹ già”

Việc điều động những lực lượng lao động lớn nam giới vào các công trình tập trung, đào sông, khơi mương, đắp máng, đắp đê phòng lụt và những việc đắp thành lũy, xây cung điện, dựng đền đài làm cho phụ nữ trở thành lực lượng lao động quan trong trong nông nghiệp

Trang 8

Trong lịch sử Việt Nam, phụ nữ là những người tham gia đông đảo, tích cực vào tất cả những hoạt động sản xuất Những ca dao như “Thân em vất vả trăm bề ” hoặc

“em ôm bó mạ xuống đồng ”, “có con sáo đậu bờ rào, nhìn em tát nước hát chào líu lo”, “Lúa tốt vì bởi có phân, vì tay em lấm, vì chân em mòn ” rõ ràng phản ánh sự thực lịch sử về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong lao động Những người viết sử nước ngoài vào thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII đã có những nhận xét : “Phụ nữ ở xứ này rất năng động Họ làm nhà làm gốm, chèo truyền, bán hàng, bật bông kéo sợi, dệt vải, may

vá quần áo, phần lớn công việc là do phụ nữ cáng đáng”

Với tinh thần cần cù sáng tạo người phụ nữ lao động đã chăm lo đến công việc chung một cách tự giác

Lịch sử của nhiều ngôi làng trù mật ở Trung du đồng bằng ngày nay đã bắt đầu từ

ba thế kỷ trước, với điều ghi nhận về những người phụ nữ đầu tiên đã cùng với bà con khai rừng, bạt đồi, đuổi thú, phát cỏ mà làm nên ấm no, thịnh vượng cho cả một vùng Lập được những thành tích lao động ấy hiển nhiên người phụ nữ phải có một đầu

óc lo liệu Chỉ một việc đi cấy thôi, người phụ nữ cũng phải : “Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm” Trong quá trình làm nông nghiệp đời này qua đời khác, ý thức lao động dần dần đi vào tình cảm trở thành bản chất tốt đẹp của người phụ nữ Lao động kiên trì, nhẫn nại trở thành lẽ sống của phụ nữ vì chồng con, vì gia đình, vì đất nước

Những cố gắng của phụ nữ được đền bù, kỹ năng lao động được rèn luyện, người phụ nữ lao động cổ truyền Việt Nam đã nổi tiếng là khéo tay, và lúc nào đấy đã có những sáng tạo thật độc đáo

Với sự tham gia đông đảo, quan trọng và thường xuyên của người phụ nữ, nền nông nghiệp Việt Nam xưa đã đạt được những thành tựu đáng kể Hàng nghìn năm trước, nông nghiệp của ta đã giải quyết được việc chuyển vụ, tăng vụ Lúa đã được trồng đến 2 vụ, 3 vụ năm và hơn nữa tại một số vùng lên tới 4 vụ ở thế kỷ XIII Nhiều cây rau quả cũng đã được trồng trọt từ rất sớm ở Việt Nam Và cùng với kết quả đó là

cả một kho tàng kinh nghiệm sản xuất đã được tích lũy xây dựng qua nhiều thế kỷ Người phụ nữ ngày xưa tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung, đến những tấm gấm thời Lý Đây là những người mà từ những thế kỷ đầu công nguyên - theo sự ghi chép của sử liệu thành văn - đã lập được những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm; một năm tám lứa, tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nước ngoài chuộng

Trang 9

mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của ng­ười phụ nữ lao động Việt Nam

Chính từ sự tham gia 1ao động sản xuất đã hình thành sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người phụ nữ

Một hình ảnh nữa về người phụ nữ cổ truyền Việt Nam mà các nguồn tư liệu đều

thân”

Vô vàn những điền hình trong văn học dân gian phản ánh tinh thần hy sinh của ng­ười phụ nữ Việt Nam trong gia đình: “bên ướt mẹ nằm, bên ráo phần con” là điều phổ biến

Mặt khác, tính khiêm nhường, lòng vị tha, đức tính hy sinh và lòng yêu thương sâu sắc của người phụ nữ tỏa ra trong gia đình, khiến cho người phụ nữ có một vị trí đặc biệt Xã hội xưa đối với người phụ nữ chủ gia đình đã biểu lộ sự kính nể

Đô hộ đất nước ta, bọn phong kiến phương Bắc tìm mọi cách đồng hóa dân tộc ta

Vì vậy lịch sử Việt Nam cũng là lịch sử bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc, trong

đó người phụ nữ giữ vai trò rất tích cực Trách nhiệm của các bà mẹ Việt Nam nuôi dạy con cái từ tuổi bé thơ đến lúc trưởng thành, đã được xã hội ta từ xưa đánh giá cao “cha sinh không bằng mẹ dưỡng”

Những bài học, những kinh nghiệm đúc kết trong hàng nghìn năm lịch sử, những tình cảm, tâm lý, đạo đức của dân tộc Việt Nam, một phần quan trọng do những phụ nữ xưa gìn giữ và truyền thụ cho đời sau

Đối với con người, người chồng, người yêu đi xa, hình ảnh người mẹ, người vợ cũng là hình ảnh của quê hương đất nước, và cũng tạo nên những tình cảm dân tộc và những hình ảnh tích cực trong đời sống xã hội

Khái quát lại, những trang sử cũ và những nguồn tư liệu đã phản ánh hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử:

Trang 10

- Lao động thông minh, cần cù

- Là trụ cột gia đình, nuôi già dạy trẻ

- Là người nghệ sĩ tài hoa, sáng tạo và bảo vệ văn hóa dân tộc

- Là người chiến sĩ giữ nước kiên cường, bất khuất

Lịch sử và dân tộc đã ghi nhận vai trò tích cực khả năng và cống hiến to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trên mọi lĩnh vực

1.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về địa vị phụ nữ và giải phóng phụ

nữ

Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã từng đưa ra các quan điểm về địa

vị, vai trò của người phụ nữ trong xã hội tư bản, phân tích những nguyên nhân của sự bất bình đẳng nam - nữ Đây là những tư tưởng tiến bộ giúp vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị người phụ nữ theo hướng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã có một cái nhìn sâu sắc

và cách mạng về sự nghiệp giải phóng phụ nữ nói chung và giải phóng phụ nữ Việt Nam

Quan điểm của C Mác, Ph Ăng-ghen, V I Lê-nin về địa vị người phụ nữ trong xã hội tư bản

C Mác và Ph Ăng-ghen đã tố cáo chế độ bóc lột kiểu tư bản chủ nghĩa đối với lao động nữ, đó là bóc lột lao động đến kiệt sức trong điều kiện không bảo đảm vệ sinh, bệnh tật, tử vong,… sau khi họ được nhà tư bản mua về Trong bộ Tư bản, C Mác đã chỉ ra: “Trong những tuần lễ cuối tháng Sáu 1863, tất cả các tờ báo hàng ngày ở Luân Đôn đều đăng một tin với đề tài “giật gân”: “Death from simple overwork” (“Chết vì lao động quá sức”)1 Nội dung bài viết nói về cái chết của chị công nhân may thời trang Mê-ri An-nơ U-ô-cly, 20 tuổi, làm thuê trong một xưởng may thời trang đáng kính cho hoàng tộc, do một bà mang cái tên êm dịu là Ê-li-dơ làm chủ”

Trong thực tế, phụ nữ phải lao động cực nhọc trong các công xưởng của tư bản chủ nghĩa Ngay cả những phụ nữ đang mang thai và nuôi con nhỏ cũng vẫn phải làm việc cật lực, thậm chí, họ không được nghỉ cho con bú và khi con ốm Người phụ nữ phải đến công xưởng làm việc trong điều kiện hết sức tồi tệ do đồng lương ít ỏi, không

đủ nuôi sống gia đình C Mác cũng chỉ rõ, tỷ lệ mắc bệnh của người phụ nữ bao giờ

1

C Mác và Ph Ăng-ghen Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.373

Trang 11

cũng cao hơn so với nam giới (643/1000 người mắc bệnh lao phổi là đàn bà) Nguyên nhân của tình trạng trên, theo C Mác và Ph Ăng-ghen là do chế độ lao động trong công xưởng tư bản chủ nghĩa đã không tính đến những đặc điểm của phụ nữ và nam giới, tức

là giới chủ không nhìn thấy có sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới, bắt phụ nữ làm việc lẫn lộn với đàn ông, khiến họ bị kiệt sức trong điều kiện không bảo đảm vệ sinh Giới chủ tư bản bóc lột sức lao động của phụ nữ bằng cách kéo dài thời gian lao động của họ trong môi trường thiếu vệ sinh, thiếu cả khí thở Tình trạng phổ biến trong công xưởng, “đó là chuyện những cô gái thường làm việc trung bình một ngày 161/2 giờ và trong mùa may mặc thì thường làm việc một mạch 30 giờ không nghỉ”2

Phụ nữ phải lao động trong điều kiện giống thú vật hơn là giống con người Hậu quả của tình trạng lao động nặng nhọc, thiếu an toàn mất vệ sinh là tình trạng yếu kém

về sức khỏe, suy sụp về tinh thần và thể xác, thậm chí bị tử vong của phụ nữ Phải lao động nặng nhọc trong điều kiện hết sức khắc nghiệt, bị đối xử còn kém hơn cả súc vật, phụ nữ chẳng có chút địa vị nào trong xã hội Ngay cả ở nước Anh, đất nước của nền hiện đại công nghiệp phát triển sớm nhưng phụ nữ vẫn phải làm những công việc tốn nhiều sức lực, không có “thuyền thay cho ngựa” Do vậy, địa vị người phụ nữ trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh cũng như trong chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không có gì thay đổi Phụ nữ bị biến thành nô lệ, thành công cụ lao động của giới tư sản, dù họ không hề tiếc sức lao động của mình

Địa vị người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình C Mác và Ph Ăng-ghen đã vạch

trần sự ghê tởm, đạo đức giả của hôn nhân và gia đình tư sản, trong đó, người phụ nữ trở thành phương tiện và công cụ sản xuất, thành nô lệ của đàn ông: “Đối với người tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất Cho nên nghe nói công cụ sản xuất phải được đem dùng chung thì tất nhiên là hắn kết luận rằng chính đàn bà rồi cũng phải chịu cái số phận chung là bị xã hội hóa Các ngài tư bản của chúng ta chưa thỏa mãn là

đã sẵn có vợ và con gái của vô sản để dùng, đó là chưa kể chế độ mãi dâm công khai, các ngài ấy còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm một thú vui đặc biệt…”3

Trang 12

quản gia chính của chồng Vì vậy, chế độ “1 vợ, 1 chồng” trong xã hội tư bản chủ nghĩa chỉ riêng đối với đàn bà, không phải đối với đàn ông Nếu người vợ vượt ra ngoài khuôn khổ ấy thì lập tức họ sẽ bị lên án, bị trừng phạt nghiêm khắc

Không chỉ C Mác và Ph Ăng-ghen mà V I Lê-nin cũng tố cáo: dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, phụ nữ, tức một nửa nhân loại luôn bị hai tầng áp bức, ngay ở những nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất Phần đông các gia đình trong xã hội tư bản vẫn chứa chất trong lòng nó vô vàn những cảnh cơ cực, áp bức, bất công V.I Lê-nin viết:

“Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói cho đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn lo mặc cho cả gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động bản thân”4

Như vậy, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người phụ nữ phải chịu đựng một nghịch

lý, đó là: vai trò thì lớn nhưng địa vị thì thấp hèn trong cả gia đình và ngoài xã hội Phụ

nữ phải gánh vác hầu như toàn bộ việc nhà nhưng vẫn phải đi làm như nam giới; người phụ nữ cùng một lúc vừa phải tham gia lao động trong một nền sản xuất xã hội, vừa đảm nhiệm mọi thứ công việc như nô lệ trong gia đình Điều này thực sự mâu thuẫn và xung đột vai trò của người phụ nữ (trong xã hội học gọi là xung đột “vai trò giới” của người phụ nữ)

Quan điểm của C Mác, Ph Ăng-ghen và V.I Lê-nin về con đường giải phóng phụ

nữ

Nguồn gốc của sự bất bình đẳng nam nữ:

Xét về mặt kinh tế, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho rằng, quan hệ

xã hội giữa phụ nữ và nam giới do quan hệ kinh tế của họ quyết định - nguồn gốc của sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà Phụ nữ có địa vị xã hội thấp kém hơn nam giới là

do địa vị kinh tế của họ thấp hơn địa vị kinh tế của nam giới Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định, khi cơ sở kinh tế của xã hội biến đổi thì tính chất của mối quan hệ nam nữ về mặt xã hội cũng biến đổi theo “Sự thống trị của đàn

4

V I Lê-nin Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1980, tr.173

Trang 13

ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ về mặt kinh tế, và

sẽ tiêu vong cùng với sự thống trị về kinh tế”5

Lịch sử xã hội loài người cho thấy, trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy do đàn

bà nắm giữ kinh tế thì đồng thời họ cũng nắm quyền cai quản xã hội và gia đình Nhưng khi sự thống trị kinh tế của đàn bà bị mất và đàn ông nắm lấy quyền thống trị thì sự thống trị ấy trở nên phổ biến không chỉ trong nền sản xuất vật chất mà cả trong hôn nhân và gia đình Như vậy, khi cơ sở kinh tế biến đổi thì những đặc điểm và tính chất của mối quan hệ nam nữ tương ứng với nó cũng thay đổi

Chủ nghĩa Mác cho rằng, mối quan hệ quyết định nhất đối với sự bất bình đẳng nam nữ là kinh tế, nhưng nó không phải là nguyên nhân duy nhất mà còn có yếu tố phi kinh tế, tác động qua lại với nhau Trình độ nhận thức, văn hóa và các phong tục tập quán phản ánh sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu vào đầu óc con người thành tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” Những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ được khuyến khích duy trì để trói buộc, đầy đọa người phụ nữ, dần dần trở thành quy tắc, thông lệ không cần có pháp luật bảo vệ, nó vẫn có tác động cưỡng chế, điều chỉnh hành vi ứng xử của người đàn ông đối với đàn bà ngay cả khi cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ bị phá bỏ

Quan điểm của C Mác, Ph Ăng-ghen và V.I Lê-nin về giải phóng phụ nữ được thể hiện qua việc thực hiện cuộc cách mạng về lý luận giải phóng phụ nữ Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị người phụ nữ theo hướng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Quá trình đó diễn ra khách quan, bắt nguồn từ sự biến đổi trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ bị diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời Quy luật đó tác động trực tiếp tới địa vị và vai trò của phụ nữ trong xã hội Ph Ăng-ghen chỉ ra xu hướng biến đổi của xã hội tư bản cùng với nó là sự biến đổi trong mối quan hệ xã hội của phụ nữ và nam giới Cụ thể là:

Phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu

chính là thủ tiêu sự lệ thuộc kinh tế của người đàn bà đối với người đàn ông Điều này

sẽ tạo ra cơ sở quan trọng nhất để xây dựng gia đình bình đẳng giữa vợ và chồng

5 C Mác và Ph Ăng-ghen Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.127

Trang 14

Không thể cột chặt người phụ nữ vào công việc gia đình, phải đưa họ tham gia vào

nền sản xuất xã hội Xã hội cần phải giúp phụ nữ giảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình, lao động gia đình phải trở thành bộ phận của lao động xã hội

Phải đồng thời xây dựng hôn nhân và gia đình tiến bộ, hôn nhân tự nguyện trên cơ

sở tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối

Ngoài ra, còn phải chú ý đến các “điều kiện xã hội” quan trọng khác, như xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu, tâm lý coi thường phụ nữ

V.I Lê-nin đã kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng ở nước Nga Sau khi chính quyền Xô viết được thành lập, V.I Lê-nin đã có nhiều chủ trương thúc đẩy từng bước thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ

nữ Theo V.I Lê-nin, để tiến tới giải phóng phụ nữ, cần phải thực hiện các chính sách sau: Một là, hủy bỏ pháp luật tư sản, ban hành pháp luật mới, tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ Hai là, không chỉ giải phóng phụ nữ bằng pháp luật, để phụ nữ thực sự bình đẳng, có quyền tham gia quyết định vận mệnh của đất nước mình, phải đưa phụ nữ trực tiếp tham gia quản lý đất nước, xây dựng, củng cố quốc phòng Ba là, không chỉ giải phóng phụ nữ, ở ngoài xã hội mà còn giải phóng họ ngay trong gia đình, vì chính nơi đây gánh nặng công việc nội trợ đè lên vai họ, làm cho họ không thể phát triển như nam giới

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã vạch rõ: để giải phóng xã hội đồng thời giải phóng phụ nữ trong điều kiện chính quyền đã giành về tay giai cấp công nhân liên minh với nông dân và trí thức thì điều kiện cần thiết và quan trọng là phải thực hiện những bước quá độ để xây dựng cơ sở kinh tế cho một xã hội xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp giải phóng phụ nữ gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội

Như vậy, lý luận về giải phóng con người, giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ thấm đượm bản chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn vượt lên tầm cao mà trước đó tư tưởng của nhân loại chưa thể vươn tới, đó là quan điểm duy vật lịch

sử coi con người là thực tiễn, là chủ thể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới

Trang 15

1.1.3 Bài học về tập hợp lực lượng trong các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới

Tổng kết phong trào cách mạng ở Việt Nam, năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho thời kỳ cai trị và áp bức của chúng đối với dân tộc ta trong suốt gần 80 năm trời ròng rã rất nhiều phong trào yêu nước nổ ra như các phong trào yêu nước như Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế đầu thế kỷ XX … nhưng thất bại Hồ Chí Minh đã cảm nhận được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối, đặc biệt là trong vấn đề tập hợp lực lượng (như cụ Phan Bội Châu chủ trương tập hợp 10 hạng người chống Pháp là : quý hào, quý tộc, nhi nữ, anh sĩ, du đồ, hồi đảng, thông ngôn, kí lục, bồi bếp, tín đồ thiên chúa giáo nhưng thiếu công nhân và nông dân) và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này, Người rút ra những bài học kinh nghiệm đấu tranh không thể không có sự đoàn kết chặt chẽ của những người cùng khổ thành khối vững chắc,và Người cũng thấy rõ yêu cầu khách quan của sự đoàn kết thống nhất toàn dân không biệt “già trẻ gái trai” đoàn

kết một lòng trên cơ sở có đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn, khoa học

Tổng kết phong trào cách mạng trên thế giới , đặc biệt là thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga (1917) Hồ Chí Minh nhận ra nhiều yếu tố, nhiều điều mới trong đó nếu những người Bôn-Sê-Vích Nga không thực hiện đoàn kết rộng rãi thì không thể đánh thắng 14 nước đế quốc, không thắng nổi thù trong, giặc ngoài để bảo vệ Nhà nước

Xô Viết non trẻ đầu tiên vừa mới ra đời – đây là bài học cho sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông đông đảo không phân biệt giới tính để giành và giữ chính quyền cách mạng Chính những điều trên đã giúp Người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi” để chuẩn bị lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đừơng cách mạng những năm sau này

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ

Trên cơ sở tiếp thu và phân tích sâu sắc về đăc điểm và truyền thống người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về địa vị phụ nữ và giải phóng phụ nữ và những bài học về tập hợp lực lượng trong các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, vị trí của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình và ngoài xã hội

Trang 16

1.2.1 Vai trò của phụ nữ trong gia đình

Hồ Chí Minh từng nói: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”6 Cũng chính từ quan điểm đó, Người đã đánh giá cao vai trò của người phụ nữ Việt Nam đối với gia đình và xã hội Gia đình là bức tranh thu nhỏ của xã hội, trong đó bộc lộ đầy đủ và rõ ràng địa

vị của người phụ nữ Trong gia đình, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng, trách nhiệm của họ là rất lớn: duy trì và phát triển nòi giống, nuôi dưỡng sức người và sức lao động v.v

Theo Hồ Chí Minh, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội là thống nhất, bổ sung cho nhau Vai trò của người phụ nữ trong xã hội được bắt nguồn từ chính vai trò của họ trong gia đình Tạo hóa đã ban cho người phụ nữ chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc và vun trồng những mầm non của đất nước, bảo tồn và phát triển nòi giống hơn nữa trong gia đình gánh nặng công việc nhà luôn đè nặng lên họ

Người khẳng định: “Phụ nữ gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái”7

Hồ Chí Minh luôn có sự cảm thông sâu sắc đối với những khó khăn, vất vả của người phụ nữ Người phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Với vai trò là người vợ hiền, họ luôn là người hiểu chồng, sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, cũng như những đắng cay cùng chồng Trong những năm tháng đất nước có chiến tranh, thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh, vì nghĩa lớn mà gác tình riêng, hàng triệu phụ

nữ đã động viên, khuyến khích chồng con ra trận Ghi nhận sự hy sinh và đóng góp

to lớn của chị em phụ nữ cho cách mạng, Hồ Chí Minh viết: “Phụ nữ tham gia sản xuất, khuyến khích chồng con ra mặt trận” 8

Đảm đang, cần cù trong lao động, anh hùng bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, nhân nghĩa thủy chung trong quan hệ gia đình, xóm làng, đó chính

là những nét điển hình tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa để lại Từ đó đến nay, người phụ nữ luôn có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng

họ lại không hề quên trách nhiệm làm vợ, làm mẹ của mình Người phụ nữ bên cạnh

6

Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr523

7

Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 185

8Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 438

Trang 17

những đóng góp cho xã hội thông qua các công việc chuyên môn của mình còn là nhân tố tích cực, thậm chí quyết định cho một “gia đình tốt” như Hồ Chí Minh từng

khẳng định

1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong lao động sản xuất

Phụ nữ không chỉ có vai trò trong gia đình mà còn có vai trò rất lớn trong lao động sản xuất và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Họ đã tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất và đạt được nhiều thành tích cao trong lao động sản xuất Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng trong

xã hội, là một trong những đội quân chủ lực tạo ra của cải vật chất làm giàu cho xã hội

Vai trò của người phụ nữ được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực lao động sản xuất: trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cũng như trên các lĩnh vực văn hóa xã hội Về điều này, Hồ Chí Minh khẳng định:

Chị em phụ nữ nông thôn thi đua góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt Chị em công nhân và công chức thi đua làm tròn nghĩa vụ của mình Chị em trí thức thi đua góp phần vào việc phát triển văn hóa

Có được kết quả trong lao động sản xuất là nhờ sự cố gắng vươn lên, không quản ngại khó khăn vất vả của bản thân phụ nữ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chị em phụ nữ hai miền đã thực hiện tốt các phong trào thi đua “năm tốt”, “ba đảm đang” Các phong trào này đã có tác dụng to lớn trong việc đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu chống Mỹ, cứu nước Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ miền Bắc không chỉ thi đua “mỗi người làm việc bằng hai người vì miền Nam ruột thịt”, mà còn thi đua góp phần vào các phong trào “Ba đảm nhiệm”, “Ba sẵn sàng”, “Đẩy mạnh sản xuất, bảo vệ sản xuất và phục vụ chiến đấu” Những phong trào thi đua đó đã phát huy phẩm chất đạo đức của phụ nữ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống

Mỹ Hồ Chí Minh khẳng định:

“Phong trào năm tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “ba đảm đang” của phụ

nữ miền Bắc là những phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân 9

9 ,6Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 149, tr.38

Trang 18

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hồ Chí Minh thấy và đánh giá rất cao việc có nhiều phụ nữ biết điều khiển máy tiện, máy khoan, máy dệt tối tân; trên các công trường có nữ thanh niên, có các cháu gái biết lái máy xúc, lái xe vận tải; “ở mỏ than Hòn Gai, chị em làm ở Cọc 6, chỉ trong mấy ngày đã nâng mức đẩy xe từ 32 xe lên 335 xe một ca”10

Đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, Hồ Chí Minh đã kịp thời biểu dương những đóng góp của phụ nữ có những tiến bộ lớn, nhất là các cháu thanh niên gái đã trở thành công nhân, tổ trưởng chiến sĩ thi đua ở các xí nghiệp như mỏ thiếc Cao Bằng, khu gang thép Thái Nguyên…Trong điện gửi Đại hội phụ nữ Ba đảm đang, năm 1966, Hồ Chí Minh viết: “Bác vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi các chị em phụ nữ ba đảm đang11” Hồ Chí Minh khẳng định chị em phụ nữ không chỉ có vai trò trong các lĩnh vực lao động sản xuất ra của cải vật chất mà còn có vai trò rất lớn trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần Người khẳng định: “Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ chiếm một phần rất lớn trong số người dạy cũng như trong số người học”12

Hồ Chí Minh luôn đáng giá rất cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục

và trong nghiên cứu khoa học Tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc, năm 1956,

Hồ Chí Minh khẳng định: “Sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm” 13

Có thể nói, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo phụ nữ để họ trở thành những người công dân vừa biết lao động chân tay vừa biết lao động trí óc, tạo mọi điều kiện để phụ nữ học văn hóa, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, nâng cao trình độ, vươn lên làm chủ bản thân và làm chủ xã hội Với sự quan tâm và chỉ đạo sâu sắc của Hồ Chí Minh, tỉ lệ lao động nữ ngày càng tăng lên trong tất cả các ngành nghề Chị em phụ nữ đã ngày càng hăng hái tham gia lao động sản xuất ra nhiều giá trị vật chất và tinh thần, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

1.2.3 Vai trò của phụ nữ trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhận thấy một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam là sự tham gia của

10 , 8Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 88; tr.137

12Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 432

Trang 19

phụ nữ Người khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”14 Theo Người, “phụ nữ ta chẳng tầm thường, đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời”15 Trong thời kì hoạt động bí mật, “nhiều chị em đã giác ngộ tham gia hoạt động cách mạng rất dũng cảm, mặc dầu muôn ngàn nguy hiểm, gian khổ, rất nhiều chị em đã bảo vệ cách mang rất gan góc Thời kì đó, ở Việt Bắc, “đã có rất nhiều chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số không những vượt ngàn gian khổ, mà còn gạt bỏ

cả mê tín, để bảo vệ cách mạng và cán bộ hoạt động cách mạng”16 Hồ Chí Minh khẳng định phụ nữ nước ta đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, có nhiều tiến bộ như chị Nông Thị Trưng ở Cao Bằng đã từng nuôi giấu cán bộ cách mạng, chị Má Thị Phảy ở Lạng Sơn đã bất chấp nguy hiểm, nhiều lần vượt biên giới làm liên lạc cho cách mạng, rồi những tấm gương anh dũng hy sinh của chị Nguyễn Thị Minh Khai, chị Võ Thị Sáu…

Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước giành độc lập chưa được bao lâu thì nhân dân ta lại một lần nữa đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược Trong những năm kháng chiến, có rất nhiều phụ nữ đã bất chấp mọi hy sinh gian khổ, che giấu, canh gác, bảo vệ cán bộ cách mạng Các mẹ, các chị đã đào hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ “từ lúc tóc còn xanh, đến khi phơ phơ đầu bạc” vẫn giữ vững lòng thủy chung sắt son với cách mạng, nhiều chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số không những vượt ngàn gian khổ, mà còn gạt bỏ cả mê tín, để bảo vệ cách mạng và cán bộ hoạt động cách mạng” 17

Ngày 8/3/1952, khi cuộc kháng chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt, nhân ngày Quốc tế phụ nữ, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cho chị em phụ nữ trong nước và chị em kiều bào ngoài nước, trong đó có đoạn:

Hai Bà Trưng đã để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế giúp phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy, hăng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu của Hai Bà Trưng và là lực lượng trong quốc tế phụ

nữ18

14Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 289

15Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 222

16 ,12Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 87

17Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 87

18 18Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 431

Trang 20

Khi nước ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, một đế quốc có tiềm lực kinh

tế, quân sự kĩ thuật rất mạnh, một cuộc chiến đấu hết sức gay go và quyết liệt, đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, phụ nữ ta ra sức phát huy hơn nữa truyền thống dũng cảm, đảm đang, cùng toàn quân, toàn dân bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, chị em phụ nữ đã tỏ rõ sức mạnh và khả năng của mình trên mọi lĩnh vực

Ở Miền Nam, chị em phụ nữ đã trở thành lực lượng đông đảo trong các cuộc đấu tranh cách mạng: kiên trì, bền bỉ, ngoan cường, những đội quân tóc dài đã gan dạ xông pha, bất chấp gian khổ, đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, biến những buổi tối

tố cộng của địch thành những buổi tố cáo, vạch trần âm mưu, tội ác của bọn tay sai Hồ Chí Minh rất tự hào về những thành tích của chị em phụ nữ miền Nam Người viết:

Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn

là phụ nữ Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi đó là “đội quân tóc dài” Phó tư lệnh giải phóng quân là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ có ta

có vị tướng gái như vậy Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta19

Ở miền Bắc, chị em phụ nữ đã hăng hái thi đua thực hiện phong trào “Ba đảm đang” chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Chị em vừa chiến đấu, vừa sản xuất, chi viện sức người, sức của cho miền Nam, làm tròn vai trò là hậu phương vững chắc cho cả nước Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư khen gợi phụ nữ miền Bắc đã chiến đấu dũng cảm bắn rơi nhiều máy bay địch, bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ, cùng nhiều thành tích chiến đấu khác Người khẳng định:

Trong phong trào thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi, tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiểu đội 9, đại đội 814 đã đảm bảo tốt giao thông dưới làn bom đạn, đội quân gái ở Nam Ngạn đã góp phần bắn đươc nhiều máy bay giặc Mỹ, v.v

Các bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con cháu mình vào bộ đội đánh giặc cứu nước Ngoài ra, ân cần, nuôi nấng, giúp đỡ và bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu của mình Như bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn, không sợ sóng to, gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội qua sông để chiến đấu Bà mẹ Cần người Thái ở Sơn La có 6 người con thì 2 con đi bộ đội, 4 vào du kích, bản thân mẹ

19 19Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 149

Trang 21

cũng hăng hái vào bạch đầu quân Bà mẹ Đích ở Thái Bình đã cho cả 4 đứa con trai và 1 người con rể vào bộ đội Bản thân bà mẹ vừa lo việc nhà cho các con, vừa hăng hái giúp

đỡ gia đình chiến sĩ Mẹ Đích rất tự hào là cả nhà gồm có 4 con trai, 2 con gái, 1 con rể đều vẻ vang được tham gia Đảng lao động Việt Nam 20

Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của các bà mẹ đã anh dũng che chở cho

bộ đội, khuyến khích chồng, con đi chiến đấu, cắn răng chịu đựng những mất mát đau thương Người nói:

Như vậy, cùng với nam giới, phụ nữ đã tích cực tham gia đấu tranh chống giặc ngoại xâm Đây là truyền thống của phụ nữ Việt Nam Như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: vai trò của phụ nữ không chỉ thể hiện ở lòng căm thù giặc ngoại xâm, động viên và

hy sinh để chồng con yên tâm cầm súng ra mặt trận, mà còn trực tiếp tham gia cầm súng đánh giặc, họ đã có nhiều hy sinh, đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giành và giữ độc lập chủ quyền dân tộc

1.2.4 Vai trò của phụ nữ trong quản lý nhà nước

Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm phát huy vai trò của người phụ nữ trong các công việc quản lý nhà nước Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Hồ Chí Minh nói: “Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử” 22 Ngày 1/6/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, phụ nữ được cầm lá phiếu trực tiếp bầu những người có đức, có tài đại diện cho mình vào trong chính quyền cách mạng Đây cũng là lần đầu tiên, phụ nữ Việt Nam được thực hiện quyền công dân của mình

20Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 149

21Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 432

22Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 8

Trang 22

Ngay sau tổng tuyển cử, Hồ Chí Minh đã giới thiệu vào Quốc hội khóa I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một số chị em tiêu biểu như giáo sư Nguyễn Thị Thục Viên, bà Tôn Thị Quế Từ đó đội ngũ cán bộ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo từ cấp Trung ương đến cơ sở ngày càng nhiều, đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo

vệ và xây dựng đất nước

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó

có cán bộ nữ, bố trí cán bộ nữ vào các cương vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở các cấp, các ngành và do đó, tỉ lệ phụ nữ tham gia vào các công việc quản lý ngày càng nhiều Hồ Chí Minh khẳng định sau khi nước nhà giành được độc lập, phụ nữ Việt Nam đã tiến bộ rõ về mọi mặt, tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ tham gia chính quyền ngày càng nhiều, dưới chế độ mới, chị em phụ nữ đã được bình quyền về kinh tế, chính trị, văn hóa

Theo Hồ Chí Minh, chị em phụ nữ không thua kém nam giới trong mọi lĩnh vực nếu như họ được tạo điều kiện thuận lợi Người nói: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều

có phụ nữ”23 Trong các họat động văn hóa - xã hội, chị em phụ nữ cũng đã không ngừng học tập, nâng cao trình độ Theo Hồ Chí Minh, “chính từ những cố gắng trong học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ mà hàng vạn phụ nữ

đã trở thành chuyên gia các ngành và là cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nhà nước, chủ tịch ủy ban hành chính, bí thư chi bộ Đảng”24

, “có người gánh vác những trách nhiệm nặng như làm thẩm phán, chánh án”25

Hồ Chí Minh rất vui mừng khi trong Quốc hội, trong hội đồng nhân dân các cấp, trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trong các đơn vị sản xuất, trường học, bệnh viện, tỉ lệ cán bộ nữ làm việc ngày càng nhiều Năm 1949, trong Thư gửi đồng bào Nghệ An, Hồ Chí Minh viết: “Tôi rất vui lòng rằng xã nào cũng có phụ nữ tham gia

Người đưa ra nhiều tấm gương phụ nữ điển hình trong công tác quản lý như: “Cô Nguyễn Thị Hoa ở Hòa Bình là ủy viên tỉnh, cô Bùi Thị Na, Hoàng Thị Viện là chủ

23Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 256

24Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 149

25Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 184

26Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 185

Trang 23

nhiệm hợp tác xã giỏi Lộ Thênh Sùi là chủ tịch ủy ban hành chính xã kiêm bí thư chi bộ”27

Như vậy, theo Hồ chí Minh, cũng như nam giới, phụ nữ có thể đảm nhiệm

và hoàn thành tốt những công việc lớn của đất nước, của cách mạng, có khả năng tham gia làm tốt các công việc quản lý Với quan niệm như vậy, Người luôn quan tâm đến vị trí, vai trò của phụ nữ trong các tổ chức của hệ thống chính trị, mong muốn ngày càng nhiều chị em tham gia công tác trong các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng như trong các tổ chức quần chúng do Đảng tổ chức và lãnh đạo

1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải giải phóng phụ nữ

Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thấy trong suốt chiều dài lịch sử người phụ nữ có một vai trò rất lớn trong gia đình và ngoài xã hội, tuy nhiên họ luôn phải chịu nhiều thiệt thòi bất công Trong xã hội cũ, phụ nữ thường bị coi thường, bị coi khinh và

bị ngược đãi Thậm chí ngay cả khi cách mạng Tháng Tám đã thành công, trong xã hội vẫn còn có tình trạng phụ nữ bị phân biệt đối xử bất bình đẳng

Trong xã hội cũ, xã hội phong kiến, phụ nữ nói chung không được tôn trọng trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội Về điều này, Hồ Chí Minh viết: “Dưới chế độ phong kiến và thực dân phụ nữ bị áp bức tàn tệ Ngoài xã hội họ bị xem khinh như nô

lệ Trong gia đình họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng” Có thể nói, dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ bị áp bức bóc lột, bị khinh rẻ, ngược đãi đến mức mất cả tư cách làm người, quyền hành quốc gia tập trung vào tay vua, trong gia đình thì tập trung vào tay người đàn ông Hơn thế nữa, giai cấp phong kiến còn duy trì đạo “tam tòng”,

“tứ đức” Công bằng mà nói, những giá trị đạo đức này có nhiều điểm tích cực đối với người phụ nữ trong việc tu dưỡng, rèn luyện để làm tốt chức năng của người mẹ, người

vợ trong gia đình Song, dưới chế độ phong kiến đạo “tam tòng”, “tứ đức” lại là công

cụ của giai cấp thống trị, của người đàn ông để áp bức tinh thần đối với phụ nữ

Ở Việt Nam, dưới chế độ thực dân, phụ nữ bị áp bức, bóc lột nặng nề Họ không được hưởng những thành quả lao động do bàn tay, khối óc của mình làm ra Công lao của họ rất lớn nhưng họ không có vị trí xứng đáng nào trong xã hội Chủ nghĩa thực dân đã không từ một hành động bạo ngược nào để áp bức, bóc lột phụ nữ Chị

em phụ nữ bị coi như súc vật, bị đánh đập, bị hành hạ, bị bóc lột một cách thê

27Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 214

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w