1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

độc tính của xi măng nhựa tự dán lên tế bào tùy răng người nghiên cứu in vitro

40 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế gắn những phục hình cố định trên răng tủy sống, sẽ có sự tiếp xúc trực tiếp giữa xi măng gắn với phức hợp ngà tủy, được cho là một trong những nguyên nhân gây nhạy cảm và ê bu

Trang 2

MỤC LỤC

Tương hợp sinh học của xi măng gắn 4

1.1 Xi măng GIC 4

1.2 Xi măng GIC lai 5

1.3 Xi măng resin 6

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 8

2.1.1 Nguồn tế bào 8

2.1.2 Vật liệu 8

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.3 THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 9

2.4 TÓM TẮT QUI TRÌNH THỰC HIỆN 16

2.5 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 16

2.6 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ 16

2.7 CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ 17

Chương 3: KẾT QUẢ 19 3.1 ĐỘC TÍNH CỦA DỊCH CHIẾT TRỰC TIẾP 19

3.2 ĐỘC TÍNH CỦA DỊCH CHIẾT GIÁN TIẾP 23

3.3 SO SÁNH DỊCH CHIẾT TRỰC TIẾP VÀ DỊCH CHIẾT GIÁN TIẾP 27

Chương 4: BÀN LUẬN 30 4.1 VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

4.2 Ý NGHĨA VÀ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI 34

4.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 35

KẾT LUẬN 36

Trang 3

MỞ ĐẦU

Sự thành công lâm sàng của phục hình cố định phụ thuộc nhiều yếu tố, bao gồm cả việc lựa chọn xi măng gắn phù hợp Từ thực tế gắn những phục hình cố định trên răng tủy sống, sẽ có sự tiếp xúc trực tiếp giữa xi măng gắn với phức hợp ngà tủy, được cho là một trong những nguyên nhân gây nhạy cảm và ê buốt sau can thiệp Do đó, ngoài các đặc điểm hóa học, cơ học, vật lý đảm bảo cho khả năng gắn dính, tương hợp sinh học của xi măng gắn trên tế bào tủy răng là một yêu cầu quan trọng và cần thiết

Việc gia tăng mối quan tâm của nha sĩ và bệnh nhân về phục hình thẩm

mỹ giống màu răng đã làm gia tăng mức độ phổ biến của phục hình toàn sứ, từ đó cũng thúc đẩy sự sáng tạo và cải tiến hệ thống xi măng gắn cho phục hình thẩm mỹ

So sánh với các xi măng gắn truyền thống, xi măng nhựa có những ưu điểm về thẩm

mỹ, cải thiện độ lưu giữ, ít vi kẽ, độ hòa tan thấp Tuy nhiên, xi măng nhựa chứa các monomer nhựa như: HEMA, Bis-GMA, TEGDMA, UDMA có khả năng gây độc cao Hơn nữa, việc xử lí ngà răng bằng acid để loại bỏ lớp mùn ngà trước khi sử dụng xi măng nhựa sẽ làm tăng tính thấm ngà từ đó cũng làm tăng khả năng gây độc của xi măng nhựa

Xi măng nhựa tự dán ra đời năm 2002, hầu hết thuộc loại lưỡng trùng hợp, kết hợp các thành phần tự trùng hợp và quang trùng hợp, có thể bắt đầu một phản ứng trùng hợp mà không cần chiếu đèn Cơ chế lưỡng trùng hợp đảm bảo chất lượng polymer hóa của xi măng, bù đắp cho sự giảm ánh sáng trong quang trùng hợp do độ dày và độ mờ đục của phục hình Từ đó làm giảm tỉ lệ các monomer tự

do không được trùng hợp hoàn toàn có khả năng gây độc Xi măng kết hợp tác nhân dán và xi măng trong một sản phẩm, rút gọn qui trình gắn chỉ gồm một bước đơn giản, dễ thao tác, giảm thời gian trên lâm sàng Do không cần các bước xử lí bề mặt răng trước khi gắn, lớp mùn ngà không bị loại bỏ, nên được cho là không gây nhạy

Trang 4

cảm sau gắn Sự dán dính vào các cấu trúc mô răng không có sự hình thành của các đuôi nhựa trong ống ngà [4], từ đó có thể ngăn chặn làm giảm tác động gây hại cho tủy [15], [36]

Với tính thuận tiện và đa năng, xi măng nhựa tự dán hiện được nhiều nhà lâm sàng lựa chọn Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá độc tính tế bào của xi măng này vẫn chưa được thực hiện nhiều và kết quả không thống nhất

Năm 2015, Rita Trumpaite- Vanagiene [30] nghiên cứu trên nguyên bào sợi nướu răng đã kết luận xi măng nhựa tự dán và xi măng GIC lai đều gây độc tế bào Trong khi đó, năm 2016, Fonseca [8] nghiên cứu trên tế bào nguyên bào ngà MDPC-23 và tế bào tủy răng người kết luận xi măng nhựa tự dán và xi măng GIC lai không gây độc cho tế bào Từ các kết luận khác nhau như vậy, cho thấy đây cũng

là vấn đề cần được nghiên cứu thêm

Nhiều nghiên cứu độc tính tế bào in vitro dựa trên đánh giá mức độ sống của tế bào khi tiếp xúc với dịch chiết trực tiếp của vật liệu Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng gây độc của vật liệu nha khoa, phụ thuộc vào khả năng của vật liệu khuếch tán qua ngà răng và tích lũy trong tủy ở nồng độ đủ cao để gây ra các vấn đề trên tủy Vì vậy, mô hình sử dụng rào cản ngà răng là phương pháp tốt để đánh giá các độc tính trên tủy của vật liệu nha khoa

Vì vậy, nghiên cứu in vitro này được thực hiện nhằm đánh giá độc tính trên tế bào nguyên bào sợi 3T3 của xi măng nhựa tự dán lưỡng trùng hợp (G-Cem) theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp qua rào cản ngà răng, so sánh với hai loại xi măng thông dụng là xi măng Glass Ionomer tăng cường nhựa ( Fuji Plus) và xi măng Glass Ionomer (Fuji I)

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá độc tính trên tế bào nguyên bào sợi 3T3 của xi măng nhựa tự dán lưỡng trùng hợp (G-CEM) theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp qua rào cản ngà

Trang 5

răng, so sánh với xi măng Glass Ionomer tăng cường nhựa (Fuji Plus) và xi măng Glass Ionomer (Fuji I)

Mục tiêu chuyên biệt

1 Xác định và so sánh tác động gây độc tế bào giữa ba loại xi măng gắn

cứu: phương pháp trực tiếp và gián tiếp qua rào cản ngà răng

khác nhau

Trang 6

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tương hợp sinh học của xi măng gắn

Mặc dù vật liệu dùng trong nha khoa phục hồi và các loại xi măng nha khoa đã có nhiều cải tiến về tính chất hóa lý, mức độ gây độc của vật liệu, tuy nhiên mức độ gây độc trong các thử nghiệm in vitro vẫn còn khá cao Vì vậy, việc đánh giá lại các tính chất hóa, lý và khả năng sinh học của vật liệu là cần thiết

1.1 Xi măng Glass Ionomer (GIC)

Vào năm 1969, xi măng Glass Ionomer được tìm ra bởi Wilson và Kent dựa trên phản ứng axit – bazơ giữa bột aluminosilicate glass và dung dịch polymers, copolymers của axit acrylic, bao gồm axit itaconic, axit maleic và axit tricarboxylic GIC được định nghĩa bởi McLean, Nicholson và Wilson “xi măng bao gồm bột thủy tinh và dung dịch polymer của axit, mà quá trình đông là phản ứng axit – bazơ giữa các thành phần GIC có nhiều ưu điểm như: gắn hóa học vào răng, độ giãn nở vì nhiệt giống mô răng, độ đàn hồi tương tự ngà răng, chống lại sự hòa tan của axit, có độ ép mỏng cao, giữ độ nhớt ổn định một thời gian ngắn sau trộn tạo sự thuận lợi để gắn phục hình GIC được coi như một vật liệu tương hợp sinh học, với khả năng gắn hóa học vào cấu trúc răng, khả năng phóng thích fluor,

và khả năng tái khoáng hóa thương tổn sâu răng Một vài bất lợi của GIC như có thể gây nhạy cảm, dễ bị mòn trong vùng chịu lực nhai lớn

GIC phóng thích lượng flour cao nhất trong 24h đầu sau khi đông và lượng flour phóng thích có khả năng gây độc tủy răng Một số nghiên cứu in vitro như của Chang YC, Chou MY (2001) [5], Theiszova M và cs (2008) [35] đã cho thấy flour gây độc lên tế bào tủy răng ở người bằng việc ngăn cản sự tăng trưởng

Trang 7

của tế bào, sự tăng sinh, hoạt động nội bào, tổng hợp protein và gây ra sự chết tế bào theo chương trình

Trong nghiên cứu của Tatjana Kanjevac và cs (2012) [19] đã cho thấy lượng fluor phóng thích tương quan trực tiếp với hoạt động gây độc trên tế bào gốc tủy răng của các xi măng GIC Những loại vật liệu phóng thích ít flour như Fuji I, Fuji Triage, Composit thì khả năng gây độc tế bào ít hơn so với những loại GIC phóng thích flour cao như Fuji Plus, Fuji VIII, Vitrebond

1.2 Xi măng Glass Ionomer tăng cường nhựa (RMGIC)

Sự phát triển của GIC dẫn đến sự ra đời của vật liệu lai được biết đến với tên gọi xi măng Glass Ionomer tăng cường nhựa (resin modified glass ionomer cement - RMGIC) Nó là sự kết hợp của GIC với các monomer như 2-hydroxyethyl methacrylate (HEMA), triethylene glycol dimethacrylate (TEGDMA) So sánh với GIC thông thường, RMGIC tăng cường độ bền uốn, độ bền kéo, mô đun đàn hồi và kháng mòn Bất lợi chính của RMGIC là độc tính cao hơn so với GIC truyền thống [25]

GIC lai phóng thích flour gây độc tế bào [19] và ngoài ra, hầu hết các tác giả đều cho rằng các monomer tự do không được trùng hợp như HEMA, TEGDMA, UDMA chịu trách nhiệm gây độc tế bào Thành phần này có tính ái nước và trọng lượng phân tử nhẹ, do đó dễ dàng xuyên qua các ống ngà, và đến tế bào tủy răng, ở đây, kết hợp với màng lipid của tế bào gây ra hiện tượng loạn năng màng tế bào và dẫn đến chết tế bào [3] Mặc dù có nhiều cải tiến xi măng GIC lai, lượng monome tự do không trùng hợp trong xi măng đã giảm, tuy nhiên vẫn không có sự chuyển đổi hoàn toàn trong quá trình trùng hợp Mặc dù số lượng monome còn lại

là ít hơn 1,5-5%, nhưng đủ để góp phần gây ra các tác động gây độc tế bào trong các thử nghiệm in vitro [15]

Các nghiên cứu thử nghiệm độc tính của GIC và RMGIC trên các loại tế bào khác nhau như tế bào dạng nguyên bào ngà (MDPC-23) của Costa C (2003) [3],

tế bào tủy răng người của Wan-Hong Lan và cs (2003) [39] đã kết luận RMGIC

Trang 8

gây độc tế bào nhiều hơn GIC thông thường Oliva và cs (1996) [28] trong nghiên cứu in vitro kết luận HEMA là thành phần gây độc tế bào chính của RMGIC

Trong một nghiên cứu in vitro của Rita Trumpaite- Vanagiene [30] về độc tính của các loại xi măng gắn thường được sử dụng, Hoffmann’s Zinc Phosphate (Hoffmann’s ZP), GC Fuji Plus (RMGIC) and 3M ESPE RelyX Unicem Resin Cement (RelyX Unicem RC) trên nguyên bào sợi nướu răng người Nhà nghiên cứu

đã kết luận, Hoffmann’s ZP ít gây độc nhất, trong khi RMGIC và RelyX Unicem

RC thì độc tế bào nhiều hơn (ANOVA, p<0,001)

1.3 Xi măng nhựa (RC)

Vật liệu nhựa được sử dụng đã lâu trong nha khoa với vai trò là xi măng gắn phục hình và vật liệu phục hồi Trong các thử nghiệm in vitro, các loại nhựa hóa trùng hợp và quang trùng hợp thường gây độc tế bào từ 24-72 giờ trong môi trường nuôi cấy, mặc dù một vài hệ thống mới hơn dường như giảm thiểu khả năng gây độc Khả năng gây độc tế bào giảm một cách có ý nghĩa từ 24-48 giờ sau khi đông Một vài nghiên cứu đã cho thấy một số loại nhựa vẫn còn khả năng gây độc tế bào in vitro đến 4 tuần Trong các trường hợp, vật liệu gây độc tế bào là do một số monomer nhựa được phóng thích như: Triethylene Glycol Dimetharylate Bisphenol-A-glycidyl Methacrylate, Urethane Dimethacrylate, Ethyleneglycol Dimethacrylate, Diethyleneglycol Dimethacrylate…Các nghiên cứu chỉ ra rằng nhựa quang trùng hợp thì ít độc tế bào hơn so với nhựa hóa trùng hợp, nhưng kết luận này phụ thuộc vào hiệu quả gây trùng hợp của ánh sáng và hệ thống nhựa

Goldberg (2008) [15] khẳng định sau 3 ngày trám với composite quang trùng hợp và hóa trùng hợp với ngà có độ dày còn lại 0,5mm, đáp ứng tủy viêm ở mức độ từ nhẹ đến trung bình Tuy nhiên không còn phản ứng nào sau 5-8 tuần Thêm vào đó là quá trình hình thành ngà sửa chữa

Trong một nghiên cứu [17] nuôi cấy tế bào tủy răng với dịch chiết trực tiếp lấy ngày thứ 2 và ngày thứ 5 của 5 loại vật liệu gốc nhựa khác nhau, bao gồm 2 RMGIC (Fuji II LC and Fuji IX), 1 compomer (Dyract), and 2 composite resin

Trang 9

(Tetric and Superfil), tác giả Fu-Mei Huang và Yu-Chao Chang kết luận tất cả các vật liệu đều gây độc tế bào Composite có gây độc tế bào cao nhất trong các loại vật liệu với thứ tự Superfil > Tetric > Fuji IX > Fuji II LC = Dyract

Trong nghiên cứu của Fonseca năm 2016 [8] về khả năng gây độc của các loại xi măng gắn (RMGIC - RelyX Luting, xi măng nhựa tự dán- RelyX U200 và xi măng nhựa thông thường- RelyX ARC) đối với tế bào tủy răng qua rào cản ngà, kết luận cả ba loại xi măng gắn có chứa nhựa không gây độc cho tế bào tủy răng

Trang 10

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Loại Số lô Cơ chế

G

cem

Xi măng nhựa tự dán

1511261 Lưỡng

trùng hợp

Bột: fluoro-aluminio-silicate glass Lỏng: thành phần nhựa có tính axit, nước, UDMA, Dimethacrylates, 4-META, phosphoric ester monomer, camphorquinone

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm

bộ môn sinh học phân tử trường Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí

Minh

Trang 11

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu in vitro có nhóm chứng

2.3 THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

2.3.1 Chuẩn bị tế bào

Nguồn tế bào nguyên bào sợi 3T3 thế hệ tế bào P7 được cấy chuyền đến thế

hệ P8 (các tế bào đạt độ đồng nhất về hình dạng) Theo dõi sự tăng sinh của các tế bào đến khi chúng trải thành một lớp đơn phủ kín trên bể mặt đĩa petri (độ bao phủ đạt gần 85%) Lúc này tế bào đã sẵn sàng để tiến hành thử nghiệm đánh giá độc tính của vật liệu

2.3.2 Chuẩn bị dịch chiết

2.3.2.1 Dịch chiết trực tiếp

a) Chuẩn bị mẫu

Các vật liệu được chuẩn bị theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Đợi xi măng đông cứng Thời gian đông của xi măng Fuji I là 4 phút 30 giây, của Fuji Plus là 4 phút 15 giây Riêng G-CEM chiếu đèn trùng hợp trong 20 giây Sau khi đông, gỡ các khối xi măng ra khỏi khuôn Tất cả các thao tác được thực hiện trong tủ vô trùng

b) Chuẩn bị dịch chiết

Lượng môi trường để ngâm dịch chiết theo chuẩn ISO 10993-12:2012 Ngâm khối vật liệu Fuji I, Fuji Plus, G-CEM trong môi trường DMEM/F12 với tỉ lệ 0,1839 ml môi trường/ 1 khối vật liệu

c) Chuẩn bị nhóm chứng âm và nhóm chứng dương

Nhóm chứng âm:

Là nhóm chứng không gây độc tế bào Mục đích của nhóm chứng âm là chứng minh đáp ứng nền của tế bào nghiên cứu Trong nghiên cứu này, nhóm chứng âm là môi trường DMEM/F12 + 10% CS

Nhóm chứng dương:

Trang 12

Là nhóm chứng gây độc tế bào Mục đích của nhóm chứng dương là chứng minh đáp ứng của hệ thống thí nghiệm trong nghiên cứu này Trong nghiên cứu này, nhóm chứng dương là cao su, được ngâm trong môi trường DMEM/F12 +10% CS để tạo dịch chiết theo tỉ lệ cao su : môi trường DMEM là 6 cm2/ml

Sau 24 giờ thu được dịch chiết trực tiếp của các loại vật liệu và nhóm chứng nồng độ 100% (nồng độ 1)

Đo pH các dịch chiết trực tiếp của các vật liệu:

Fuji I = Fuji Plus = 6 G-Cem = 7

Từ dịch chiết 100% ban đầu (nồng độ 1), pha loãng dịch chiết thành 4 nồng độ 1/2, 1/4, 1/8, 1/16 bằng cách thêm vào môi trường DMEM với tỉ lệ tương ứng

2.3.2.2 Dịch chiết gián tiếp a) Chuẩn bị mẫu

Bốn mươi tám răng khôn hàm trên lành mạnh, không có sâu răng, mòn, nứt Sau khi loại bỏ vôi răng và các mảnh vụn hữu cơ, răng được giữ trong dung dịch nước muối sinh lí cho đến khi thực hiện nghiên cứu

Thân răng được cắt rời khỏi chân răng tại vị trí đường nối men – xê măng Sau đó, bề mặt phía dưới của thân răng được mài cho đến khi được bề mặt ngà phẳng ngang mức trần tủy (không còn thấy được sừng tủy)

Sau đó, từ phía mặt nhai thân răng, sử dụng tay khoan high speed và mũi khoan kim cương sửa soạn xoang hình trụ tròn đường kính đáy là 4,5 mm với độ sâu của xoang được điều chỉnh cho đến khi bề dày ngà răng phía trên buồng tủy dày 0,5 mm

4

Trang 13

Hình 2.1: Mô hình các bước tạo hệ thống thân răng sử dụng trong nghiên cứu

Hình 2.2: Hệ thống thân răng trong nghiên cứu

4,5 mm

0,5mm

Trang 14

Bề mặt ngà răng phía tủy được xoi mòn với axit citric 50% trong 30 giây

để loại bỏ lớp mùn ngà do tác động mài răng Sau đó, hệ thống thân răng được hấp

tiệt trùng

Các vật liệu được chuẩn bị theo hướng dẫn của nhà sản xuất, giống với qui trình trộn xi măng ở phần dịch chiết trực tiếp Sau khi trộn, bơm lượng xi măng

bằng 3 vạch của ống tiêm dung tích 1 ml vào xoang phía mặt nhai của thân răng

Đợi xi măng đông cứng Thời gian đông của xi măng Fuji I là 4 phút 30 giây, của

Fuji Plus là 4 phút 15 giây Riêng G-CEM chiếu đèn trùng hợp trong 20 giây

Sau khi xi măng đông cứng, sử dụng sáp cứng inlay (Kerr, USA) với độ nóng chảy 40-50⁰C để che kín bề mặt xoang phía mặt nhai thân răng

Tất cả các thao tác được thực hiện trong tủ vô trùng

Hình 2.3: Sử dụng sáp inlay che kín bề mặt xoang phía thân răng

b) Chuẩn bị dịch chiết

Thể tích của khối xi măng bơm vô xoang sẽ là:

Mặt khác, do xoang có hình trụ tròn nên V = πhR2 Suy ra chiều cao khối xi măng trong xoang sẽ là:

h = V / (πR2) = 30 / (πх2,252) = 1,89 mm Diện tích của khối xi măng trong xoang sẽ là:

S = 2πR2 + 2πRh = 2πR(R + h) = 2πх2,25х(2,25 + 1,89) = 58,53 mm2

= 0,5853 cm2

Trang 15

Lượng môi trường để ngâm dịch chiết theo chuẩn ISO 10993-12:2012 đối với khuôn có chiều dày lớn hơn 1mm, tỉ lệ diện tích bề mặt khối vật liệu: thể tích môi trường là 3 cm2 / ml

Vậy thể tích môi trường cần để ngâm khối vật liệu trong 1 xoang (1 thân răng) tạo dịch chiết sẽ là:

Vmt = S / 3 = 0,5853 / 3 = 0,1951 ml môi trường / 1 thân răng Ngâm các mẫu thân răng chứa các vật liệu Fuji I, Fuji Plus, G-CEM trong môi trường DMEM/F12 với tỉ lệ 0,1951 ml môi trường / 1 thân răng

c) Chuẩn bị nhóm chứng âm

Là nhóm chứng không gây độc tế bào Mục đích của nhóm chứng âm là chứng minh đáp ứng nền của tế bào nghiên cứu Trong phần dịch chiết gián tiếp, nhóm chứng âm là các thân răng được phủ sáp cứng inlay (Kerr, USA) với độ nóng chảy 40-50⁰C để phủ toàn bộ xoang phía mặt nhai thân răng Sau đó, các mẫu thân răng được ngâm trong môi trường DMEM/F12 với tỉ lệ 0,1951 ml môi trường / 1 thân răng, tương tự như các mẫu thân răng chứa xi măng

Sau 24 giờ thu được dịch chiết trực tiếp của các loại vật liệu và nhóm chứng nồng độ 100% (nồng độ 1)

Đo pH các dịch chiết gián tiếp của các vật liệu:

Fuji I = Fuji Plus = G-CEM = 7

Từ dịch chiết 100% ban đầu (nồng độ 1), pha loãng dịch chiết thành 4 nồng độ 1/2, 1/4, 1/8, 1/16 bằng cách thêm vào môi trường DMEM với tỉ lệ tương ứng

2.3.2.2 Qui trình thử nghiệm MTS

Đếm mật độ tế bào trong đĩa petri và cấy tế bào ra đĩa 96 giếng Mỗi giếng

có mật độ 104 tế bào / ml Đặt đĩa cấy trong tủ ủ ở 37⁰C, 5% CO2 trong 24 giờ để

ổn định tế bào

Trang 17

Nếu tỉ lệ sống <70%: vật liệu có khuynh hướng độc

Trang 18

2.4 TÓM TẮT QUI TRÌNH THỰC HIỆN

2.5 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

2.5.1 Biến số độc lập

− Phương pháp nghiên cứu: trực tiếp, gián tiếp

− Loại vật liệu: Fuji I, Fuji Plus, RelyX U200

− Năm nồng độ dịch chiết: 1, 1/2, 1/4, 1/8, 1/16 cho mỗi loại vật liệu nghiên cứu

2.5.2 Biến số phụ thuộc: biến số định lượng ( biến liên tục)

 Nhóm dịch chiết trực tiếp

− Tỉ lệ sống (%) sau khi cho tế bào tiếp xúc với dịch chiết trực tiếp của các loại vật liệu ở các nồng độ 1, 1/2, 1/4, 1/8, 1/16 sau 24 giờ

 Nhóm dịch chiết gián tiếp

− Tỉ lệ sống (%) sau khi cho tế bào tiếp xúc với dịch chiết gián tiếp của các loại vật liệu ở các nồng độ 1, 1/2, 1/4, 1/8, 1/16 sau 24 giờ

Dịch chiết gián tiếp:

Vật liệu khuyếch tán vô môi trường qua rào cản ngà răng

Đánh giá tỉ lệ sống (%) của tế bào: thử nghiệm MTS

Đánh giá tỉ lệ sống (%) của tế bào: thử nghiệm MTS

Trang 19

Các số liệu đã thu thập được nhập vào máy vi tính và lưu lại

 Phép kiểm Kruskal-Wallis, Mann-Whitney phân tích sự khác biệt tỉ lệ

sống của tế bào ủ với dịch chiết trực tiếp trong cùng một nồng độ của các loại vật liệu khác nhau

 Phép kiểm Kruskal-Wallis, Mann-Whitney phân tích sự khác biệt tỉ lệ

sống của tế bào ủ với dịch chiết gián tiếp trong cùng một nồng độ của các loại vật liệu khác nhau

 Phép kiểm Mann-Whitney phân tích sự khác biệt tỉ lệ sống của tế bào ủ

với dịch chiết trực tiếp và dịch chiết gián tiếp của cùng một vật liệu

các nồng độ (5 nồng độ) giữa các loại vật liệu

Mức ý nghĩa p = 0,05

2.7 CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ

− Sử dụng thống nhất vật liệu, dụng cụ và phương tiện để tiến hành nghiên cứu

− Các tiêu chí đánh giá được quy định rõ ràng

− Trước khi thực hiện nghiên cứu, nghiên cứu viên được chuyên gia (giảng viên) của phòng thí nghiệm huấn luyện định chuẩn các thao tác kỹ thuật và thực hiện các thí nghiệm giả định nhiều lần

Trang 20

− Tất cả các thao tác kỹ thuật trong thí nghiệm đều được thực hiện bởi cùng một người dưới sự giám sát của chuyên gia và theo một qui trình chuẩn của Trung tâm Y sinh học Phân tử thuộc trường Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh Thao tác đo mật độ quang OD bằng máy được thực hiện bởi chuyên gia và ghi nhận lại kết quả Do đó, phương pháp đảm bảo được tính khách quan

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm